1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển du lịch Tây Ninh đến năm 2020 trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

128 426 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 2,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Tên viết tắt Giải thích từ viết tắt ASEAN The Association of South - East Asian Nations Hiệp hội các nước Đông Nam Á BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường CNH-HĐH Công

Trang 1

Đại học quốc gia hà nội tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

Trang 2

Đại học quốc gia hà nội tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

luận văn thạc sĩ du lịch

ng-ời h-ớng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN TRÙNG KHÁNH

Hà Nội, 2014

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Tên viết tắt Giải thích từ viết tắt

ASEAN The Association of South - East Asian Nations

Hiệp hội các nước Đông Nam Á BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường

CNH-HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

FDI Vốn đầu tư nước ngoài

DTLSVHDT Di tích lịch sử, văn hóa, danh thắng

DTLSVH Khu di tích lịch sử văn hóa

ĐBSCL Vùng đồng bằng sông Cửu Long

HĐND Hội đồng nhân dân tỉnh

KTTĐPN Kinh tế trọng điểm phía Nam

INBOUND Khách du lịch quôc tế đến

OUTBOUND Khách du lịch là người Việt Nam, người nước ngoài sống

và làm việc

KBTTN Khu bảo tồn thiên nhiên

KTQ Khach tham quan du lịch

Khách DLLT khách du lịch có lưu trú

LHVN Công ty lữ hành Việt Nam

MTDTGPMNVN Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam

CPCMLTCHMNVN Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam QHTTPTDL Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch

QHTTPTKTXH Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội

pH Độ chua phèn trong môi trường

QH Kỳ họp Quốc hội đã thông qua Luật

P2O5 Oxit phootspho trong môi trường

Sở VHTTDL Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tây Ninh

Trang 4

KHKTCN Khoa học, kỹ thuật và công nghệ

Viện NCPT Du lịch Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch

VTV Đài truyền hình Việt Nam

HTV7, HTV9 Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh

Tiểu vùng Sông Mekong Mở rộng GIS Geographic Information System

Hệ thống thông tin địa lý

Công nghệ viễn thám

UNWTO United National World Tourist Organization

Tổ chức Du lịch Thế giới UNICEF United Nations Children's Fund

Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc JICA The Japan International Cooperation Agency

Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản FAO Food and Agriculture Organization of the United Nations

Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc

Ngân hàng Thế giới ADB The Asian Development Bank

Ngân hàng Phát triển châu Á NGO Non-governmental organization

Tổ chức phi chính phủ ODA Official Development Assistant

Viện trợ phát triển chính thức

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2-1- Hiện trạng số lượng khách du lịch

Bảng 2-2- Hiện trạng số lượng xuất nhập cảnh qua cửa khẩu quốc tế

Bảng 2-3- Hiện trạng về cơ sở lưu trú

Bảng 2-4- Hiện trạng về lao động trong ngành du lịch tỉnh Tây Ninh

Bảng 2-5- Hiện trạng dự án và vốn đầu tư phát triển

Bảng 3-1- Dự báo về khách du lịch

Bảng 3-2- Dự báo ngày lưu trú trung bình

Bảng 3-3- Dự báo mức chi tiêu trung bình tổng thu từ khách du lịch

Bảng 3-4- Dự báo thu nhập từ du lịch (GDP) vốn đầu tư

Bảng 3-5- Dự báo đóng góp GDP du lịch so với GDP của tỉnh

Bảng 3-6 - Dự báo hệ số đầu tư ICOR của Việt Nam giai đoạn 2005 - 2011 Bảng 3-7- Dự báo nhu cầu và phân bổ nguồn vốn

Bảng 3-8- Dự báo cơ cấu vốn đầu tư du lịch theo lĩnh vực

Bảng 3-9- Dự báo nhu cầu phòng lưu trú

Bảng 3-10- Dự báo lao động trong ngành du lịch

Bảng 3-11- Nghiên cứu quỹ đất cho du lịch phân theo quản lý và địa bàn Bảng 3-12- Dự báo phân kỳ dầu tư cho các dự án

Biểu 2-1- Hiện trạnh tỉ lệ khách quốc tế và nội địa có lưu trú trên địa bàn Biểu 2-2- Hiện trạng công suất sử dụng phòng lưu trú trên địa bàn

Biểu 2-3- Hiện trạng phân loại cơ sở lưu trú du lịch

Biểu 2-4- Hiện trạng phân loại lao động trực tiếp và gián tiếp

Biểu 3-1- Dự báo về số lượng khách du lịch quốc tế đến Tây Ninh

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 Mục đích ý nghĩa của đề tài 5

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài trong và ngoài nước 7

2.1 Ở nước ngoài 7

2.2 Ở Việt Nam 8

2.3 Ở tỉnh Tây Ninh 9

3.Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

3.1 Mục tiêu 9

3.2 Đối tượng 9

4 Phương pháp nghiên cứu 10

4.1 Các phương pháp nghiên cứu 10

4.1.1 Phương pháp thu thập, phân tích tổng hợp số liệu 10

4.1.2 Phương pháp điều tra thực địa và khảo sát 10

4.1.3 Phương pháp bản đồ 11

4.1.4 Phương pháp chuyên gia 11

4.2 Phương pháp luận 11

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 12

1.1 Một số khái niệm về du lịch và phát triển du lịch 12

1.2 Vị trí, vai trò của ngành du lịch trong phát triển kinh tế 13

1.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch 15

1.4 Phát triển du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 19

1.5 Khái quát về hội nhập kinh tế quốc tế 22

1.6 Điều kiện phát triển du lịch trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 23

1.7 Một số xu hướng phát triển du lịch thế giới đến năm 2020 25

1.8 Các yêu cầu đặt ra đối với phát triển du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 26

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TÂY NINH GIAI ĐOẠN 2007-2012 29

