1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích đặc điểm về mặt âm học của hệ thống nguyên âm tiếng bình định

666 653 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 666
Dung lượng 13,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước tình hình đó, chúng tôi nhận thấy rằng một nghiên cứu chuyên biệt về đặc trưng âm học của các nguyên âm trong tiếng Bình Định là hết sức cần thiết.. Гордина 1959 là người đầu tiên

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM VỀ MẶT ÂM HỌC

Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2014

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

-

PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM VỀ MẶT ÂM HỌC

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Lê Nguyễn Hoàng Mai

Trang 4

L ỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn đến:

 TS Honda Koichi , người trực tiếp và tận tình hướng dẫn khoa học cho tôi Tôi xin gửi đến Thầy lời tri ân và biết ơn chân thành, sâu sắc nhất

 Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Ngữ văn, Phòng Sau Đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này

Trang 5

M ỤC LỤC

L ỜI CAM ĐOAN 1

L ỜI CẢM ƠN 2

M ỤC LỤC 3

M Ở ĐẦU 7

1 Lý do ch ọn đề tài 7

2 M ục đích nghiên cứu 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 L ịch sử vấn đề 8

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 C ấu trúc luận văn 9

CHƯƠNG 1: TÍN HIỆU ÂM THANH CỦA NGUYÊN ÂM 11

1.1 M ột số vấn đề về sóng âm 11

1.1.1 S ự hình thành của sóng âm 11

1.1.2 C ộng hưởng và họa âm 11

1.2 Đặc trưng âm học của nguyên âm 12

1.2.1 Âm s ắc của nguyên âm 12

1.2.2 Formant 13

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HỆ THỐNG ÂM VỊ TIẾNG BÌNH ĐỊNH 19

2.1 C ấu trúc âm tiết tiếng Bình Định 19

2.2 H ệ thống âm đầu tiếng Bình Định 21

2.3 H ệ thống âm cuối tiếng Bình Định 22

2.4 H ệ thống âm chính tiếng Bình Định 24

Trang 6

CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ XỬ LÝ NGỮ

LI ỆU 28

3.1 Quy trình và phương pháp thu thập ngữ liệu 28

3.1.1 Xác định vùng nghiên cứu và đối tượng ngôn ngữ 28

3.1.2 L ựa chọn tư liệu viên 29

3.1.3 Ng ữ liệu 31

3.1.4 Thi ết bị thu âm 31

3.2 Phương pháp xử lý ngữ liệu 31

3.2.1 Phương pháp đo tần số formant của nguyên âm 31

3.2.2 Phương pháp đo trường độ nguyên âm 35

3.3 Phương pháp xử lý bộ số liệu 39

CHƯƠNG 4: SỰ THAY ĐỔI ÂM SẮC CỦA NGUYÊN ÂM ĐƠN TRONG TI ẾNG BÌNH ĐỊNH 40

4.1 Tương quan giữa các nguyên âm trong các bối cảnh qua phát âm của từng tư liệu viên 40

4.2 S ự tách/ nhập nhóm của nguyên âm trong các bối cảnh 55

4.2.1 /i/ “i” [i], [ɪ] 55

4.2.2 /ɤ/ “ơ” [ɤ], [ ɐ], [o]; /ɤ̆/ “â” [ ɐ]; /o/ “ô” [o], [ ɐ] 57

4.2.3 /e/ “ê” [i], [ɤ] 58

4.2.4 /ɛ/ “e, a” [ɛ], [æ] 59

4.2.5 /ɔ/ [ ɐ], [ɔ] và [o]; 61

4.2.6 /a/, /ă/ [æ] 62

4.2.7 /u/ [u], [ɯ]; /ɯ/ [ɯ] 64

4.2.8 “-ong, -oc”, “-anh, -ach” [æ] 65

4.3 Đặc trưng âm sắc của nguyên âm 66

4.4 Gi ải pháp âm vị học 68

Trang 7

Chương 5: SỰ THAY ĐỔI ÂM SẮC CỦA NGUYÊN ÂM ĐÔI TRONG TIẾNG

BÌNH ĐỊNH 72

5.1 Nguyên âm /i͜ɤ/ 72

5.1.1 Nguyên âm /i͜ɤ/ qua cách phát âm c ủa 12 tư liệu viên 72

5.1.2 S ự triệt tiêu yếu tố thứ hai của nguyên âm /i͜ɤ/ 77

5.1.3 Đặc trưng âm sắc của nguyên âm /i͜ɤ/ 84

5.2 Nguyên âm /ɯ͜ɤ/ 85

5.2.1 Nguyên âm /ɯ͜ɤ/ qua cách phát âm c ủa 12 tư liệu viên 85

5.2.2 S ự triệt tiêu yếu tố thứ hai của nguyên âm /ɯ͜ɤ/ 91

5.2.3 Đặc trưng âm sắc của nguyên âm /ɯ͜ɤ/ 98

5.3 Nguyên âm /u͜ɤ/ 100

5.3.1 S ự thể hiện của /u͜ɤ/ qua cách phát âm c ủa 12 tư liệu viên 100

5.3.2 S ự triệt tiêu yếu tố thứ hai của nguyên âm /u͜ɤ/ 105

5.3.3 Đặc trưng âm sắc của nguyên âm /u͜ɤ/ 113

5.3.4 Gi ải pháp âm vị học 115

Chương 6 TRƯỜNG ĐỘ NGUYÊN ÂM TRONG TIẾNG BÌNH ĐỊNH 117

6.1 So sánh giá tr ị trường độ của các cặp nguyên âm 118

6.1.1 [ɐ] “- ơi”, [ɤ] và [ɐ] “-ây” 118

6.1.2 [ɐ] “-ân, -âng” , [ɐ] “-ông” và [o] “-ôn” 118

6.1.3 [ɐ] “-ât, -âc”, [ɐ] “-ôc” và [o] “-ôt” 119

Cũng như “-ân, -âng”, “-ông” và “-ôn”, trường độ giữa “-ât, -âc”, “-ôc”, “-ôt” cũng có k ết quả tương tự: nguyên âm trong “-ât, -âc” và “-ôc” có độ dài gần tương đương nhau và ng ắn hơn hẳn so với “-ôt” 119

6.1.4 [ɤ] và [ɐ] 120

6.1.5 “-anh, -ach”, “-ong, -oc” và [æ] [æ̆] 122

6.1.6 [ɔ] “-on” và [æ̆] “-ong” 124

Trang 8

6.1.7 [ɔ] “-ot” và [æ̆] “-oc” 125

6.1.8 [ɯ] “-um” và [ɯ] “- ươm, -uôm” 126

6.1.9 [ɯ] “-up” và [ɯ] “- ươp” 127

6.2 Gi ải pháp âm vị học 128

6.2.1 V ấn đề âm sắc, trường độ và tư cách âm vị của các nguyên âm 128

6.2.2 H ệ thống nguyên âm trong tiếng Bình Định 132

K ẾT LUẬN 135

TÀI LIỆU THAM KHẢO 137

Trang 9

- Cadière chia tiếng Việt chia thành 3 vùng phương ngữ: Bắc, Trung, Nam Phương ngữ Nam tính từ phía nam Đà Nẵng cho đến hết Nam Bộ Theo Hoàng Thị Châu (2004:96), trong vùng phương ngữ Nam này lại có thể chia thành 3 nhóm phương ngữ: (1) Vùng phương ngữ từ Quảng Nam đến Quảng Ngãi, (2) vùng phương ngữ từ Quy Nhơn đến Bình Thuận, và (3) vùng phương ngữ Nam Bộ Nếu như sự khác biệt về ngữ âm giữa phương ngữ Nam với hai vùng phương ngữ còn lại chủ yếu nằm ở vấn đề thanh điệu và phụ âm thì tiêu chí biệt ba nhóm phương ngữ trong Phương ngữ Nam lại là sự khác biệt về hệ thống nguyên

âm

- Khi tìm hiểu các công trình nghiên cứu về nguyên âm tiếng Bình Định, chúng tôi nhận thấy hướng nghiên cứu thực nghiệm về âm học chưa được chú ý Phương pháp hay dùng để miêu tả nguyên âm tiếng Bình Định là lắng nghe cách phát âm của người bản ngữ rồi ghi chép lại Khuyết điểm của việc nghiên cứu ngữ âm bằng cách này là nó thiếu tính chính xác

vì bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan của nhà nghiên cứu Trước tình hình đó, chúng tôi nhận thấy rằng một nghiên cứu chuyên biệt về đặc trưng âm học của các nguyên âm trong tiếng Bình Định là hết sức cần thiết

- Việc nghiên cứu ngữ âm của một ngôn ngữ đòi hỏi nhiều thời gian để thu thập ngữ liệu Vốn sinh ra ở Bình Định và có nhiều người than sinh sống tại đây, người viết có nhiều thuận lợi hơn trong việc lưu trú để thực hiện nghiên cứuu, cũng như có điều kiện để tiếp xúc với các tư liệu viên

