Trong số đó, có không ít những công trình tâm huyết của các tác giả như Huy Cận, Hà Minh Đức, Tất Thắng, Tuệ Minh, Phan Trọng Thưởng… Qua đây, nhiều phương diện đặc sắc về nội dung cũng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ LIÊN
KỊCH NGUYỄN ĐÌNH THI NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ LOẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ LIÊN
KỊCH NGUYỄN ĐÌNH THI NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ LOẠI
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Kiều Anh
HÀ NỘI, 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Kiều Anh - người cô đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn khoa Ngữ văn và phòng đào tạo sau Đại học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu bậc học Thạc sĩ tại trường
Lời cảm ơn chân thành tôi xin gửi đến Trung tâm GDTX Mê Linh - Hà Nội, bạn bè, đồng nghiệp cùng gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, động viên, giúp đỡ tôi trong toàn khóa học
Hà Nội, ngày 05 tháng12 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Liên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn khoa học này là do chính bản thân tôi thực hiện Những luận điểm, luận cứ và những dẫn chứng được sử dụng trong luận văn là hoàn toàn trung thực Luận văn không trùng lặp với bất cứ một công trình khoa học nào Tôi cũng cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thiện văn bản của cuốn luận văn này, đã được cảm ơn và những dẫn chứng, tài liệu tham khảo trong luận văn đều được tôi chú thích có nguồn gốc
rõ ràng, chính xác
Hà Nội, ngày 05 tháng 12 năm 2013
Học viên thực hiện
Nguyễn Thị Liên
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Lí do chọn đề tài 6
2 Lịch sử vấn đề 7
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Bố cục của luận văn 12
NỘI DUNG 13
CHƯƠNG 1: XUNG ĐỘT TRONG KỊCH NGUYỄN ĐÌNH THI 13
1.1 Khái niệm xung đột kịch 13
1.2 Đặc điểm xung đột kịch Nguyễn Đình Thi 14
1.3 Những xung đột cơ bản trong kịch Nguyễn Đình Thi 18
1.3.1 Xung đột giữa cái thật - cái giả: 18
1.3.3 Xung đột giữa quyền lực và quyền sống tự do con người: 33
CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT TRONG KỊCH NGUYỄN ĐÌNH THI 40
2.1 Khái niệm nhân vật kịch 40
2.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong kịch Nguyễn Đình Thi 41
2.1 1 Khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người 41
2.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong kịch Nguyễn Đình Thi 42
2.2.1 Cái nhìn của Nguyễn Đình Thi về thế giới tự nhiên 43
2.2.2 Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi về con người 45
2.2.2.1 Con người là nạn nhân của quyền lực 45
2.2.2.2 Con người trí thức, nghệ sĩ là hiện thân cho cuộc đấu tranh vì nhân dân và nền văn hóa dân tộc 46
2.3 Các kiểu nhân vật trong kịch Nguyễn Đình Thi 48
2.3.1 Nhân vật từ hiện thực đời sống 49
Trang 62.3.1.1 Nhân vật người cầm quyền 51
2.3.1.2 Nhân vật người trí thức, nghệ sĩ 69
2.3.2 Nhân vật biểu tượng và nhân vật kỳ ảo 82
CHƯƠNG 3: NGÔN NGỮ TRONG KỊCH NGUYỄN ĐÌNH THI 89
3.1 Khái niệm ngôn ngữ kịch 89
3.2 Đặc điểm ngôn ngữ kịch Nguyễn Đình Thi 90
3.2.1 Ngôn ngữ giàu chất thơ 91
3.2.2 Ngôn ngữ đối thoại với lời thoại dài, đậm chất trí tuệ giàu ẩn ý, triết lí sâu sắc 97
3.2.3 Ngôn ngữ độc thoại 101
KẾT LUẬN 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1 Nguyễn Đình Thi là nhà văn có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền
văn học Việt Nam hiện đại Sự nghiệp văn học của ông bắt đầu từ sau cách mạng tháng Tám - 1945 Người trí thức giàu lý tưởng ấy đã đến với cách mạng, với thơ văn, với cuộc đời mới với tư cách là người chiến sĩ trên mặt trận văn nghệ, người bộ hành không mệt mỏi Nguyễn Đình Thi sáng tác trên nhiều thể loại Trên hành trình sáng tác của mình, ông không chỉ có những thể nghiệm mới mẻ trong thơ, tiểu thuyết, mà còn có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực kịch Nghiên cứu kịch Nguyễn Đình Thi, do đó, là điều kiện tất yếu để nhận diện bản sắc nghệ sĩ đa tài của ông, đồng thời khẳng định những đóng góp của ông vào tiến trình văn học Việt Nam hiện đại
2 Nguyễn Đình Thi đến với kịch khi tuổi đã xế chiều Nói như Huy
Cận: “Có thể rất trẻ người ta đã làm được thơ hay Nhưng phải đã sống nhiều
đã từng trải mới viết được kịch hay Nguyễn Đình Thi viết các vở này vào tuổi 50” Cũng bởi điều này mà kịch của ông luôn chín chắn, mang nặng tính suy tư, đúc kết và sự trăn trở đượm màu sắc triết học về vận mệnh dân tộc, số phận con người Tất cả điều này được thể hiện trong một lối viết hấp dẫn, độc đáo gắn với những mâu thuẫn vừa mang tính thời đại, vừa mang tính lịch sử Trong hơn 60 năm cầm bút, sáng tác của Nguyễn Đình Thi luôn thu hút sự chú ý tìm hiểu, lí giải của các nhà nghiên cứu Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy từ trước tới nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Đình Thi, khẳng định những thành công của ông trong sự nghiệp sáng tác và nghiên cứu, phê bình nghệ thuật Tuy nhiên, việc nghiên cứu về kịch Nguyễn Đình Thi còn ít ỏi Các ý kiến chủ yếu đề cập đến các vở kịch cụ thể và đời sống sân khấu của chúng
Trang 8Với tất cả những lí do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn việc phân tích kịch Nguyễn Đình Thi từ góc nhìn thể loại làm đề tài luận văn thạc sĩ của
mình
2 Lịch sử vấn đề
Cho tới nay đã có nhiều bài viết nghiên cứu về sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Thi, nhưng nhìn chung các công trình nghiên cứu riêng biệt về kịch thì chưa nhiều Mặc dầu không sớm được đề cao song đến nay những tác phẩm kịch của ông đã giành được sự quan tâm đích đáng của người nghiên cứu Trong số đó, có không ít những công trình tâm huyết của các tác giả như Huy Cận, Hà Minh Đức, Tất Thắng, Tuệ Minh, Phan Trọng Thưởng… Qua đây, nhiều phương diện đặc sắc về nội dung cũng như nghệ thuật kịch Nguyễn Đình Thi đã được phân tích xác đáng như: tính triết lí, màu sắc bi kịch, nội dung nhân bản, khuynh hướng tượng trưng, sự đan xen giữa hiện thực và huyền ảo…
Trong bài viết “Đọc hai vở kịch ngắn của Nguyễn Đình Thi” (Người
“Hai vở kịch ngắn này đều nói đến cái định mệnh nghiệt ngã, tàn khốc đối với nhân vật để rồi: cuối một vở để lại cái bâng khuâng, xa xót nghìn đời, cái xa xót đứng sừng sững giữa trời đất, và cuối vở sau để lại nỗi ân hận, hối hận chẳng bao giờ nguôi được” đồng thời tính chất mới mẻ, sáng tạo của hai tác phẩm này còn được khẳng định đó là “chuyện xưa nhưng hồn truyện vẫn trẻ” [43, tr 354]
Nghiên cứu về thế giới kịch Nguyễn Đình Thi, nhà nghiên cứu Tất Thắng cho rằng:
“Thế giới kịch của Nguyễn Đình Thi là một thế giới như hư, như thật,
nó kì ảo như một Giấc mơ nhưng lại sờ sờ ra đấy như Hòn Cuội, và
trong cái thế giới ấy, Nguyễn Đình Thi như làm hiện lên trước mắt ta,
Trang 9trong sự tiếp nhận của ta, những con người, những cảnh đời vừa quen vừa lạ, vừa thấy đấy như một dòng sông, một bến nước, một người vợ đêm đêm chờ chồng… mà thoắt cái đã trở thành cái bóng oan nghiệt,
đã biến đi xa vời vợi như mặt trăng trong ở tít trên cao…” [Tạp chí Sân khấu, số 219, năm 1999, tr.15]
Ở một chỗ khác của bài viết, ông nhấn mạnh: “Các vở kịch của
anh trừ Hoa và Ngần xem ra có vẻ thật một trăm phần trăm còn tất cả
để thấm nhuần không khí hư ảo và đông đặc tính chất huyền thoại” [43,
tr 357]
Về đặc điểm kịch Nguyễn Đình Thi, Tất Thắng nhận xét:
“Đọc kịch của anh, đôi khi và hơn thế, nhiều khi người ta mất cảm giác của người đọc kịch… Anh không biết kịch, mà chỉ mượn hình thái kịch
để sáng tạo nên cái thế giới của mình, cái thế giới trong đó mỗi con người đều phải từ hiện thực mà vươn tới huyền thoại Hiện thực trong mối quan hệ xã hội, trong tính nhân bản mà huyền thoại trong khát khao, trong tinh thần nhân đạo, hiện thực trong đời thường mà huyền thoại trong thế giới lý tưởng của tác giả” [43, tr 363]