2.1 Cơ sở thực tiễn 29

Trang 7

2.1.1 Thực tiễn phát triển du lịch trên thế giới và Việt Nam trong bối cảnh hội

nhập kinh tế quốc tế 29

Cơ hội, thuận lợi của quốc tế và trong nước đối với du lịch Tây Ninh .29

2.1.2 Thực tiễn phát triển du lịch vùng Đông Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh .31

2.2 Khái quát chung về tiềm năng phát triển du lịch Tây Ninh 31

2.2.1 Tài nguyên tự nhiên 31

2.2.1.1 Địa hình và khoáng sản 31

2.2.1.2 Thủy văn 32

2.2.1.3 Rừng 33

2.2.2 Tài nguyên nhân văn 37

2.2.2.1 Lịch sử 37

2.2.2.2 Văn hóa 38

2.2.2.3 Lễ hội 38

2.2.3 Cơ sở hạ tầng 39

2.2.3.1 Hệ thống giao thông vận tải 39

2.2.3.2 Hệ thống bưu chính viễn thông 39

2.2.3.3 Hệ thống điện 40

2.2.3.4 Hệ thống cấp thoát nước 40

2.2.4 Cơ chế chính sách và hợp tác đầu tư trong phát triển du lịch 40

2.2.4.1 Cơ chế chính sách 40

2.2.4.2 Hợp tác đầu tư 41

2.2.4.3 Các nhân tố kinh tế xã hội khác 41

2.3 Thực trạng phát triển du lịch theo lãnh thổ 43

2.3.1 Các khu điểm du lịch 43

2.3.2 Các tuyến du lịch 43

2.3.3 Các cụm du lịch 43

2.4 Kết quả phát triển du lịch Tây Ninh 44

2.4.1 Vai trò du lịch Tây Ninh trong phát triển kinh tế .44

2.4.2 Kết quả phát triển du lịch của Tây Ninh 45

2.4.2.1 Lượng khách và doanh thu du lịch 45

2.4.2.2 Khả năng khai thác tài nguyên và phát triển sản phẩm du lịch 47

Trang 8

2.4.2.3 Cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch 50

2.4.2.4 Lao động trong ngành du lịch 53

2.4.2.6 Hiện trạng tổ chức quản lý và quy hoạch du lịch 55

2.4.2.7 Công tác xã hội hóa hoạt động du lịch 56

2.4.2.8 Hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch 56

2.4.2.9 Quản lý nhà nước về du lịch và cơ chế, chính sách phát triển du lịch57 2.5 Đánh giá chung 58

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH TÂY NINH ĐẾN NĂM 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030, TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 63

3.1 Một số định hướng phát triển du lịch Tây Ninh đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 63

Căn cứ các yêu cầu, điều kiện đặt ra trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế trong phần lý thuyết và thực trạng phát triển du lịch Tây Ninh, tác giả đưa ra các quan điểm và mục tiêu để cùng cả nước hòa nhập vào quốc tế 63

3.1.1 Quan điểm phát triển 63

3.1.2 Mục tiêu phát triển 63

3.1.3 Các định hướng phát triển chủ yếu 64

3.1.3.1 Dự báo chỉ tiêu khách du lịch .64

3.1.3.3 Dự báo tổng thu từ khách du lịch, thu nhập du lịch .68

3.1.3.4 Dự báo nhu cầu vốn đầu tư 69

3.1.3.5 Dự báo về cơ sở lưu trú cho khách du lịch .71

3.1.3.6 Xác định và phân loại các thị trường khách du lịch 72

3.1.3.8 Định hướng các tuyến du lịch .82

3.1.3.9 Định hướng đầu tư phát triển du lịch .85

3.2 Dự báo tác động môi trường trong quá trình thực hiện dự án 90

3.3 Một số giải pháp phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian tới 95

3.3.1 Nhóm giải pháp về phát triển sản phẩm du lịch 95

3.3.2 Nhóm giải pháp về phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 96

3.3.3 Nhóm giải pháp về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 96

Trang 9

3.3.4 Nhóm giải pháp về phát triển thị trường, xúc tiến quảng bá, xây dựng

thương hiệu du lịch 99

3.3.5 Nhóm giải pháp về đầu tư và chính sách phát triển du lịch 100

3.3.6 Nhóm giải pháp về hợp tác quốc tế 103

3.3.7 Nhóm giải pháp về quản lý nhà nước về du lịch 105

Tổ chức quản lý quy hoạch và quản lý kinh doanh du lịch 109

3.3.8 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ khách sạn, nhà hàng, lữ hành 111

3.3.9 Nhóm giải pháp triển các hình thức liên kết các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn khu vực Đông Nam Bộ 112

3.4 Một số kiến nghị 114

KẾT LUẬN 115

Trang 10

tế, phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế nước ta Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, du lịch làm gia tăng sự hiểu biết thân thiện và góp phần quảng bá nền văn hóa Việt Nam với các nước Có lẽ không ngành kinh tế nào có cơ hội phát triển và đóng góp vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế như du lịch Phát triển du lịch được nhìn nhận là “ngành kinh tế mũi nhọn”, rút ngắn quá trình công

nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần thực hiện hóa mục tiêu: “đến năm 2020 Việt Nam

cơ bản trở thành nước công nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.”, Đại

hội lần thứ IX Đảng ta đã nhận định: Toàn cầu hóa kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh”, Đại hội XI “ Tăng trưởng kinh tế là cơ sở để Đảng và Nhà nước ta có thể thực hiện các mục tiêu xã hội Trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập diễn ra trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế , chính trị, văn hóa, xã hội thì đòi hỏi chúng ta phải giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa những thành tựu của văn minh nhân loại nếu không muốn bị nô dịch về văn hóa”

Được coi là một ngành kinh tế được ưu tiên phát triển, với nhiều tiềm năng và lợi thế, là điểm đến lý tưởng với du khách quốc tế, ngành Du lịch Việt Nam đã tích cực hội nhập và mở cửa Năm 2012, du lịch Việt Nam đã đón và phục vụ được 6,847 triệu lượt khách quốc tế, 32,5 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ du lịch khoảng 160 nghìn tỷ đồng 10 tháng năm 2013 thu hút 6,119 triệu lượt khách, Mục tiêu của năm