2 Mục đích nghiên cứu

- Luận văn tập trung nghiên cứu các đặc trưng âm học của hệ thống nguyên âm tiếng Bình Định Trên cơ sở phân tích các bản ghi âm của các tư liệu viên nam và nữ, người viết tiến hành xác định sự thay đổi về đặc trưng âm học của các nguyên âm trong tiếng Bình Định so với tiếng Việt chuẩn và đưa ra hệ thống âm vị riêng cho tiếng Bình Định

Trang 10

- Người viết hy vọng những kết quả nghiên cứu trong luận văn này có thể cung cấp nền tảng ban đầu cho các nghiên cứu toàn diện hơn và sâu sắc hơn về tiếng địa phương Bình Định nói riêng và tiếng địa phương khu vực duyên hải Nam Trung Bộ nói chung

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu đặc điểm âm học của các nguyên âm đóng vai trò âm chính xuất hiện trong các từ đơn tiết Một sự giới hạn như vậy nhằm bảo đảm tránh trường hợp nguyên âm bị nhược hoá

Các nguyên âm chủ yếu bị ảnh hưởng bởi phụ âm cuối, do đó các nguyên âm sẽ được phân tích trong mối tương quan với các phụ âm sau nó

4 L ịch sử vấn đề

Việc nghiên cứu ngữ âm của các phương ngữ tiếng Việt được thực hiện từ khá sớm

Vào đầu thế kỷ XX, Léopod Cadière (1911) với Le dialecte du Bas-Annam - Esquisse de

phonétique ( Phương ngữ Nam – Sơ thảo về ngữ âm) đã trình bày những đặc trưng ngữ âm

của các tiếng địa phương khu vực từ phía nam Đà Nẵng đến Nam Bộ

Nửa thế kỷ sau, М В Гордина (1959) là người đầu tiên nghiên cứu nguyên âm tiếng

Việt bằng phương pháp thực nghiệm với công trình: Về vấn đề âm vị trong tiếng Việt (trên

cơ sở khảo sát thực nghiệm các nguyên âm) và hàng loạt công trình sau đó trên cứ liệu các

phương ngữ khác nhau của tiếng Việt Kể từ sau Гордина, hướng nghiên cứu ngữ âm học thực nghiệm được tiếp tục phát triển bởi các nhà nghiên cứu như Nguyễn Hàm Dương (1963), Hoàng Cao Cương (1984), Nguyễn Văn Lợi & Edmonson (1997),…

Riêng về tiếng Bình Định, có thể kể đến các công trình như Vần tiếng Việt qua các

phương ngữ, thổ ngữ (vùng từ Bình Định đến Thuận Hải) của Phạm Hồng Thuỷ (1993), Đan xen văn hoá qua ngôn ngữ ở huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định của Nguyễn Xuân Hồng

(1998), Đặc điểm ngữ âm, từ vựng của tiếng Bình Định của Huỳnh Thị Hồng Hạnh

(2007),… Các công trình trên đã cung cấp một cơ sở khá đầy đủ về đặc điểm chung và phần nào trình bày các vấn đề về âm vị học của tiếng Bình Định, tuy nhiên các tác giả chỉ nghiên cứu ngữ âm tiếng Bình Định bằng phương pháp phiên âm ngữ âm học, tuyệt nhiên không có công trình nào sử dụng phương pháp phân tích âm học (acoustic analysis of speech) để phân tích các đặc trưng ngữ âm

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 11

5.1 Quy trình thu th ập ngữ liệu

- Khu v ực nghiên cứu được chọn lấy mẫu gồm 02 huyện là huyện An Nhơn và huyện

Tuy Phước Lý do chọn các khu vực này là vì (1) cách phát âm ở đây khá tiêu biểu cho tiếng Bình Định, không quá đặc biệt như các huyện ven biển hoặc huyện đảo; và (2) việc tìm tư

liệu viên ở ba khu vực này cũng dễ hơn ở những khu vực khác

- Tư liệu viên: Đề tài này phân tích các mẫu thu âm của 12 tư liệu viên, trong đó bao

gồm 5 nam và 7 nữ; 6 người đến từ huyện Tuy Phước và 6 người đến từ huyện An Nhơn

- Ng ữ liệu: Để thực hiện các bản ghi âm, chúng tôi sử dụng một danh mục các từ phổ

biến trong đời sống hằng ngày, chứa các nguyên âm trong các bối cảnh khác nhau

5.2 Phương pháp xử lý ngữ liệu

- Luận văn sử dụng phương pháp phân tích ngữ âm học bằng phần mềm Praat Praat

(phiên bản 5.3.17) trên cơ sở xác định các formant F1, F2, F3

- Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp của thống kê để xử lý bộ số liệu thu được sau khi phân tích ngữ âm học

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn này được bố cục thành 06 chương như sau:

Chương 1: Trình bày cơ sở lý thuyết về tín hiệu âm thanh của nguyên âm (sóng âm,

cộng hưởng, hoạ âm, âm sắc, formant,…) làm cơ sở cho việc phân tích ngữ âm ở các chương sau

Chương 2: Trình bày một số vấn đề về âm vị học tiếng Bình Định Trong chương này

chúng tôi trình bày những vấn đề âm vị đáng chú ý trong tiếng Bình Định và đưa ra một số nghi vấn cần làm rõ Những nghi vấn này sẽ được giải quyết bằng việc phân tích ngữ âm học ở các chương 4, 5, 6 tiếp theo

Chương 3: Trình bày quy trình và phương pháp thu thập và xử lý ngữ liệu Chương

này mô tả các bước thu thập, phân loại và xử lý ngữ liệu như: chọn vùng nghiên cứu, chọn

tư liệu viên, thiết bị dùng để nghiên cứu, phương pháp phân loại ngữ liệu và xử lý ngữ liệu

Chương 4, 5: Trình bày kết quả phân tích giá trị formant của nguyên âm đơn và

nguyên âm đôi để từ đó làm rõ sự thay đổi âm sắc của nguyên âm trong tiếng Bình Định Những thay đổi này dẫn đến sự tách/ nhập nhóm của các nguyên âm vốn là những âm khác nhau trong tiếng Việt chuẩn; đồng thời thay đổi bối xuất hiện và phân bố của các nguyên âm với phụ âm cuối

Trang 12

Chương 6: Trình bày kết quả phân tích trường độ của các nguyên âm Dựa vào các kết

quả này và các kết quả đã có ở chương 4, 5, luận văn đưa ra giải pháp âm vị học cho toàn bộ

hệ thống nguyên âm của tiếng Bình Định

Trang 13

CHƯƠNG 1: TÍN HIỆU ÂM THANH CỦA NGUYÊN ÂM

1.1 M ột số vấn đề về sóng âm

1.1.1 S ự hình thành của sóng âm

Khi ta gõ chiếc thìa vào chiếc cốc thuỷ tinh thì sẽ có một âm được tạo ra bởi sự va chạm đó Nguồn của âm là điểm va chạm giữa chiếc thìa và chiếc cốc, nơi tạo ra âm Âm tại nguồn âm có thể truyền đến tai người nghe là nhờ không khí Bởi vì âm thanh thực chất là các dao động cơ học của các phân tử, nguyên tử trong không khí và lan truyền như các sóng

từ nguồn âm, đập vào màng nhĩ làm rung màng nhĩ và truyền tín hiệu đến não bộ Cụ thể hơn, khi vật dao động chuyển động về một phía nào đó thì lớp không khí liền trước hướng chuyển động của nó bị nén lại và lớp không khí liền sau nó giãn ra Sự nén và giãn của các lớp không khí này lặp đi lặp lại tuần hoàn và tạo ra trong không khí một sóng cơ học dọc có tần số bằng tần số dao động của nguồn và sóng này truyền tới tai người Khi truyền tới tai người thì sóng này làm cho màng nhĩ dao động với tần số bằng tần số của sóng và gây ra cảm giác âm.Tuy nhiên, không phải bất kì dao động nào trong không khí cũng là sóng âm Chẳng hạn, một chiếc quạt cũng có thể tạo ra dao động trong không khí nhưng dao động đó, mặc dù vẫn được cảm nhận, tuyệt nhiên không phải là âm thanh (Peter Ladefoged 1996: 8) Tiếng nói của con người chính là các sóng âm được tạo ra bởi hoạt động của cơ quan cấu

âm, mà trong đó đáng kể nhất là sự đóng mở của dây thanh Dây thanh đóng tạo nên một áp lực không khí từ phổi đưa lên, áp lực này được giải phóng khi dây thanh mở Việc đóng mở dây thanh liên tục tạo nên một nguồn dao động, chính là nguồn sóng âm của tiếng nói