Hay:
“Cái thế giới kịch của Nguyễn Đình Thi là một thế giới văn hóa mà nơi dấu vết văn hóa cổ kim và đông tây, dân gian và bác học… được hội tụ nhân bản và tinh thần nhân đạo nó có sức mạnh kỳ diệu đưa con người
và cảnh đời và cảnh đời từ hiện thực trở thành huyền thoại ” [43, tr 363]
Khảo cứu đặc điểm nghệ thuật kịch Nguyễn Đình Thi, Trần Khánh Thành và Bùi Thị Hợi viết:
“Kịch của Nguyễn Đình Thi giàu chất triết lí, hình tượng nghệ thuật đa nghĩa, nhiều ẩn dụ, không dễ hiểu với tầng lớp bình dân Thế giới kịch
Trang 10của Nguyễn Đình Thi là một thế giới văn hóa đa dạng nhiều màu sắc, nơi mà dấu ấn văn hóa cổ kim, đông tây, dân gian, bác học được hội tụ
và tỏa sáng Dù đa dạng về sắc thái tính chất nhưng tất cả đều thể hiện tình yêu tha thiết của một nghệ sĩ tài năng với dân tộc, với nhân dân, thể hiện xót xa về số phận con người và những khát vọng sáng tạo nghệ thuật”
Nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá cho rằng kịch Nguyễn Đình Thi “giàu chất suy tưởng và thiên về tính trữ tình, triết lí” Tương đồng với trên, nhà phê bình Chu Văn Sơn khẳng định: “Phần lớn các vở kịch của Nguyễn Đình Thi đều ít nhiều mang màu sắc bi kịch, tỏ rõ khuynh hướng tượng trưng và đậm chất triết lí” Bàn về kịch Nguyễn Đình Thi, Hà Minh Đức nhận định: “Kịch Nguyễn Đình Thi là một thế giới mang màu sắc văn hóa, nơi mà dấu vết văn hóa được quy tụ trong một nội dung nhân bản”
Trong bài viết Nguyễn Đình Thi - nghệ sĩ và cách mạng, tác giả Tôn
Phương Lan hướng tới một đặc điểm khác trong kịch bản của ông: “Kịch của ông giàu chất thơ, gửi gắm những tình cảm, những suy ngẫm về đạo đức, về thời cuộc”
Trong số các bài viết của các học giả nước ngoài về Nguyễn Đình Thi,
đáng chú ý là những nhận xét của Marian Tkachep trong bài viết về vở Giấc
mơ và tác giả Nhà nghiên cứu viết:
“Bầu trời các vở kịch của Nguyễn Đình Thi rất phong phú về màu sắc
và rất nhiều chất thơ… Dù là kịch lịch sử hay những biểu tượng thần tiên, Nguyễn Đình Thi đã biết kết hợp cái nhìn thực tế với khái niệm thần thoại, quan hệ thời gian như một loại hình động cơ và vĩnh viễn với ý thức lạ lùng về mối quan hệ ràng buộc con người với nhau, trong một nhân loại không thể chia cắt được” [28, Inter]
Trang 11Năm 1999, nhân sự kiện vở Rừng Trúc được dàn dựng và đạt huy
chương vàng tại Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp, Phan Trọng Thưởng phân tích sâu sắc về tư tưởng nghệ thuật, tính cách các nhân vật và nghệ thuật tổ chức xung đột, từ đó nêu lên một số vấn đề lí luận sáng tác về đề tài lịch sử
Tác giả bài viết cho rằng: “Rừng Trúc cho thấy khả năng khai thác vào các sự
kiện lịch sử tưởng như đã cũ để tìm ra trong đó những bài học” Trong một
bài nghiên cứu khác Về một số nhân vật lịch sử trong vở kịch Rừng Trúc
của Nguyễn Đình Thi, tác giả Nguyễn Thị Chính cũng khẳng định: “Khai
thác đề tài lịch sử, ngòi bút của Nguyễn Đình Thi muốn tìm trong lịch sử những gì gần gũi, mượn lịch sử để gửi gắm, chiêm nghiệm tư tưởng của mình” Tác phẩm vừa dựng lên những sự kiện lịch sử đầy bạo động, vừa khái quát được những vấn đề về thế sự, nhân sinh Mặc dù vở kịch “giàu chất văn học và rất khó sân khấu hóa” nhưng khi đã được hóa thân trên sàn diễn nó thực sự tạo nên hiệu quả chinh phục lớn lao
Đặc biệt, trong luận án tiến sĩ “Nguyễn Đình Thi với thơ và kịch”, tác
giả Nguyễn Thị Chính đi sâu phân tích các kiểu xung đột nổi bật như: xung đột thật - giả, xung đột giữa vận nước và số phận con người, xung đột quyền lực và quyền sống tự do của mỗi cá nhân
Qua phân tích sơ bộ các công trình nghiên cứu về kịch Nguyễn Đình Thi, có thể nhận thấy: các công trình này đã đề cập sâu về một số khía cạnh tư tưởng và nghệ thuật trong kịch Nguyễn Đình Thi Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bình diện nghệ thuật cụ thể, đặc biệt là sự phân tích kịch bản Nguyễn Đình Thi dưới góc nhìn thể loại còn chưa được khai thác kĩ lưỡng
Trên cơ sở kế thừa ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước, tác giả luận
văn thực hiện nghiên cứu đề tài Kịch Nguyễn Đình Thi nhìn từ góc độ thể loại
với mong muốn góp thêm ý kiến của mình vào việc khẳng định những đóng góp của Nguyễn Đình Thi đối với nền văn học kịch Việt Nam, đồng thời cũng
Trang 12góp thêm một cái nhìn vào việc nghiên cứu, giảng dạy văn học kịch nói chung, kịch Nguyễn Đình Thi nói riêng ở các cấp học
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu kịch Nguyễn Đình Thi nhìn từ góc độ thể loại nhằm chỉ ra những khả năng và giới hạn trong các sáng tác kịch của ông và khẳng định những đóng góp của nhà văn vào tiến trình văn học kịch Việt Nam hiện đại
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Kịch Nguyễn Đình Thi từ góc nhìn thể loại
Trang 135 Phương pháp nghiên cứu
Tiến hành đề tài nghiên cứu, người viết vận dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học sau:
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Xung đột trong kịch Nguyễn Đình Thi
Chương 2: Nhân vật trong kịch Nguyễn Đình Thi Chương 3: Ngôn ngữ trong kịch Nguyễn Đình Thi
Trang 14NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
XUNG ĐỘT TRONG KỊCH NGUYỄN ĐÌNH THI
1.1 Khái niệm xung đột kịch
Nói đến kịch là nói tới xung đột Cở sở của kịch là những mâu thuẫn xã hội, lịch sử, hoặc những xung đột muôn thuở của cuộc sống con người Nét chủ đạo ở kịch là kịch tính
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Xung đột là sự đối lập, sự mâu thuẫn
được dùng như một nguyên tắc để xây dựng các mối quan hệ tương tác giữa các hiện tượng của tác phẩm như một nguyên tắc để xây dựng các mối quan
hệ tương tác giữa các hình tượng trong tác phẩm nghệ thuật” [18, tr 297] Tuy nhiên không phải mọi mâu thuẫn đều có thể trở thành xung đột Theo Hồ Ngọc, mâu thuẫn chỉ trở thành xung đột khi đáp ứng được các yêu cầu cơ bản sau:
- Thứ nhất, về nội dung: “Mâu thuẫn phản ánh được những vấn đề chủ
yếu, cơ bản của cuộc sống, được nhiều người quan tâm tới” [33, tr 101]
- Thứ hai, về hình thức: “Mâu thuẫn phải đạt tới mức độ không thể điều hòa được, có nghĩa là hai mặt đối lập của mâu thuẫn phải phát triển tới mức
va chạm nhau và sự va chạm này chín muồi đến mức đòi hỏi phải giải quyết” [33, tr 102]
- Thứ ba, về dung lượng: “Mâu thuẫn phải chứa đựng được “tiền nhân hậu quả” nghĩa là phải bộc lộ ra được cả nguyên nhân và điều kiện phát sinh
ra mâu thuẫn phải có quá trình phát triển và kết thúc” [2, tr 104]
Có thể nói, xung đột là yếu tố không thể thiếu trong kịch Xung đột hay kịch tính là cơ sở của kịch, “được bộc lộ bằng sự va chạm - xô đẩy giữa những tư tưởng có khuynh hướng chống đối và thù địch nhau” [39, tr 201]
Trang 15Đó có thể là xung đột giữa tính cách với hoàn cảnh, giữa các tính cách với nhau, giữa những mặt khác nhau của cùng một tính cách, hoặc là sự đối lập về quan niệm của bản thân các hình tượng… Xung đột làm thành hạt nhân của các đề tài nghệ thuật Cách thức và hướng giải quyết xung đột làm thành hạt nhân của tư tưởng nghệ thuật Trong tác phẩm kịch, xung đột có tính chất tập trung cao độ, chi phối trực tiếp cấu trúc tác phẩm và nhịp độ vận động khác thường của cốt truyện Thiếu xung đột, tác phẩm mất đi đặc trưng cơ bản của thể loại Đây sẽ là tiền đề quan trọng để người viết tiến hành tìm hiểu về xung đột trong kịch Nguyễn Đình Thi
Có thể nhận thấy, các lý thuyết về xung đột kịch, theo thời gian, luôn được bổ sung, phát triển Cách nhìn về xung đột, các dạng xung đột ngày càng đa dạng hơn Ở những tác phẩm khác nhau của cùng một thời đại, xung đột nghệ thuật thường mang những tính chất chung nhất định, đồng thời cũng mang màu sắc cá nhân đậm nét
1.2 Đặc điểm xung đột kịch Nguyễn Đình Thi
