Qua những bài nghiên cứu của các tác giả này, nhiều phương diện đặc sắc về nội dung cũng như nghệ thuật của kịch Nguyễn Đình Thi đã được chỉ ra như: tính triết lí, màu sắc bi kịch, nội d
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nguyễn Đình Thi (1924-2002), là một nghệ sĩ đa tài và có một vị trí đặc biệt trong nền văn học Việt Nam Ông là một trong những người hoạt động văn nghệ chủ chốt từ những ngày đầu cách mạng tháng Tám đến nay, đồng thời có những đóng góp tiêu biểu trong nhiều lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật như: thơ, âm nhạc, văn xuôi, lí luận phê bình, kịch… Nguyễn Đình Thi
là một mẫu hình của thế hệ nhà văn trưởng thành trong cách mạng Nhà văn tài hoa này đến với cuộc đời mới với nhiều tham vọng khai thác trên nhiều bình diện lớp sâu của hiện thực qua tiểu thuyết, những xung đột giàu kịch tính
và chất thơ của cuộc đời Nguyễn Đình Thi bắt đầu bằng chính sự bắt đầu – ông ít chịu ảnh hưởng của văn chương thời kì trước Cách mạng tháng Tám Tỉnh táo, thông minh, giàu tưởng tượng và liên tưởng, Nguyễn Đình Thi đã đem đến văn chương niềm vui và sự trong sáng của lí tưởng và cuộc đời mới Trong khoảng thời gian hơn 60 năm cầm bút với những đóng góp tìm tòi của mình Nguyễn Đình Thi ngày càng thu hút được sự chú ý tìm hiểu, lí giải, đánh giá không chỉ của giới văn học nghệ thuật mà còn của nhiều công chúng, của giới thuyền thông Đến nay những gì mà chúng ta đã biết, đã đánh giá về cuộc đời và sự nghiệp của ông chắc chắn mới chỉ là những bước đầu, tuy rất quan trọng, nhưng còn cần được tiếp tục tìm hiểu, suy ngẫm, khám phá
Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy từ trước tới nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Đình Thi, khẳng định những thành công của ông trong sự nghiệp sáng tác và nghiên cứu phê bình nghệ thuật Tuy nhiên, trong
đó việc nghiên cứu nghệ thuật sáng tạo về kịch của ông còn chưa nhiều Các ý kiến mới chủ yếu đề cập đến các vở kịch cụ thể và đời sống của chúng trên sàn diễn Trong đó chỉ có ở hai công trình nghiên cứu của Lê Thị Chính và
Trang 2Bùi Thị Thanh Nhàn chúng tôi mới thấy kịch của Nguyễn Đình Thi bước đầu được nghiên cứu một cách có hệ thống Tuy nhiên, trong đó các vấn đề mới chỉ được phân tích một cách khái quát chưa đi sâu vào một vấn đề cụ thể Đặc biệt về vấn đề nhân vật mới chỉ được bàn một cách chung chung, hoặc được nhắc đến như một yếu tố làm rõ hơn cho những luận điểm đang được chứng minh mà chưa có nghiên cứu sâu
Từ những lý do trên, chúng tôi đi vào tìm hiểu đề tài “Thế giới nhân vật
trong kịch Nguyễn Đình Thi” với mong muốn góp thêm một chút công sức
vào việc tìm hiểu và khẳng định những đóng góp của kịch Nguyễn Đình Thi đặc biệt là về nhân vật Đó cũng là tiếng nói tri ân dành cho một tài năng lớn
2 Lịch sử vấn đề
Hoạt động trên nhiều lĩnh vực của đời sống văn hóa nghệ thuật, Nguyễn Đình Thi trở thành đề tài, đối tượng của hàng trăm bài viết cũng như các công trình nghiên cứu lớn nhỏ Những thành tựu và đóng góp quan trọng của tác giả trên các lĩnh vực thơ, văn xuôi, âm nhạc, lí luận phê bình…đã được khẳng định bởi nhiều nhà nghiên cứu có tên tuổi như Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Hữu Tá, Chu Văn Sơn Bên cạnh điểm chung khẳng định tài năng phong cách tác giả còn có những tư tưởng không đồng nhất Trong khi Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Đăng Mạnh khẳng định sở trường, đóng góp của tác giả ở lĩnh vực thơ ca thì Chu Nga lại cho rằng thành công lớn nhất của ông là ở văn xuôi Không chỉ vậy, cũng có người nhấn mạnh cống hiến của tác giả ở mảng lí luận phê bình, cho rằng đây mới là
những tác phẩm được “chờ đón, đề cao” [Nguyễn Khoa Điềm]
Kịch là mảng sáng tác còn khá xa lạ với độc giả mặc dù Nguyễn Đình
Thi dành phần lớn thời gian khi tuổi đã cao cho kịch “Ở tuổi năm mươi
Nguyễn Đình Thi mới sáng tạo được những vở kịch giàu tính trải nghiệm đến như thế, Kịch Nguyễn Đình Thi như mang ý nghĩa đúc kết về hai bình diện,
Trang 3những suy nghĩ của người viết qua nhiều chặng đường và bình diện đúc kết những điển hình không trải ra ở bề rộng mà lắng đọng ở chiều sâu, ở những xung đột bi kịch của nhiều số phận, nhiều cảnh đời qua nhiều thời kì lịch sử, xưa cũng như nay: Kịch là phần đóng góp nổi bật của Nguyễn Đình Thi” [Hà
Minh Đức] So với những mảng sáng tác khác, kịch Nguyễn Đình Thi đã từng chịu số phận long đong, thậm chí còn oan ức Dù không sớm được đề cao, khẳng định nhưng cho đến nay những kịch phẩm của ông cũng đã giành được
sự quan tâm đích đáng Trong số đó, có không ít bài viết thực sự tâm huyết của các tác giả như Huy Cận, Hà Minh Đức, Tất Thắng, Tuệ Minh, Phan Trọng Thưởng Qua những bài nghiên cứu của các tác giả này, nhiều phương diện đặc sắc về nội dung cũng như nghệ thuật của kịch Nguyễn Đình Thi đã được chỉ ra như: tính triết lí, màu sắc bi kịch, nội dung nhân bản hay khuynh hướng tượng trưng, sự đan xen giữa hiện thực và huyền ảo Có thể kể đến một
số công trình nghiên cứu tiêu biểu: Khi nghiên cứu về hai vở kịch ngắn
“Người đàn bà hóa đá” và “Cái bóng trên tường”, tác giả Huy Cận có đưa ra cách nhìn nhận xác đáng:“Hai vở kịch ngắn đều nói tới định mệnh nghiệt ngã,
tàn khốc đối với nhân vật để rồi cuối cùng một vở để lại cái bâng khuâng, xa xót nghìn đời, cái xa xót sừng sững giữa trời đất, và cuối vở sau để lại nỗi ân hận, hối hận chẳng bao giờ nguôi được” Đồng thời tính chất mới mẻ, sáng
tạo của hai tác phẩm này còn được khẳng định, đó là “chuyện xưa nhưng hồn
truyện vẫn trẻ” [inter.]
Cùng nghiên cứu về đặc điểm kịch của Nguyễn Đình Thi, Trần Khánh
Thành và Bùi Thị Hợi viết: “Kịch của Nguyễn Đình Thi giàu chất triết lí,
hình tượng nghệ thuật đa nghĩa, nhiều ẩn dụ, không dễ hiểu với tầng lớp bình dân Thế giới nghệ thuật kịch của Nguyễn Đình Thi là một thế giới văn hóa đa dạng nhiều màu sắc, nơi mà dấu vết văn hóa cổ kim, đông tây, dân gian, bác học được hội tụ và tỏa sáng Dù đa dạng về sắc thái tính chất nhưng tất cả
Trang 4đều thể hiện tình yêu tha thiết của một nghệ sĩ tài năng tâm huyết với đất nước, với dân tộc, với nhân dân, thể hiện xót xa về số phận con người và những khát vọng sáng tạo nghệ thuật” [37, inter] Tác giả Trần Hữu Tá cho
rằng: “Kịch Nguyễn Đình Thi giàu chất suy tưởng và thiên về tính trữ tình,
triết lí” Tương tự, nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn còn khẳng định thêm:
“Phần lớn các vở kịch của Nguyễn đình Thi đều ít nhiều mang màu sắc bi kịch, tỏ rõ khuynh hướng tượng trưng và đậm chất triết lí” [38, tr 544] Hà
Minh Đức bổ sung thêm: “Kịch Nguyễn Đình Thi là một thế giới mang màu
sắc văn hóa, nơi mà dấu vết văn hóa được quy tụ trong một nội dung nhân bản”
Trong bài viết Nguyễn Đình Thi - nghệ sĩ và cách mạng, tác giả Tôn Phương Lan lại hướng tới một đặc điểm khác: “Kịch của ông giàu chất thơ,
gửi gắm những tình cảm, những suy ngẫm về đạo đức, về thời cuộc” Và
trong bài viết về vở Giấc Mơ và tác giả, học giả nước ngoài M.B Khrapchenko cũng nhận ra: “Bầu trời các vở kịch của Nguyễn Đình Thi rất
phong phú về màu sắc và rất nhiều chất thơ… Dù là kịch lịch sử hay những biểu tượng thần tiên, Nguyễn Đình Thi đã biết kết hợp cái nhìn thực tế với khái niệm thần thoại, quan hệ thời gian như một loại hình cơ đông và vĩnh viễn với ý thức lạ lùng về những mối ràng buộc con người với nhau, trong một nhân loại không thể chia cắt được” [28, tr 382]
Nghiên cứu về Thế giới kịch của Nguyễn Đình Thi, nhà nghiên cứu Tất Thắng cho rằng: “Thế giới kịch của Nguyễn Đình Thi là một thế giới như
hư, như thật, nó kì ảo như một Giấc mơ nhưng lại sờ sờ ra đấy như Hòn Cuội,
và trong cái thế giới ấy, Nguyễn Đình Thi như làm hiện lên trước mắt ta, trong sự tiếp nhận của ta, những con người, những cảnh đời vừa quen vừa lạ, vừa thấy đấy như một dòng sông, một bến nước, một người vợ đêm đêm chờ chồng…mà thoắt cái đã trở thành cái bóng oan nghiệt, đã biến đi xa vời vợi
Trang 5như mặt trăng tròn ở tít chân trời cao…” Và ông còn nhấn mạnh thêm: “Các
vở kịch của anh trừ Hoa và Ngần xem có vẻ thật một trăm phần trăm còn tất
cả đều thấm nhuần không khí hư ảo và đông đặc tính chất huyền thoại” [47,
tr 357] Và cũng chính ông là người đã đưa ra một nhận xét khá xác đáng về
vấn đề xung đột trong kịch của Nguyễn Đình Thi: “Hình thái xung đột quán
xuyến các vở kịch của Nguyễn Đình Thi là sự diễn tả cuộc sống như ta thấy
và như ta tưởng, như ta chứng kiến và như ta ao ước, như ta trải nghiệm và như ta khát khao” [16, tr 369] Hà Minh Đức nhận định: “Có thể nói tới một thế giới kịch của Nguyễn Đình Thi Ở đây cuộc đời có quá khứ, hiện tại và tương lai, chủ yếu là những vấn đề chung của lịch sử ở một thời điểm và cũng
là muôn đời Ở đây có những gương mặt hiền lành cụ thể của người con gái,
bà mẹ, người chiến binh như mới từ cuộc đời đi vào trang sách và cũng sâu
xa hơn họ lại đến với thế giới có màu sắc huyền thoại” [11, tr 27] Cũng
chính ông còn phát hiện: “Điểm mạnh của ngòi bút kịch Nguyễn Đình Thi là
những đột phá vào thế giới bên trong của nhân vật” [11, tr 25-26]
Năm 1999, nhân sự kiện vở Rừng Trúc được dàn dựng và đạt huy