1.1.2 C ộng hưởng và họa âm

Mỗi nguồn âm đều là một thể rung động (moving body) Sự lan truyền rung động từ thể này sang thể khác có thể làm nảy sinh hiện tượng cộng hưởng, theo đó âm thanh phát ra

sẽ được khuếch đại Chẳng hạn, dây đàn kéo căng khi rung động có thể tạo ra âm thanh, tuy nhiên âm thanh đó rất nhỏ nếu không có thùng đàn Bởi vì với sự rung động nhỏ của dây đàn, có rất ít phân tử không khí chuyển động quanh dây đàn Trong khi đó nếu có thùng đàn thì rung động của không khí do dao động của dây đàn gây ra sẽ lan truyền tới khối không khí trong thùng đàn, làm cho dao động trở nên lớn hơn nhiều lần, theo đó, âm thanh cũng lớn hơn nhiều lần Hiện tượng như vậy gọi là cộng hưởng, thùng đàn gọi là hộp cộng hưởng Bên cạnh việc khuếch đại âm thanh thì hộp cộng hưởng còn có tác dụng tạo nên âm sắc của

âm, tức là nét đặc trưng phân biệt âm này với âm khác

Trang 14

Đối với quá trình tạo tiếng nói thì khoang mũi và khoang miệng đóng vai trò hộp cộng hưởng (gọi là “khoang cộng hưởng”) Sự thay đổi hình dáng và kích thước của khoang cộng hưởng có thể ảnh hưởng đến âm sắc của âm, do đó khi phát âm các âm khác nhau thì kích thước và hình dạng khoang miệng có thể thay đổi (nhờ vào sự kết hợp và thay đổi vị trí của các bộ phận cấu âm bên trong như răng, lưỡi, môi, v.v.), khiến cho dao động phức tạp của không khí thay đổi, từ đó tạo nên các âm khác nhau

Một sóng âm, chẳng hạn như tiếng nói hoặc âm thanh của các nhạc cụ, được tạo ra bao gồm nhiều sóng thành phần, trong đó có một sóng âm chính có tần số thấp nhất f0, gọi là âm

cơ bản, và nhiều hoạ âm (hay còn gọi là bội âm) có tần số cao hơn tần số cơ bản (là bội số nguyên của tần số sóng âm chính) Các hoạ âm này chủ yếu phụ thuộc vào hình dạng và kích thước của các khoang cộng hưởng tạo nên âm sắc của từng âm

Đối với tiếng nói, âm cơ bản thể hiện cao độ thực chất khi âm được phát ra do sự rung của dây thanh Do đó, khi nghiên cứu thanh điệu, người ta chủ yếu dựa vào tần số của âm cơ bản f0 Trong khi đó, các hoạ âm lại đóng vai trò đặc biệt với việc hình thành âm sắc, tức là hình thành nên đặc trưng phân biệt các âm khác nhau

1.2 Đặc trưng âm học của nguyên âm

1.2.1 Âm s ắc của nguyên âm

Đối với một số âm (từ đây vấn đề “âm” được xét đến chỉ là âm trong tiếng nói) thì việc

mô tả ở phương diện cấu trúc âm học (acoustic structure) sẽ cho cái nhìn đầy đủ hơn mô tả

ở phương diện cấu âm (Peter Ladefoged 2001a: 6) Nguyên âm là một trong số những âm như vậy Theo truyền thống, người ta thường xác định nguyên âm căn cứ trên vị trí của lưỡi Tuy nhiên thực tế là rất khó để biết chính xác vị trí của lưỡi khi phát âm một nguyên âm nào

đó Trên lý thuyết mà nói, một nguyên âm hàng cao hoàn toàn có thể được phát âm như một nguyên âm hàng giữa và việc chuyển từ nguyên âm này sang nguyên âm kia là khá dễ dàng

vì nguyên âm là một thể liên tục (a continuum) Do đó, việc gọi một nguyên âm là “cao,

giữa, thấp” hay “trước, giữa, sau” thực ra là cách gọi trên phương diện thính giác học nhiều hơn là trên phương diện cấu âm học (Peter Ladefoged 2001a: 85, 86)

Để mô tả nguyên âm thì vấn đề trọng yếu chính là xác định được cấu trúc âm học của

nó Một âm bất kì được xác định bởi 3 yếu tố chính sau đây:

- Tần số: là tần số dao động của nguồn âm, liên quan đến độ cao của âm

Trang 15

- Cường độ: là năng lượng mà sóng âm tải qua trên một đơn vị diện tích, liên quan đến độ to của âm

- Âm sắc

Đối với nguyên âm, chỉ có âm sắc mới là yếu tố quan trọng nhất Hoàn toàn có thể phát âm một nguyên âm ở nhiều độ cao (và độ to) và phát âm nhiều nguyên âm khác nhau ở cùng một độ cao (và độ to) Bởi lẽ độ cao và âm sắc chịu sự chi phối bởi các cơ chế sinh lý khác nh au Cụ thể là, độ cao liên quan đến hoạt động của dây thanh (chủ yếu thể hiện qua tần số của âm cơ bản), trong khi đó âm sắc lại liên quan đến các hoạ âm tạo nên bởi hình dạng và kích thước khác nhau của bộ máy cấu âm Những âm khác nhau ở âm sắc thì các họa âm có biên độ khác nhau làm cho đồ thị dao động âm của các âm không giống nhau, mặc dù độ cao và độ to của chúng có thể như nhau

“giọng” riêng của từng người nói chứ không tiêu biểu cho âm sắc đặc trưng của các nguyên

âm khác nhau Trong các ngôn ngữ có số lượng nguyên âm lớn thì ngoài formant, độ dài cũng là yếu tố dùng để khu biệt các nguyên âm

Các formant sẽ có giá trị nhất định tương ứng với mỗi hình dạng kích thước của bộ máy cấu âm Hình dạng và kích thước đó có thể được thay đổi thông qua việc dịch chuyển vị trí của lưỡi, ngạc mềm và hình dạng môi Các phổ (spectrogram) sau đây cho thấy formant của các nguyên âm trong các từ “bê, be, bư, bơ, ba, bu, bô, bo” do tác giả phát âm:

Trang 16

Hình 1.1 Phổ của từ “bê”

Hình 1.2 Phổ của từ “be”

Hình 1.3 Phổ của từ “bơ”

Trang 17

Hình 1.4 Phổ của từ “ba”

Hình 1.5 Ph ổ của từ “bư”

Hình 1.6 Phổ của từ “bu”

Trang 18

Hình 1.7 Ph ổ của từ “bô”

Hình 1.8 Phổ của từ “bo”

Giá trị formant F1, F2 của nguyên âm trong các từ trên lần lượt là:

Bê Be Bư Bơ Ba Bu Bô Bo F1 1250 640 590 870 1340 600 650 1040

F2 2020 2960 1370 1490 2230 900 880 1330

Sơ đồ nguyên âm (vowel chart) dựa trên các giá trị F1, F2 này như sau:

Trang 19

Hình 1.9a Sơ đồ các nguyên âm trong “bê, be, bư, bơ, ba, bu, bô, bo”

Nếu ta đảo các trục F1, F2, sơ đồ trên sẽ thành:

Hình 1.9b Sơ đồ các nguyên âm trong “bê, be, bư, bơ, ba, bu, bô, bo”

Ta thấy, có sự tương quan nhất định giữa F1, F2 và vị trí của nguyên âm Nguyên âm hàng trước như [i], [e], [ɛ], [a] có F2 cao hơn các nguyên âm hàng sau [u], [o], [ɔ] Trong khi đó, các nguyên âm có độ nâng lưỡi cao như [i], [ɯ], [u] có F1 thấp hơn hẳn các nguyên

âm có độ nâng lưỡi thấp như [a] Nói cách khác, khi lưỡi nâng lên cao thì giá trị của formant F1 sẽ giảm; lưỡi đưa về trước thì giá trị formant F2 sẽ tăng

0 500

0 500

1000 1500

2000 2500

3000 3500

bê be

bơ ba bu bô bo

Trang 20

F2 0

F1

Hình 1.10 Hình thang nguyên âm bi ểu diễn quan hệ của các nguyên âm với giá trị F1, F2

Tuy nhiên, có những trường hợp mà F1 và F2 vẫn chưa đủ để phân biệt các nguyên âm, đặc biệt là đối với các nguyên âm tròn môi hoặc các nguyên âm “r hoá” như trong tiếng Anh

Mỹ Khi đó, formant F3 đóng vai trò rất quan trọng

Giá trị formant không chỉ phụ thuộc vào vị trí của lưỡi khi cấu âm nguyên âm mà còn phụ thuộc vào giới tính Nam giới có cơ quan cấu âm lớn hơn của nữ giới, do đó rung động chậm hơn, đồng nghĩa với việc tần số formant thấp hơn Tuy nhiên, mô hình các nguyên âm

ở cả nam và nữ đều giống nhau, chỉ có giá trị tuyệt đối là khác nhau

Trang 21

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HỆ THỐNG ÂM VỊ TIẾNG

BÌNH ĐỊNH

Hiện nay chưa có công trình chuyên biệt nào về âm vị học nghiên cứu phương ngữ Bình Định Chính vì vậy, hệ thống âm vị vùng này vẫn chưa được xây dựng một cách đầy đủ Những hiểu biết về âm vị tiếng Bình Định chủ yếu được mô tả một cách chung chung trong các công trình nghiên cứu về phương ngữ Nam Bên cạnh những đặc điểm phổ biến cho cả vùng phương ngữ này như sự biến mất của âm đệm [-w], sự biến đổi của cặp âm cuối [ŋ], [k]; hệ thống âm vị tiếng Bình Định có những điểm khác biệt rất đáng chú ý nhưng chưa được lưu tâm tới, chẳng hạn như sự biến đổi hoàn toàn của nguyên âm hàng trước [e], sự nhập một của ba nguyên âm [ɤ], [o] và [ɔ] thành [o] trong một số bối cảnh ngữ âm nhất định, sự tỉnh lược yếu tố thứ hai và âm cuối trong kết hợp của nguyên âm đôi [ɯɤ] với bán