Xung đột vốn là đặc trưng cơ bản quan trọng nhất của kịch Trong tác phẩm kịch xung đột càng căng thẳng, quyết liệt thì sự thành công của tác phẩm càng cao Nhà văn tập trung khai thác sâu vào xung đột sẽ giúp cho người đọc, người xem nhận thức sâu sắc giá trị đích thực của cuộc sống Mỗi nhà văn có cách thể hiện riêng bộc lộ sở trường, hứng thú và những tư riêng của mình về các vấn đề của cuộc sống Tuy trong tác phẩm khác nhau của cùng một thời đại, xung đột thường mang những nét chung song sự đa dạng của nó cho phép nhà văn lựa chọn những kiểu loại phù hợp để tạo thành một thế giới riêng của mình Nguyễn Đình Thi xây dựng mâu thuẫn, xung đột kịch không phải dựa vào yếu tố sách vở, lý thuyết mà chính sự trải nghiệm, nắm bắt, quan sát thực tế của mình Việc nghiên cứu, khai thác về xung đột kịch cũng như phong cách nghệ thuật kịch của ông đã được nhiều tác giả khẳng
Trang 16định Trong luận án tiến sĩ Nguyễn Đình Thi với thơ và kịch, tác giả Nguyễn
Thị Chính đã tiếp cận xung đột kịch Nguyễn Đình Thi ở ba hình thái cơ bản: xung đột thật - giả, xung đột giữa vận nước và số phận con người, xung đột giữa quyền lực và quyền sống con người
Vở kịch đầu tiên của Nguyễn Đình Thi - Con nai đen ra mắt lần đầu
vào năm 1961 nhưng do những điều kiện lịch sử nhất định, tác phẩm phải chịu số phận khá long đong Bởi mối duyên đầu không suôn sẻ ấy chăng mà
rất lâu sau vở kịch thứ hai: Hoa và Ngần (1975) mới xuất hiện Từ đây, khi tác giả bước vào độ chín của sáng tạo, ông viết dồn dập các vở kịch Rừng
trúc (1978), Nguyễn Trãi ở Đông Quan (1979), Người đàn bà hóa đá (1980), Cái bóng trên tường (1982), Trương Chi (1983), Giấc mơ (1983), Tiếng sóng
(1985), Hòn Cuội (1986) Như vậy, căn cứ vào thời gian sáng tác, có thể thấy
tác phẩm kịch của Nguyễn Đình Thi ra đời vào những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ và những năm đầu của thời kỳ hậu chiến không kém phần khốc liệt với những khó khăn mới trong đời sống thường nhật Trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, xu hướng chung của các nhà viết kịch là tập trung khai thác mâu thuẫn xung đột địch - ta, từ đó toát lên vẻ đẹp của những người chiến sĩ cách mạng Đó thật sự là những hình mẫu mới mẻ
của thời đại Tiêu biểu cho giai đoạn sáng tác này có Đào Hồng Cẩm với Chị
Nhàn (1961), Đại đội trưởng của tôi (1974) Các tác phẩm này thực sự là
những bài ca hào hùng về con người Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
Trong thời kỳ hậu chiến, cùng với âm hưởng ngợi ca chiến thắng, các nhà viết kịch Việt Nam còn tập trung khai thác đề tài thế sự Đây là một đặc điểm lớn của đời sống sân khấu Những vấn đề thiết yếu như mâu thuẫn địch
- ta, những mâu thuẫn trong nội bộ đời sống nhân dân, những mặt trái của hiện thực chiến tranh, những nhu cầu bức thiết của cuộc sống khi chuyển từ
Trang 17thời chiến sang thời bình, những vấn đề xã hội đạo đức, những cản trở của cơ chế quan liêu bao cấp v.v… đã chi phối sâu sắc các mối quan hệ trong thực tiễn đời sống cũng như trong tư tưởng nhân dân từ quy mô xã hội cho đến
mỗi gia đình, mỗi con người Những tác phẩm như Nhân danh công lý (Doãn Hoàng Giang), Tôi và chúng ta (Lưu Quang Vũ), Mùa hè ở biển (Xuân
Trình) tại thời điểm ra đời đã gây tiếng vang bởi tính chất táo bạo, dám nhìn thẳng vào hiện thực đang đầy rẫy những bất công, tiêu cực, hủ lậu mà lâu nay chúng ta quen ngợi ca, ngưỡng mộ
Trong dòng mạch chung đó, Nguyễn Đình Thi đã chọn cho mình một hướng đi riêng, âm thầm và lặng lẽ Quan niệm về kịch của ông tuy chú ý đến đặc trưng thể loại nhưng cũng không ở ngoài quan niệm chung về văn học cách mạng: “Kịch cách mạng trước hết cũng phải hướng về phản ánh những vấn đề, những xung đột của hiện thực cách mạng để chỉ ra hướng vận động cho phong trào, không thể gò bó cuộc sống lớn lao vào trong khuôn mẫu chật hẹp” [38, tr 24] Tuy nhiên, trong quá trình sáng tác, Nguyễn Đình Thi lại có
xu hướng vươn tới những vấn đề đặt ra cho muôn đời: thiện - ác, hạnh phúc - bất hạnh, những bi kịch nhân sinh… như chính ông tâm niệm: “Viết theo lương tâm và tình cảm tự nhiên, viết theo sự thật mình thấy và hiểu biết, viết
về lẽ phải mình nhận được, viết để cố gắng làm hay làm đẹp cho người” [43,
tr 338]
Kịch Nguyễn Đình Thi cho thấy cách nhìn và hướng giải quyết các vấn
đề của cuộc sống theo một hướng khác Tác giả tìm đến loại hình kịch để gửi gắm những vấn đề làm ông suy nghĩ đã mấy chục năm, mong tìm câu trả lời
về kiếp sống ý nghĩa của con người Đọc kịch Nguyễn Đình Thi, Hà Minh Đức nhận xét:
“Xung đột kịch Nguyễn Đình Thi không phải là những tình huống mâu thuẫn đúc lại thành xung đột có tính chất sách vở, mà được khai thác từ
Trang 18cuộc đời thật trong những thời gian và không gian khác nhau Chuyện của con người, chuyện của muôn đời không có gì mà gần gũi, xót xa, đớn đau” [37, tr 27]
Bàn về xung đột trong kịch Nguyễn Đình Thi, nhà nghiên cứu sân khấu Tất Thắng khái quát:
“Hình thái xung đột quán xuyến trong kịch Nguyễn Đình Thi là sự diễn
tả cuộc sống như ta thấy và như ta tưởng, như ta chứng kiến và như ta
ao ước, như ta trải nghiệm và như ta khao khát… để cho ta luôn ở trạng thái lo âu đôi khi đến sợ hãi Sự diễn tả cuộc sống ở dạng tương phản đầy kịch tính ấy đã tạo nên mối nguy cơ mà đến Bụt cũng không thể thờ ơ được” [37, tr 369]
Có thể nói, trong các vở kịch của mình, Nguyễn Đình Thi không chú tâm khai thác những xung đột mang tính chất thời sự (như xung đột địch - ta, xung đột giai cấp…), mà chủ yếu hướng tới những vấn đề lớn lao, vĩnh cửu: xung đột thật - giả, xung đột giữa vận nước và số phận con người, xung đột giữa quyền lực và quyền sống tự do của con người v.v… Cách giải quyết những xung đột này cũng không cần đến bạo lực cách mạng hay những tổn thất vật chất to lớn… mà chủ yếu dựa trên sự tự ý thức của mỗi cá nhân Nguyễn Đình Thi dường như muốn khám phá cuộc sống của con người với tất
cả sự kỳ diệu cũng như những nỗi thầm lặng đớn đau của nó Theo thiên hướng ấy, ở một số vở kịch của Nguyễn Đình Thi, xung đột không rõ, chủ yếu chỉ là cốt truyện Thông qua cốt truyện mà hình thành tính cách, quan niệm và lý tưởng sống Có một hình thái xung đột nữa cũng khá phổ biến trong kịch Nguyễn Đình Thi là xung đột giữa các quan điểm Tác phẩm kịch của ông vì thế mang tính triết lý sâu sắc
Trang 191.3 Những xung đột cơ bản trong kịch Nguyễn Đình Thi
Thật và giả, nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng vốn là vấn
đề muôn thuở của cuộc sống Cảm hứng chân lý, cảm hứng tìm biết sự thật hình như không phải chỉ là cảm hứng của các nhà văn Nói riêng trong loại hình nghệ thuật này, ngay từ "thuở ban đầu" của nó, đã có biết bao tác phẩm
từ văn học dân gian, đến văn học viết, từ Á đến Âu đều thể hiện say mê và
có sức hấp dẫn vô tận Nhân loại chắc không quên vở bi kịch cổ Hy lạp nổi
tiếng Vua Ơđip của Xôphoclơ, mà ở đó cốt lõi của hành động kịch là quá trình
đi tìm sự thật về bản thân mình của vua Ơđip Vở kịch chứa đựng nhiều bài học triết lý về sự thật và mang tầm tư tưởng nhân loại Huyền thoại cũ của Ấn
Độ có câu chuyện do nhầm lẫn của thần linh, cái đầu của nhà triết học lại chắp vào thân thể một lực sĩ, và đầu anh lực sĩ lại chắp vào thân thể gầy gò của nhà triết học, mà hai người vốn lại là bạn thân của nhau, từ đó nảy ra nhiều điều rắc rối khó xử, nhất là với một cô gái đang lựa chọn giữa hai người Trong vốn tuồng cũ của Việt Nam cũng có vở kịch với chủ đề tương tự
- vở Trương Ba, sau này Lưu Quang Vũ chuyển thành kịch nói "Hồn Trương
Ba da hàng thịt" Nhà viết kịch tài năng này đã giả định về sự trao đổi giữa
phần xác của người này và phần hồn của người kia để qua đó khái quát lên một triết lý sâu sắc: người ta sống không chỉ bằng thân xác
Với Nguyễn Đình Thi, vấn đề thật - giả được đặt ra qua hầu hết các vở kịch của ông, khi ở dạng xung đột gay gắt, lúc được diễn tả ở thái độ và cách ứng xử của con người trước sự thật Vấn đề thật - giả có ý nghĩa khái quát hơn rất nhiều so với vấn đề thiện - ác, xấu - tốt, mặc dù trong thực tế nhiều lúc chúng đi liền nhau, hoặc cái này đồng thời là cái kia