chương vàng tại Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp cuối cùng của thế kỉ XX, Phan Trọng Thưởng phân tích khá sâu về vở kịch với những phát hiện quan trọng về tư tưởng nghệ thuật cũng như tính cách các nhân vật và nghệ thuật tổ chức xung đột, từ đó nêu lên một số vấn đề lí luận sáng tác về đề tài lịch sử Tác giả bài viết cho rằng: “ Rừng trúc cho thấy khả năng khai thác vào các sự kiện lịch sử tưởng như đã cũ để tìm ra trong đó những bài học” Trong một
bài nghiên cứu khác (Về một số nhân vật lịch sử trong vở kịch “Rừng trúc”
của Nguyễn Đình Thi), tác giả Lê Thị Chính cũng đã khẳng định thêm rằng:
“Khai thác đề tài lịch sử, ngòi bút Nguyễn Đình Thi muốn tìm trong lịch sử những gì gần gũi, mượn lịch sử để gửi gắm, chiêm nghiệm tư tưởng của mình” Tác phẩm vừa dựng lên những sự kiện lịch sử đầy bạo động, vừa khái
Trang 6quát được những vấn đề sâu sắc về thế sự, nhân sinh Mặc dù là vở kịch “giàu chất văn học và rất khó sân khấu hóa” nhưng khi đã dược hóa thân trên sàn diễn nó thực sự có thể tạo nên một hiệu quả chinh phục lớn lao Có thể nói, sau 21 năm sống trong im lặng, rừng trúc có nhiều ưu điểm vượt trội và hiện hình thực sự trên sân khấu, sống cuộc sống đầy đủ của một kịch bản sân khấu Sau này, có thêm nhiều ý kiến bộc lộ sự quan tâm tâm tới mảng sáng tác kịch của ông Tô Hoài “đặc biệt chú trọng khu vực sáng tác kịch bản sân khấu của Nguyễn Đình Thi và thấy ở mỗi vở kịch đều mang triết lí của nhân vật lịch sử, một truyền thuyết hay huyền thoại”[15, tr 79] Lê Thiếu Sơn phát hiện:
“Những nhân vật trong kịch Nguyễn Đình Thi đa diện và mở ra nhiều hướng
tiếp cận”[15, tr 231] Nguyễn Văn Thành cho rằng: “Các kịch bản của Nguyễn
Đình Thi được viết với một bút pháp tân kì, táo bạo, thật sự là nỗ lực cách tân cung cách biên kịch nhằm mở rộng dung lượng, sức chứa, cũng như tăng cường chất văn học, nâng cao tầm khái quát và chiều sâu triết lí của kịch”[15, tr 237]
Mai Quốc Liên và Nghĩa An nhấn mạnh thêm: “Kịch Nguyễn Đình Thi lay
động người ta bởi những ý tưởng văn chương sâu sắc”[15, tr 176] và “mang đậm những suy tư triết học về con người”[15, tr 110]
Trong luận án tiến sĩ của Lê Thị Chính, Đại học Sư phạm Hà Nội –
“Nguyễn Đình Thi với thơ và kịch” Tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu các
kiểu xung đột nổi bật trong những kịch phẩm của tác giả như: xung đột thật – giả, xung đột giữa vận nước và số phận con người, xung đột giữa quyền lực
và quyền sống tự do của mỗi cá nhân Đồng thời luận án còn có sự luận giải khá chính xác về một số loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt, về đặc điểm ngôn ngữ kịch Cũng theo hướng nghiên cứu đó, luận văn thạc sĩ của Doãn
Thị Thanh Hương (Đặc điểm kịch Nguyễn Đình Thi) khai thác xung đột nội
tâm cũng như chỉ ra các cấp độ xung đột trong những vở kịch của tác giả Luận văn cũng khám phá thành công một số đặc điểm của nhân vật trong kịch
Trang 7Nguyễn Đình Thi: đó là những con người sống có lí tưởng và đấu tranh cho lí tưởng, luôn bảo vệ phẩm giá và ý chí sắt đá, trong đó có nhiều nhân vật là nhân vật vô danh hoặc nhân vật huyền thoại Do khuôn khổ hạn chế nên các công trình này cũng mới chỉ đề cập đến một trong những khía cạnh về nội dung cũng như nghệ thuật của kịch Nguyễn Đình Thi và còn bỏ trống nhiều khía cạnh chưa có điều kiện khai thác
Chính vì vậy, để góp phần khẳng định tài năng cũng như cá tính sáng
tạo của Nguyễn Đình Thi trong kịch, chúng tôi chọn đề tài “Thế giới nhân
vật trong kịch Nguyễn Đình Thi” Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong
muốn đem tiếng nói của mình góp thêm vào những ý kiến, bài viết, những công trình nghiên cứu đã có để hướng tới khẳng định, đánh giá một cách hoàn chỉnh về những đặc điểm, giá trị của hệ thống kịch bản mà tác giả dành nhiều tâm huyết tạo dựng, vun đắp trong suốt khoảng thời gian gần 30 năm của mình Đồng thời góp thêm một tiếng nói, một cái nhìn mới về viêc nghiên cứu và giảng dạy kịch ở các cấp học
3 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc tập hợp, khảo sát, phân tích trọn bộ 10 tác phẩm kịch của Nguyễn Đình Thi, luận văn hướng tới làm nổi bật nét đặc sắc về thế giới nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong kịch Nguyễn Đình Thi
Đồng thời, quá trình tìm hiểu, nghiên cứu cũng khẳng định tài năng sáng tạo và vị trí, sự đóng góp của Nguyễn Đình Thi đối với sự phát triển của thể loại kịch trong nền văn học Việt Nam hiện đại
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung vào việc tìm hiểu Thế giới nhân vật trong kịch
Nguyễn Đình Thi
* Phạm vi nghiên cứu:
Trang 8Những tác phẩm kịch của Nguyễn Đình Thi(gồm 10 tác phẩm)
1 Con nai đen (1961)
số nhà viết kịch khác như Nguyễn Huy Tưởng, Lưu Quang Vũ
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phối hợp và linh hoạt các phương pháp nghiên cứu khoa học sau:
Phương pháp loại hình: Vận dụng những kiến thức lý luận về thể loại
kịch làm tiền đề cho việc đi vào nghiên cứu các vấn đề cụ thể về thế giới nhân vật trong kịch Nguyễn Đình Thi
Phương pháp hệ thống: Cho phép luận văn đặt vấn đề nhân vật vào
trong hệ thống thi pháp kịch Nguyễn Đình Thi, chỉ ra sự phong phú cũng như những đặc trưng của thế giới nhân vật kịch
Phương pháp phân tích tổng hợp: Vận dụng phương pháp này chúng
tôi sẽ thuận lợi hơn trong việc phân tích, lý giải các khía cạnh về nhân vật kịch Nguyễn Đình Thi, từ đó tổng hợp lại, rút ra những kết luận cần thiết theo yêu cầu của luận văn
Trang 9Phương pháp so sánh, đối chiếu: Thông qua sự so sánh, đối chiếu, làm
rõ đặc trưng của các kiểu loại nhân vật cũng như sự đa dạng của thế giới nhân vật kịch Nguyễn Đình Thi
Phương pháp thống kê: Có ý nghĩa cung cấp dữ liệu và những số liệu
chính xác, tạo cơ sở tin cậy cho những kết luận của luận văn
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tư liệu tham khảo,phần nội dung chính của luận văn gồm ba chương
Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về nhân vật kịch và hành trình
sáng tác kịch của Nguyễn Đình Thi
Chương II: Các kiểu nhân vật trong kịch Nguyễn Đình Thi
Chương III: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong kịch Nguyễn Đình Thi
Trang 10NỘI DUNG CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÂN VẬT KỊCH
VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC KỊCH CỦA NGUYỄN ĐÌNH THI
1.1 Những vấn đề lý luận về nhân vật kịch
1.1.1 Nhân vật
Nhân vật là một khái niệm quan trọng trong lý luận và nghiên cứu văn học Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về nhân vật văn học nhưng đều gặp nhau ở những nội hàm không thể thiếu của khái niệm này:
Thứ nhất, đó là đối tượng mà văn học miêu tả, thể hiện bằng những
phương tiện văn học khác nhau
Thứ hai, đó là con người hoặc con vật, đồ vật, sự vật hiện tượng mang
linh hồn, đặc điểm của con người, là hình ảnh ẩn dụ của con người
Thứ ba, đó là đối tượng mang tính ước lệ và có cách điệu so với đời
sống hiện thực, bởi nó đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của nhà văn Nhân vật văn học chính là đối tượng được miêu tả có sức sống riêng nào đó bên trong tùy thuộc vào nhiệm vụ nghệ thuật mà tác giả trao cho nó
Đối với mỗi nhân vật văn học thì tính cách được coi là hạt nhân, là đặc điểm quan trọng nhất, là “nội dung của mọi nhân vật văn học” [9, tr 64]
Trong nghiên cứu văn học, theo nghĩa rộng nhất của nó, khái niệm
“nhân vật” mới chỉ là hình ảnh về con người, khái niệm “tính cách điển hình” chính là điển hình về con người Như vậy, dùng khái niệm “nhân vật” là chỉ đối tượng được nói đến, còn dùng “tính cách” và “tính cách điển hình” là đã bao hàm cả sự đánh giá về chất lượng tư tưởng nghệ thuật của đối tượng đó” [31, tr 162 – 163] Nhân vật và tính cách là những yếu tố thuộc nội dung nhưng các biện pháp thể hiện chúng sao cho sinh động, hấp dẫn là thuộc về
Trang 11hình thức của tác phẩm Không thể phát huy vai trò của các chi tiết trong việc miêu tả ngoại hình và hành động nhân vật như tự sự; việc khắc họa tính cách, nhân vật kịch tập trung vào hành động và ngôn ngữ của nhân vật Nhờ đó mà với nghệ thuật trình diễn, nhân vật kịch mới có thể hiện lên một cách chân thực, thuyết phục được công chúng
Việc phân chia các loại hình nhân vật cũng rất đa dạng Xét về vai trò nhân vật trong tác phẩm, có thể nói tới nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm Xét về phương diện hệ tư tưởng, về quan hệ đối với lý tưởng của nhà văn, có thể nói tới nhân vật chính diện và nhân vật phản diện Các kiểu cấu trúc nhân vật cũng rất đa dạng: có kiểu nhân vật chức năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng Điều này càng cho thấy tính đa dạng và phong phú đồng thời cũng là khó khăn của việc đi vào tìm hiểu, nghiên cứu nhân vật văn học Là yếu tố vừa thuộc nội dung vừa thuộc hình thức, nhân vật văn học là đối tượng để nhà văn thể hiện chủ đề, tư tưởng của mình trong tác phẩm Nói như nhà văn Anh Đức thì sức sống của nhà văn chính là ở việc xây dựng những nhân vật đặc sắc Tất nhiên, đó không phải là điều đơn giản
Nhân vật văn học là hình ảnh về con người Trong vai trò “người thư kí trung thành của thời đại” (Banzắc), văn học trở thành một phương thức khái quát, phản ánh và thể hiện cuộc sống – bằng những hình tượng, nhân vật cụ thể – vô cùng hữu hiệu Do vậy, vai trò, chức năng quan trọng đầu tiên phải
kể đến của nhân vật văn học là phương tiện để nhà văn khái quát hiện thực
“Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào thế giới riêng của đời sống
trong một thời kì lịch sử nhất định” [9, tr 160]