âm cuối [j], v.v Dựa vào các công trình nghiên cứu về ngữ âm phương ngữ Nam và phương ngữ Nam Trung Bộ, chúng tôi bổ sung thêm một số đặc điểm đáng chú ý khác của phương ngữ Bình Định và bước đầu xây dựng một cách khái quát hệ thống âm vị của tiếng Bình Định làm cơ sở cho các chương tiếp theo

2.1 C ấu trúc âm tiết tiếng Bình Định

Cấu trúc âm tiết lý tưởng của tiếng Việt gồm có hai bậc, với sáu bộ phận, được tóm tắt như sau:

Thanh điệu

Tuy nhiên, sơ đồ âm tiết lý tưởng của tiếng Việt như trên chỉ phản ánh đúng cấu trúc

âm tiết trong phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung Ở phương ngữ Nam, trong đó có tiếng Bình Định, sơ đồ âm tiết tiếng Việt đơn giản hơn, trong đó phần vần chỉ gồm hai bộ phận là

âm chính và âm cuối Âm đệm [-w-] không tồn tại trong cấu trúc âm tiết ở vùng này

Thanh điệu

Trang 22

Cụ thể là, các âm tiết có âm đệm ở phương ngữ Bắc và Trung ở Bình Định được phát

âm theo hai xu hướng:

- Xu hướng thứ nhất là triệt tiêu hoàn toàn âm đệm, các thành phần còn lại của âm tiết giữ nguyên

- Xu hướng thứ hai là triệt tiêu âm đệm, nhưng sự triệt tiêu này gây ra ảnh hưởng đến các thành phần còn lại của âm tiết, cụ thể là âm đầu và âm chính, tạo nên những âm đầu và

âm chính khác so với âm tiết gốc ở phương ngữ Bắc và Trung (Hoàng Thị Châu 2004: 124)

121-Xu hướng thứ nhất chiếm đa số trong các trường hợp phát âm âm tiết vốn có âm đệm Chẳng hạn, âm tiết “xoăn” [swăn1] được phát âm thành “xăn” [săn1], “tuyển” [twiɤn4] phát âm thành “tiển” [tiɤn4], “loè loẹt” [lwɛ2 lwɛt6] thành “lè lẹt” [lɛ2 lɛt6]

Xu hướng thứ hai xảy ra khi phụ âm đầu là âm mạc và ngạc; hoặc âm chính là [a] hoặc [ɤ̆]

Trong những trường hợp phụ âm đầu là các âm mạc và ngạc [k, ŋ, ɣ, χ,h] thì âm đệm gây ra sự biến đổi âm đầu theo hai cách (Hoàng Thị Châu 2004: 121):

- Cách thứ nhất là đồng hoá hoàn toàn phụ âm đầu để tạo ra phụ âm đầu mới là [w-]

Sự xuất hiện của [w-] với tư cách âm đầu chỉ có thể tìm thấy trong vùng phương ngữ Nam

mà thôi Chẳng hạn, “hoa” [hwa1] được đọc thành [wa1], “qua” [kwa1] đọc thành [wa1],

“nguậy” (trong “ngọ nguậy”) [ŋwɤ̆j6] đọc thành [wɤ̆j6]

- Cách thứ hai là đồng hoá bộ phận, nghĩa là “phụ âm bị môi hoá, những tính chất khác được giữ lại” Hoàng Thị Châu đưa ra hai trường hợp cho hiện tượng âm đầu bị đồng hoá bộ phận: [χ] chuyển thành [f] (“khoai lang” đọc thành “phai lang”), và [ɣ] chuyển thành [v] rồi sau đó thành [j] (“bà goá” đọc thành “bà dá”) Cũng theo Hoàng Thị Châu, âm đệm còn gây ảnh hưởng đến âm chính bằng cách đồng hoá nguyên âm [a] theo sau nó và thay đổi

âm chính trong kết hợp với [ɤ̆] Cụ thể là: “toàn” [twan2] được đọc thành [tɔ:n2], “tuần” [twɤ̆ n2

] được đọc thành [tɯŋ2

]

Tuy nhiên, những nhận định trên đây chưa hoàn toàn chính xác cũng như chưa đủ chi tiết và cụ thể để có thể giúp chúng ta hình dung về cách xử lý âm đệm trong tiếng Bình Định Theo quan sát của chúng tôi, ở Bình Định có các hiện tượng sau đây:

1 Trong tiếng Bình Định, xu hướng sự triệt tiêu âm đệm mà vẫn giữ nguyên các thành phần còn lại có thể xảy ra thậm chí đối với âm tiết có âm đầu là âm hầu [h] Điều này phân biệt phương ngữ Bình Định với các phương ngữ khác Cụ thể là, đối với âm đầu là âm

Trang 23

[h], không có lý do rõ ràng cho việc chọn lựa đồng hoá hoàn toàn âm đầu thành [w] hay triệt tiêu âm đệm “Huyện” [hwi͜ɤn6] có thể được phát âm theo cả hai cách: [hi͜ɤn6] và [wi͜ɤn6],

“hoay” [hway1] được phát âm thành [hăj1] hoặc [wăj1], “hoe” [hwɛ1] phát âm thành [wɛ1] hay [hɛ1

] đều được

2 Đối với trường hợp âm đệm kết hợp với âm chính là [a] mà âm đầu không phải là

âm mạc, xu hướng đồng hoá nguyên âm mặc dù chiếm đa số nhưng bên cạnh đó vẫn xuất hiện xu hướng triệt tiêu âm đệm Chẳng hạn, “soạn” [ʂwan6] được đọc là [ʂɔ:n6], nhưng vẫn

có người đọc là [ʂan6]

3 Đối với trường hợp âm đầu là zero, âm chính là [a] thì mặc dù xu hướng đồng hoá nguyên âm nổi trội hơn, vẫn có trường hợp âm đầu zero bị chuyển thành âm [w-] Nghĩa là

“oán” ngoài cách phát âm phổ biến [ɔ:n5] vẫn có cách phát âm [wan5] Trong khi đó, ở Nam

Bộ, cách phát âm chủ đạo lại là [wan5

Từ ba trường hợp vừa nêu ở trên, chúng tôi cho rằng trong những âm tiết có âm chính là [a], tiếng Bình Định có xu hướng xử lý âm đệm bằng cách đồng hoá nguyên âm [a] hơn là triệt tiêu hẳn âm đệm hoặc đồng hoá phụ âm đầu như ở Nam Bộ Đây là một trong những đặc trưng hết sức đáng chú ý

2.2 H ệ thống âm đầu tiếng Bình Định

Trong bảng phụ âm đầu của tiếng Việt chuẩn (chủ yếu dựa theo cách phát âm của Hà Nội), âm [z] bao gồm cả phụ âm đầu trong các âm tiết “da” (trong “da thịt”), “gia” (trong

“gia đình”) Cách phát âm “da” [ja1

] như ở phương ngữ Nam không tồn tại trong cách phát

âm ở phương ngữ Bắc Ở vùng phương ngữ Nam, âm [z] được nhất loạt đổi thành [j] Nói cách khác, hệ thống âm vị của phương ngữ Nam thay thế âm [z] thành [j] Ngoài ra, sự phân biệt giữa [v] và [j] cũng mất đi Do đó các từ “già”, “dà”, “và” được đọc giống nhau, thành [ja2] (Hoàng Thị Châu 2004: 148) Ngoài đặc điểm trên, âm đầu trong tiếng Bình Định còn mang một đặc điểm khác nữa của khu vực Nam Trung Bộ, hoàn toàn khác với các phương

Trang 24

ngữ khu vực Nam Bộ và Bắc Bộ Đó là nó giữ được tính chất quặt lưỡi của hai phụ âm [t]

và [ʂ] như ở các phương ngữ Trung (Hoàng Thị Châu 2004: 150) Ở phương ngữ Bắc Bộ và Nam Bộ, “tre” và “che” “sao” và “xao” đọc giống nhau, do đó trên thực tế, ở hai vùng này,

2 âm vị [ʈ] và [c[, [s] và [ʂ] nhập làm một Trong khi đó, người Bình Định phân biệt rất rõ

“tre” [ ʈɛ1] và “che” [cɛ1], “sao” [ʂaw1] và “xao” [saw1] Ngoài ra, ở Bình Định, phụ âm [ʐ] được phát âm giữ tính chất rung chứ không chuyển thành [ɣ] như một số vùng ở Nam Bộ (“rổ rá” đọc thành “gổ gá”), hay thành [z] như ở Bắc Bộ (“rổ rá” đọc thành “giổ giá”) Ngoài ra, trong hệ thống âm đầu tiếng Bình Định còn có thêm một bán âm là [w] xuất hiện trong những trường hợp âm đệm đồng hoá phụ âm đầu như đã trình bày ở phần trên Theo