Vở kịch Con nai đen đã khẳng định một điều hiển nhiên: con người
thường khao khát muốn biết sự thật, nhưng "nhìn vào sự thật sao mà khó vậy:
Trang 20Sao mà nhức nhối đau khổ vậy" Vua Tô Chiêm (nhân vật trung tâm của tác phẩm), được bao bọc trong lầu son gác tía, sống giữa quần thần, giữa bao nhiêu cái giả và cái thật, luôn bị cái giả bao vây bưng bít Cuộc sống khiến cho nhà vua cảm thấy chán nản, đâu đâu cũng chỉ thấy sự xu nịnh giả dối Nhà vua khao khát muốn tìm sự thật, tìm ra ý nghĩa đích thực của cuộc sống Với khao khát đó, Nhà vua đã trở lại rừng quế mong tìm gặp người con gái chân thật, giản dị năm nào Tại đây, Vua đã gặp người hát rong Ông lão đã biếu nhà vua một pho tượng đá có phép thiêng Nó sẽ cười khi nghe ai nói một câu không đúng với ý thật trong lòng Nhà vua sung sướng nghĩ từ đây mình đã có được chiếc chìa khoá để "không còn ai có thể lừa dối ta nữa" Nhưng vua cũng nghĩ: "Nắm cái chìa khóa này cũng đáng sợ lắm thay Lúc nào ta cũng sẽ biết sự thật, sẽ phải nhìn thẳng vào sự thật" [43, tr 14]
Xung đột thật - giả được xây dựng trong nhiều mối quan hệ với nhà vua, như trong tình yêu, đối với bằng hữu, nô bộc, với ngoại bang, và đặc biệt
là sự phân định thật giả ngay trong bản thân nhà vua
Trong tình yêu, vị vua trẻ khao khát tìm được tình yêu đích thực Nhưng trái tim chàng tổn thương và lạnh giá vì luôn gặp những kẻ lừa tình Nhà vua nhận ra mục tiêu của người ta chỉ vì muốn quyền lực và địa vị hoàng hậu, chứ không phải tình yêu thương vua, bên cạnh vua gắn bó, sẻ chia Nghe những lời thề thốt hết lòng của tiểu thư - con quận chúa, nhà vua đã ghê sợ mà thốt lên: "Mặt em rất thật thà, tuổi em còn măng trẻ, vầng trán em trong trắng thế kia có lẽ nào đã nói dối không ngượng mồm trong một chuyện thiêng liêng như vậy?"; "Tại sao đôi mắt đẹp như mắt phượng lại đi đôi với cái lưỡi nói dối độc địa như một cái lưỡi rắn vậy? Sự giả dối nó sẽ giết chết hết, làm cho cằn cỗi hết"! Rồi cả "Phu nhân đạo đức" và "Quận chúa" đều đã phải bỏ chạy hoặc hoảng sợ che mặt trước cái cười mỉa mai của tượng đá mỗi khi nghe những lời giả dối không thể đê tiện hơn nữa của họ Nhà vua đã rất sắc
Trang 21sảo khi nhận ra và phân biệt hai vị thế "hoàng hậu" và "vợ" Người mà chàng mong đợi là "người thật bụng yêu ta" mà người ấy trong đám quần hồng quý phái không có Nói cách khác, trong cung đình, nơi ngai vàng bệ ngọc vua không tìm thấy một tấm chân tình
Đối với việc nhận diện cộng sự trung thành hay phản trắc, nhà vua cũng cẩn trọng vô cùng: Giữa một ông Quận Khung danh giá với chàng trai áo vải trung lương gan dạ Trung Dũng tướng quân Quận Khung là qúy tộc của triều đại trước, vua chỉ dùng nhưng không tin Mặc hắn ta nịnh bợ để lấy lòng vua, đem con gái ngà ngọc vốn đã hứa gả cho công tử Đãng nay lại đem ra mồi chài vua, nhà vua vẫn sáng suốt để thấy rõ tâm địa đen tối của một con nhện độc Tên quý tộc đớn hèn đã thông đồng bán nước cho giặc Tây Qua Cuối cùng vì mê hoàng hậu hắn đã dùng phép thuật đánh tráo hồn nhà vua Hắn đã không ngần ngại tự cắt đầu từ cái xác của mình ném xuống hồ nước sâu để phi tang Khi làm vua, dù chỉ là một tên vua giả, có quyền lực trong tay hắn
đã bộc lộ rõ bản chất bán nước cầu vinh Ông lão hát rong (là hồn của vua Tô Chiêm) đã vạch rõ: "Thằng đội lốt vua kia, ta sẽ lột mặt nạ mày, mày tự xưng
là Tô Chiêm, vậy Tô Chiêm nào lại đón quân Tây Qua trở về giày xéo nước ta một lần nữa Trước tất cả các tướng sĩ, trước nhân dân, mày hãy trả lời"
Đối với Trung Dũng tướng quân nhà vua tin yêu và không mảy may nghi ngờ lòng trung nghĩa của người anh em vào sinh ra tử Vua giao cho Trung Dũng nhiệm vụ điệp sứ sang Đông Chiếu liên kết đánh Tây Qua, chia
sẻ bí mật quốc gia, luôn gọi là em và xưng là vua anh thân mật Còn Trung Dũng khi vua giả bắt chết, chàng sẵn sàng chết để phụng mạng, không hoài nghi, không băn khoăn oán trách Bởi nếu dùng cái chết để bày tỏ lòng trung thành với nhà vua thì chàng không nuối tiếc gì Khi bị đuổi về quê, lẽ ra chàng yên tâm sống với Hoa, nhưng chàng vẫn về kinh để tìm ra uẩn khúc trong sự thay đổi kỳ lạ của nhà vua, đó cũng là cách bộc lộ lòng trung thành
Trang 22Ở phương diện đối ngoại với các nước láng giềng, vấn đề thật - giả cũng đặt ra một cách cấp thiết Ai là người bạn thật sự, ai là kẻ cướp nước? Ai
là đồng chí, ai là kẻ thù? Nước Đông Chiếu là nước nhỏ yếu cùng hoàn cảnh với nhau, vua Tây Qua không những không cho Tây Qua mượn đường đánh chiếm mà ngược lại còn liên minh hai nước nhỏ để chống tên giặc bạo ngược Với nước Tây Qua trước sau Tô Chiêm xác định đó là kẻ thù không đội trời chung, ý định cướp nước của chúng không bao giờ từ bỏ, chỉ là trước mắt không đánh lại được Tô Chiêm nên trá hàng giao hảo Nhưng vĩnh viễn một nước lớn nằm cạnh với dã tâm cướp đoạt vẫn là mối đe dọa cho đất nước
Hành trình tìm kiếm sự thực của nhà vua, gian lao nhất và trả giá nhiều nhất chính là phân biệt thật - giả ngay trong chính con người mình Trải qua hai lần đội lốt con nai đen và ông lão hát rong để nhìn sự bạo ngược của cái
ác nằm trong xác nhà vua đã giúp nhà vua thức tỉnh Việc nhà vua trở về để cướp lại chính mình từ sự giả dối, cho thấy đó cũng là hành động quyết liệt chiến đấu không ngừng của sự thật cao đẹp
Nhà vua đã dùng nhiều cách để nhận ra thật giả Thứ nhất là bức tượng thiêng, chỉ cần đưa bức tượng ra lời nói dối nào cũng bị vạch trần Nhưng có những việc trong lòng người thâm sâu tượng cũng không thể biết Quế Nga đã khẳng định với Tô Chiêm: "Tượng đá nghe được và biết được lời nói nào là thật hay dối Nhưng lòng người có những điều không nói nên lời, và không thể nghe thấy thì làm sao tượng đá có thể trả lời cho biết hết được" [43, tr.37]
Vì vậy, cách thứ hai chính là phải dùng đôi mắt trí tuệ để xác định những việc bên trong phức tạp Bởi vì đôi mắt thường vẫn hay bị vẻ ngoài đánh lừa, nên
có khi phải nhắm mắt lại như mù đi mới thấy được bản chất vấn đề Qua xung đột thật - giả, vở kịch đặt ra vấn đề cách nhìn về thời cuộc, con người, bản thân mình Đây là vấn đề không phải của một thời, của một người, mà là của muôn đời, của toàn nhân loại Xung đột giữa hai giá trị thật và giả đã lên đến
Trang 23đỉnh điểm khi nằm ngay trong chính nhân vật Tô Chiêm, mà sự giải quyết mâu thuẫn là sự triệt tiêu tất yếu của cái giả, nhưng cái thật vì thế mà cũng bị tổn thương
Vở kịch kết thúc bằng một cuộc đấu giữa hai bên thật - giả, chính - tà Hành trình đến với hạnh phúc đích thực của nhà vua thực sự là một trận tuyến giữa cái thật và cái giả, mà cuộc chiến mỗi ngày một phức tạp và khó khăn hơn, nhất là khi cái giả đã biến thành cái ác Ở đây, sự chiến thắng của cái thật đồng nghĩa với sự chiến thắng của cái thiện và Cái đẹp
Cũng thể hiện xung đột thật - giả, Nguyễn Trãi (trong Nguyễn Trãi ở
Đông Quan) luôn trăn trở: "Làm thế nào để tìm ra sự thật"? Con người ta "có
khi dám lăn vào lửa mà không dám mở mắt ra nhìn vào cái thật" [43, tr.43];
"Nhìn cho thấu đáo một con người không dễ chút nào"; "Có khi càng lọc lõi khôn ngoan, thì hai con mắt mình lại tối mờ đi Có khi cứ ngây thơ trong trẻo
mà lại càng nhìn rõ" Vở kịch Cái bóng trên tường lại là câu chuyện về người
thật và cái bóng giả người trên tường Câu chuyện về nàng Vũ Thị kia đã lưu truyền trong dân gian tự bao giờ, được Nguyễn Dữ ghi chép rất xúc động
trong Truyền kì mạn lục, lại được Lê Thánh Tông cảm tác viết bài thơ viếng
nức nở Nguyễn Đình Thi nhìn thấu tính chất bi kịch ấy Ông nhấn mạnh,
xoáy sâu thêm và tạo ra Cái bóng trên tường Không phải ngẫu nhiên mà nhà