Nhân vật là công cụ tạo nên thế giới nghệ thuật, tái hiện con người với những đặc điểm về tính cách, số phận và con đường đời: Mỗi nhân vật luôn được đặt trong không gian, thời gian nhất định với đời sống tâm lý riêng nên
Trang 12một cách hiển nhiên, nó là tâm điểm để tạo ra các mối quan hệ xã hội, là đối tượng để đánh giá các quan niệm đạo đức… có những quy luật nội tại và những bậc thang giá trị riêng
Nhân vật là chìa khóa giúp cho nhà văn mở rộng đề tài, giúp cho tác phẩm có tầm bao quát sâu và rộng Sự phát triển của cốt truyện cũng như tình tiết truyện chính là sự xoay quanh các nhân vật trong tác phẩm, qua đó tác giả gửi gắm những giá trị nội dung và tư tưởng Có thể khẳng định nhân vật sẽ quyết định đến mầu sắc và tính chất của tác phẩm, có nghĩa là loại nhân vật sẽ quyết định việc nhà văn đi sâu vào vấn đề cốt lõi nào của đời sống và thế giới nghệ thuật mà nó tạo nên vì thế mà cũng có nét riêng phù hợp
Nhân vật còn là phương tiện để khái quát lên tính cách xã hội Điều này
là do nhân vật là nơi chứa đựng tính cách duy nhất Khi đã mang trong mình
sự khái quát tính cách nhất định, nhân vật vừa có nét riêng lại vừa có khả năng đại diện cho một lớp người nào đó Lý luận văn học đã chỉ ra tính cách
là sự khái quát bản chất xã hội – lịch sử, tâm lý con người bằng hình thức con người cụ thể, là sự thể hiện các phẩm chất xã hội của con người với tư cách là con người xã hội “Tính cách là điểm trung tâm của các mối quan hệ giữa nội dung và hình thức” [Hêghen] Về mặt nội dung: nhân vật với tính cách của nó
là phương tiện để thể hiện tư tưởng tác phẩm Về hình thức: nhân vật với tính cách của nó quyết định đến phần lớn các yếu tố hình thức kết cấu, những quy luật loại thể, ngôn ngữ…
Tập hợp các cá thể nhân vật sẽ tạo nên một thế giới nhân vật Ở đó truyền tải ý đồ nghệ thuật của người cầm bút với những quan niệm nghệ thuật, cách nhìn nhận và thể hiện con người…Trong thế giới nhân vật, từ con người cá thể với những đặc điểm về tính cách, cuộc đời, số phận, cho phép ta hình dung nên bức tranh tổng thể về đời sống Thế giới nhân vật chính là phần tất yếu trong thế giới nghệ thuật của người cầm bút
Trang 13Với vai trò, vị trí quan trọng như vậy, một lần nữa có thể khẳng định: nhân vật là yếu tố không thể thiếu đối với tác phẩm văn chương
1.1.2 Nhân vật kịch và đặc điểm của nhân vật kịch
Nhân vật kịch là con người được miêu tả trong tác phẩm kịch Tất cả mọi nội dung, diễn biến của câu chuyện, hành động, xung đột và tư tưởng, quan niệm của tác giả đều phải thể hiện qua nhân vật – và trực tiếp là qua hoạt động biểu diễn của diễn viên trên sân khấu Nhân vật kịch luôn hiện hình
trong tác phẩm đúng vào thời điểm “bước ngoặt số phận” và dù ở bất cứ dạng
thức nào, nó cũng luôn tự khẳng định bản chất, tính cách của mình bằng hành động
Cũng giống như các loại văn khác, nhân vật là yếu tố quan trọng nhất, không thể thiếu đối với tác phẩm kịch Mọi khía cạnh và vấn đề của đời sống,
dụng ý của tác giả đều gửi gắm qua nhân vật “Do tính hiện đại và tính thời sự
của mình, kịch thường tập trung trong hình tượng trung tâm của mình những điển hình mang dấu vết của từng thời kì lịch sử” [50, tr 67] Với những hạn
chế về thời gian và không gian sân khấu, cốt truyện kịch bản văn học tập trung nên số lượng nhân vật bị hạn chế, không xuất hiện nhân vật người kể chuyện
Trong nhân vật kịch, yếu tố quan trọng nhất là hành động kịch Mối quan hệ giữa hành động và nhân vật trong mỗi tác phẩm luôn là tiền đề, là trục chính để xác định tính cách nhân vật kịch Hành động được đặt trong tương quan và bộc lộ qua xung đột Nhân vật lại là phương tiện tất yếu và quan trọng nhất để thể hiện tư tưởng trong tác phẩm do đó tính cách nhân vật phải thật tiêu biểu (nhưng không có nghĩa là đơn giản một chiều) Tính cách nhân vật kịch tuy không đa dạng như nhân vật tiểu thuyết nhưng có được những đường nét, mầu sắc nổi bật hơn và dễ xác định về mặt bản chất
Trang 14Ngôn ngữ nhân vật chiếm vai trò quan trọng trong việc thể hiện nhân vật Nguyên tắc xây dựng ngôn từ nghệ thuật của một kịch bản văn học là tất
cả mọi vấn đề xoay quanh hình tượng đều nằm trong ngôn ngữ nhân vật Ngôn ngữ nhân vật chiếm vai trò quan trọng trong việc thể hiện nhân vật Ngôn ngữ nhân vật là hình thức tồn tại hầu như duy nhất của ngôn ngữ kịch (không tính đến những lời chú thích, minh họa về mặt sân khấu, trang phục,
sự xuất hiện của diễn viên khi diễn xuất trên sân khấu…) Nhân vật trong kịch bản là con người được khắc họa bằng đối thoại và độc thoại Nhân vật kịch phải có tính cách dựa vào lời thoại và hành động sân khấu của bản thân nhân vật mà không phải qua mô tả của tác giả như trong văn xuôi
Như vậy, thông qua việc tìm hiểu về nhân vật và nhân vật kịch nói riêng, có thể thấy, trong kịch, yếu tố nhân vật đóng vai trò vô cùng quan trọng Nhân vật kịch vừa là nơi trực tiếp và duy nhất khắc họa hình tượng, thể hiện mâu thuẫn, xung đột, vừa là nơi để truyền tải thông điệp, tư tưởng của tác giả đến công chúng Việc đi vào tìm hiểu về nhân vật trong một vở kịch hay tìm hiểu về thế giới nhân vật trong các sáng tác của một kịch tác gia văn học là một việc bao quát và toàn diện cho thấy quan niệm, tư tưởng, tài năng nghệ thuật của tác giả cũng như toàn bộ tác phẩm, đặc biệt khi nó được trình diễn trên sân khấu Đó sẽ luôn là một con đường hiệu quả nhất để tiếp cận với kịch
1.2 Hành trình sáng tác kịch của Nguyễn Đình Thi
Nguyễn Đình Thi tiêu biểu cho một thế hệ trí thức trưởng thành từ cuộc
cách mạng tháng Tám vĩ đại, “là sản phẩm của một thời đại đẹp, sáng, oai
hùng” Là một trí thức có vốn văn hóa uyên bác, lịch lãm, lại đa tài, ông đã
đem đến cho nền văn nghệ Việt Nam một diện mạo mới, một khuynh hướng sáng tạo nghệ thuật mới mẻ
Trang 15Nói như Nguyễn Trọng Tạo “Ở đời người đa tài như Nguyễn Đình Thi
đâu có nhiều, mà đa tài kiểu Nguyễn Đình Thi chỉ có một” [11, tr 328]
Không chỉ là “lục sĩ” như Đặng Vương Hưng đã gọi mà ông còn là một nhà báo, một nhà hùng biên, một nhà điện ảnh…Với cách nói giàu hình ảnh, giản
dị và đầy sức thuyết phục Nguyễn Đình Thi còn là người viết thuyết minh cho
nhiều phim (Việt Nam trên đường thắng lợi, Hồ Chí Minh – chân dung một
con người) Dường như tất cả những gì thuộc về văn chương nghệ thuật đều
không xa lạ đối với ông Trên hành trình đi tìm cái đẹp, Nguyễn Đình Thi đã
nỗ lực, kiên trì thể nghiệm tài năng của mình và thành công ở nhiều thể loại khác nhau: âm nhạc, thơ, lí luận phê bình…Và đặc biệt Kịch là thể loại ông dành tâm huyết gần 30 năm cuối cuộc đời Tuy số phận của các tác phẩm kịch còn gặp nhiều sóng gió nhưng Nguyễn Đình Thi đã để đời những tác phẩm
bất hủ như (Con Nai đen, Cái bóng trên tường, Nguyễn Trãi ở Đông Quan,
Rừng Trúc…) Bên cạnh những cây bút kịch đầy tài năng như Lưu Quang
Vũ, Nguyễn Huy Tưởng thì kịch của Nguyễn Đình Thi thực sự sống khi được nhà đạo diễn tài ba Nguyễn Đình Nghi dàn dựng đưa lên sân khấu
Vở kịch đầu tiên Con nai đen được viết năm 1961 Tiếp đến Hoa và
Ngần 1974 Từ năm 1977 đến năm 1986, Nguyễn Đình Thi viết liền 8 vở: Giấc mơ (1977); Rừng trúc (1978), Nguyễn Trãi ở Đông Quan (1979), Tiếng sóng, Người đàn bà hóa đá (1980), Cái bóng trên tường (1982), Trương Chi (1983) và Hòn cuội (1983 - 1986)
Năm 1949, tại hội nghị tranh luận Văn Nghệ Việt Bắc, Nguyễn Đình
Thi đã chân thành giãi bày “Thơ là niềm thiết tha nhất, là cái tìm tòi rất khổ” của ông Gần 40 năm sau, năm 1988, ông lại tâm sự “Kịch là điều tôi say mê
nhất đã từ gần 30 năm nay”[14, tr 390], nhưng ngẫm lại, “tôi thấy việc viết kịch của tôi còn gặp nhiều khó khăn hơn cả thơ: mấy vở viết ra đều bị cấm diễn” [14, tr 256] Nỗi niềm ấy của tác giả chỉ có thể là sau khi đã qua một
Trang 16hành trình thật dài…Các tác phẩm kịch của Nguyễn Đình Thi gặp rất nhiều khó khăn khi dàn dựng đưa lên sân khấu Vì sao những vở diễn lại có số phận long đong đến như vậy
Vở Con nai đen hoàn thành tháng 6/ 1961, tháng 11/1961 được in
Năm 1962, Thế Lữ dàn dựng, được diễn trong hội diễn kịch nói 1962 và gây nhiều tranh luận Vở kịch bị phê bình quá nặng về tư tưởng và không được diễn nữa
Vở Hoa và Ngần viết năm 1974, đoàn kịch Hà Nội dựng (đạo diễn
Dương Ngọc Đức), chỉ xuất hiện duy nhất trong đêm tổng duyệt rồi bị cấm
Đặc biệt là sự kiện về vở kịch lịch sử “Nguyễn Trãi ở Đông Quan”
viết 1979 Năm 1980, Nguyễn Đình Nghi đạo diễn, nhà hát kịch Trung ương thực hiện, cũng chỉ diễn được vài buổi rồi có lệnh cấm Nhà văn Hoàng Hữu
Các [11, tr 179] kể lại: “Buổi công diễn đầu tiên, Nhà hát lớn đông nghịt
người xem Màn mở Đạo diễn Nguyễn Đình Nghi dẫn kíp diễn ra sân khấu chào khán giả, và ông quay lại nói với các nghệ sĩ: “Không có nguyên mẫu nào ngoài đời để chúng ta bắt chước cả Anh chị em nghệ sĩ hãy đốt tim mình lên để thắp sáng tác phẩm” Từ phút đó cả nhà hát im phăng phắc… Rồi tiếng vỗ tay ào lên như sấm… mọi người ùa lên sân khấu tặng hoa, bắt tay,
ôm hôn tác giả… Nhưng sau 8 buổi diễn, vở kịch có lệnh cấm” Giới sân khấu lúc đó có giai thoại vui “nếu kịch bản mang tên Nguyễn Đình Thi, đạo diễn Nguyễn Đình Nghi thì khâu duyệt vở sẽ là Nguyễn Đình …Chỉ” Chính
Nguyễn Đình Thi cho biết với vở kịch này ông còn gặp rất nhiều phiền phức rắc rối Điều đáng nói dù không được diễn, hoặc không được in, Nguyễn Đình Thi vẫn cứ viết