2013 là đón và phục vụ được 7,2 triệu lượt khách quốc tế, 35 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ du lịch đạt khoảng 190 nghìn tỷ đồng

Tây Ninh là tỉnh có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú rừng, núi, sông,

hồ, các di tích lịch sử cách mạng miền Nam, các lễ hội tôn giáo, dân gian đặc sắc như Núi Bà Đen, Hồ Dầu Tiếng, sông Vàm cỏ Đông, Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát, quần thể các di tích lịch sử cách mạng miền Nam, Tòa thánh Cao Đài, Tháp Chót

Trang 11

Mạt, Tháp cổ Bình Thạnh …, làng nghề truyền thống mây, tre, nứa, chằm nón lá, đóng tàu ghe, bánh tráng phơi sương và đặc sắc hơn nữa ẩm thực Tây Ninh nổi tiếng khắp miền đất nước như: món bánh canh, bánh tráng Trảng Bàng, muối ớt tôm Tây Ninh, món ăn chay đặc sắc của vùng thánh địa Cao Đài

Vị trí địa lý Tây Ninh rất thuận lợi cho phát triển du lịch: Tây Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là cửa ngõ giao thương giữa thành phố Hồ Chí Minh và Vương quốc Campuchia có đường xuyên Á đi qua Tây Ninh có đường biên giới 240 km, còn có 02 cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, Xa Mát, 4 cửa khẩu quốc gia và 10 cửa khẩu phụ, rất thuận lợi cho phát triển du lịch Việt Nam – Campuchia – Thái Lan – Myanma và các nước trong khối ASEAN

Tuy nhiên, kết quả hoạt động kinh doanh du lịch có nhịp độ tăng trưởng chậm, không bền vững Chưa thu hút được nhiều khách du lịch quốc tế mặc dù có lợi thế về đường biên giới Việc khai thác lợi thế về đường biên giới để hình thành các tour tuyến du lịch kết nối với các nước trong khu vực ASEAN chưa phát triển tương xứng với tiềm năng Sản phẩm du lịch còn thiếu, chất lượng dịch vụ chưa cao, các cơ sở vui chơi giải trí thiếu và chậm phát triển Những cơ sở hạ tầng hiện có chưa đạt chuẩn và còn ở quy mô nhỏ, không có khả năng phục vụ số lượng lớn, dịch vụ và cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu Công tác đầu tư phát triển du lịch còn ở mức thấp chưa thu hút được các nhà đầu tư lớn nên các khu du lịch trọng điểm của tỉnh không được khai thác tương xứng với tiềm năng du lịch Nguồn nhân lực chưa đáp ứng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Vì vậy, việc nghiên cứu một cách khoa học và có hệ thống để tìm ra giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển du lịch trên địa bàn Tây Ninh là yêu cầu nhiệm vụ cấp thiết Xuất phát từ lý luận được tiếp thu từ khóa đào tạo Thạc sĩ Du lịch học và thực tiễn đúc kết được của bản thân hiện đang công tác tại phòng Nghiệp vụ Du lịch, Sở Văn hoá - Thể thao - Du lịch tỉnh Tây Ninh; với mong muốn được đóng góp cho sự

phát triển du lịch Tây Ninh, tôi đã lựa chọn đề tài “Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh đến năm 2020 trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”

1.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn đẩy mạnh hoạt động hội nhập quốc tế về phát triển du lịch Tây Ninh đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà, nâng cao vị thế du lịch Tây Ninh trong khu vực và trên trường quốc tế

Trang 12

Nâng cao năng lực chủ động hội nhập bình đẳng của du lịch Tây Ninh với cộng đồng du lịch quốc tế, đảm bảo nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch của Tây Ninh trong khu vực và trên thế giới

Dự báo tình hình và xu thế phát triển du lịch trên thế giới, trong khu vực để xây dựng các giải pháp thu hút nguồn lực quốc tế phục vụ phát triển tiềm năng du lịch Tây Ninh

Kiến nghị các nhóm giải pháp phát triển du lịch Tây Ninh đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 nhằm khai thác có hiệu quả và bền vững tiềm năng du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài trong và ngoài nước

2.1 Ở nước ngoài

Những công trình nghiên cứu đầu tiên về du lịch có tầm quan trọng trên thế giới

có thể kể đến là những nghiên cứu về các loại hình du lịch, lịch sử, những nhân tố ảnh hưởng chính đến hoạt động du lịch… của Poser (1939), Christaleer (1955)… được tiến hành ở Đức từ năm 1930 Tiếp theo đó là các công trình đánh giá tổng hợp tự nhiên phục vụ giải trí của Mukhina (1973); nghiên cứu sức chứa và sự ổn định của các điểm

du lịch của Khadaxkia (1972) và Sepfer (1973) Các nhà địa lí cảnh quan học của trường Đại học tổng hợp Matxcơva như E.D.Xmirnova, V.B.Nhefedova… đã nghiên cứu các vùng cho mục đích nghỉ dưỡng trên lãnh thổ Liên Xô (cũ) Ngoài ra các nhà địa lí Mỹ như Bôhart (1971), nhà địa lí Anh H Robinson (1976)… cũng đã tiến hành đánh giá các loại tài nguyên thiên nhiên phục vụ mục đích du lịch

Bên cạnh đó, một khía cạnh quan trọng trong nghiên cứu địa lí du lịch đã được quan tâm là vấn đề tổ chức lãnh thổ du lịch Nhà địa lí du lịch Bêlarut I.I Pirojnik (1985) đã phân tích hệ thống lãnh thổ du lịch, các vùng du lịch như là đối tượng cho quy hoạch và quản lý M Buchovarôp (Bungari), N.X Mironhenke (Anh)… đã xác định đối tượng nghiên cứu của địa lí du lịch là hệ thống lãnh thổ du lịch các cấp hoặc thể tổng hợp lãnh thổ du lịch và phân tích cơ cấu tổng hợp các yếu tố trên địa bàn để phát triển du lịch