đó, trong hệ thống âm đầu phương ngữ này sẽ có thêm hai bán âm là [w] và [j] nhưng lại mất đi hai âm [v] và [z]

Như vậy, hệ thống âm đầu của tiếng Bình Định sẽ bao gồm các âm như sau:

Bảng 2.1 Hệ thống âm đầu trong tiếng Bình Định

lưỡi

Cuối lưỡi

Thanh hầu Thẳng Cong

Tắc Ồn

Không bật hơi

2.3 Hệ thống âm cuối tiếng Bình Định

So với hệ thống 8 âm cuối trong phương ngữ Bắc thì hệ thống âm cuối của tiếng Bình Định chủ yếu khác biệt ở hai cặp âm [n] - [t] (biểu hiện trên chữ viết là “n” và “t”) và [ŋ] - [k] (biểu hiện trên chữ viết là “nh, ng” và “c, ch”)

Trước hết, chúng ta hãy xem xét cặp phụ âm [ŋ] - [k] trong phương ngữ Bắc khi được phát âm bởi ngưởi Bình Định Bảng sau đây cho thấy sự khác biệt trong cách phát âm của

Trang 25

tiếng Bình Định so với phương ngữ Bắc và phương ngữ Nam Bộ khi kết hợp với 3 nguyên

âm đơn hàng trước:

] Bạch [bɛk6

Bích [bik6] [ bɪt6

] Bệch [bek6] [bɤt6

] Như vậy, trong trường hợp kết hợp với âm chính là các nguyên âm hàng trước [i, ɛ, e] thì phụ âm cuối [ŋ] và [k] bị chuyển thành [n], [t] đồng thời với việc dịch chuyển nguyên

âm vào hàng giữa Như vậy, sự biến mất của kết hợp [i, e, ɛ] với [ŋ] và [k] trong tiếng Bình Định dẫn đến sự biến mất của một biến thể [ŋ’] và [k’] ngạc hoá vốn có trong tiếng Việt chuẩn

Các âm tiết được phát âm với âm cuối [ŋ] và [k] trong tiếng Bình Định còn bao gồm

cả các âm tiết mà trong phương ngữ Bắc được phát âm với âm cuối [n], [t] Sau đây là tình hình biến đổi của cặp [n], [t] trong phương ngữ Bắc khi được người Bình Định phát âm:

có trong tiếng Bình Định và các phương ngữ thuộc nhóm phương ngữ Nam khác, [ɤ] mới

có thể đi với [ŋ] (“mơn trớn” [mɤn1ʈɤn5] đọc thành “mơng trớng” [mɤŋ 1ʈɤŋ 5])

Như vậy, ta có quy trình hình thành hai cặp âm [n], [t] và [ŋ], [k] trong tiếng Bình Định như sau:

Trang 26

- Cặp [n], [t] trong tiếng Bình Định được hình thành từ hai nguồn: một là cặp [n], [t] gốc trong kết hợp với [i], [e] (khi đó đã chuyển thành [i] và [ɤ]); một là cặp [n], [t] do cặp [ŋ], [k] chuyển thành khi kết hợp với [i, e, ɛ] (khi đó các nguyên âm này chuyển thành [ɪ, ɤ, ă]

- Cặp [ŋ], [k] trong tiếng Bình Định cũng được hình thành từ hai nguồn: một là cặp [ŋ], [k] gốc trong các âm tiết có âm cuối [ŋ], [k] mà âm chính là những âm không phải [i, e, ɛ]; một là cặp [ŋ], [k] do [n], [t] chuyển thành trong các âm tiết có âm cuối [n], [t] mà âm chính là những âm khác [i] và [e]

Như vậy, trong hệ thống âm cuối tiếng Bình Định vẫn tồn tại hai cặp âm [n], [t] và [ŋ], [k] nhưng sự phân bố của chúng với nguyên âm có phần khác biệt với hai cặp âm này trong phương ngữ Bắc

Bên cạnh sự biến đổi của [n], [t] và [ŋ], [k], trong tiếng Bình Định còn có thêm sự giới hạn về mặt kết hợp mà ở các vùng phương ngữ khác không có Theo quan sát của chúng tôi, nguyên âm đôi [ɯ͜ɤ] đứng trước [j] được phát âm với âm chính [ɯ] và đồng thời lược bỏ âm cuối, do đó: “cười” [kɯ͜ɤj2

] Như vậy, ở Bình Định [ɯ] không đi với âm cuối [j], khác với Nam Bộ và hai vùng phương ngữ Bắc, Trung

2.4 H ệ thống âm chính tiếng Bình Định

Hệ thống âm chính trong tiếng Bình Định có nhiều khác biệt, không chỉ trong thế so sánh với hai vùng phương ngữ Bắc và Trung mà còn với cả với phương ngữ Nam Bộ Sau đây là một số hiện tượng biến đổi âm chính chủ yếu trong phương ngữ Bình Định:

1 Như đã trình bày ở phần hệ thống âm đầu, khi ba nguyên âm hàng trước / i, e, ɛ/ kết hợp với hai âm cuối /ŋ/, /k/ thì xảy ra sự chuyển hoá âm chính như sau:

Trang 27

Bình Định, /e/ cũng bị chuyển thành [ɤ] như ở Nam Bộ Thậm chí, hiện tượng trung hoà hoá thành nguyên âm hàng giữa của /e/ còn xảy ra toàn diện hơn ở Bình Định Trong cả những

âm tiết mở, /e/ đều có thể chuyển thành [ɤ]: “nghề” được đọc thành “ngờ” [ŋɤ2], “thuê” đọc thành “thơ” [th ɤ1], “xế” [se5] đọc thành “xớ” [sɤ5

] Trong khi đó, ở Nam Bộ, những trường hợp này vẫn giữ nguyên [e]: “nghề” [ŋe2], “thê” [the1], “xế” [se5]

Ngoài ra, âm /e/ còn có một xu hướng biến đổi nữa, đó là chuyển thành [i] trong các

âm tiết kết thúc bằng [m, p, w] Đây là xu hướng chung của vùng phương ngữ Nam Chẳng hạn, “êm”[em1] đọc thành “im” [im1], “bếp”[bep5] đọc thành “bíp” [bip5], “nghêu” [ŋew1] đọc thành “nghiu” [ŋiw1] Như vậy, hệ thống nguyên âm của tiếng Bình Định hoàn toàn không tồn tại âm /e/ mà thay vào đó, nó bị nhập một với /i/ và /ɤ/:

vị riêng biệt Cụ thể là khi ba nguyên âm hàng sau [u,o,ɔ] kết hợp với âm cuối [ŋ], [k] thì xảy ra quá trình biến đổi như sau:

- “ung”, “úc” /uŋ1/, /uk5/ chuyển thành [ɯŋm 1], [ɯkp 5]; đối lập với “ưng”, “ức” [ɯŋ1

], [ɯk5

]

- “ông”, “ốc” /oŋ1

/, /ok5/ chuyển thành [âŋm 1

], [âkp 5]; đối lập với “âng”, “ấc” [âŋ 1

], [âk 5]

- “ong”, “óc” /ɔŋ1/, /ɔk5/ chuyển thành [ăŋm 1], [ăkp 5]; đối lập với “ăng”, “ắc” [ăŋ1], [ăk 5]

Như vậy, theo Hoàng Thị Châu, nếu như ở tiếng Việt chuẩn, /ŋ/, /k/ có 3 biến thể là [ŋ’], [k’] (khi kết hợp với [i, e, ɛ]), [ŋm

], [kp] (khi kết hợp với [u, o, ɔ]) và [ŋ], [k] (những trường hợp còn lại) thì ở tiếng Bình Định, cặp [ŋ’], [k’] bị biến mất do chuyển thành [n], [t]; đồng thời dưới tác động của việc trung hoà hoá nguyên âm thì [ŋm] và [ŋ], [kp] và [k] trở thành hai âm vị riêng biệt do cùng có thể xuất hiện trước các nguyên âm dòng giữa

Tuy nhiên, chúng tôi có phần nghi ngờ về kết luận này Theo chúng tôi, cần có thêm các bằng chứng về ngữ âm học để khẳng định về tính chính xác của sự chuyển hoá nguyên

/e/

Trang 28

âm trong các trường hợp trên để xác định xem sự thực có tồn tại các cặp tối thiểu dẫn đến sự khu biệt của [ŋm

] và [kp] như hai âm vị độc lập hay không Ngoài ra, chúng tôi cho rằng vấn

đề không chỉ nằm ở yếu tố ngậm môi của phụ âm cuối mà còn có liên quan đến trường độ của các nguyên âm, và do đó, vẫn có khả năng [ŋm

] và [kp] chỉ là hai biến thể của /ŋ/, /k/; gánh nặng âm vị học được dành cho nguyên âm dẫn đến sự hình thành 2 âm vị mới /ɔ̆/, /ŏ/ Vấn đề này sẽ được làm rõ ở các chương sau