văn chọn đó là tiêu đề cho tác phẩm Đó là nguyên nhân của bi kịch, là khởi nguồn của xung đột Chiếc bóng là ảo mà sự tan nát là có thật Sự hư ảo ấy có sức mạnh gì mà phá vỡ hạnh phúc của một gia đình, giết chết một con người hiền thục nết na? Là vì Trương Sinh không tin vào cái thật mà tin vào cái giả
Từ một câu nói ngây thơ, hồn nhiên của một đứa trẻ mà dẫn đến nỗi oan khiên thảm khốc của Vũ Nương Qua bi kịch ấy, tác giả vở kịch mong muốn thắp lên ngọn đèn để mọi người có thể nhìn rõ những nguy cơ, những tai họa ập
đến từ bất cứ lý do đơn giản nào Người đàn bà hóa đá gợi nhắc về một bi
Trang 24kịch lầm lẫn kinh điển của Hy Lạp cổ đại - Ơ Đíp làm vua Tuy nhiên bản chất bi kịch, hay xung đột của tác phẩm có nhiều khác biệt Xung đột trong Ơ
Đip làm vua là xung đột giữa ý muốn vùng vẫy, vươn lên của con người với
định mệnh nghiệt ngã, là hiện thân của ý muốn tối cao của thần linh Ơ Đip được tiên đoán sẽ giết cha, lấy mẹ Nhân vật phải bỏ đi để tránh khỏi tội ác tày trời đó nhưng rốt cuộc chính hành động này lại dẫn tới chỗ phạm tội
Người đàn bà hóa đá cũng đề cập đến vấn đề loạn luân, anh trai lấy nhầm em
gái Nhưng rõ ràng, đây không phải định mệnh tất yếu như trong Ơ Đip làm vua Câu chuyện sự thật về vết sẹo trên đầu người đàn bà Sự thật về cuộc đời hai vợ chồng - hai anh em đã dẫn đến một bi kịch định mệnh vô cùng thảm thương, nghiệt ngã Việc người anh phát hiện ra vết sẹo hay phát hiện ra sự thật đã phá vỡ hạnh phúc tưởng như có thật kia Ở đây, nỗi đau hóa đá, tình yêu hóa đã để sừng sững giữa trời, tạc vào vô tận thời gian cái bi kịch khủng khiếp mà con người - người tốt vẫn có thể lâm vào Ai cũng mong muốn có được hạnh phúc vẹn toàn, nhưng để đạt được điều đó, phải sáng suốt tỉnh táo nhận biết sự thật tránh khỏi lầm lẫn, tránh cái ngẫu nhiên bất kỳ Phải chăng,
đó là thông điệp nhà văn muốn gửi gắm
Vẫn tiếp tục mạch suy tư về thái độ trước sự thật, Tiếng sóng là nỗi
ngậm ngùi về cách ứng xử của con người khi nhận ra sự thật về cuộc đời
mình Còn bi kịch Mị Nương - Trương Chi trong vở Trương Chi là bi kịch
tình yêu đau đớn không phải do phân biệt sang hèn, mà là do xung đột giữa điều ta khao khát và điều ta phải chứng kiến Mị Nương con quan Thừa tướng nghe tiếng hát Trương Chi mà hình dung "anh ấy có đôi mắt dịu dàng",
"gương mặt anh ấy sáng láng, thông minh ít thấy ở đời Anh ấy đẹp lắm" Và
cô yêu Trương Chi đến nỗi "ốm mòn ốm mỏi, héo hắt ruột gan" Không gặp được Trương Chi thì cô chỉ "héo đi dần mà chết" Vậy mà, khi gặp Trương Chi, được nhìn rõ gương mặt xấu xí của anh, tình yêu với Trương Chi đã tan
Trang 25vỡ Tưởng như không có tình yêu nào tha thiết và mãnh liệt, táo bạo như tình yêu của Mị Nương, vậy mà nàng vẫn không vượt lên trên được một sự thật: Trương Chi quá xấu Từ đó, Nguyễn Đình Thi hé mở một khía cạnh trong tình yêu: xem ra tình yêu không phải lúc nào cũng có thể vượt qua được tất cả mọi trở ngại của cuộc sống Sự thật vốn cay đắng và trái ngang
Hòn Cuội là sự mở rộng cảm hứng sáng tạo của Nguyễn Đình Thi khi
vở kịch mang tính chất hài hước, nhẹ nhàng Vở kịch xuất hiện lại một lần nữa là biểu tượng của công lý nhưng không phải pho tượng đá mà là cây đa -
cây đa biết thả những chiếc lá đa lên tai những ai nói dối Có thể thấy, Hòn
Cuội là một hài kịch đặc sắc và thâm thúy Vở kịch dùng cái hài như một đặc
tính vốn có của đời sống Mọi lúc, mọi nơi đâu đâu cũng đầy rẫy những cái có
thể gây cười Bakhtin cho rằng, văn hóa cười là phương diện cốt yếu của đời
sống văn hóa tinh thần nhân loại, và được bộc lộ rõ nhất trong văn học dân
gian Nguyễn Đình Thi đã từ một bài hát hồn nhiên của trẻ thơ Thằng Cuội
ngồi gốc cây đa và một tích chèo cổ Đánh tráo cô dâu để dựng lên trong tác
phẩm của mình những hình tượng hài đặc sắc, tạo ra tiếng cười với sự đan xen của nhiều giọng hài ở những cấp độ khác nhau Vở kịch đã nhẹ nhàng dẫn
người đọc tiếp nhận một chân lý: Sự thật vốn giản dị nhưng sự thật lại khó
được tin Người xưa nói "dối như Cuội" Nhưng Cuội trong vở kịch của
Nguyễn Đình Thi là biểu tượng của sự thật Mọi người không ai tin nó, nó phải thề: "Tôi nói thật đấy ạ Nếu tôi nói sai thì tai tôi đã mọc ra lá đa rồi"
Và kể từ lúc Cuội "trình các ông, các bà, ở chỗ gốc đa này, ai mà nói dối thì ở tai sẽ mọc ra lá đa" Sự thật về bà cụ già còng queo nơi xóm núi; sự thật về sư ông hám lợi đã được phơi bày sau lần Cuội vào chùa, nấp sau lưng Bụt và chứng kiến cảnh con người đến chốn linh thiêng này Cuội đã mượn lời Bụt
mà nói với sư ông rằng: "Ta đã nghe anh cầu ta nhiều lần, hôm nay ta muốn bảo thật anh - Ta có ở chỗ này đâu? ", "anh gõ mõ, tụng kinh, niệm Bụt
Trang 26Nhưng Bụt đến thì anh đuổi đi" Sư ông niệm phật mà lòng dạ lại tham lam, độc ác; sự thật của một người hành hương "đã từ lâu quên cả thế nào là mặn,
là ngọt, là chua, là cay, quên cả thế nào là cơm nóng, canh sốt, có vợ con quấn quýt ở bên ", "anh ta cứ thấy hàng tháng, hàng năm, ngày nào cũng mất một cái gì không biết, tìm mãi vẫn không ra, không sống nổi nữa" Cuội đã chỉ cho anh ta thấy "cái anh mất ở trong bát nước ấy" "Nó đấy! Nó đang nhìn anh đấy" Phật dạy cái mất lớn nhất là đánh mất chính mình; sự thật về gã Phú ông giàu có vốn chỉ mang hình hài con lợn
Nhưng khi sự thật được làm sáng tỏ thì "rắc rối rắc rối quá Cứ sự nọ sinh sự kia chả mấy chốc mà cả làng đánh nhau, chứ chơi à" Thế đấy, con người ta ai cũng muốn biết sự thật Nhưng nếu tất cả mọi sự thật đều được phơi bày thì sẽ ra sao? Dân gian có câu "Sự thật mất lòng" Cuộc đời còn có biết bao những sự thật chết người Vì thế, cuối cùng, một ông già trong làng
đã phải khuyên Cuội: "Đến hôm rằm, chú cùng với cây đa lên cái đĩa trên ấy -
về trên mặt trăng Như thế, cứ đến trăng sáng, ai người ta cũng nhìn thấy chú với cây đa trên ấy, người ta vẫn nhớ là có những chiếc lá đa nó mọc ra ở bên tai người nào nói dối, tuy rằng mắt thường không trông thấy, vậy thôi" Nguyễn Đình Thi đã tìm về cội nguồn đạo lý cha ông mà đề xuất một cách giải quyết mâu thuẫn nhẹ nhàng Ý nghĩa triết lý của tác phẩm thật thâm trầm, sâu sắc
Nhưng không phải lúc nào cái giả cũng bao hàm nghĩa xấu, lời nói dối đôi khi cần thiết và có ý nghĩa Chiếc lá giả trên tường do bác Bơ-men tạo ra qua một đêm dầm mình trong mưa rét đã nuôi dưỡng niềm hy vọng sống cho
Giôn xi bé nhỏ, đáng thương, tội nghiệp trong tác phẩm Chiếc lá cuối cùng
của nhà văn Mỹ O Henri Hay lời nói dối của Vũ Nương khi hằng đêm chỉ cho con "cái bóng" mình trên tường mà bảo "cha Đản kìa" là biểu tượng của lòng chung thủy và nhớ thương chồng tha thiết Khi đề cập đến vấn đề thật -
Trang 27giả, Nguyễn Đình Thi như muốn chia sẻ với người đọc những chiêm nghiệm, những từng trải của mình trước cuộc đời, có vui, có buồn, có đau thương, có nuối tiếc Cách tổ chức xung đột "thật - giả" trong kịch Nguyễn Đình Thi luôn đem đến cho người đọc những bài học ý nghĩa cho cuộc sống Như vậy,
"hiệu quả thanh lọc" hay "hiệu ứng thẩm mỹ" mà các tác phẩm mang lại không hề nhỏ chút nào
1.3.2 Xung đột giữa vận mệnh dân tộc và số phận con người
Giữa con người và cuộc sống luôn có mối quan hệ biện chứng Con người là chủ thể sáng tạo nên lịch sử, và ngược lại, lịch sử lại quy chiếu lên con người Có những thời đoạn, lịch sử là chỗ dựa cho sự phát triển của con người, tạo điều kiện cho con người được sống tròn vẹn, đầy đủ Nhưng cũng
ở nhiều thời điểm, lịch sử lại đặt con người vào những khó khăn, thử thách trên hành trình đi tìm hạnh phúc
Ở kiểu xung đột giữa vận mệnh dân tộc và số phận con người, vấn đề đặt ra cực kì gay gắt và bức thiết Trong các vở kịch thuộc về đề tài lịch sử, Nguyễn Đình Thi thường chọn xung đột ở những thời điểm lịch sử nhạy cảm, căng thẳng, mang tính chất tập trung cao độ Ở đó, con người buộc phải lựa chọn, phải quên đi những nỗi đau riêng, hy sinh quyền lợi và hạnh phúc của
cá nhân để giữ vận nước Rừng trúc chọn thời điểm chuyển giao giữa hai triều
đại Lý - Trần, cũng là lúc bóng quân xâm lược Nguyên đã ngấp nghé đến biên