Số phận của Rừng trúc còn long đong hơn Rừng trúc được viết trước
Nguyễn Trãi ở Đông Quan, ngay tháng áp tết 1978 Nguyễn Đình Thi đã ôm
bản thảo đến đoàn kịch Trung ương đọc cho nghệ sĩ Đào Mộng Long, Phạm
Trang 17Thị Thành và Tuệ Minh, cả ba đều xuýt xoa tấm tắc Đoàn kịch Điện ảnh định dàn dựng nhưng không thành Đạo diễn Nguyễn Đình Nghi đã rất mê Rừng trúc từ ngày ấy và đem giới thiệu cho một số đoàn kịch (Đoàn kịch Trung ương, Nhà hát cải lương Trung ương, nghệ sĩ Bạch Tuyết ở Thành phố Hồ
Chí Minh…) Nhưng tất cả mới chỉ dừng lại ở dự định Rừng trúc lặng lẽ tồn
tại ở dạng bản thảo đánh máy và truyền tay từ người này sang người khác
Gần 10 năm sau, bước vào công cuộc đổi mới, Rừng Trúc mới được công bố
toàn văn trên Tạp chí Tác phẩm mới Sau đó đạo diễn Nguyễn Đình Nghi và đoàn kịch Hà Nội đã đưa vào kế hoạch dàn dựng, nhưng rồi phải gác lại bởi những lí do bất khả kháng [14, tr 380]
Đến tận cuối 1999, sau 21 năm “im lặng”, Rừng trúc mới thực sự hiện
diện trên sân khấu Nhà hát tuổi trẻ do công của các đạo diễn Nguyễn Đình Nghi và Phạm Thị Thành, cùng lớp diễn viên nổi tiếng của nhà hát Vở diễn
đã đạt huy chương vàng trong Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp cuối cùng của thế kỉ XX Lúc ấy Nguyễn Đình Thi đang nằm cấp cứu tại bệnh viện Hữu Nghị, nhưng ông thấy mình còn may mắn vì được chứng kiến đứa con tinh thần của mình hóa thân trọn vẹn trên sân khấu Ông ngậm ngùi nhớ Nguyễn Huy Tưởng “Khi Vũ Như Tô được công diễn, Nguyễn Huy Tưởng đã chết được hơn 30 cái giỗ rồi”
Hành trình sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi là cả một quá
trình “tìm tòi rất khổ” nhiều khi “cô đơn heo hút” trong sự kì thị dường như
không dứt của đồng nghiệp [Mai Hương] Trong làng văn nghệ Việt Nam hơn nửa thế kỉ qua, ông thuộc những cây bút gặp nhiều phiền toái Nhưng sau sự
kiện: thơ 1949, vở kịch Con nai đen, rồi Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Nguyễn
Đình Thi vẫn bền gan chịu đựng, tiếp tục tìm tòi và viết Ông có nhiều dự cảm đúng đắn, có ý kiến trở thành chân lí nghệ thuật của thời đại Các vở kịch tâm
trạng như Rừng trúc (1978), Nguyễn Trãi ỏ Đông Quan (1979) là những dự
Trang 18báo cho công cuộc đổi mới văn học sẽ trở nên rầm rộ vào cuối những năm 80 của thế kỉ XX
Có nhiều lí do dẫn đến những “tai nạn lao động” (theo cách nói của Nguyễn Tuân) của các vở kịch Nguyễn Đình Thi, trong đó có nguyên nhân liên quan đến những vấn đề tư tưởng mang tính thời đại, kể cả hậu quả của bệnh quan liêu, giáo điều, hoặc những ấu trĩ của quan điểm xã hội học dung tục một thời
Đã đi qua thời gian, Con nai đen, Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Rừng
trúc… đang được đánh giá lại, như là những tác phẩm lớn, mang tầm vóc tư
tưởng sâu sắc, và đã trở thành “những sự kiện trong đời sống nước ta mấy chục
năm qua” (Trọng Khôi - Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 5/ 2003), [27]
Thời gian cầm bút nguyễn Đình Thi hơn một lần tha thiết “Suy nghĩ và
nguyện vọng của tôi là được viết những điều mình thấy và nên viết” “Tôi muốn tìm một câu trả lời về ý nghĩa kiếp sống của con người và phải tìm trong cội nguồn cách sống và cách nghĩ của dân tộc” Nhìn lại 10 tác phẩm
kịch của ông để cùng đồng cảm với tác giả “Tôi cảm thấy kịch cho phép tôi
nói được những vấn đề làm tôi suy nghĩ mấy chục năm” Với cách khai thác ở
những dạng khác nhau như: khai thác ở đề tài lịch sử; dựa vào tích cũ của văn học dân gian; khai thác đề tài cuộc sống đương đại Các hướng khai thác này đều sáng lên một cảm quan về lịch sử, thời đại, dân tộc, con người với chiều sâu triết luận giàu tính nhân văn
Dường như, mỗi tác phẩm kịch của Nguyễn Đình Thi đều có xu hướng muốn vươn tới những chủ đề vĩnh cửu Huy Cận đọc hai vở kịch ngắn của
ông là Cái bóng trên tường và Người đàn bà hóa đá đã nghĩ đến chủ đề định mệnh trong sân khấu thế giới Tương tự Con nai đen, Hòn cuội là cuộc đấu tranh giữa cái Thiện và cái Ác, giữa sự thật và dối trá; vấn đề trong Giấc mơ
là hành trang dành quyền tồn tại giữa Sự sống và Cái chết, là ước mơ sống
Trang 19đẹp và sống thật vươn lên mọi nỗi đau, mọi sự thiệt thòi mà không cần đến sự khôn ngoan, toan tính…
Đối với văn học, đạo diễn chỉ là người ăn theo, còn với kịch không có
đạo diễn sẽ không có kịch Nguyễn Đình Thi cho rằng “Người đạo diễn là
người giải mã, biến ước mơ in trên trang giấy thành tác phẩm nghệ thuật”
Mặc dù Nguyễn Đình Thi viết kịch khá nhiều song mới chỉ có một vài vở
được dàn dựng diễn trên sân khấu (Nguyễn Trãi ở Đông Quan và Rừng
Trúc) Theo một số đạo diễn, đa số các vở kịch của Nguyễn Đình Thi trong
khi giàu chất văn học đặc biệt chất hình tượng và chất triết lí của kịch cùng với chất chau chuốt của văn chương đối thoại nhưng lại có phần nghèo tính sân khấu, cụ thể có những vở kịch đọc thì hay mà diễn thì khó, khó không có nghĩa là không diễn được Chính vì những yếu tố đó, mãi về sau này các vở kịch của Nguyễn Đình Thi mới được bàn tay tài ba của đạo diễn Nguyễn Đình Nghi dàn dựng thành công và ra mắt công chúng Tuy còn nhiều tranh cãi nhưng cũng đủ để khẳng định tài năng nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi về kịch
Kịch Nguyễn Đình Thi là những vấn đề ông nghĩ từ lâu, những vấn đề không chỉ của một thời, những vấn đề mang triết lí nhân văn sâu sắc Lời thoại trong kịch của Nguyễn Đình Thi, ở nhiều vở mang vẻ đẹp cổ điển, đậm dấu ấn văn hóa, giàu chất thơ và thấm đẫm chất triết lí trí tuệ Nó đòi hỏi một năng lực diễn xuất, một không khí và cả một trình độ thưởng thức cao…Ưu điểm này cũng đi liền với hạn chế tất yếu của các vở diễn, vì với đông đảo khán giả, không dễ để chỉ trong một giờ rưỡi đến hai giờ, có thể hiểu hết tư tưởng của vở kịch cũng như ý nghĩa của các lời thoại
Dù viết về đề tài lịch sử hay vay mượn những cốt truyện dân gian, hoặc nghiêng về mảng sống hiện đại, kịch Nguyễn Đình Thi luôn có sự mấp mé thực - ảo, và phần lớn là kịch tâm trạng Thế mạnh của tác giả là hướng vào
Trang 20thế giới nội tâm nhân vật với những màn độc thoại dài, nhưng cũng chính vì thế mà khó cho cả đạo diễn, diễn viên và cả người xem Thêm nữa, việc dàn dựng kịch của Nguyễn Đình Thi đòi hỏi nhiều điều kiện khác Như đã nói tác phẩm kịch chỉ sống trọn vẹn khi trình diễn trên sân khấu Tuy nhiên, là một thể loại chính của văn học với đầy đủ các đặc trưng riêng trong cấu trúc hình tượng, trong phương thức biểu hiện, trong ngôn ngữ nghệ thuật, người ta vẫn thưởng thức tác phẩm kịch bằng cách đọc kịch bản văn học Tiếp xúc với kịch bản văn học, độc giả có thể nghiền ngẫm, xúc cảm trước nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật xây dựng tính cách, nghệ thuật tổ chức xung đột, đồng thời lĩnh hội sâu sắc hơn những tư tưởng mà nhà văn gửi gắm, kí thác Kịch của Nguyễn Đình Thi là kịch của một nhà văn, kịch của một thi sĩ…Nó là những tác phẩm văn học kịch hơn là kịch bản sân khấu Nó thích hợp với việc đọc để nghiền ngẫm, nghiên cứu hơn là để dàn dựng thành vở diễn Chọn hình thái kịch, nhà văn muốn phản ánh, muốn thể hiện những suy nghĩ về cuộc sống dưới dạng những xung đột, nhằm nổi bật hơn, sâu sắc hơn bản chất của hiện thực, của vấn đề
Lựa chọn 3 kiểu đề tài (đề tài lịch sử; dựa trên tích truyện cũ của văn học dân gian; đề tài hiện thực cuộc sống đương đại), trước hết không phải khẳng định không phải là “đặc sản” của Nguyễn Đình Thi Ta có thể bắt gặp hiện tượng này trong sáng tác kịch, tiểu thuyết của Nguyễn Huy Tưởng với:
Vũ Như Tô, Cột đồng Mã Viện, Đêm hội Long Trì, Những người ở lại, Bắc Sơn, Anh sơ đầu quân; trong những sáng tác kịch của lưu Quang Vũ với: Hồn Trương Ba da hàng thịt, Nàng Sita, Đam San, Ông vua hóa hổ, Linh hồn của đá, Đôi dòng sữa mẹ, Hẹn ngày ở lại, Muối mặn của đời con, Tôi
và chúng ta, Người tốt số nhà 5, Bệnh sĩ, Lời thề thứ 9… Trong hành trình
chinh phục những đỉnh cao của sáng tạo nghệ thuật, người nghệ sĩ có xu hướng lựa chọn những đề tài khác nhau, những điểm nhìn khác nhau và thể
Trang 21hiện chúng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Nguyễn Huy Tưởng viết Vũ
Như Tô mà “chẳng biết Vũ Như Tô phải hay kẻ giết Vũ Như Tô phải…Cửu
trùng đài không thành nên mừng hay nên tiếc…Cầm bút chẳng qua cùng bệnh với Đan Thiềm” Đây là sự băn khoăn day dứt của một nghệ sĩ mang lương
tâm nghệ thuật nhưng loay hoay không biết đường đi đến nỗi lạc vào mê cung của nghệ thuật! Còn Lưu Quang Vũ hiện đại trong chủ đề tư tưởng ngay cả khi viết về đề tài lịch sử Điều có thể thấy là khác hơn ở hiện tượng Nguyễn Đình Thi chính nằm ở sự liên hệ trực tiếp giữa những vấn đề cốt yếu của hiện
thực xã hội đương đại, như vấn đề dân tộc, chủ quyền nổi bật trong Rừng
Trúc, như vấn đề dân tộc và giữ gìn bản sắc văn hóa trong Nguyễn Trãi ở Đông Quan Ở những tác phẩm sau cùng, lại là những vấn đề kiếp người,
thân phận con người Nguyễn Đình Thi vừa nhạy bén, hiện đại với thời cuộc vừa sâu lắng, truyền thống của một bản lĩnh văn hóa
Khi có điều kiện nhìn lại, 10 tác phẩm kịch của Nguyễn Đình Thi cho
thấy một hành trình sáng tác: Thời kì đầu với Con nai đen, Hoa và Ngần,
Giấc mơ, Rừng Trúc, Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Nguyễn Đình Thi viết
trong nung nấu “viết những điều mình thấy là nên viết” bằng những suy nghĩ
cân não, một tầm nhìn sâu rộng về những vấn đề lớn lao, đại cục Đến thời kì