Flie Cohen, Toàn cầu hóa, sự hấp dẫn và cơ chế điều tiết, Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp, Hội thảo khoa học "Những thách thức về phương diện pháp

lý của quá trình toàn cầu hóa",

Trang 13

Báo cáo của các Bộ, ngành của Uỷ ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế

2.2 Ở Việt Nam

Lịch sử ngành du lịch Việt Nam được đánh dấu bắt đầu từ năm 1960, từ đó đến nay các công trình nghiên cứu địa lý du lịch nhìn chung vẫn chưa nhiều Phần lớn tập trung các vấn đề về tổ chức lãnh thổ không gian du lịch, cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu du lịch với một số tác giả tiêu biểu như Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Đặng Duy Lợi, Phạm Trung Lương…

Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị trong lĩnh vực này đã được thực hiện như: đề tài “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam” do Vũ Tuấn Cảnh chủ trì (1991); “Cơ

sở lí luận phương pháp nghiên cứu các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch biển Việt Nam” do Nguyễn Trần Cầu và Lê Thông chủ trì (1993); “Quy hoạch quốc gia và vùng, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu” – Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông (1994); “ Cơ sở địa lí du lịch” – Nguyễn Minh Tuệ (1994); “Tổ chức lãnh thổ du lịch” – Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ (1999)…; nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch Việt

Nam có tính cạnh tranh trong khu vực và quốc tế của TS Đỗ Cẩm Thơ năm 2007;

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đầu tư phát triển khu du lịch của Thạc sĩ Lê Văn Minh năm 2007; Xây dựng hướng dẫn phát triển du lịch sinh thái góp phần bảo tồn đa

dạng sinh học ở Việt Nam của PGS.TS Phạm Trung Lương năm 2003; Chiến lược

phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2030 của Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch

Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu, dự án, đề tài tiêu biểu cấp Nhà nước; một số bài báo trên tạp chí Du lịch Việt Nam và các báo cáo trong các cuộc hội thảo về du lịch của Việt Nam; một số luận văn, luận án; các đề tài quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của các địa phương được thực hiện với sự tham gia của các nhà khoa học địa lí trong và ngoài nước Tiêu biểu như luận án Tiến sĩ “Tổ chức lãnh thổ du lịch thành phố Hải Phòng” - Nguyễn Thanh Sơn (1997); “Phát triển du lịch TP Hồ Chí Minh với việc khai thác tài nguyên du lịch vùng phụ cận” - Đỗ Quốc Thông (2004)…

Các Nghị quyết Trung ương và tỉnh Đảng bộ Tây Ninh về vấn đề toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực hóa

Vận dụng các tài liệu toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực hóa trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội như: Toàn cầu hóa - quan điểm và thực tiễn, Viện

Trang 14

Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương Nxb Thống kê, HN, 1999; Nguyễn Văn Dân, Những vấn dề toàn cầu hóa kinh tế, Nxb KHXH, HN 2001

về đẩy mạnh khai thác tiềm năng, phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2012-

2015 và tầm nhìn đến năm 2020

Đề tài “Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh đến năm 2020 trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” là đề tài đầu tiên nghiên cứu vấn đề này trên lãnh thổ của tỉnh như một công trình độc lập

3.Mục tiêu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục tiêu

Trên cơ sở vận dụng lí luận chung về du lịch, đề tài đi sâu phân tích đánh giá tiềm năng và thực trạng về du lịch trên địa bàn Tây Ninh Từ đó đề xuất quan điểm, mục tiêu, giải pháp các kiến nghị phát triển du lịch Tây Ninh đến năm 2020, nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch tỉnh Tây Ninh, góp phần đưa ngành du lịch Tây Ninh trở thành ngành kinh tế quan trọng và về lâu dài là ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

3.2 Đối tượng

Luận văn tập trung vào các đối tượng sau đây:

- Tài nguyên du lịch Tây Ninh gồm tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn cho phát triển du lịch

Trang 15

3.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Về nội dung: Đề tài tập trung đánh giá tài nguyên phục vụ cho việc phát triển

du lịch và kết quả hoạt động du lịch theo 2 khía cạnh ngành và lãnh thổ (các điểm,

tuyến; các cụm du lịch…)

Về phạm vi không gian: toàn bộ tỉnh Tây Ninh diện tích 4.036,24km Bên cạnh

có sự so sánh, liên hệ với các tỉnh, thành phố lân cận với địa phương, có cùng điều kiện, tiềm năng phát triển du lịch, nhất là trong vùng Đông Nam Bộ, thành phố Hồ Chí Minh và Tây Nam Bộ

Về phạm vi thời gian: Đề tài tập trung thu thập, phân tích các dữ liệu thống kê chủ yếu trong giai đoạn 5 năm 2007 – 2012 , làm cơ sở để dự báo đến năm 2020

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Các phương pháp nghiên cứu

4.1.1 Phương pháp thu thập, phân tích tổng hợp số liệu

Các nguồn tài liệu được khai thác từ nhiều nguồn khác nhau trên cơ sở tổng hợp và phân tích những tài liệu thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau như: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Thống kê Tây Ninh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, UBND tỉnh Tây Ninh, trang thông tin điện tử Tây Ninh, các doanh nghiệp du lịch Tây Ninh, các Khu du lịch Tây Ninh, Internet, Tổng cục Du lịch, Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch… tôi đã có được một hệ thống tài liệu toàn diện và khái quát về chủ đề nghiên cứu Các tài liệu thống kê luôn được bổ sung, cập nhật và được tác giả chọn lọc, tổng hợp, phân tích tính liên hợp các yếu tố trong mối tương quan, ảnh hưởng lẫn nhau làm mục đích nghiên cứu của luận văn