thùy Nguyễn Trãi ở Đông Quan lấy tình huống là thời kì quân Minh xâm
lược, trước khởi nghĩa Lam Sơn Tác phẩm phản ánh con đường xã hội và con đường tư tưởng của người trí thức vào thời điểm im lặng đầy kịch tính (1407-1417): "Đêm nay đất trời sao mà thăm thẳm - Non sông cách đường nghìn dặm Sự nghiệp buồn đêm trống ba Chúng ta lại một phen mất nước nữa
hay sao? " [43, tr.413] Hoa và Ngần được viết vào năm 1975, trong âm
vang hào hùng của cuộc kháng chiến thắng lợi Tuy nhiên, vở kịch không
Trang 28mang những mâu thuẫn, xung đột địch - ta như các vở kịch thời chiến mà mang dáng dấp một câu chuyện kể bằng sân khấu Nguyễn Đình Thi đã sớm quan tâm đến số phận con người trong mối quan hệ với thời cuộc Chiến tranh làm tan nát hạnh phúc của con người nhưng không làm mất đi hy vọng của
họ Những người kiên gan, bền bỉ cuối cùng cũng tới đích
Đặt nhân vật vào trong những tình huống lịch sử căng thẳng, xung đột kịch diễn ra phức tạp, nhiều chiều, với nhiều áp lực khác nhau Có xung đột là cuộc đấu tranh giữa những lực lượng đối lập mang tính xã hội Điển hình như
trong Nguyễn Trãi ở Đông Quan Vở kịch đã tái dựng tình cảnh của đất nước
những năm giặc Minh xâm lược nước ta trong một niềm đau thăm thẳm: "Cả triều đình bị giết, bị bắt không sót một người"; "Dòng sông Nhị Hà lềnh bềnh những xác người, cứ xoay tròn một chỗ"; "Chúng xếp thây người làm gò, quấn ruột người vào cây, rán thịt người lấy mỡ bôi vào trục xe trận, bắt người
đi qua cột đồng bắc qua lửa"; "Thật đau đớn nhục nhã cho nước ta, cho dân ta"… Có xung đột lại đẫm màu sắc bi kịch về quyền lực chính trị giữa dòng
họ và vương triều trước chuyển biến của lịch sử Rừng trúc là tấn bi kịch nảy
sinh từ mối quan hệ giữa quyền lực và đạo lí làm người, xoay quanh 6 nhân vật lịch sử đời Trần ở thế kỉ XIII Để đoạt được ngai vàng về tay dòng họ mình, triều đại mình, nhiều phạm trù đạo đức luân lí giữa người và người đã
bị vi phạm thô bạo Mẹ - con, anh - em, chú - cháu trở nên đối đầu thù hận nhau, ngỡ không gì có thể giải tỏa được Chỉ khi Tổ quốc bị nạn ngoại xâm đe dọa, vì việc nước mọi người mới gác bỏ niềm riêng, vượt lên những ân oán cá nhân để hòa giải khúc mắc hướng tới quyền lợi chung của dân tộc…
Xoay quanh trục mâu xung đột chính giữa nhân dân ta với giặc xâm lược, giữa dòng họ này với triều đại kia là vô số các xung đột khác: xung đột giữa các quan điểm văn hóa; xung đột giữa mẹ - con; anh - em; chú - cháu trong cùng một dòng họ; xung đột giữa các tính cách trong một con người Đó
Trang 29là xung đột muôn thuở của cuộc sống nhân loại Và có lẽ, khi chọn xung đột giữa vận nước và số phận con người để dựng vở, Nguyễn Đình Thi không nhằm hướng tới cách giải quyết mâu thuẫn bởi các lực lượng xã hội với những tổn thất to lớn Nhà văn chủ yếu muốn khám phá và giải quyết những xung đột nội tâm một cá nhân trước vận mệnh của dân tộc cũng như biết bao vấn đề đặt ra trong hoàn cảnh lịch sử Từ những bối cảnh ấy, nhà văn nghĩ về
lẽ sống lớn để từ đó cắt nghĩa nguyên do dẫn tới sức sống bất khuất của “nước chúng ta”, hoặc bày tỏ niềm ngưỡng mộ trước những ứng xử đẹp của cá nhân đối với lịch sử, đồng thời cảm khoái về những hy sinh cao cả, thầm lặng của
họ cho quyền lợi chung của Tổ quốc
Chọn xung đột hết sức căng thẳng và quyết liệt này, Nguyễn Đình Thi cũng có điều kiện để xây dựng những tính cách phức tạp, đem đến cho người đọc, người xem những nhận thức, những đánh giá nhiều chiều về các nhân vật lịch sử quan trọng (như Lý Chiêu Hoàng, Trần Thủ Độ, Trần Cảnh…) Việc đánh giá lịch sử và các nhân vật lịch sử bao giờ cũng là vấn đề khó Qua các tác phẩm kịch, Nguyễn Đình Thi còn gửi gắm kín đáo những trăn trở về thế
sự mà ông suy nghĩ lâu nay Nguyễn Đình Thi đã từ vận nước thế kỷ XX mà nghĩ về lịch sử dân tộc ngàn năm, từ sự trải nghiệm những biến cố lớn lao của thời đại này mà suy nghĩ về số phận con người trước những thử thách ác liệt của thời cuộc
Trong các vở kịch của Nguyễn Đình Thi, kiểu xung đột trên thường
được thể hiện ở sự lựa chọn giữa việc nước và việc người Trần Thủ Độ quan
niệm: “Phải làm thế nào cho việc nước, đó là cái lẽ của người cầm nắm việc lớn Đã nắm việc nước, ắt phải xem bất cứ cái gì khác cũng là nhỏ, chỉ có việc
nước là đáng kể thôi” Và, với Rùng trúc, xung quanh việc bàn giao quyền lực
chính trị đẫm màu sắc bi kịch giữa hai vương triều, qua những nhân vật chính yếu của hai thời đại Lý - Trần, Nguyễn Đình Thi đã nói được thật sâu sắc về
Trang 30cái “Lẽ phải lớn” của đất nước qua ứng xử cao cả của những nhân cách lớn
Đây là những lời bi hùng mà thống thiết của Chiêu Thánh - vị vua cuối cùng của triều đại nhà Lý trước vận nước lâm nước lâm nguy (Chiêu Thánh nói với Thiên Cực):
- Ta dù chỉ là giọt máu cuối cùng xa xôi của đức Lý Thái Tổ ta xưa, giọt máu này vẫn long lanh đỏ tươi Ta đã nghĩ nhiều… Hai đời vua ông cha ta đã có nhiều lầm lỗi, yếu hèn, để cho đến nỗi trăm họ phiêu bạt, núi sông nghiêng ngửa… mà cái mối họa Thát Đát bên phương Bắc thì cứ ngày một gần Đến bây giờ thì nó đang lăm le tính chuyện làm cỏ nước ta rồi Ta đã có ý của ta… Nhà Lý ta đã đến lúc xong công việc…” [43, tr 281]
- “Hãy nghe, từ hôm nay, Lý Chiêu Hoàng này rời bỏ ngôi báu… Ta cởi bỏ cho các ngươi (Thiên Cực, Trần Thủ Độ) ra khỏi thân phận bọn tiếm quyền mà được chính danh giữ việc nước Thế thì các ngươi hãy
ra khỏi cõi tăm tối, quỉ quyệt, mưu mô, giữa thanh thiên bạch nhật hãy hết lòng phò tá người kế nghiệp ta, giữ gìn lấy giang sơn ta trao lại…
Bờ cõi này còn chưa vững chắc, thì các người phải ăn không ngon, ngủ không yên…” [43, tr 281]
Rồi Chiêu Hoàng hướng tới Trần Cảnh, thiết tha: “Lúc nước nhà có việc lớn, phải có người mang nghĩa lớn mới thu được lòng dân, kêu gọi được trăm họ Hôm nay mới thật là ngày trước trời đất sông núi, Chiêu Hoàng ta kính mời đức vua mở nghiệp lớn nhà Trần, nhận lấy công việc đất nước Đại Việt này” [43, tr 288-289]
Lời Chiêu Hoàng vừa tái hiện không khí căng thẳng, thiêng liêng của hoàn cảnh, vừa bộc lộ sâu sắc những giằng xé nội tâm đau đớn, lại cũng vừa
là sự cởi nút trang trọng cho một tình thế lịch sử lớn
Trang 31Khi việc nước được đặt trong những tình huống thắt ngặt như thế, sự lựa chọn ở các số phận trở nên quyết liệt hơn Đặt sự lựa chọn trên vào những nhân vật lịch sử quan trọng, Nguyễn Đình Thi đã nói lên được những vấn đề lớn lao của bất kỳ quốc gia nào Phan Trọng Thưởng rất đúng khi nhận xét:
“Chàng Hai của em ơi! Xưa kia mỗi lần ta gọi, chàng vội quỳ lạy và sợ hãi nói với ta: “Muôn tâu bệ hạ” Còn bây giờ thì trước mặt chàng, ta lại phải quỳ lạy và cúi đầu nói với chàng “Muôn tâu bệ hạ” (Chiêu Thánh cười rũ rượi, cười mãi…), “Biết bao dây nhợ ghê gớm buộc kéo chàng đi xa dần”, “Biết bao nỗi đời tàn bạo như đám lửa táp vào cái cây non, đốt than lá nó quắt đen chết rũ xuống Tôi chỉ còn mong có đứa con thì nó chưa kịp khóc mấy tiếng
đã bỏ đi Từ lúc ấy, Chiêu Thánh của bệ hạ đã chết rồi…”
Trần Cảnh nghe những lời tâm sự của Chiêu Thánh đã đau đớn nghẹn ngào thốt lên: “Trời ơi! Vậy mà bấy lâu nay tôi có mắt như mù Ta chưa hiểu
gì về những nỗi thầm lặng ở đời” Trước ý đồ của ông chú đầy quyền uy, nhà vua kinh ngạc đến sửng sốt: “Ghê gớm, khó thay nỗi làm người! ” Và sự
Trang 32kiện Trần Cảnh bí mật rời cung điện, muốn tìm đến cõi lặng bao la nơi rừng trúc Yên Tử, theo hầu đức Phật chính là đỉnh điểm của sự hoang mang bất lực của ông vua trẻ trước triều chính, trước lẽ người, lẽ đời Nhưng đúng lúc ấy, lịch sử bị đẩy tới tình thế căng thẳng mới khi mối họa ngoại xâm đến sát gần Quan thái sư Trần Thủ Độ đã dõng dạc và dứt khoát bày tỏ thái độ:
“Ta trông nom công việc ở triều đình này, không cho ai được phép đùa với việc nước, dù là người nào, ở ngôi cao đến đâu Ở nơi phải lo đến