sau với Tiếng sóng, Người đàn bà hóa đá, Cái bóng trên tường, Trương
Chi, nhà viết kịch viết trong chiêm nghiệm về những điều bé nhỏ, bình dị,
bằng con đường tìm về gần hơn với mảnh đất văn hóa dân gian sâu lắng từ thuở nào, như một bông lúa rủ về với đất 7/10 tác phẩm kịch của ông đều mượn đề tài là những tích cũ, chuyện xưa, 3/10 tác phẩm còn lại phảng phất hơi hướng huyền thoại, vậy nhưng Nguyễn Đình Thi không hướng đến khai thác tỉ mỉ cốt, tích truyện cũ hay làm mới nội dung những cốt, tích truyện cũ
ấy, mà tiếp cận ở hai góc độ, một là ý nghĩa xã hội và nhân bản của xung đột kịch, hai là mối liên hệ giữa vấn đề của ngày hôm qua với cuộc sống hôm nay
Trang 22Dù khai thác ở vỉa tầng nào của lịch sử, của kiện thực, của dân tộc, của con người, kịch Nguyễn Đình Thi cũng hướng tới những vấn đề cơ bản, lớn lao, nhân văn hơn cả Người nghệ sĩ luôn tin vào nhân dân, tin vào lòng yêu nước và lẽ sống của người Việt Ông coi đó là cội nguồn bản lĩnh và sức sống của dân tộc theo trường kì lịch sử Đến với mỗi kiếp người bằng thể loại kịch, mỗi tình huống, mỗi cách ứng xử, mỗi kiểu hành động được đưa vào trong thế giới kịch của ông đều là những lựa chọn quyết liệt trong vô vàn những trăn trở, ưu thời mẫn thế của một nghệ sĩ nhiều tri ân với cuộc đời Ta cảm nhận được rằng phía sau bức màn của những thách thức, những lựa chọn quá ư khắc nghiệt ấy, người nghệ sĩ chỉ tha thiết một điều: Hãy để con người được sống cuộc sống bình thường, tự nhiên
Trang 23CHƯƠNG II CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRONG KỊCH NGUYỄN ĐÌNH THI
Nhân vật là một thành công lớn trong kịch Nguyễn Đình Thi Khảo sát các tác phẩm kịch của ông, chúng tôi nhận thấy tuy chỉ với một số lượng tác phẩm có thể nói khá là khiêm tốn nhưng tác giả đã tạo dựng nên cho mình một thế giới nhân vật phong phú về số lượng và đa dạng về kiểu loại Bất chấp những hạn chế về thời gian, không gian của kịch trên sân khấu, Nguyễn Đình Thi đã nỗ lực không ngừng để tìm ra những hình thức mới để cho mỗi
vở kịch của mình có thể là sự kết hợp tự nhiên của nhiều nhân vật, thuộc nhiều kiểu, loại, mang nhiều đặc điểm và tính cách khác nhau
Trong kịch Nguyễn Đình Thi, từ hình tượng thiên nhiên đến hình tượng con người, tất cả hòa hợp trong một không khí như mơ như thực Đọc kịch
Nguyễn Đình Thi, người đọc như đang đi trong một thế giới mà “mỗi bước đi
đều chợp chờn giữa cõi thực và cõi tâm linh” (14, tr 550) Trong thế giới ấy,
ta vừa bắt gặp những con người của lịch sử xa xưa: Nguyễn Trãi, Trần Thủ
Độ, Lý Chiêu Hoàng, Trần Cảnh…lại vừa bắt gặp những con người rất gần như Hoa, Ngần, người lính, bà lão… lại gặp những con người bước ra từ cổ tích như Tiên Dung, Chử Đồng Tử, Mỵ Nương, Trương Chi, nàng chinh phụ, phú ông, nàng cuội… ta lại gặp cả nữ hoàng Clêôpat, Tần Thủy Hoàng, Thần chết, ở đây còn có cả pho tượng đá, cái lá đa, con nai đen, cái bóng trên tường…cho đến dòng sông, tiếng sóng… Thế giới mênh mang giữa hư và thực mở rộng không gian của tác phẩm, nới rộng những chiều kích đưa con người đến một cõi có hình mà vô hình trong sự toàn vẹn giữa những điều mong muốn, khát khao Đó là một nét phong cách kịch Nguyễn Đình Thi Nếu thời gian và không gian sân khấu hạn chế sự xuất hiện của quá nhiều nhân vật, thì kịch của Nguyễn Đình Thi đã bước qua ranh giới ấy Người nghệ
sĩ đưa nhân vật ra sân khấu cuộc đời, sống với con người
Trang 24Trong thế giới hư thực đó, để hiểu về thế giới nhân vật trong kịch
Nguyễn Đình Thi chúng tôi sẽ chia thành 2 kiểu nhân vật chính: nhân vật từ
hiện thực cuộc sống và những nhân vật biểu tượng Sau đó, luận văn sẽ tiến
hành đi sâu vào phân tích một số nhân vật tiêu biểu, thể hiện những đặc trưng
cơ bản trong sáng tạo kịch Nguyễn Đình Thi
2.1 Nhân vật từ hiện thực đời sống
Đây là loại hình nhân vật nằm trong những tác phẩm mà Nguyễn Đình Thi viết về đề tài lịch sử Không giống với các nhà chép sử khác (chỉ quan tâm đến minh định đúng sai, thật giả của các chi tiết, các sự kiện lịch sử…), các nghệ sĩ được tự do lựa chọn bất kỳ giai đoạn, sự kiện và nhân vật lịch sử nào miễn sao có thể chuyên chở được những khát vọng sáng tạo, gửi gắm được những ý tưởng hằng ấp ủ, và đặc biệt khai thác được mối quan hệ giữa thời đại và lịch sử
Viết về nhân vật lịch sử, Nguyễn Đình Thi đặc biệt quan tâm tới những người đứng đầu xã tắc, nắm giữ việc nước, nắm giữ quyền bính quốc gia, và những người trí thức, nghệ sĩ…, chiêm nghiệm về vai trò của họ đối với lịch
sử, đối với vận mệnh non sông Sau đây, luận văn sẽ đi sâu vào phân tích những hình tượng nhân vật tiêu biểu từ hiện thực đời sống như: nhân vật
người cầm quyền; nhân vật người trí thức, nghệ sĩ; nhân vật người lính và
người ở hậu phương
2.1.1 Nhân vật người cầm quyền
Có thể nói, trong số những vở kịch của Nguyễn Đình Thi viết về để tài
lịch sử, Rừng trúc là một trong những tác phẩm lớn nhất, thành công nhất
Trong tác phẩm, tác giả không xoáy sâu vào tình huống đất nước với những rối ren, biến loạn gươm đao, những xung đột vũ lực giữa các thế lực mà tập trung bút lực vào xây dựng những tính cách, những số phận có tính quyết định vận mệnh đất nước trong hoàn cảnh đó Những cuộc đấu tranh thầm lặng mà
Trang 25giằng xé, quyết liệt trong nội tâm của con người Những bóng tối và ánh sáng làm sao để khai thông trong tư tưởng Mỗi cá nhân vượt qua nỗi sợ hãi, sự mất mát đau đớn trong bản thể nhỏ bé của mình để hy sinh cho những điều
lớn lao, cho quốc gia dân tộc Khi nhà Trần khởi nghiệp “gốc chưa sâu, rễ
chưa bền”, lòng người đang cơn xáo trộn thì mỗi nhân vật ở vị thế của mình
phân tích thời cuộc, nhìn lại chỗ đứng của mình, đưa ra những quyết sách hành động Họ vừa là chủ nhân, vừa là nạn nhân của những biến cố lịch sử diễn ra dưới tác động của những nhân tố chủ quan, khách quan
Từ xưa đến nay, trong lịch sử dân tộc nói rất nhiều đến vị thế người nắm quyền lực: quyền lợi và trách nhiệm với quyền tự do và quyền sống của
cá nhân; vinh quang và cay đắng; sự hưởng thụ và hi sinh; quốc gia và tư gia: quyền uy của chế độ phong kiến ở nhiều nước đã gây ra biết bao thảm kịch đẫm máu Nhưng con người vẫn khát khao có được quyền lực sẵn sàng đánh đổi, sẵn sàng làm tất cả vì nó Dường như, Nguyễn Đình Thi thấu hiểu được hiện thực chính trị xã hội con người, đưa họ vào trang viết của mình Các
nhân vật trong Rừng trúc cũng không vượt qua được giới hạn của những tấn
bi kịch ấy Họ đứng giữa dòng lịch sử Họ gánh hết mọi giông tố của thời đại
Họ chịu trách nhiệm với vận mệnh non sông, với lịch sử Họ vẫn mang một số phận, một thân phận, một kiếp người Nguyễn Đình Thi chú ý đến họ là đại diện cho một kiếp người – Người cầm quyền
Để thấu suốt nội dung tác phẩm, chúng tôi tiến hành nghiên cứu và phân tích bộ ba nhân vật Trần Thủ Độ – Lý Chiêu Hoàng – Trần Cảnh trong cơn biến loạn dữ dội của lịch sử
a)Nhân vật Trần Thủ Độ
Trong tác phẩm Rừng Trúc, Nguyễn Đình Thi xoay quanh sáu nhân
vật lịch sử đời Trần ở thế kỷ XIII Trong hoàn cảnh đất rối ren giặc ngoại xâm lăm le bờ cõi, thời điểm chuyển giao ngôi báu từ triều Lý sang triều Trần
Trang 26cùng với sự bạc nhược, yếu hèn và mất đoàn kết của vua tôi nhà Trần Nguyễn Đình Thi đã xây dựng hệ thống nhân vật tham dự tích cực vào sự vận
hành của những biến cố lịch sử ấy Trần Thủ Độ là một nhân vật đặc biệt
Xây dựng nhân vật này, tác giả đã khai thác đúng chất sử Theo sử sách Trần Thủ Độ là một vị tướng tài ba, có tầm nhìn xa trông rộng, có tài thao lược, có nhiều mưu mẹo, tính khí kiên quyết trung thực thẳng thắn…., luôn đặt lợi ích quốc gia lên trên hết Cũng sử sách kể lại, năm Giáp Thân 1224, khi vua Lý Huệ Tông truyền ngôi cho con gái mới 7 tuổi rồi bỏ đi tu ở chùa Chân Giáo, Trần Thị Dung (lúc đó là hoàng hậu Lý Huệ Tông) muốn giúp Trần Thủ Độ
chiếm đoạt ngôi báu, ông đã bật đứng dậy mà nói “Tôi không thể làm như thế
Vì lợi nước, tôi không thể đoạt ngôi vua, nước sẽ loạn ngay Làm mất lòng dân là làm thế nước yếu đi Kẻ có lợi là giặc ngoài” [7, tr 50]
Nhà nghiên cứu Phan Trọng Thưởng đã có cái nhìn thấu đáo, đã có sự
phân tích sâu sắc về nhân vật này Ông cho rằng: “…Trần Thủ Độ là một
nhân vật đặc biệt Nếu như với triều Lý, ông bị coi là kẻ thoán nghịch, thì với triều Trần, ông lại được coi là một bậc khai quốc công thần…Với bàn tay sắp đặt của ông, địa vị của vương triều nhà Trần và chủ quyền của xã tắc được củng cố, quốc gia hưng thịnh Nhưng về đạo đức, thế sự ông lại gây lắm điều thị phi, để lại không ít tai tiếng trong lịch sử Dường như những lo toan, cắt đặt, những quyết đoán của ông đều xuất phát từ lợi ích của vương triều và quốc gia Ông sẵn sàng làm mọi việc, miễn sao đạt được mục đích mà mình theo đuổi Đương nhiên những cơ mưu chính trị mà ông áp dụng đều có tác dụng hai mặt Mặt tích cực là củng cố quyền lực của vương triều, xã tắc thì
cả vua tôi và thần dân trong nước đều được hưởng Nhưng mặt tiêu cực là những điều tiếng dị nghị thì ông lại là người hứng chịu, thậm chí còn phải trả giá” [14, tr 326]
Trang 27Đúng vậy, ta thấy nhân vật Trần Thủ Độ có tính cách khá phức tạp Ông là kẻ thoán nghịch với triều Lý, nhưng là bậc khai quốc công thần của
triều Trần Một tay ông cắt đặt công việc xã tắc “việc to việc nhỏ không gì
không nghĩ suốt” Nhưng có lẽ về mặt đạo lí, thế sự, ông cũng gây lắm điều
thị phi, tai tiếng Đằng sau những toan tính phức tạp của nhân vật này là động