4.1.2 Phương pháp điều tra thực địa và khảo sát

Thông qua việc khảo sát tình hình thực tế tại các khu du lịch, điểm du lịch, các doanh nghiệp du lịch, các cộng đồng dân cư của các nghề và làng nghề truyền thống đã và đang được phát triển du lịch và những nơi có điều kiện tự nhiên đa dạng, phong phú sẽ là những cơ sở cơ bản để nhìn nhận và đánh giá được thực tế tình hình phát triển cũng như những tiềm năng của lĩnh vực mà mình đang nghiên cứu Trong suốt quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã tiến hành nhiều đợt thực hiện khảo sát các đối tượng nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh để kiểm tra, đánh giá xác thực và có tầm nhìn đầy đủ đối tượng nghiên cứu, phỏng vấn các doanh nghiệp, du khách về du lịch Từ đó, cho phép tác giả tiếp cận vấn đề một cách chủ động, sâu sắc, có điều kiện đối chiếu, bổ sung các thông tin cập nhật cần thiết, cũng như thẩm nhận được giá trị

Trang 16

của tiềm năng du lịch, hiểu được những khía cạnh khác nhau của thực tế, trên cơ sở đó

đề xuất những giải pháp hợp lý có tính chất khả thi, phù hợp với địa bàn nghiên cứu

4.1.3 Phương pháp bản đồ

Với đặc thù là môn khoa học nghiên cứu khía cạnh lãnh thổ của các đối tượng địa lí du lịch, phương pháp bản đồ cho thấy sự phân bố không gian của đối tượng Có thể nói, bản đồ là điểm khởi đầu và kết thúc của hoạt động nghiên cứu; cho phép khai thác thông tin trên hệ thống bản đồ đã được xây dựng và tiến hành thể hiện các kết quả nghiên cứu lên bản đồ Theo mục tiêu nghiên cứu, đề tài sẽ xây dựng hệ thống các bản đồ tài nguyên, bản đồ thực trạng và bản đồ định hướng du lịch tỉnh Tây Ninh

4.1.4 Phương pháp chuyên gia

Phương pháp chuyên gia là phương pháp quan trọng được vận dụng thông qua việc xin ý kiến chỉ đạo, góp ý về nội dung và phương pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã tham khảo ý kiến của các cán bộ, các nhà nghiên cứu trong vấn đề khai thác các giá trị văn hoá, tự nhiên và định hướng du lịch tỉnh Tây Ninh từ các cơ quan, Sở Văn hoá - Thể thao - Du lịch, các chuyên gia từ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch, Viện Nghiên cứu phát triển du lịch, Khoa Du lịch học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn …

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1 : Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Chương 2 : Thực trạng phát triển du lịch Tây Ninh giai đoạn 2005-2012

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch Tây Ninh đến năm 2020 trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 17

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRONG ĐIỀU KIỆN

HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1.1 Một số khái niệm về du lịch và phát triển du lịch

Từ thời cổ đại, du lịch đã xuất hiện như là một hoạt động tự nhiên của con người nhằm khám phá những điều mới lạ của thế giới xung quanh, từng bước vươn lên làm chủ tự nhiên, làm chủ cuộc sống Khi sức sản sức xã hội chưa phát triển, du lịch chỉ là hiện tượng cá biệt như buôn bán, giải trí, du lịch thể thao đã từng xuất hiện ở Hy Lạp cổ đại với sự ra đời của thế vận hội Olimpic năm 760 trước công nguyên

Theo Luật Du lịch năm 2006 các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử – văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch Tham quan là hoạt động của khách du lịch trong ngày tới thăm nơi có tài nguyên du lịch với mục đích tìm hiểu, thưởng thức những giá trị của tài nguyên du lịch Đô thị du lịch là đô thị có lợi thế phát triển du lịch

và du lịch có vai trò quan trọng trong hoạt động của đô thị Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu

tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế – xã hội và môi trường Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch Dịch

vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch Cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở cho thuê buồng, giường và cung cấp các

Trang 18

dịch vụ khác phục vụ khách lưu trú, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu Chương trình du lịch là lịch trình, các dịch vụ và giá bán chương trình được định trước cho chuyến đi của khách du lịch từ nơi xuất phát đến điểm kết thúc chuyến đi

Lữ hành là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch Hướng dẫn du lịch là hoạt động hướng dẫn cho khách

du lịch theo chương trình du lịch Người thực hiện hoạt động hướng dẫn được gọi là hướng dẫn viên và được thanh toán cho dịch vụ hướng dẫn du lịch Phương tiện chuyên vận chuyển khách du lịch là phương tiện bảo đảm các điều kiện phục vụ khách

du lịch, được sử dụng để vận chuyển khách du lịch theo chương trình du lịch Xúc tiến

du lịch là hoạt động tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai

Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống Môi trường du lịch là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nhân văn nơi diễn ra các hoạt động du lịch

1.2 Vị trí, vai trò của ngành du lịch trong phát triển kinh tế

Xu hướng mang tính quy luật của cơ cấu kinh tế thế giới chỉ ra rằng tỉ trọng nông nghiệp từ chiếm vị thế quan trọng đã dần nhường cho công nghiệp và cuối cùng vai trò của kinh tế dịch vụ sẽ chiếm vai trò thống soái Hiện nay ở các nước có thu nhập thấp, các nước Nam Á, Châu Phi nông nghiệp vẫn còn chiếm trên 30% GNP, công nghiệp khoảng 35% GNP Trong khi đó các nước có thu nhập cao như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Italia…trên 70% GNP do nhóm ngành dịch vụ đem lại, nông nghiệp chỉ đóng khoản 3-5% tổng sản phẩm quốc dân

Vai trò của du lịch trong ngành dịch vụ cũng ngày càng rõ nét Theo hội đồng

du lịch và lữ hành thế giới, năm 1994 du lịch quốc tế trên toàn thế giới đã chiếm 6% GNP, tức là có doanh thu gần 4000 tỷ đô la, vượt trên công nghiệp ô tô, thép, điện tử

và nông nghiệp Du lịch thu hút trên 200 triệu lao động chiếm hơn 12% lao động trên thế giới

Ở Việt Nam xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng đã được thể hiện rõ qua các năm: Cơ cấu GDP năm 2010 ở 3 khu vực (giá 1994): Nông nghiệp, Lâm nghiệp,