sự mất còn của trăm họ, ta ghét và khinh miệt nhất là sự yếu hèn… Nhà vua không lẽ coi cái nhẹ nhõm của riêng mình còn to hơn công việc cả nước hay sao? Nếu như vậy, thì ta nói thật, dù là nhà vua, ta cũng có cách khu xử Tình thế nước nhà bây giờ phải một ông vua hèn thì thật
vô phúc quá! Bọn bên kia nó ẩy mạnh cho một cái là tan hết thôi…” [43, tr 325]
Chiêu Thánh đã trả lời: “Vâng, việc nước là lớn nhất, nhưng việc người với người cũng không phải là nhỏ hơn” [43, tr 327] Lời Chiêu Thánh có thể coi là nỗi trăn trở, băn khoăn lớn nhất của Nguyễn Đình Thi trong suốt cuộc đời sáng tác khi nghĩ về đất nước và con người Trên lập trường công dân, ông luôn đồng tình với sự lựa chọn “việc nước là việc lớn”, và đó là “lẽ phải lớn” trong quan niệm nhân sinh của bao thế hệ Nhưng, trên lập trường nghệ
sĩ, nhà văn thấy “việc người không phải là nhỏ hơn” Có thể nói, kịch đã giúp ông phát biểu những suy tư chiêm nghiệm sâu sắc về lịch sử và những nỗi niềm nhân thế - những điều mà vì nó, nhà nghệ sĩ đã nhiều lần rơi nước mắt trên những trang truyện và thơ
Theo quan niệm của Nguyễn Đình Thi, khi xảy ra xung đột, thì việc nước phải là trên hết, là việc lớn nhất Vì nước mất, nhà sẽ tan Quan điểm này thể hiện rõ nhất qua tâm tư Trần Cảnh Với mong muốn tự giải thoát khỏi những giằng xé về quyền lực và tình cảm, Trần Cảnh rời bỏ ngai vàng tìm về
Trang 33rừng trúc - tìm đến cõi tĩnh lặng theo hầu đức Phật Đây chính là mâu thuẫn đỉnh điểm giữa anh - em, vợ - chồng, chú - cháu… và cũng là mâu thuẫn đỉnh điểm trong nội tâm nhân vật, sự hoang mang tột độ trước triều chính, trước lẽ đời, lẽ người Tác giả luôn khám phá những tình huống, mâu thuẫn kịch tính của lịch sử, của các triều đại với khát vọng giải quyết tình thế lịch sử trên cơ
sở giải quyết các mối quan hệ cá nhân Chuyện cung vua phủ chúa không phải chỉ là chuyện riêng của một dòng họ mà liên quan đến sự thịnh suy của nước Đại Việt, đến an nguy của trăm họ Trần Cảnh sau đó đã rời Yên Tử, về Thăng Long, hòa giải với anh, ổn định triều chính, chấn hưng đất nước Đúng
là “Kẻ ở ngôi cao thì đời mình đâu còn là riêng của mình nữa” [43, tr 289]
Trong kịch Nguyễn Trãi ở Đông Quan, trước vận mệnh lâm nguy, những bậc
trí thức lớn như Vũ Mộng Nguyên và Lê Cảnh Tuân cứ khư khư ôm chữ
“trung” Còn Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn dám bỏ nhà Trần, bỏ cả nhà
Hồ (mắc vào tội bất trung - tội lớn nhất của nhà nho) để tìm theo Lê Lợi, lo việc đánh giặc cứu nước, vì sự mất còn của dân tộc, của đất nước quan trọng hơn rất nhiều so với sự tồn vong của một dòng họ, một triều đại Rõ ràng, vận nước luôn là cơ duyên để thử lòng người
Nhìn bề ngoài, cách giải quyết những xung đột trên của Nguyễn Đình Thi tưởng đơn giản, suôn sẻ, thậm chí có phần khiên cưỡng khi tác giả xây dựng các nhân vật chính yếu của lịch sử đều có ý thức trách nhiệm cao với đất nước và hành động kịch diễn tiến theo chiều hướng lạc quan… Song có lẽ đặt xung đột kịch vào những người nắm quyền bính quốc gia hoặc những nhân vật lịch sử quan trọng, Nguyễn Đình Thi mong muốn thông qua những nhân vật ấy để nghĩ về những vấn đề lớn của xã hội, của con người Và, cuộc đấu tranh giữa lý trí và dục vọng, giữa nguyên tắc quốc gia và quyền lợi cá nhân diễn ra trong đời sống nội tâm, đời sống tinh thần của các nhân vật… mới là đối tượng thẩm mĩ của tác giả Một mặt khác, Nguyễn Đình Thi cũng qua
Trang 34xung đột giữa những người thân thiết, ruột thịt để nói xung đột mang tình thế lịch sử, và cách giải quyết tình thế lịch sử trên cơ sở giải quyết xung đột cá nhân… Nhà văn đặc biệt quan tâm tới những tổn thương tinh thần của con người trong các tình huống đặc biệt éo le Để cứu vãn thế nước, Trần Thủ Độ
đã vi phạm đạo người, đẩy Trần Liễu và Trần Cảnh, Chiêu Thánh và Thuận Thiên, Thiên Cực và Chiêu Thánh… vào quan hệ thù địch Qua các nhân vật
trong Rừng trúc, người đọc nhận ra sự giao tranh giữa mong muốn khẳng
định con người cá nhân với con người công dân trong trách nhiệm với đất nước
1.3.3 Xung đột giữa quyền lực và quyền sống tự do con người
Vấn đề quyền lực và sự chi phối ghê gớm của nó tới nhiều phương diện của cuộc sống là vấn đề lớn lao không chỉ của thời nào, của quốc gia nào Dẫu biết rằng, sự vận hành nghiệt ngã của quyền lực nhiều khi dẫn đến những bi kịch khủng khiếp nhưng con người vẫn khao khát có được nó Trong kịch
Rừng trúc, mong muốn củng cố quyền lực để tạo sức mạnh cho dòng họ,
vương triều, Trần Thủ Độ và Trần Thị Dung (công chúa Thiên Cực) thẳng tay sắp đặt cho Thuận Thiên (chị ruột của Chiêu Thánh), vợ của Trần Liễu (anh ruột của Trần Cảnh) vào thay vị trí của Chiêu Thánh, làm vợ vua Trần Cảnh, khi mà Thuận Thiên đã có thai ba tháng với Trần Liễu… Hành động nay đã đưa dòng họ vào tội loạn luân khủng khiếp Thiên Cực, Thuận Thiên phải chấp nhận mọi toan tính, sắp xếp Sự việc trái ngang, gây hoang mang, thậm chí ghê sợ và đau đớn cho nhiều người Trần Cảnh là vị vua của triều đại đương thời cũng phải thốt lên: “Kiếp làm người nghĩ thật đáng sợ” Nhưng Trần Cảnh và Thuận Thiên buộc phải qui thuận sự sắp đặt vô luân ấy vì “đằng sau Trần Thủ Độ là sức nặng của vương triều, của dòng họ”, “tuân theo nó tức cũng là tuân theo một chiều hướng lịch sử đã được định đoạt, tuân theo guồng máy quyền lực chính trị đang vận hành, bất khả kháng” [49, tr 371] Đối lập
Trang 35lại là thân phận của Chiêu Thánh - một nạn nhân của quyền lực Chỉ vì những toan tính quyền lực mà cuộc sống của Chiêu Thánh bị bóp nát, giết chết hạnh phúc giản đơn của con người đời thường - được làm vợ, làm mẹ Chiêu Thánh nhìn mẹ mình mà thấy “hai con mắt kia như hai lưỡi dao dính máu loang, trong cái trán kia lổn nhổn những nút rắn độc ngoe nguẩy” Nhìn người chồng giờ đây cứ xa dần trong tình cảm của mình mà chỉ biết đau đớn khao khát:
“Ừ, giá như chàng mãi mãi chỉ là chàng Hai của tôi nhỉ, giá như không có việc đời gì khác xen vào, để cho thân này chỉ sống mãi vì chàng mà thôi” Quyền lực rõ ràng đã can thiệp quá thô bạo tới tình mẹ con, anh em, chồng
vợ, chú cháu, tạo ra mối xung đột ghê gớm với quyền sống con người Chiêu Thánh ném mũ miện xuống đất (chiếc mũ vô tình đã rơi trúng đầu Thiên Cực đang đi vào): “Vứt nó đi, vì nó làm cho ta mỗi khi muốn gần chàng, bỗng nhiên lòng ta cứ băng giá dần đi, mắt ta nhìn chàng cứ xa mãi đi” Chiêu Thánh chính là tiếng nói “tâm nguyện nhân bản muôn thuở của con người, khiến cho lẽ phải của vương triều và lẽ phải của con người tranh chấp nhau đến ứa máu” [56, tr 17] Bi kịch của Chiêu Thánh là nỗi ân hận pha lẫn tiếc nuối vì không kế thừa được vương nghiệp tổ tông, nỗi đau vì mất con, nỗi buồn vì tình cảm vợ chồng phai nhạt, nỗi tủi cực vì sự cô đơn ngay giữa những người thân yêu nhất… Bi kịch nhất là ở chỗ khi nàng thực sự đủ trưởng thành để nhận thức về trọng trách thiêng liêng của mình thì cũng là lúc nàng bị đuổi ra khỏi guồng máy chính trị, bị vô hiệu hóa Quyền lực đã làm mất đi cả những cảm xúc, cảm giác, mất đi hạnh phúc tự nhiên của con người Sức mạnh của quyền lực thao túng tất cả Có thể nói, trong tất cả các kịch bản của mình, Nguyễn Đình Thi không nguôi trăn trở về vị thế của con người
trong vòng xoáy quyền lực Trong Con nai đen, nhân vật nhà vua đã hỏi pho
tượng đá: “Tượng thiêng kia, lúc này ngươi mỉm cười gì vậy? Chắc ngươi đang cười thầm những nỗi quằn quại của con người Trong cung điện nguy
Trang 36nga, giữa nơi gấm vóc này, có ai ngờ nhà vua đang thấy mình lạnh lẽo
quá…” Nữ hoàng Clêôpat (Giấc mơ) thì băn khoăn tự vấn: “Nào ta còn thiếu
gì nữa ở trên đời, vậy mà sao tất cả trống rỗng, thiếu một điều gì vậy không
biết?” Mỵ Nương (Trương Chi) nói với bà vú: “U xem con quan thừa tướng
có gì khác con chim trong chiếc lồng son”, và nói với Trương Chi: “Nơi vàng son này đối với em có nghĩa gì? Em chỉ sợ anh không yêu em” Công chúa
Tiên Dung (Giấc mơ) dứt khoát bỏ nơi quyền quý cao sang để làm vợ anh