cơ chính trị hết sức rõ ràng Dường như mọi lo toan, sắp đặt quyết đoán của ông đều xuất phát từ lợi ích của vương triều và quốc gia Người đọc Rừng trúc dễ dàng nhận ra quan điểm đồng điệu giữa tác giả và nhân vật về việc nước, phép nước, về cái lẽ của người cầm nắm việc lớn “Trước ta phải làm sao cho dân có sức, nước mới mạnh được” “Bệ hạ không phải chỉ lo tìm tướng giỏi, mà phải lo sắp đặt phép nước, tìm người có tài, đặt cho đúng chỗ, dùng cho hết tài sức của họ” “Việc lớn trong nước cứ gì nhìn vào thân thích”, miễn sao tìm được người làm việc nước mà “không biết lấy lòng ai, không bao giờ nghĩ làm thế nào để bề trên nhìn thấy mình”, “thấy việc phải thì làm, không sợ vấp váp”, “không coi thường việc nhỏ mỗi lúc, lại biết giữ chắc bền việc lớn dài lâu” Ông cho rằng “100 người vâng dạ không bằng một người nói thẳng” Cho nên, Trần Thủ Độ rất coi trọng những người dám nói ra những điều mà người khác chỉ dám nghĩ Ông cũng thẳng tay bãi chức những quan lại cậy quyền, cậy thế hiếp đáp người dưới quyền mình Cách sống, cách thể hiện của Trần Thủ Độ đã làm cho người dân tin là “có phép nước hẳn hoi”
Có thể nói, Trần Thủ Độ là người khởi nghiệp triều Trần, ông luôn coi phép nước là cái gốc của sự thịnh trị Những suy nghĩ và những việc ông làm
vì vương triều, vì quốc gia cho thấy ông là người mẫu mực của người cầm nắm việc lớn, xứng đáng nêu gương trong sử sách Nguyễn Đình Thi muốn những quan điểm ấy của người xưa tiếp tục soi Thủ Độ với một cá tính mạnh
mẽ như thế, Nguyễn Đình Thi bộc lộ một chiêm nghiệm sâu sắc về lịch sử, về thời cuộc
Trang 28Trần Thủ Độ không phải là nhân vật mang xung đột nội tâm, mà là xung đột tính cách Và tính cách của nhân vật này chịu sự can thiệp của tình huống lịch sử Nguyễn Đình Thi muốn phân tích sự kiện, tình huống, ngầm gửi một thái độ đánh giá đối với các nhân vật lịch sử, một vấn đề mà càng có
độ lùi thời gian, dư luận sẽ càng công tâm hơn
Trong tác phẩm, tính cách phức tạp của Trần Thủ Độ chủ yếu được người đọc hình dung, cảm nhận thức của Chiêu Thánh và những lời thanh minh của công chúa Thiên Cực Đành rằng Thái sư Trần Thủ Độ hết lòng hết sức với cơ nghiệp triều Trần, nhưng việc ông và công chúa Thiên Cực đưa Thuận Thiên vào thế chỗ Chiêu Thánh làm Hoàng hậu đã khiến Chiêu Thánh
nhớ lại câu chuyện 11 năm về trước mà thấy ghê sợ “Nói lại chuyện đã qua
mà mặt tôi như nhúng vào vạc dầu sôi, đầu tôi như có vòng sắt thít vào cho
vỡ tung ra” Còn Thiên Cực cũng chẳng kém phần đau đớn “Ngày ấy con còn quá nhỏ, làm sao hiểu hết những nông nỗi của mẹ…Triều đình lúc ấy năm bè bảy mối, việc nước nát như tương…Chiêu hoàng con ạ, ngày ấy mà không xoay chuyển được nhanh thì cả nước cũng không còn, mà cả bên nội, bên ngoại nhà con cũng bị giết hết…” Với những đòi hỏi của lịch sử, công lao
trấn hưng đất nước của Trần Thủ Độ quả là to lớn… Những quyền biến cơ mưu, những thẳng tay sắp đặt “việc người”, những vi phạm trầm trọng luân thường đạo lí mà Trần Thủ Độ bị mang tiếng đã gỡ cho thế nước khỏi một phen đá vụn tro tàn Việc Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh, triều Lý chuyển giao giang sơn cho triều Trần âu cũng là tình thế lịch sử, cũng là do thế nước mà triều đại đổi thay Trần Thủ Độ là người biết cách tác động tích cực vào đó để biến cố lịch sử diễn ra như một tất yếu Nhưng để được “việc nước” ông đã vi phạm “việc người” Tính cách của Trần Thủ Độ được hình thành trong xung đột giữa “việc nước” và “việc người”, gắn với những tình huống lịch sử đặc biệt éo le
Trang 29Trong tác phẩm, mặc dù nhân vật Trần Thủ Độ có những hành động, tính toán, cư xử vi phạm nguyên tắc đạo lí nhưng vẫn không bị phê phán gay gắt, thậm chí đôi khi còn được thể hiện với những thái độ trân trọng, đề cao Bởi lẽ, ông toan tính những việc trái với đạo lí, luân thường nhưng không phải sự toan tính cho quyền lợi cá nhân mà hoàn toàn vì lợi ích của quốc gia
và vương triều Ông là người luôn đặt “ việc nước” lên hàng đầu, luôn vì đó
mà khu xử, luôn căn cứ vào tiêu chí đó để mà đánh giá những cách hành xử của những nhân vật khác Chính ông là người đã đưa ra những quan điểm thật đúng đắn về vấn đề vận mệnh quốc gia, về cách trị nước, cách dùng người, về trách nhiệm của mỗi cá nhân trước những vấn đề sống còn của dân tộc Với phẩm cách ngay thẳng, ông đã trình bày quan niệm thật rõ ràng của mình:
“Tôi không biết chữ, không am hiểu về đạo lí thánh hiền Nhưng tôi nghĩ cũng có khác mấy ông nhà nho Nếu như chỉ thuộc lòng mấy bộ kinh sử
từ đời ông Chu Công Khổng Tử nào ở tận đâu mà xoay chuyển được thiên hạ này, thì việc đời dễ quá, khác gì trò trẻ con! Phải làm thế nào cho được việc nước, đó là cái lẽ của người cầm nắm việc lớn Đã nắm việc nước, ắt phải xem bất cứ cái gì khác cũng là nhỏ, chỉ có việc nước là chuyện đáng kể thôi”
Có thể nói, quan niệm này đủ sức lí giải, biện minh cho mọi hành động, toan tính của vị quan đầu triều này, từ việc bất tử Lý Huệ Tông tìm cách đưa Trần Cảnh lên ngôi thay thế Lý Chiêu Hoàng, đến việc ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi hoàng hậu cho công chúa Thuận Thiên, tìm mọi cách đưa nhà vua từ Yên Tử trở về Thật sự ông đã làm tất cả chỉ vì muốn được “việc nước” chứ không hề vì mưu lợi cá nhân Ngay cả khi nhà vua rời cung cấm để lên
Yên Tử tìm chốn thanh nhàn ông vẫn một mực quan niệm “Vua ở đâu thì
triều đình ở đấy” mà không mảy may có ý nghĩ dành lấy quyền lực về cho
riêng mình Không chỉ vậy, những quan niệm của ông về việc nước chính là một hệ thống đường lối, sách lược đúng đắn cho con đường trị nước của một đấng minh quân Trong cuộc đối thoại với Trần Cảnh, ông đã chỉ ra rằng:
Trang 30“…cái gốc là ta phải lo nhanh lấy thực lực của mình, mài thanh gươm của ta cho sắc thì dù thế nào ta cũng không sợ”
“Triều ta phải làm sao cho dân có sức, nước mới mạnh được Việc quân cũng như cái mũi dáo, cái cán dáo là việc dân Cái cán không chắc thì mũi dáo dù sắc nhọn mà vào trận, có khi chưa đâm mạnh đã gãy rồi”
“… bệ hạ bây giờ không những phải lo tìm tướng giỏi mà phải lo xếp đặt phép nước, tìm người có tài, đặt cho đúng chỗ, dùng cho hết tài sức của họ…”
Rõ ràng, đứng trên phương diện việc nước mà xét, thì đây là những quan niệm mà bất cứ ai cũng cảm thấy đúng đắn, thấm thía mà đồng thuận Với Trần Thủ Độ, đây không phải là bài học quân sự, chính trị rút ra từ sách
vở, kinh thư mà chính là những chiêm nghiệm, những triết lí rút ra từ thực tế của một con người hiểu đời, sắc sảo, mưu lược và luôn hết lòng vì nước b) Nhân vật Lý Chiêu Hoàng
Có lẽ, đây là nhân vật được Nguyễn Đình Thi dành nhiều tâm huyết hơn cả Cũng có thể nói, đây là nhân vật lý tưởng – nhân vật mang tầm tư tưởng lớn nhất, kết tinh những suy tư chiêm nghiệm, cả những trăn trở tha thiết của người nghệ sĩ trong suốt một đời hoạt động sáng tác nghệ thuật
Chọn một nhân vật có thật trong lịch sử làm chất liệu nghệ thuật, quyền năng sáng tạo của Nguyễn Đình Thi chắc chắn sẽ bị đối tượng chi phối trở lại Làm sao để Lý Chiêu Hoàng vừa có được tính chân thật khách quan lịch sử, lại vừa là nơi để nhà văn thực hiện những ý tưởng nghệ thuật phong phú và sâu sắc?
Trong lịch sử, Lý Chiêu Hoàng không phải là nhân vật đặc biệt nổi tiếng và có công trạng gì thật lớn lao với triều đại và non sông Về vị thế lịch
sử, Lý Chiêu Hoàng là vị vua cuối cùng của triều Lý, được truyền ngôi trong bối cảnh vua cha vì bệnh tật, yếu hèn nên bị bức tử Lúc đó Lý Chiêu Hoàng
Trang 31mới chỉ là cô bé 7 tuổi và liền sau đó, do sắp đặt của Trần Thủ Độ, đã nhường ngôi cho “chồng” là Trần Cảnh (8 tuổi), kết thúc vương triều nhà Lý tồn tại hơn 200 năm, mở ra vương triều nhà Trần Về nhân vật này, sử sách ghi lại rất
ít, cũng vì thế mà người đời sau mượn chuyện lịch sử này có cơ hội sáng tạo được nhiều hơn, trong đó có Nguyễn Đình Thi Người nghệ sĩ tài hoa đã nhìn
ra ở Lý Chiêu Hoàng một số phận lịch sử lớn, một bi kịch lớn
Bước vào kịch Nguyễn Đình Thi, Lý Chiêu Hoàng là một người đàn bà trưởng thành, có nhận thức sâu sắc về thời cuộc, nhân sinh, về thân phận của mình Lý Chiêu Hoàng đã tận mắt chứng kiến những biến cố diễn ra trong cung thất nhà Trần, đã trải nghiệm đau đớn về những nỗi bất hạnh riêng và nghiền ngẫm sâu sắc về chính sự Sự sắp đặt lần này của Trần Thủ Độ và Thiên Cực (cho Thuận Thiên thế vào chỗ Chiêu Thánh để lo việc nối ngôi) làm Chiêu Hoàng nhớ lại câu chuyện khủng khiếp 11 năm về trước Nàng sực tỉnh và nhận ra thân phận lịch sử của mình Mặc cảm tội lỗi với tiên đế, với huân nghiệp tổ tông và mặc cảm bất lực, cô đơn trước triều chính, thế sự đã giày vò, đay nghiến Lý Chiêu Hoàng Nhưng mọi sự sám hối, ăn năn dường như đã muộn Khi bà ý thức được đầy đủ về quyền lực cá nhân và vương triều thì quyền lực đã vĩnh viễn tuột khỏi tay Hơn nữa, với sự tác động tích cực của họ Trần, lịch sử đã diễn biến theo chiều hướng có lợi cho họ Vì vậy hành động nhường ngôi của Lý Chiêu Hoàng tuy có cái non nớt, nông nổi của tuổi trẻ nhưng kgoong phải là một nỗi lầm lịch sử vì kết cục ấy sớm muộn cũng sẽ diễn ra Kịch tính lên cao trào Nhân vật Lý Chiêu Hoàng vừa mới xuất hiện
Trang 32Kể từ lúc đó, người đọc, người xem như bị hút vào với những vò xé, lúc khóc lúc cười, những lựa chọn của nhân vật và tự hỏi: sao cuộc đời lại đặt một xứ mệnh quá lớn lên đôi vai người phụ nữ bé nhỏ như Lý Chiêu Hoàng?