Trang 19

Ngư nghiệp - Công nghiệp, Xây dựng - Dịch vụ là 26,8 % - 29% - 42,2%; GDP bình quân đầu người (giá hiện hành) đạt 1.390USD (tương đương 26,4 triệu đồng) Đến năm 2012, cơ cấu kinh tế ở 03 khu vực là 24,8% - 31,0% - 44,2% Với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm thì du lịch đóng góp lớn cho nền kinh tế Du lịch đã nộp hàng ngàn tỷ đồng vào ngân sách nhà nước Ngoài ra cùng với sự phát triển của du lịch cũng dễ tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác cùng phát triển Với những thuận lợi, những mặt tích cực mà phát triển du lịch đem lại thì du lịch thực sự có khả năng làm thay đổi bộ mặt kinh tế của nước ta

Vai trò của ngành du lịch đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước Trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như là một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa, xã hội ở các nước Về mặt kinh tế, du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước công nghiệp phát triển Mạng lưới du lịch đã được thiết lập ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Các lợi ích kinh tế mang lại từ du lịch là điều không thể phủ nhận, thông qua việc tiêu dùng của du khách đối với các sản phẩm của du lịch Nhu cầu của du khách bên cạnh việc tiêu dùng các hàng hoá thông thường còn có những nhu cầu tiêu dùng đặc biệt: nhu cầu nâng cao kiến thức, học hỏi, vãn cảnh, chữa bệnh, nghỉ ngơi, thư giãn…

Sự khác biệt giữa tiêu dùng dịch vụ du lịch và tiêu dùng các hàng hoá khác là tiêu dùng các sản phẩm du lịch xảy ra cùng lúc, cùng nơi với việc sản xuất ra chúng Đây cũng là lý do làm cho sản phẩm du lịch mang tính đặc thù mà không thể so sánh giá cả của sản phẩm du lịch này với giá cả của sản phẩm du lịch kia một cách tuỳ tiện được Sự tác động qua lại của quá trình tiêu dùng và cung ứng sản phẩm du lịch tác động lên lĩnh vực phân phối lưu thông và do vậy ảnh hưởng đến các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội Bên cạnh đó, việc phát triển du lịch sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác, vì sản phẩm du lịch mang tính liên ngành có quan hệ đến nhiều lĩnh vực khác trong nền kinh tế Khi một khu vực nào đó trở thành điểm du lịch,

du khách ở mọi nơi đổ về sẽ làm cho nhu cầu về mọi hàng hoá dịch vụ tăng lên đáng

kể Xuất phát từ nhu cầu này của du khách mà ngành kinh tế du lịch không ngừng mở rộng hoạt động của mình thông qua mối quan hệ liên ngành trong nền kinh tế, đồng thời làm biến đổi cơ cấu ngành trong nền kinh tế quốc dân Hơn nữa, các hàng hoá, vật

tư cho du lịch đòi hỏi phải có chất lượng cao, phong phú về chủng loại, hình thức đẹp,

Trang 20

hấp dẫn Do đó nó đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng sáng tạo cải tiến, phát triển các loại hàng hoá Để làm được điều này, các doanh nghiệp bắt buộc phải đầu tư trang thiết bị hiện đại, tuyển chọn và sử dụng công nhân có tay nghề cao đáp ứng được nhu cầu của du khách

Trên bình diện chung, hoạt động du lịch có tác dụng làm biến đổi cán cân thu chi của đất nước Du khách quốc tế mang ngoại tệ vào đất nước có địa điểm du lịch, làm tăng thêm nguồn thu ngoại tệ của đất nước đó Ngược lại, phần chi ngoại tệ sẽ tăng lên đối với những quốc gia có nhiều người đi du lịch ở nước ngoài Trong phạm

vi một quốc gia, hoạt động du lịch làm xáo trộn hoạt động luân chuyển tiền tệ, hàng hoá, điều hoà nguồn vốn từ vùng kinh tế phát triển sang vùng kinh tế kém phát triển hơn, kích thích sự tăng trưởng kinh tế ở các vùng sâu, vùng xa…

Một lợi ích khác mà ngành du lịch đem lại là góp phần giải quyết vấn đề việc làm Bởi các ngành dịch vụ liên quan đến du lịch đều cần một lượng lớn lao động Du lịch đã tạo ra nguồn thu nhập cho người lao động, giải quyết các vấn đề xã hội

Du lịch Việt Nam trong thời gian qua cũng đã đóng góp rất nhiều cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước Tốc độ tăng trưởng hơn 14%/năm gần gấp hai lần tốc độ tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế

1.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch

du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác

Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu thủy văn, hệ sinh thái cảnh quan thiên nhiên có thể sử dụng phục vụ mục đích du lịch Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng khảo cổ kiến trúc, các công trình sáng tạo của con người, và các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể khác có thể sử dụng phục vụ mục

Trang 21

đích du lịch Tài nguyên du lịch có thể thuộc sở hữu nhà nước hoặc sở hữu của tổ chức

cá nhân

Thứ hai là sản phẩm du lịch: Cũng giống như tài nguyên du lịch, sản phẩm du lịch là đối tượng hấp dẫn du khách là nhân tố quyết định hoạt động du lịch diễn ra hay không diễn ra