4 Theo Hoàng Thị Châu, ba nguyên âm đơn tròn môi [u, o, ɔ] khi kết hợp với hai âm cuối là âm môi [m,p] thì sẽ bị dị hoá làm mất tròn môi và chuyển vào hàng giữa Cụ thể là:

- [u] chuyển thành [ɯ̆] (“um tùm” /um1

5 Trong tiếng Bình Định, âm /o/ bị thay đổi thành [ɤ̆] khi kết hợp với bán âm cuối [j] Đây là điểm khác biệt của phương ngữ này với các phương ngữ khác Ở Bình Định,

“nồi” /noj2/ đọc như “nầu” [nɤ̆j2], “môi” /moj1/ đọc thành “mâu” [mɤ̆j1], “phổi” /foj4/ đọc thành “phẩu” [fɤ̆j4

]

6 Ở Bình Định còn có các hiện tượng không phân biệt được giữa nguyên âm đôi và nguyên âm đơn khi đứng trước phụ âm môi [m,p] và bán nguyên âm [w, j] , hay nói cách khác là đó là sự đơn giản hoá nguyên âm đôi:

- /i͜ɤ/ chuyển thành [i]: “thiệp” /th

i͜ɤp6

/ đọc thành “thịp” [th

ip6], “chiếm” /ci͜ɤm5

/ đọc như “chím” [cim5], “chiều” /ci͜ɤw5/ đọc giống “chìu” [ciw5];

- /ɯ͜ɤ/ nhất loạt chuyển thành [ɯ] khi đứng trước bốn âm cuối [m, p, w, j]: “mướp” /mɯ͜ɤp5

/ đọc giống với “mứp” [mɯp5], “cườm” /kɯ͜ɤm2

/ đọc thành “cừm” [kɯm2], “cười” /kɯ͜ɤj2/ đọc như “cừ” [kɯ2] Khi đứng trước âm cuối [w] thì ở Nam Bộ đổi hẳn âm [ɯ͜ɤ] thành [u], trong khi đó, ở Bình Định vẫn ứng xử trường hợp này như khi [ɯ͜ɤ] đứng trước

Trang 29

[m,p,j] Tức là “hươu” /hɯ͜ɤw1/ ở miền Nam đọc thành “hu” [hu1], còn ở Bình Định đọc là

“hưu” [hɯw1

]0 1

- /u͜ɤ/ chuyển thành [ɯ] khi đứng trước [m]: “buồm” /bu͜ɤm2/ đọc như “bừm” [bɯm2] Khi đứng trước âm cuối [j] thì yếu tố thứ hai trong nguyên âm đôi bị lược bỏ, chỉ giữ lại [u]: “buổi” /bu͜ɤj4

Tóm lại, trong tiếng Bình Định, có ba vấn đề chính về nguyên âm như sau:

- Thứ nhất là sự thay đổi về âm sắc của các âm, nghĩa là một âm có thể (1) bị thay đổi

phẩm chất, chẳng hạn /i/ có thể đọc thành [ɪ], /a/ thành [æ]; hoặc (2) triệt tiêu hẳn một âm,

chẳng hạn trường hợp [e]

- Thứ hai là sự triệt tiêu của nguyên âm đôi trong nhiều bối cảnh

- Thứ ba là đặc trưng khu biệt dài/ngắn (trường độ) xảy ra không chỉ với 2 nguyên âm hàng giữa [a]-[ă], [ɤ]-[ɤ̆], mà còn giữa [ɯ]-[ɯ̆] và rất có thể là cả [o]-[ŏ], [ɔ]-[ɔ̆]

Cả ba vấn đề này sẽ được làm rõ hơn qua việc phân tích về mặt ngữ âm học ở các chương tiếp sau

lộn giữa “con hươu” và “về hưu” –cùng có cách đọc là “hưu”

Trang 30

CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ XỬ

LÝ NG Ữ LIỆU 3.1 Quy trình và phương pháp thu thập ngữ liệu

3.1.1 Xác định vùng nghiên cứu và đối tượng ngôn ngữ

Tỉnh Bình Định là một tỉnh duyên hải miền Trung, về mặt hành chính – địa lý, thuộc

về khu vực Nam Trung Bộ Phía Bắc Bình Định giáp ranh với Quảng Ngãi, phía Nam giáp ranh với Phú Yên, phía Tây là Gia Lai Về mặt phương ngữ học, Bình Định được xếp vào nhóm phương ngữ duyên hải miền Trung (gồm phương ngữ được nói ở các tỉnh từ Bình Định kéo dài đến Bình Thuận), thuộc vùng phương ngữ Nam (bao gồm các phương ngữ từ phía nam Đà Nẵng đến hết Nam Bộ)

Tỉnh Bình Định bao gồm 10 huyện: Vân Canh, Tuy Phước, An Nhơn, Tây Sơn, Phù Cát, Phù Mỹ, Vĩnh Thạnh, Hoài Ân, Hoài Nhơn, An Lão và thành phố Quy Nhơn (hình 3.1) Trong đó, thành phố Quy Nhơn là nơi có nền kinh tế phát triển, dân nhập cư từ khu vực khác chuyển đến khá đông, do đó việc lựa chọn tư liệu viên thích hợp ở đây là không khả thi Trong số 10 huyện còn lại, dựa trên những hiểu biết ban đầu của chúng tôi về tiếng Bình Định và dựa trên những gợi ý từ chính người bản ngữ, chúng tôi nhận thấy Tuy Phước

và An Nhơn là hai vùng có tiếng nói khá tiêu biểu cho tiếng địa phương Bình Định, không

có những cách phát âm quá đặc biệt và cũng không bị ảnh hưởng bởi tiếng địa phương ở các tỉnh khác Ngoài ra, đây còn là 2 khu vực mà chúng tôi có điều kiện tiếp xúc với người địa phương khá dễ dàng để có thể chọn lựa được các tư liệu viên phù hợp

Trang 31

Hình 3.1 Bản đồ các huyện và thành phố thuộc tỉnh Bình Định

Huyện Tuy Phước bao gồm 2 thị trấn là thị trấn Tuy Phước, thị trấn Diêu Trì và 11

xã bao gồm: Phước Thắng, Phước Hưng, Phước Hoà, Phước Quang, Phước Sơn, Phước

Hiệp, Phước Lộc, Phước Thuận, Phước Nghĩa, Phước An, Phước Thành Huyện An Nhơn

gồm 14 xã: Nhơn Thành, Nhơn Phong, Nhơn Hạnh, Nhơn Mỹ, Nhơn Hậu, Nhơn Hưng, Nhơn An, Đập Đá, Nhơn Phúc, Nhơn Khánh, Nhơn Lộc, Nhơn Thọ, Nhơn Hoà, Nhơn Tân

và thị trấn Bình Định Chúng tôi đã lựa chọn 11 xã và thị trấn trong tổng số 27 khu vực thuộc hai huyện trên để khảo sát, đó là: Phước Nghĩa, Phước Sơn, Phước Lộc, Phước

Thắng, Phước Thành, thị trấn Diêu Trì (huyện Tuy Phước) và Nhơn Khánh, Nhơn Thọ, Nhơn Hậu, Nhơn Hoà, thị trấn Bình Định (huyện An Nhơn)

3.1.2 L ựa chọn tư liệu viên

Theo Peter Ladefoged (2003: 14), số lượng tư liệu viên thích hợp nhất là 12 người (6 nam, 6 nữ) và nên là những người trẻ tuổi có giọng khoẻ Theo đó, tư liệu viên lý tưởng nhất

là học sinh phổ thông Tuy nhiên, theo chúng tôi, cách chọn lựa tư liệu viên như vậy tỏ ra không thích hợp trong trường hợp này vì học sinh phổ thông, dưới áp lực của “tiếng Việt chuẩn” trong nhà trường và bị ảnh hưởng bởi cách phát âm của giáo viên – vốn bao gồm cả người đến từ vùng miền khác – có thể không phát âm đúng giọng địa phương của mình Chính vì vậy, để bảo đảm độ chính xác của kết quả nghiên cứu, tư liệu viên được chọn là những người:

Trang 32

(1) quê quán gốc ở hai huyện được chọn để lấy mẫu, trong gia đình không có bố, mẹ hoặc những người tiếp xúc từ nhỏ là người của vùng miền khác (ví dụ: người miền Bắc di

cư vào);

(2) trong thời gian sinh sống hầu như không di chuyển ra khỏi Bình Định;

(3) không phải những người có học vấn cao và có công việc tiếp xúc nhiều với người

từ địa phương khác

Độ tuổi của tư liệu viên tham gia trong đề tài này sẽ trải đều từ trên 20 đến dưới 60 tuổi nhưng vẫn đảm bảo cơ quan cấu âm của tất cả các tư liệu viên đều bình thường (đầy đủ răng, không dị tật vòm họng, không mắc các tật phát âm) (Peter Ladefoged 2003: 13)