Vị vua bà vừa là nạn nhân, vừa là chứng nhân của một biến thiên lịch sử lớn, cũng là nạn nhân và chứng nhân của những bi kịch ghê gớm do quyền lực gây
ra Chiêu Thánh cứ bị cuốn đi dưới bàn tay sắp đặt thô bạo của Trần Thủ Độ
và Thiên Cực, nhưng đồng thời bà cũng là người sáng suốt phán xét lịch sử và
có những cách ứng xử cao cả Mới biết sự vận hành của lịch sử, của quyền lực nhiều khi dẫn tới những đau đớn khôn lường cho con người, kể cả người có
quyền cao chức trọng Nhân vật Lý Chiêu Hoàng trong Rừng trúc được đặt
trong bao mối quan hệ phức tạp éo le Cuộc đời của bà dường như tập trung tất cả những mâu thuẫn, những hình thái xung đột cơ bản nhất của tác phẩm này Nếu Trần Thủ Độ là nhân vật của hành động thì Lý Chiêu Hoàng thuộc nhân vật kiểu tâm trạng
Trần Thủ Độ mang xung đột tính cách, còn ở Lý Chiêu Hoàng chủ yếu
là những xung đột trong thế giới nội tâm đau đớn Qua Lý Chiêu Hoàng, người đọc nhận ra thiên hướng và sở trường kịch của Nguyễn Đình Thi – đó
là kịch tâm trạng Diễn biến tâm lý của nhân vật Lý Chiêu Hoàng đã được tác giả kịch bản khai thác ở nhiều vị thế khác nhau, mà nhất là sự kết hợp của tư cách làm vua với tư cách của một con người
Khi đối thoại với bản thân, tự soi mình Lý Chiêu Hoàng cô độc biết mấy!
“Nào chồng, nào mẹ, nào chị…còn ai gần gũi hơn (cười)…Nào ta còn
ai khác là máu mủ ruột thịt ở trên đời này nữa!
Chẳng còn ai khác Ta chẳng còn ai…
Trang 33Cả mấy người ở một bên…Bỏ ta một mình ở bên này Chưa đến nỗi là thù… Chưa đến nỗi…Nhưng không phải những người còn ở với ta cùng một đời nữa rồi… Sao lại như vậy!
Chỉ có một người ở với ta mãi thôi Một người không bao giờ bỏ ta Chỉ
có một người thật thương ta, thương ta mọi nỗi Cha ơi cha! (khóc)
Nào chồng, nào mẹ, nào chị… Ừ thôi, hôm nay ta sẽ không lánh đi đâu nữa Ta sẽ gặp tất cả Muốn nói chuyện gì với ta, ta sẽ nghe tất cả Thế nào cũng được Ta đâu còn ở đây nữa, dù có chuyện gì xảy ra, đâu còn động gì được với ta Làm gì còn ta ở đây Ta ở chỗ khác rồi Tất cả bọn các ngươi sẽ chẳng làm gì được Ta chẳng phải một mình Ta vẫn có người thương ta chứ, thương ta mà chẳng nói một lời, người ấy đi xa lắm rồi, đi chẳng bao giờ về nữa, thế mà tình thương ấy vẫn cứ bao bọc, che chở cho ta, nuôi cho ta sống được đấy…
Mẹ chắc cũng còn có đôi chút tình mẹ con chứ nhỉ…Là mẹ ta nhưng lại
là vợ kẻ bắt cha ta phải chết Thế thì ta là con gái đáng thương của bà, hay ta
là kẻ thù đáng sợ của vợ chồng bà? Bà nhìn thấy ta là con bà hay nhìn thấy ta chỉ như cái oán hiện hình, không thể nào tan đi được!
Tội nghiệp cho chị, chị Thuận Thiên ạ, đáng lẽ chỉ còn chị với em thôi Thế nhưng bây giờ họ đang lôi chị vào đấy, biết đâu, lúc này chị nhìn em chẳng thấy em đã hóa ra như một cái gai, một cái gai phải bẻ đi, nhổ đi, không thì cũng phải làm thế nào gói kín cất sang một bên…
Đáng lẽ người gần ta nhất, thương ta nhất, là chàng đấy, chàng Hai của em ơi… Chàng chẳng có tội gì với cha em Có lẽ chàng cũng thương yêu
em từ năm ấy em lên bảy, chàng lên tám, cho đến bây giờ hơn mười năm, có
lẽ lòng chàng cũng chưa đến nỗi chút nghĩa cũ từ ngày ấy Nhưng chàng cũng chẳng phải chỉ là chàng Hai của ta Xưa kia thì mỗi lần ta gọi, chàng vội quỳ lạy và hãy nói với ta: muôn tâu Bệ hạ Còn bây giờ thì trước mặt chàng, ta lại
Trang 34phải quỳ lạy và cúi đầu nói với chàng: muôn tâu Bệ hạ (cười rũ rượi, chảy nước mắt, cười mãi) Vì đâu như vậy chàng Hai! Tại cái mũ ngọc này! (ném cái mũ miện xuống đất) Vứt nó đi! Nó làm cho ta mỗi lần muốn gần chàng, bỗng nhiên chỉ còn là một cái xác lạnh như đồng Nó làm cho trong lòng ta
cứ băng giá đi dần, mắt ta nhìn chàng chỉ thấy cứ xa đi mãi, xa mãi, chàng cũng đi sang bên kia với tất cả bọn họ rồi Vứt cho xa đi, vứt nó đi”
Đối thoại với Thiên Cực, Lý Chiêu Hoàng bàng hoàng giữa hai thân
phận đứa “con gái đáng thương” hay “kẻ thù đáng sợ” của người mẹ ruột
mình Lý Chiêu Hoàng muốn từ bỏ sự sắp đặt bấy lâu nay dành cho mình, lấy
lại tư thế của mình: “… hôm nay, bà vất bỏ cái mũ Hoàng hậu kia rồi Từ bây
giờ tôi lìa bỏ tất cả chốn này, tất cả những người ở đây, tôi trở lại làm một con người, không phải giấu giếm những nỗi niềm thật của tôi” Bởi lẽ, vị vua
cuối cùng của triều Lý đã nhận ra địa vị thật sự của mình, hối hận ăn năn, tiếc
nuối và khao khát dành lại quyền lực cho cá nhân và vương triều: “Lâu nay,
bọn các người chỉ thấy ta là Hoàng hậu của Trần Cảnh Đâu phải Ta là Lý Chiêu Hoàng Ta không phải vợ vua Ta là vua nước này… Ta là vua dòng triều Lý đã trị vì trên hai trăm năm nơi giang sơn này, đã xây thành Thăng Long, đã mấy phen đánh Tống, dẹp Chiêm, đã dạy dân nghề dệt, nghề in, cùng trăm nghề khéo, đã mở mang văn hiến rực rỡ, làm cho đất nước Việt ta đẹp quý như viên ngọc một cõi đất trời Khi ta lên bảy tuổi nhường ngôi cho Trần Cảnh thì đó chỉ là một trò xếp đặt của các ngươi Trần Cảnh chẳng qua lúc ấy chỉ là một đứa trẻ, mặc áo, đội mũ, trong tay các ngươi Đến nay, ta đã
đủ trí xét đoán mọi việc, ta vẫn là nữ hoàng của đất nước này, là nhà vua của các ngươi đây” Tuy nhiên, cùng với những ân hận, nuối tiếc ấy, Chiêu Thánh
nhận ra sự cô đơn của mình trước triều chính, nhận ra những oan nghiệt cũng
như chiều hướng diễn biến của lịch sử: “Giọt máu cuối cùng xa xôi của Đức
Lý Thái Tổ xưa” đã nhận ra thế nước và có những ứng xử bi hùng Nhận lại tổ
Trang 35tông huân nghiệp, ở vị thế của một bà hoàng, Lý Chiêu Hoàng lại đau đớn
nhận ra ngõ cụt của triều đại mình: “Ta đã nghĩ nhiều… Hai đời vua ông cha
đã có nhiều nỗi lầm, yếu hèn, để cho đến nỗi trăm họ phiêu bạt, núi sông nghiêng ngửa… mà cái họa Thát Đát bên phương Bắc thì cứ ngày một gần… cho nên ta đã có ý định của ta…nhà Lý ta đã đến lúc xong công việc!” Vẫn
không hết oai nghiêm, Lý Chiêu Hoàng dõng dạc phán quyết một việc hệ
trọng, đó là chuyển giao quyền lực với một lời cảnh cáo đanh thép: “Từ hôm
nay, Lý Chiêu Hoàng này rời bỏ ngôi báu Người đàn bà được Đức vua cha
ta yêu quý kia, ta cho bà trở về họ Trần, từ nay bà không còn phải là bày tôi của nhà Lý nữa Ta cởi bỏ cho các người khỏi thân phận một bọn tiếm quyền,
mà được chính danh giữ việc nước, thế thì các ngươi hãy ra khỏi cõi tối tăm, quỷ quyệt, mưu mô, từ nay giữa thanh thiên bạch nhật hãy hết lòng phù tá người kế tiếp ta, giữ gìn lấy giang sơn nhà Lý ta giao lại Bờ cõi này còn chưa vững chắc thì các người phải ăn ngủ không yên! Còn ta, từ nay ta sẽ làm một người dân thường, xa nơi triều chính… Ta đã nói, bà đã nghe Hãy tuân theo ý ta, từ nay hãy để ta yên”
Với Thuận Thiên, Lý Chiêu Hoàng như thắt lòng lại: “Ta mừng cho
hoàng hậu mới của Đức vua ta Xin mừng Hoàng hậu Thuận Thiên…Em mừng cho chị thật Mà càng mừng hơn nữa cho em”
Với Trần Cảnh, Lý Chiêu Hoàng như một người vợ yếu đuối đoạn
tuyệt đường tình trong giằng xé: “Ngày hôm tôi bế trong tay cái xác nhỏ bé
tím bầm của đứa con tội nghiệp, có lẽ hôm ấy tôi đã trông thấy nỗi oan nghiệt
nó thắt buộc mối duyên nợ hai vợ chồng ta Trần Cảnh chàng hỡi, chàng Hai của tôi ơi, không phải lòng tôi phụ bạc với chàng Từ buổi lần đầu tôi đùa, ném chiếc khăn cho chàng, tuy mới là đứa bé chưa đủ trí khôn, tôi đã gửi tất
cả hồn xác cho chàng Ừ, giá như chàng mãi mãi chỉ là chàng Hai của tôi nhỉ, giá như không có việc đời gì khác xen vào, để cho thân này chỉ sống mãi
Trang 36vì có chàng mà thôi! Nhưng nào có như vậy được Biết bao dây nhợ ghê gớm buộc kéo chàng đi xa dần, tay tôi quá yếu nhỏ, làm sao níu lại! Biết bao nỗi đời tàn bạo như đám lửa táp vào cái cây non, đốt thân lá nó quắt đen chết rũ xuống Tôi chỉ còn mong có đứa con thì nó chưa kịp khóc mấy tiếng đã bỏ đi Bây giờ nghĩ lại, tôi đã hiểu Từ lúc ấy, Chiêu Thánh của bệ hạ đã chết rồi”
Lại từ ngôi vị nhà vua, Lý Chiêu Hoàng bàn việc nước: “Cái lễ năm Dậu, tôi
từ ngai vàng bước xuống mời bệ hạ lên ngôi, bây giờ nhớ lại, tôi thấy thương cho cả hai đứa trẻ lúc ấy Bệ hạ cũng biết, tất cả do ông chú họ bệ hạ cùng với bà mẹ tôi kết liên với bọn mấy viên đại thần của cha tôi trước, cùng nhau bàn tính sắp đặt Rồi bấy nhiêu năm nay, việc triều chính nhất cử nhất động cũng vẫn là ở tay những người ấy Cứ như thế mãi sao! Đành rằng Thái sư Trần Thủ Độ hết lòng hết sức với cơ nghiệp nhà Trần, nhưng rồi đây, nếu phải khi nước nhà gặp nạn giặc ngoài kéo đến, giữa cơn sóng to gió lớn, đâu phải một mình ông ta thay được cả nước! Lúc nước nhà có việc lớn, phải có người mang nghĩa lớn mới thu phục được lòng dân, kêu gọi được trăm họ Nếu lúc ấy đạo nghĩa không rõ ràng, e nguy hại chưa biết đến thế nào cho cả giang sơn này Hôm nay, tôi đã thẳng lời truyền bảo cho bà mẹ tôi Tôi muốn nhắn cho ông Trần Thủ Độ cùng đám đại thần vây cách kia biết, từ nay đã đến lúc phải khác đi” Rồi chính thức chuyển ngôi vị, từ địa vị một người dân
thường xin được ban ơn: “Tiếc rằng nhà Lý tôi đến đây là hết, nhưng tôi
mừng là nhà Trần mở đầu có được bệ hạ Xin bệ hạ tha lỗi, tôi vẫn thầm coi chuyện ngường ngôi mười một năm trước là không có Hôm nay mới thật là ngày, trước trời đất núi sông, Chiêu Hoàng tôi kính mời Đức vua mở nghiệp lớn nhà Trần nhận lấy lấy công việc đất nước Đại Việt này Từ lúc này, tôi xin chỉ là một dân thường, cái tên Lý Chiêu Hoàng từ nay cũng không còn trong trí nhớ tôi nữa, dám mong bệ hạ rộng lượng cho tôi được một gian nhà không xa chùa Bảo Quang, để tiện đường đi lại trông nom hương khói cho cha tôi Được như vậy, xin không dám quên ơn”
Trang 37Với Trần Liễu – người muốn phò Lý Chiêu Hoàng, Lý Chiêu Hoàng
lượng trên phủ nhận dứt khoát vị thế cũ xưa của mình: “Lý Chiêu Hoàng
không còn ở đời này, đã từ lâu rồi”, vậy mà vẫn không nguôi việc nước:
“Ông Cả nên hòa với nhà vua Có đắng đấy, nhưng mà giữ được cơ đồ nhà Trần các ông, mà to hơn nữa là giữ được nước”
Với Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng biết mình biết người: “Thưa quốc
công, tôi được về ở đây yên ổn, tự biết là may lắm Nhờ ơn Đức vua, nhờ ơn Đức vua, nhờ ơn Quốc công rộng lượng, tôi đâu dám quên” mà vẫn kiêu
hãnh: “Vâng, việc nước là lớn nhất, nhưng việc người với người cũng không
phải là nhỏ hơn… Nếu như Chiêu Thánh tôi trở về làm Hoàng hậu, nếu như mội sự lại an bài theo cách ấy, thì bề ngoài tưởng chừng vẫn đâu vào đấy y nguyên như cũ, nhưng thật ra nào có phải như vậy! Có khi lại thành ra như
có con sâu bên trong Nhà vua nhìn thấy như vậy, e rằng có nỗi đau đớn thầm
Mà rồi có khi chàng Hai sẽ không còn thấy có gì tin được nữa ở đời! Xin Quốc công cho tôi vẫn được ở nơi đây, dạ, tôi nghĩ như vậy phải lẽ hơn, mà cũng tốt lành hơn!”