Sản phẩm du lịch tập hợp các dịch vụ cần thiết để thõa mãn nhu cầu phục vụ khách du lịch trong chuyến đi du lịch Nếu xét về cơ cấu thì sản phẩm du lịch vô cùng phong phú và liên quan tới rất nhiều ngành nghề Nhưng xét về mặt ý nghĩa của các bộ phận hợp thành có thể chia làm ba loại, đó là: sức thu hút khách du lịch, cơ sở vật chất

kỹ thuật để phát triển du lịch và hạt nhân của sản phẩm phần lớn là dịch vụ mà chất lượng chủ yếu phụ thuộc vào con người phục vụ Cũng như sản phẩm dịch vụ, sản phẩm du lịch không mang hình thái vật thể độc lập, cụ thể ngay cả trong trường hợp

nó có tính sản xuất vật chất, bao hàm trong nó con người, nơi chốn hoạt động tổ chức

và ý tưởng Tính phức tạp của sản phẩm dịch vụ là cần có sự tiếp xúc giữa người và người Mối quan hệ người với người để tạo ra sản phẩm dịch vụ có đặc điểm: Cùng có mặt về không gian và thời gian, trao đổi thông tin lẫn nhau, nhận thức đánh giá và lựa chọn lẫn nhau Phần lớn sản phẩm tạo ra được khách hàng tiêu thụ ngay tại chỗ, tức là thời điểm sản xuất và tiêu thụ xảy ra liền kế nhau tại một thời điểm Sản phẩm của các

tổ chức kinh doanh du lịch cung cấp cho khách du lịch là các loại hàng hóa dịch vụ phục vụ cho hoạt động du lịch của khách du lịch là các loại hàng hóa dịch vụ phục vụ cho hoạt động của khách du lịch, do đó bị giới hạn bởi thời gian và không gian và đòi hỏi phải có chất lượng cao, không cho phép sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ không hoàn hảo vì không thể thay thế và đền bù được, cũng rất khó khăn lấy lại lòng tin của khách Các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ được sản xuất bán cho khách du lịch theo những quy trình công nghệ khác nhau do các bộ phận khách nhau cung cấp nên chất lượng khó đồng nhất nhưng lại có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình phục vụ Giá trị sử dụng của sản phẩm là thõa mãn nhu cầu có tính đa dạng của khách trong quá trình đi du lịch, trong đó có những nhu cầu ăn, ở, đi lại, tham quan, tìm hiểu, mở rộng nhận thức, tăng cường giao lưu được tôn trọng Chính vì vậy, giá trị sử dụng của sản phẩm du lịch có tính đa chức năng Sản phẩm du lịch có tính kết hợp của sản phẩm vật chất, sản phẩm tinh thần và dịch vụ nên giá trị của sản phẩm du lịch cũng trừu tượng

vô hình mà người ta khó có thể xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ cố định và

Trang 22

có thể đánh giá thông qua tiêu dùng, chưa tiêu dùng thì khó có thể đánh giá Ví dụ: Trong hoạt động hướng dẫn tham quan du lịch thì sản phẩm là các ấn tượng, khoái cảm và các rung động khác trong khách du lịch thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của họ Trong lưu trú và ăn uống là tạo ra và trao cho khách các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu đặc trưng của khách du lịch Dịch vụ mà khách nhận được là sự trao đổi chứ không phải là sở hữu, nó không bán hay giao qua cho một người thứ ba Chất lượng dịch vụ còn gắn liền với đặc điểm tâm lý xã hội của người phục vụ và khách du lịch, vì thế nó không có tính lập lại và ổn định Mặc khác, dù có ý thức hoặc vô thức từ người

du lịch, văn hóa đều phải xuyên suốt các mặt hoạt động từ du lịch Các nhu cầu du lịch đều chứa đựng đặc trưng văn hóa Trong ăn uống, lưu trú, đi lại, mua sắm không chỉ đáp ứng nhu cầu bình thường mà còn là sự khám phá, thưởng thức, trải nghiệm, tham quan và vui chơi giải trí là nhu cầu đặc trưng của khách du lịch trong chuyến đi du lịch càng thể hiện rõ nét hơn tính văn hóa Tất cả hàng hóa và dịch vụ du lịch đáp ứng được các nhu cầu du lịch có giá trị đối với khách du lịch ở chỗ nó thỏa mãn nhu cầu tìm đến cái mới, các khác biệt nơi ở thường ngày của khách du lịch, giúp khách đáp ứng được các khát vọng hướng tới giá trị, chân, thiện mỹ ba trụ cột vĩnh hằng phát triển nền văn hóa nhân loại

Thứ ba là kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ du lịch: Đây cũng là nhân tố tác động không nhỏ tới phát triển của mỗi quốc gia

Kết cấu hạ tầng nói chung và có vai trò đặc biệt đối với việc đẩy mạnh phát triển du lịch Kết cấu hạ tầng du lịch bao gồm: hệ thống đường giao thông các phương tiện giao thông cùng các các công trình cung cấp điện, nước, thông tin liên lạc cơ sở lưu trú, ăn uống vui chơi giải trí, mua sắm, nơi đổi tiền, dịch vụ chăm sóc sức khỏe…

để phát triển du lịch, các điều kiện về kết cấu hạ tầng kỹ thuật là đòn bẩy quan trọng cho khả năng khai thác các tài nguyên du lịch và chỉ mạng lưới giao thông thuận tiện nhanh chóng thì du lịch mới trở thành hiện tượng phổ biến trong xã hội Ngoài các điều kiện và kết cấu hạ tầng nêu trên các điều kiện như mạng lưới y tế, bảo hiểm hệ thống ngân hàng cũng ảnh hưởng quan trọng đến khả năng phát triển du lịch của mỗi quốc gia

Thứ tư là: lao động và chất lượng phục vụ, đây là nhân tố tổng hợp tác động trực tiếp đến tới phát triển nền kinh tế quốc gia

Trang 23

Lao động trong ngành du lịch chủ yếu là lao động giản đơn và số lượng lao động trực tiếp sử dụng trong ngành du lịch được sử dụng nhiều hơn so với các ngành khác Ví dụ khách sạn 3 sao 100 phòng với tổng mức đầu đầu tư 30-40 triệu USD thì phải có tối thiểu 100-140 nhân viên, nếu hạng sao cao hơn thì có 140-160 nhân viên, nhưng một nhà máy hóa chất như vậy chỉ cần 30-40 nhân viên Mặc dù hiện nay đã có một số khâu một số công việc được máy móc kỹ thuật trợ giúp, song đa số công việc trong hoạt động du lịch lịch đều do con người trực tiếp đảm nhận và lao động trong du lịch đa số là lao động phổ thông Điều đó xuất phát từ đối tượng phục vụ của ngành du lịch là con người là rất đa dạng về thành phần tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, học vấn, phong tục, tập quán, sở thích…