chàng nghèo Chử Đồng Tử, sống hạnh phúc bằng tình yêu tự do và giữa thiên nhiên phóng khoáng, tự tay gây dựng cơ đồ, bởi nàng thấy “những hạt châu báu này là dây thừng thắt cổ ta; những chiếc vòng vàng khóa chặt tay ta”
Phân tích kịch bản Nguyễn Đình Thi, có thể thấy, bản thân việc xây dựng xung đột kịch đã thể hiện được tài năng nghệ thuật của ông So với một
số bi kịch trên thế giới, cách giải quyết hình thái xung đột trong kịch Nguyễn Đình Thi mềm mại hơn, nhân văn hơn Sự hòa giải giữa Trần Cảnh và Trần Liễu, cách cư xử của Chiêu Thánh, hoặc vợ chồng Tiên Dung bay lên trời để tránh xung đột với cha… là những cách ứng xử đã có truyền thống lâu đời của nhân dân ta Tuy nhiên, có cảm giác việc giải quyết xung đột trong một số tác phẩm thuận chiều, đôi khi quá dễ dãi Một Thuận Thiên “đặt đâu ngồi đấy”, một Trần Cảnh dễ bề qui thuận vì nghĩ đơn giản: “Không, ta đâu đành để cho nàng phải thiệt thòi như vậy Việc lập Thuận Thiên làm hoàng hậu là ý quyết chú Thủ Độ ta, cũng là do lòng khẩn khoản của mẹ nàng, lo lắng về sự nối dõi ngôi cao Việc này đâu phải ta không suy nghĩ nhiều bề, nhưng thuận em, thuận chị, nàng vẫn cứ giữ ngôi hoàng hậu Chiêu Thánh, nào có gì phải thay đổi, cũng là ruột thịt chứ đâu xa Hay là nàng lo về ngôi thứ?”… Rồi, mâu thuẫn anh em giữa Trần Liễu là Trần Cảnh, cả vì ngôi bậc trong vương triều,
cả chuyện mất vợ con… Những xung đột ghê gớm như thế trên thực tế khó có một kết cục xong xuôi…
Trang 37Nguyễn Trãi ở Đông Quan là vở kịch thể hiện sâu sắc xung đột giữa
quyền lực và quyền sống của con người Tuy nhiên, so với các vở khác, ở đây
bản chất của xung đột có phần khác biệt Nếu quyền lực trong Rừng trúc là
quyền lực của vương triều đại diện cho sự tồn vong của dân tộc thì quyền lực
trong Nguyễn Trãi ở Đông Quan lại là thứ quyền uy của tội ác, của “quân
cuồng Minh hung bạo” Tác phẩm lấy bối cảnh khi giặc Minh bước đầu bình định, xâm chiếm nước ta Cụ thể là từ khi Nguyễn Trãi trở về nước sau khi giã biệt cha ở ải Nam quan Dễ nhận thấy tuyến xung đột lớn, nổi rõ trong ba hồi kịch là xung đột giữa nhân dân Đại Việt mà tiêu biểu là vầng sáng Nguyễn Trãi với bè lũ quân xâm lược, tay sai, đại diện trực tiếp nhất là Hoàng Phúc - một võ tướng có chút am hiểu văn chương, nghệ thuật Hai tuyến nhân vật này không phải lúc nào cũng xuất hiện đồng thời, đối đầu nhau trực diện
mà mối xung đột được triển khai, lộ dần qua từng cảnh ngộ, từng nhân vật Ở cảnh đầu tiên, Nguyễn Trãi xuất hiện là một thân phận nổi trôi, lưu lạc, bị giặc Minh săn lùng Trên chiếc đò qua sông, ông đang nghe những tiếng kêu hời ai oán với biết bao xác chết trôi nổi trên sông Dòng sông Nhị Hà đã trở thành chứng tích cho nỗi đau thương của con người Như vậy, ngay từ những trang đầu tiên, Nguyễn Đình Thi đã châm ngòi cho mối xung đột không thể dung hòa Đến cảnh hai, xung đột càng trực diện, quyết liệt khi Nguyễn Trãi được đặt trong tình thế đối mặt với kẻ thù Tại dinh Trương Phụ, những kẻ tay sai như Nguyễn Đại, Bùi Bá Kỳ lần lượt bị bắt, bị giết Số phận của Nguyễn Trãi sẽ ra sao khi ông cứ như cây tùng, cây bách, không chịu uốn gối khom lưng? Kẻ thù càng lạnh lùng, tàn nhẫn, phong thái Nguyễn Trãi càng thản nhiên, khẳng khái Người đọc, người xem không khỏi nín thở, hồi hộp trước cái chau mày của Trương Phụ Cái chau mày của quyền uy, bạo ngược có thể làm rơi đầu một hiền tài, một nhân cách Kịch tính được đẩy lên cao bỗng lại kéo chùng xuống bởi lời thì thầm không rõ của Hoàng Phúc - con cáo già quá
Trang 38đỗi khôn ngoan, lọc lõi với những mánh khóe chính trị thâm hiểm Nguyễn Trãi được tha nhưng không có nghĩa là mối xung đột được cởi bỏ mà nó chỉ tạm thời ẩn xuống vì những thủ đoạn mới của kẻ thù Từ đây, mối xung đột đi vào giai đoạn âm thầm chuẩn bị của cả hai bên Hoàng Phúc với bộ mặt chiêu hiền đãi sĩ, nhân nghĩa giả dối tìm mọi cách để thu nạp Nguyễn Trãi, để “tính đường dài”, thâu tóm Đại Việt thêm nghìn năm Bắc thuộc nữa Hắn không xuất hiện trực tiếp nhưng cái bóng của hắn lởn vởn khắp nơi với những thủ đoạn vừa mềm dẻo, vừa lạnh lùng: dùng Nguyễn Phi Khanh đe dọa Nguyễn Trãi, cấm học sinh đến học Nguyễn Trãi, lại đem chè ngon đối đãi, tỏ vẻ yêu chiều Thực chất khi hắn xuất hiện ở đâu thì ở đó có tội ác, chết chóc đến đấy (lần đầu là cái chết của tay sai thân cận Bùi Bá Kỳ và Nguyễn Đại, lần sau là cái chết của cô gái câm) Ngược lại, Nguyễn Trãi là “con kỳ lân trong bụi rậm nhưng cái sừng nó vẫn sáng” Suốt 10 năm ở Đông Quan, ông có vẻ an phận thủ thường: cuốc đất, trồng rau, dạy học, bốc thuốc… Nhưng trước sau ông vẫn giữ thái độ kiên trung trước kẻ thù: bình tĩnh nghe tin cha, khéo léo từ chối đặc ân của giặc Ngầm chảy trong ông là ngọn lửa căm hờn, là kế sách binh nghiệp cứu nước Đỉnh điểm của sự bùng phát tiếng nói bên trong Nguyễn Trãi và đồng thời cũng là đỉnh điểm của tuyến xung đột là sự kiện Nguyễn Trãi trốn khỏi Đông Quan, vào Lam Sơn theo Lê Lợi Như vậy, xung đột giữa Nguyễn Trãi và Hoàng Phúc là biểu hiện một phần của xung đột của nhân dân Đại Việt và “quân cuồng Minh hung bạo”, xung đột giữa “chính nghĩa” và “hung tàn” (dù “hung tàn” cố gắng khoác lên mình bộ mặt nhân nghĩa giả dối) Xung đột này đến kết thúc vẫn không giải quyết Khác với thông thường, khi tác phẩm khép lại cũng là lúc xung đột được giải quyết, một lực lượng có thể bị tiêu diệt Ở đây, xung đột chỉ tạm thời hòa hoãn, thậm chí còn hứa hẹn sự phát triển mới gay go, quyết liệt hơn nếu còn tiếp diễn
Trang 39Kết thúc của tác phẩm vẫn làm người đọc hài lòng bởi một xung đột khác đã được giải quyết triệt để Đó là xung đột trong nội tâm nhân vật Nguyễn Trãi
Phân tích kịch Nguyễn Đình Thi, có thể nhận ra một đặc tính bản chất
là ông thường mượn chuyện xưa để gửi gắm những kiến giải, những trải nghiệm suy tư của mình về thực tại Nói như Hà Minh Đức: “Phần lớn kịch Nguyễn Đình Thi đều khai thác từ những câu chuyện lịch sử, có phần chính
sử và nhiều phần mang màu sắc dân gian” [37, tr 24] “Nhà văn không khai thác tỉ mỉ chuyện xưa mà tiếp cận ở hai góc độ: một là ý nghĩa xã hội và ý nghĩa nhân bản của xung đột kịch; hai là mối quan hệ giữa cuộc sống hôm nay với vấn đề của ngày hôm qua” [37, tr 25] Có những bi kịch của ngày xưa nhưng lại kín đáo cho ta biết “Câu chuyện gần chúng ta lắm” [37, tr 335] Và màu sắc huyền thoại, màu sắc hư ảo trong rất nhiều tác phẩm như đã nâng những mâu thuẫn, những xung đột, những đau đớn hay là những khát khao trong kịch Nguyễn Đình Thi lên thành vấn đề muôn thuở của con người Tất Thắng thật có lý khi nhận xét: Cuộc sống khi vào kịch Nguyễn Đình Thi
đã được huyền thoại hóa Nhà văn đã mượn hình thái kịch để sáng tạo nên cái thể giới của mình
“Cái thế giới trong đó mỗi con người là thực mà là hư, có thật vừa huyền thoại… mỗi con người đều phải từ hiện thực mà vươn tới huyền thoại… Hiện thực trong mối quan hệ xã hội, trong tính nhân bản mà huyền thoại trong khát khao, trong tinh thần nhân đạo; hiện thực trong đời thường mà huyền thoại trong thể giới lý tưởng của tác giả.” [37, tr 363]
Ở một chỗ khác, nhà phê bình nhận xét: “Hình thái xung đột quán xuyến trong các vở kịch của Nguyễn Đình Thi là sự diễn tả cuộc sống như ta vừa thấy, vừa như ta tưởng, như ta chứng kiến và như ta ao ước; như ta trải nghiệm và như ta khát khao” [37, tr 364] Diễn tả cuộc sống ở dạng những
Trang 40mâu thuẫn đầy kịch tính như thế, kịch Nguyễn Đình Thi đã thể hiện rõ một thiên hướng khái quát và chiêm nghiệm sâu sắc Từ những bi kịch cuộc đời cho đến những bi kịch lớn, nhà văn đều muốn nhắc con người về “những nguy cơ mà đến Bụt cũng không thể thờ ơ được” [37, tr 365]
Khai thác những xung đột vừa gần gũi, vừa lớn lao ở những chiều kích phức tạp và nhân bản của nó, Nguyễn Đình Thi cũng đồng thời xây dựng được những hình tượng kịch đặc sắc, sống động