Với số phận cay đắng của vua Lý Chiêu Hoàng, xung đột của vở kịch
bị đẩy lên cao trào, trở nên hết sức căng thẳng…Song cách giải quyết xung đột lại rất phải lẽ Có bi, có hùng, có đau đớn mà vẫn trang trọng thiêng liêng Cái thấu tình đạt lí trong giải quyết tình thế của Lý Chiêu Hoàng đã hàm chứa một triết lý lịch sử thâm trầm sâu sắc Đặt nhân vật trong tình thế lịch sử đặc biệt, chằng chịt những mối quan hệ éo le, phức tạp như vậy, Nguyễn Đình Thi muốn cảm thấu những nỗi đời, nỗi người Không phải ngẫu nhiên các nhân
vật của ông đã nhiều lần thốt lên: “Khó thay nỗi làm người”, “Kiếp làm
người nghĩ đáng sợ” Có thể thấy những biến động của lịch sử cùng với sự
vận hành nghiệt ngã của quyền lực đã làm đảo lộn đến chóng mặt, dẫn tới những phi luân đến mức không thể hình dung được Chiêu Thánh chán ngán,
Trang 38sợ hãi khi chứng kiến những chuyện xảy ra trong tam cung lục điện Nỗi ghê
sợ cùng với bao nhiêu mặc cảm đã giày vò, khiến tâm tư nàng ngổn ngang những nỗi niềm ai oán Đã thế, những bất hạnh liên tiếp dồn đến đúng vào lúc thế nước hiểm nguy, vận mệnh trăm họ bị đặt trước một thử thách lịch sử đặc biệt Lý Chiêu Hoàng chứng tỏ một nhân cách lớn Bà hiểu sâu sắc việc nước nhưng cũng vô cùng thấm thía việc người Khi đã xa nơi triều chính để sống cuộc sống bình thường của một con người “không phải giấu giếm những nỗi niềm thật” của mình, nhưng Chiêu Hoàng vẫn không nguôi nghĩ về nhân tâm thế sự Trước sự kiện Trần Thái Tông vì chán ngán nỗi người mà rời Thăng Long đi rừng trúc Yên Tử, rồi sự bất hòa sâu sắc giữa hai anh em Trần Liễu, Trần Cảnh, Chiêu Thánh luôn nghĩ đến những cách ứng xử sao cho “phải lẽ đời”, “tốt lành hơn”, vừa thấu tình cho việc người, vừa đạt lí cho việc nước Chiêu Thánh đã nghiền ngẫm về đạo trời và thế nước mà nói với Trần Thủ Độ
(người luôn đối nghịch việc nước với việc người) rằng: “Vâng, việc nước là
lớn nhất, nhưng việc người với người cũng không phải là nhỏ hơn” Với câu
nói ấy, Chiêu Thánh của Nguyễn Đình Thi đã khắc vào vô tận thời gian một chân lí mới, một đạo lí lớn, một tư tưởng nhân văn có tầm vóc
Trong cách viết của Nguyễn Đình Thi, nhân vật Lý Chiêu Hoàng thực
sự là một nhân vật để đời, thu hút tinh hoa bút lực của tác giả Với một nhận thức sâu sắc, một bản lĩnh vững vàng, một diễn biến nội tâm phức tạp, nhiều nỗi giằng xé đớn đau mà quyết liệt Là một người cầm quyền, Lý Chiêu Hoàng không khỏi có những lúc tỏ ra hối hận, ăn năn, tiếc nuối khao khát giành quyền lực và vương triều Nhưng ở vị thế một con người, một người
phụ nữ, quyền lực đối với bà là một nỗi kinh hãi “Nó không chỉ làm điêu
đứng cả triều đại, điêu đứng cả nhân tâm thế sự và điêu đứng cả lịch sử”,
theo cách bình luận của nhà nghiên cứu Phan Trọng Thưởng Điều đáng chú ý
ở bất kỳ thời điểm nào, trong bất kỳ mối quan hệ nào, Lý Chiêu Hoàng đều
Trang 39nổi bật, giống như một nhân vật được nhà viết kịch chắp cho một đôi cánh lý tưởng Có người cho rằng, nhà văn đã giải quyết bi kịch Lý Chiêu Hoàng vượt lên trên bi kịch, vì thế tính chân thực lịch sử bị giảm đi, nhưng bù lại, với sáng tạo của Nguyễn Đình Thi, nhân vật lại có sức sống thời đại hơn rất nhiều Nàng Chiêu Thánh nhỏ bé nhưng đã phải đảm đương một vai trò lịch
sử éo le, một vai trò nghệ thuật đắc đạo trong tác phẩm Nguyễn Đình Thi đã gửi gắm, kí thác những suy tư, trăn trở về thời cuộc vào Lý Chiêu Hoàng, cũng qua nhân vật để gửi một thông điệp tới cả lịch sử Lý Chiêu Hoàng thực
sự là một hình tượng nghệ thuật, một biểu tượng đẹp, có tầm vóc lịch sử c) Nhân vật Trần Cảnh
Trần Cảnh – ông vua đầu tiên của triều Trần, cũng là nhân vật đặc biệt của Phật giáo Việt Nam gắn với vùng đất thiêng Yên Tử Thể hiện nhân vật này, Nguyễn Đình Thi mong đạt được hai mục đích: vừa chiêm nghiệm về các vấn đề xã hội, lịch sử, vừa hướng tới những triết lý sống cao cả, khát khao vươn tới cõi thanh tịnh của lòng người Tác giả đã khai thác sâu vào tâm lý nhân vật để dựng được một hình tượng có bề dầy, có chiều sâu Trần Cảnh bỏ ngôi báu về chốn Yên Tử thanh tịnh là một sự kiện lịch sử trọng đại, xuất phát
từ sự tranh giành quyền lực, từ sự sắp đặt quyền bính trong triều chính của Trần Thủ Độ, đây là đỉnh điểm của những mâu thuẫn Là người đứng đầu xã tắc có tầm nhìn xa trông rộng, có tầm nhận thức chính trị sâu sắc, Trần Cảnh chán ghét lối sống dung tục, bon chen, chán ghét lẽ đời…
Đọc tác phẩm, ta thấy khi Trần Liễu định dấy binh chống lại triều đình,
Trần Cảnh cảm thấy đau đớn: “Anh em ruột thịt đánh lẫn nhau Thật là xấu
hổ, cha mẹ ta dưới suối vàng hẳn vật mình không yên” Bao đêm, Trần Cảnh
suy tư, trăn trở Câu thơ của Mãn Giác thiền sư như nói hộ nhà vua nỗi ai
hoài: “Xuân đi trăm hoa rụng – Xuân về trăm hoa nở – Trước mắt đuổi nhau
việc đời – Trên đầu cái già đến rồi” Trần Cảnh thở dài: “Bao giờ lòng ta đến
Trang 40được cõi lặng trong bao la này!” Ông vua trẻ thành thật tâm sự với bạn
(Khuê Kình):
“Vì lòng ta đang có nỗi ngổn ngang” “Đêm nay rời bỏ cung điện này,
ta không nghĩ đến trở về Ta muốn tìm đến nơi rừng trúc Yên Tử, xa mọi việc đời, theo hầu đức Phật” “Ta đi đây là sự tự cởi trói cho ta, mà cũng là tháo
gỡ nỗi khó cho nhiều người… Đâu phải chỉ ai khác có tội, mà riêng ta thanh sạch, đâu phải chỉ ai khác cong queo mà riêng ta thẳng ngay Chỉ trong mấy ngày, gió bụi ở đâu bỗng kéo đến, ào ào cuốn người đi như trong giấc mộng” “Ta muốn tìm đến cõi trong lặng để biết rõ lẽ còn - mất – có - không, vượt khỏi những chìm nổi ở đời này” [52, tr 325-326]
Nghe tâm sự đau đớn của Trần Cảnh khiến cho Xuân Kình rơi nước
mắt.“Nhà vua mà cũng đến nỗi như thế kia ư?” Trong cuộc đời, có lẽ không
ai hiểu Trần Cảnh hơn Chiêu Thánh Nghe tin “chồng” bí mật bỏ đi, bà đoán
ngay rằng: “ Đức vua chắc có ý sâu xa trong việc này” Trần Thủ Độ cũng ngộ ra: “Đây là nhà vua muốn xem ở triều đình này, nghĩa vua tôi đã thật
minh bạch, vững chắc hay chưa? Đi để xem cho rõ ở bờ cõi này, đâu là vua,
mà đâu là bề tôi, kể từ ông chú Thái sư này trở đi…Cháu ta làm ta phải nể sợ đấy?” Chiêu Thánh nói thêm: “Có lẽ nhà vua đang muốn cầm ngọn đèn mà soi vào tất cả mọi người xung quanh, ở nơi ba bề bốn bên giằng xé quấn buộc, mà cũng là tự soi vào chính mình nữa …Rõ ràng những tâm sự bức bối nặng nề ấy đã khiến Trần Thái Tông muốn bỏ ngôi vua như bỏ một chiếc giày rách” Mặc Khuê Kình hết sức can ngăn, nhà vua vẫn thấy việc đó là “nên
chứ, được chứ! Lòng ta đã quyết, ai giữ được ta”
Ở ngôi vị cao nhất của vương triều, nhưng vua Trần Thái Tông không phải là nhân vật của quyền uy, hưởng lạc Đây là nhân vật của những suy tư, chiêm nghiệm, của những khát khao kiếm tìm lẽ còn – mất – có – không của cõi người… Mượn nhân vật lịch sử này, Nguyễn Đình Thi gửi gắm những tư