Về giới tính, mặc dù không đạt được tỉ lệ lý tưởng 6 nam, 6 nữ nhưng chúng tôi đã

cố gắng để tỉ lệ tư liệu viên nam và nữ đạt mức gần tương đương Cụ thể là trong đề tài này chúng tôi sử dụng kết quả của 7 tư liệu viên nữ và 5 tư liệu viên nam

Sau đây là bảng liệt kê thông tin các tư liệu viên:

Bảng 3.1 Thông tin 12 tư liệu viên

Tư liệu viên Năm

sinh

Giới tính Quê quán Nghề nghiệp

Trang 33

i9 1961 Nam Xã Nhơn Thọ,

An Nhơn Làm nông

An Nhơn Làm nông

i11 1990 Nam Xã Phước Thành,

Tuy Phước Buôn bán

i12 1988 Nam Xã Nhơn Hoà,

3.1.3 Ng ữ liệu

Bảng danh sách từ mà chúng tôi sử dụng để thu âm các tư liệu viên được xây dựng dựa trên việc kết hợp các nguyên âm với các phụ âm cuối Danh sách này không bao gồm các âm tiết có âm đệm vì 2 lý do sau đây:

- Thứ nhất, cấu trúc âm tiết tiếng Bình Định không có âm đệm, do đó việc loại bỏ các

từ chứa âm đệm cũng không ảnh hưởng gì đến tính khái quát của kết quả nghiên cứu

- Thứ hai, các âm chính trong những âm tiết có âm đệm có thể bị đồng hoá, làm mất

đi tính chất đặc trưng vốn có nguyên âm, dẫn đến việc phức tạp hoá tình hình Do đó, chúng tôi quyết định loại bỏ những âm tiết có chứa âm đệm

Các nguyên âm được khảo sát được đặt trong các từ chứa (carried word) là từ đơn để tránh trường hợp đọc lướt dẫn đến nhược hoá nguyên âm chính Theo đó, các tư liệu viên được yêu cầu đọc 3 lần cho mỗi âm tiết

3.1.4 Thi ết bị thu âm

Các tư liệu viên được ghi âm bằng máy ghi âm Roland EDIROL R-09 ở tần số 44.1KHz và 16 bit mono Micro được sử dụng là SHURE SM10A File thu âm được định

dạng *.wav để có thể phân tích trên Praat

3.2 P hương pháp xử lý ngữ liệu

3.2.1 Phương pháp đo tần số formant của nguyên âm

3.2.2.1 Thiết lập thông số kỹ thuật

Trang 34

Đặc trưng ngữ âm của nguyên âm chủ yếu được xác định thông qua đo tần số của các formant F1, F2 và F3 bằng phần mềm Praat Chúng tôi chỉ sử dụng một thiết lập (setting) duy nhất cho cả tư liệu viên nam và nữ, cụ thể như sau:

Hình 3.2 Thông s ố kĩ thuật thiết lập khi đo formant

- Maximum formant: Thông thường, 4.000 Hz là vùng tần số thích hợp để quan sát các formant đối với nam giới và 5.000 Hz là thích hợp đối với nữ giới do nữ giới thường có tần

số formant cao hơn (Peter Ladefoged 2003: 109) Vì đây là định dạng dùng chung cho cả nam và nữ nên chúng tôi thiết lập maximum formant ở mức 5.500 Hz

- Số lượng formant hiển thị (Number of formants): Tần số của 3 formant F1, F2, F3 đo được

bằng Praat cũng phụ thuộc vào số lượng formant được hiển thị Căn cứ vào tình hình thực tế của ngữ liệu thu được, chúng tôi cho rằng 5 formant là số lượng thích hợp cho đa số các trường hợp Cụ thể là, với 5 formant, không có formant nào bị bỏ sót trong quá trình đo và cũng không quá nhiều dẫn đến việc hiển thị cái formant phụ Cá biệt, đối với những trường hợp mà số lượng này không thích hợp, chúng tôi sẽ xử lý từng trường hợp một thay vì đo tự động bằng Praat

- Window length: Chúng tôi sử dụng chế độ mặc định của Praat Theo chúng tôi giá trị này

là thích hợp cho việc đo formant của các nguyên âm trong tiếng Bình Định

- Dynamic range: Dựa trên những gợi ý của Peter Ladefoged (Peter Ladefoged 2003: 109), chúng tôi chọn dynamic range ở mức 30 dB, là mức mà ở đó các formant thể hiện rõ ràng nhất

3.2.2.2 Lựa chọn điểm đo tần số của formant

Trang 35

Như đã trình bày ở chương 1, mỗi âm tiết khi được phát âm sẽ tạo nên một rung động trong không khí, hay nói cách khác, nó tạo thành một sóng âm Bởi vì “một sóng có dao động lớn hơn sẽ tạo nên một âm lớn hơn” và “nguyên âm có năng lượng (và độ lớn) nhiều hơn phụ âm” (Michael Ashby & John Maidment 2005: 9) nên theo chúng tôi, khu vực chọn

để đo tần số formant tốt nhất là quanh khu vực mà sóng âm có cường độ lớn nhất (hay nói cách khác là quanh khu vực có các “đỉnh” của sóng âm) Ngoài ra, khu vực này cũng là nơi

ít chịu ảnh hưởng của phụ âm nhất, do đó nó bộc lộ khá trọn vẹn những đặc trưng âm học của nguyên âm

“Lý tưởng mà nói, các nguyên âm nên được đo ở thời điểm mà cả ba formant, hoặc ít nhất là hai formant đầu tiên, tương đối ổn định” (Peter Ladefoged 2003: 105) Tuy nhiên trong thực tế không phải lúc nào F1 và F2 cũng đồng thời ổn định ở một điểm nào đó Có khá nhiều trường hợp vị trí mà F1 ổn định thì F2 không ổn định và ngược lại Theo quan sát của chúng tôi, F1 thường có ít có xu hướng thay đổi như F2 Chính vì vậy, chúng tôi chủ yếu dựa vào tính ổn định của F1 để chọn điểm đo thích hợp

Cụ thể hơn, để đo tần số các formant của những nguyên âm đơn “a, ă, â, e, ê, o, ô, ơ, ư”, chúng tôi chọn điểm quanh khu vực trung tâm của nguyên âm (nơi có cường độ lớn) và F1 ổn định

Tuy nhiên, đối với các nguyên âm hàng trước như [i] và các nguyên âm hàng sau như [u] thì điểm đo như trên không phải là lựa chọn tối ưu Như đã trình bày ở chương trước, tần

số F1 tăng cao khi độ nâng lưỡi hạ xuống và tần số F2 giảm xuống khi lưỡi có chiều hướng tiến về trước [i] là nguyên âm hàng trước có độ nâng lưỡi cao nhất, do đó chúng tôi chọn điểm để đo tần số formant của [i] là ở vị trí trung tâm của nguyên âm nơi có F2 cao nhất Trái lại, vì [u] là nguyên âm ở hàng sau “nhất” nên chúng tôi chọn điểm đo ở vùng trung tâm của nguyên âm nơi có F2 thấp nhất

Chẳng hạn trường hợp sau đây của từ “đi”:

Trang 36

Hình 3.3 Ph ổ của từ “đi” và các formant

Dựa vào sự thay đổi chiều hướng của formant F1 và F2, ta thấy nguyên âm chính có

sự thay đổi về mặt phẩm chất nguyên âm Ban đầu, nó được phát âm với một âm [i] hơi lùi

về sau và hơi thấp; sau đó nó chuyển thành một âm [i] tiến về trước và cao hơn (F1 giảm, F2 tăng) Vấn đề đặt ra là: với 2 sắc thái của [i] như vậy, đâu là điểm thích hợp để chọn đo tần

số cho F1, F2 và F3? Dựa vào cường độ của sóng âm thì điểm được chọn tốt nhất phải là điểm được đánh dấu bằng gạch chấm màu đỏ (tức là khi [i] vẫn còn ở hơi lùi về sau và hơi thấp) bởi lẽ đây mới là điểm thuộc khu vực trung tâm, F1, F2 khá ổn định và F2 đạt giá trị cao nhất Trong khi đó, vùng bên phải đường kẻ màu xanh tuy F2 tăng lên nhưng không nằm trong vùng trung tâm và giá trị F2 không ổn định nên không thể là điểm đo phù hợp

Đối với nguyên âm đôi, formant được đo tại 2 điểm: “một điểm ở gần chỗ bắt đầu và một điểm khác ở gần chỗ kết thúc của nguyên âm, nơi không chịu ảnh hưởng của sự chuyển hoá từ phụ âm” (Peter Ladefoged 2003: 132) Chẳng hạn, trong từ “biếc”, hai điểm được chọn để đo tần số là hai điểm đánh dấu bằng đường kẻ sọc màu xanh Vì yếu tố thứ nhất của nguyên âm đôi trong “biếc” là [i] nên điểm đầu tiên được chọn là điểm mà ở đó F1 ổn định, F2 đạt đến cực đại và cũng là điểm mà F2 trở nên ổn định Điểm thứ hai được chọn nằm ở khu vực gần cuối nguyên âm nhưng chưa phải là khu vực của phụ âm, tại đó F1 và F2 tiến đến rất gần nhau vì yếu tố thứ hai của nguyên âm đôi là [ɤ], vốn không có khác biệt lớn về giá trị giữa F1 và F2

Trang 37

Hình 3.4 Ph ổ của từ “biếc” và hai điểm chọn để đo formant

3.2.2 Phương pháp đo trường độ nguyên âm

Phương pháp đo trường độ được áp dụng với các nguyên âm: [ɯ], [o], [ɔ], [a], [ă], [ɤ], [ɤ̆], [ɯ͜ɤ] vì các nguyên âm này ngoài sự khu biệt về âm sắc còn có khu biệt về trường

độ

Khi đo độ dài các nguyên âm, vấn đề đặt ra là bắt đầu đo từ đâu và kết thúc ở đâu, bởi

lẽ các nguyên âm còn chịu ảnh hưởng của phụ âm dẫn đến xuất hiện giai đoạn chuyển tiếp Qua quá trình nghiên cứu các ngữ liệu thu được, chúng tôi nhận thấy giữa phụ âm cuối và nguyên âm chính thường có giai đoạn chuyển tiếp khá dài Việc xác định đâu là điểm kết thúc của nguyên âm mà không bị ảnh hưởng bởi phụ âm cuối là khá khó khăn, nhiều trường hợp là bất khả, do đó chúng tôi quyết định đo trường độ nguyên âm bao gồm cả giai đoạn chuyển tiếp sang phụ âm Như trong hai trường hợp của nguyên âm [o] trong “mong” (hình 3.5) và nguyên âm [ɯ] trong “tức” (hình 3.6), trường độ của nguyên âm không chỉ bao gồm đoạn ổn định của formant F1, F2 mà còn bao gồm cả giai đoạn hai formant thay đổi chiều hướng thấp dần:

Trang 38

Hình 3.5 Trường độ nguyên âm [o] trong “mong”

Hình 3.6 Trường độ nguyên âm [ɯ] trong “tức”

Những âm tiết kết thúc bằng [-j, -w], việc xác định riêng rẽ trường độ của nguyên âm chính và âm cuối là rất khó khăn vì lúc này, về mặt ngữ âm học mà nói, phần vần của âm tiết không khác gì một nguyên âm đôi Như đã nói ở chương 1, nguyên âm là một thể liên tục, do đó các formant của nguyên âm thứ nhất và nguyên âm thứ hai thay đổi và nối tiếp nhau, hoàn toàn không có ranh giới rõ ràng nào Do đó, chúng tôi chọn giải pháp coi vùng chuyển tiếp từ nguyên âm này sang nguyên âm kia cũng thuộc về nguyên âm đang xét Nói cách khác, đoạn âm được chọn đo trường độ sẽ bao gồm từ lúc nguyên âm bắt đầu đến lúc

âm đó hoàn toàn bị chuyển đổi thành âm khác, tức formant trở nên ổn định trở lại Chẳng hạn như trong hai trường hợp cụ thể của “chơi” và “trâu” do ba tư liệu viên i1, i2, i3 phát

âm sau đây, khu vực được quét khối là khu vực được dùng để lấy giá trị trường độ:

Trang 39

Hình 3.7 Trường độ nguyên âm [ɤ] trong “chơi”do i1 phát âm

Hình 3.8 Trường độ nguyên âm [ɤ] trong “chơi”do i2 phát âm

Hình 3.9 Trường độ nguyên âm [ɤ] trong “chơi”do i3 phát âm

Trang 40

Hình 3.10 Trường độ nguyên âm [ ɐ] trong “trâu”do i1 phát âm

Hình 3.11 Trường độ nguyên âm [ ɐ] trong “trâu”do i2 phát âm

Hình 3.12 Trường độ nguyên âm [ ɐ] trong “trâu”do i3 phát âm

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.9a. Sơ đồ các nguyên âm trong  “bê, be, bư, bơ, ba, bu, bô, bo” - phân tích đặc điểm về mặt âm học của hệ thống nguyên âm tiếng bình định
Hình 1.9a. Sơ đồ các nguyên âm trong “bê, be, bư, bơ, ba, bu, bô, bo” (Trang 19)
Hình 3.1. Bản đồ các huyện và thành phố thuộc tỉnh Bình Định - phân tích đặc điểm về mặt âm học của hệ thống nguyên âm tiếng bình định
Hình 3.1. Bản đồ các huyện và thành phố thuộc tỉnh Bình Định (Trang 31)
Hình 3.3. Ph ổ của từ “đi” và các formant - phân tích đặc điểm về mặt âm học của hệ thống nguyên âm tiếng bình định
Hình 3.3. Ph ổ của từ “đi” và các formant (Trang 36)
Hình 3.7.  Trường độ nguyên âm [ ɤ ] trong “chơi”do i1 phát âm - phân tích đặc điểm về mặt âm học của hệ thống nguyên âm tiếng bình định
Hình 3.7. Trường độ nguyên âm [ ɤ ] trong “chơi”do i1 phát âm (Trang 39)
Hình 4.1. Bi ểu đồ các nguyên âm trong các bối cảnh của i1 (Nữ) - phân tích đặc điểm về mặt âm học của hệ thống nguyên âm tiếng bình định
Hình 4.1. Bi ểu đồ các nguyên âm trong các bối cảnh của i1 (Nữ) (Trang 43)
Hình 4.26. Giá trị F1, F2 của /a/ do nam phát âm - phân tích đặc điểm về mặt âm học của hệ thống nguyên âm tiếng bình định
Hình 4.26. Giá trị F1, F2 của /a/ do nam phát âm (Trang 65)
Hình 4.30. Giá trị F1, F2 của /u/ và / ɯ / trong các bối cảnh do nam phát âm, - phân tích đặc điểm về mặt âm học của hệ thống nguyên âm tiếng bình định
Hình 4.30. Giá trị F1, F2 của /u/ và / ɯ / trong các bối cảnh do nam phát âm, (Trang 67)
Hỡnh 4.31. Giỏ trị F1, F2 của “-ong, -oc”, “-anh, -ach” và [ổ] do nữ phỏt õm - phân tích đặc điểm về mặt âm học của hệ thống nguyên âm tiếng bình định
nh 4.31. Giỏ trị F1, F2 của “-ong, -oc”, “-anh, -ach” và [ổ] do nữ phỏt õm (Trang 68)
Hình 5.1. Nguyên âm /i ͜ɤ / trong các bối cảnh do i1 phát âm (nữ) - phân tích đặc điểm về mặt âm học của hệ thống nguyên âm tiếng bình định
Hình 5.1. Nguyên âm /i ͜ɤ / trong các bối cảnh do i1 phát âm (nữ) (Trang 75)
Hình 5.33. Biểu đồ giá trị trung bình F1, F2 của nguyên âm đôi / ɯ͜ɤ / bị nhược hoá với nguyên âm đơn [ ɯ ] - phân tích đặc điểm về mặt âm học của hệ thống nguyên âm tiếng bình định
Hình 5.33. Biểu đồ giá trị trung bình F1, F2 của nguyên âm đôi / ɯ͜ɤ / bị nhược hoá với nguyên âm đơn [ ɯ ] (Trang 95)
Hình 5.40. Bi ểu đồ giá trị formant của yếu tố thứ hai trong nguyên âm đôi [ ɯ͜ɤ ] v ới nguyên âm đơn  [ ɤ ] - phân tích đặc điểm về mặt âm học của hệ thống nguyên âm tiếng bình định
Hình 5.40. Bi ểu đồ giá trị formant của yếu tố thứ hai trong nguyên âm đôi [ ɯ͜ɤ ] v ới nguyên âm đơn [ ɤ ] (Trang 100)
Hình 5.43.  Nguyên âm đôi /u ͜͜ɤ / do i3 phát âm (n ữ) - phân tích đặc điểm về mặt âm học của hệ thống nguyên âm tiếng bình định
Hình 5.43. Nguyên âm đôi /u ͜͜ɤ / do i3 phát âm (n ữ) (Trang 103)
Hình 5.45.  Nguyên âm đôi /u ͜͜ɤ / do i5 phát âm (n ữ) - phân tích đặc điểm về mặt âm học của hệ thống nguyên âm tiếng bình định
Hình 5.45. Nguyên âm đôi /u ͜͜ɤ / do i5 phát âm (n ữ) (Trang 104)
Hình 5.47.  Nguyên âm đôi /u ͜͜ɤ / do i7 phát âm (n ữ) - phân tích đặc điểm về mặt âm học của hệ thống nguyên âm tiếng bình định
Hình 5.47. Nguyên âm đôi /u ͜͜ɤ / do i7 phát âm (n ữ) (Trang 105)
Hình 5.51.  Nguyên âm đôi /u ͜͜ɤ / do i11 phát âm (nam) - phân tích đặc điểm về mặt âm học của hệ thống nguyên âm tiếng bình định
Hình 5.51. Nguyên âm đôi /u ͜͜ɤ / do i11 phát âm (nam) (Trang 107)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w