Vì thế con người làm việc trong ngành du lịch cần đáp ứng những tiêu chuẩn đòi hỏi rất khắt khe của lao động trong ngành du lịch ngoài những tiêu chuẩn: như tiêu chuẩn 1 ngoại hình và sức khỏe tốt, ngoại hình là cái đầu tiên khách du lịch cảm nhận khi tiếp xúc, nhất là các nhân viên lễ tân…, tiêu chuẩn thứ 2 là kỹ năng nghiệp vụ tinh thông và biết sử dụng ngoại ngữ và vi tính , Tiêu chuẩn thứ 3 là có khả năng giao tiếp ứng xử khéo léo, có đức tính kiên trì và nhẫn nại, cởi mỡ hiếu khách gần gũi và thân

ái, lịch sự ngay cả khi khách hàng có thái độ phản ứng gay gắt; Tiêu chuẩn thứ tư có đạo đức nghề nghiệp, có tình đồng đội chia sẻ giúp đỡ

Thứ năm là đặc điểm thời tiết khí hậu, mùa vụ

Khí hậu là nhân tố chủ yếu quyết định đến tính thời vụ trong kinh doanh du lịch Thông thường khí hậu tác động lên cả cung và cầu trong du lịch và mức độ tác động khác nhau ở từng vùng Khí hậu đóng vai trò chính, hạn chế sự cân bằng của các cuộc hành trình du lịch và việc sử dụng các tài nguyên du lịch theo thời gian

Thời gian và cường độ của thời vụ du lịch không phải là cố định mà chúng biến đổi dưới tác động của nhiều nhân tố như: tự nhiên, kinh tế xã hội, tổ chức kỹ thuật tâm

lý, v.v Tính thời vụ trong du lịch mang tính phổ biến ở tất cả các nước và các vùng có hoạt động du lịch Một nước hoặc một vùng du lịch có thể có một hoặc nhiều thời vụ

du lịch, tùy thuộc vào các thể loại du lịch phát triển ở đó Độ dài của thời gian và cường độ của thời vụ du lịch không bằng nhau đối với các thể loại du lịch khác nhau Cường độ của thời vụ du lịch không bằng nhau theo thời gian của chu kỳ kinh doanh

Độ dài của thời gian và cường độ của thời vụ du lịch phụ thuộc vào mức độ phát triển

và kinh nghiệm kinh doanh du lịch của các quốc gia du lich, điểm du lịch và các nhà

Trang 24

kinh doanh du lich Cường độ và độ dài của thời vụ du lịch phụ thuộc vào cơ cấu của khach đến vùng du lịch Cường độ và độ dài của thời vụ du lịch phụ thuộc vào số lượng các cơ sở lưu trú chính

Thứ sáu: là an ninh trật tự xã hội được đảm bảo

Tình hình chính trị, hòa bình ổn định của đất nước là tiền đề cho sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của một đất nước Một quốc gia mặc dù có nhiều tài nguyên về du lịch cũng không thể phát triển được du lịch nếu như ở đó luôn xảy ra những sự kiện hoặc thiên tai làm xấu đi tình hình chính trị và hòa bình thì không có điệu kiện để phát triển kinh doanh du lịch và cũng không thu hút được khách du lịch

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự an toàn trực tiếp, gián tiếp của khách du lịch theo các hướng sau: Tình hình an ninh, trật tự xã hội (các tệ nạn xã hội và bộ máy bảo vệ an ninh, trật tự xã hội, nạn khủng bố ); Lòng hận thù của dân bản xứ đối với một dân tộc nào đó (thường xuất phát từ nguyên nhân tôn giáo, lịch sử đô hộ ); Các loại bệnh dich như tả, lỵ, dịch hạch, sốt rét

1.4 Phát triển du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Ngày nay, toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế là đặc trưng và xu hướng phát triển phổ biến của nền kinh tế thế giới, nó lôi cuốn sự tham gia của hầu hết nền kinh tế, bất luận đó là nền kinh tế có quy mô và trình độ phát triển ra sao và thuộc chế

độ, chính trị - xã hội thế nào Hơn nữa, hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay còn là hội nhập vào một nền kinh tế thế giới đang trong bước chuyển mạnh mẽ sang kinh tế trí thức Các nước đi sau chưa hoặc đang trong quá trình công nghiệp hóa, tất yếu phải tiến hành quá trình này trong điều kiện hội nhập

Cùng với chính sách mở cửa hội nhập chung của đất nước, theo phương châm chủ động hội nhập, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, du lịch - một ngành kinh tế dịch vụ đã đẩy mạnh các hoạt động hợp tác cả song phương và đa phương

Thông qua hội nhập quốc tế, du lịch Việt Nam tranh thủ được nhiều hợp tác, hỗ trợ phát triển, góp phần nâng cao hình ảnh, năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế

Trong khuôn khổ hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế đa phương mà du lịch Việt Nam đã và đang tham gia, việc nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2006 đã mở ra cơ hội phát triển mới cùng nhiều thách thức cho ngành du

Trang 25

lịch trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Có thể nói, các cam kết trong lĩnh vực dịch vụ du lịch của Việt Nam khá thông thoáng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư nước ngoài tham gia cung cấp các dịch vụ liên quan du lịch và thực hiện những cam kết trong WTO Việc đưa ra chính sách mở cửa thị trường cho phù hợp cam kết, cho phép các đối tác trên thế giới tham gia cung cấp dịch vụ du lịch ở Việt Nam đã tạo sức ép nhất định đối với các doanh nghiệp trong nước phải tự mình vươn lên, hoặc tìm đối tác để liên kết, liên doanh, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Đây cũng là cơ sở để các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam mở rộng quan hệ và thâm nhập sâu hơn vào thị trường cung cấp dịch vụ du lịch cả trong nước và ngoài nước

Trong khuôn khổ hợp tác du lịch Hiệp hội các quốc gia Đông - Nam Á (ASEAN), sau hơn mười năm tham gia ASEAN, Việt Nam đã ký hiệp định hợp tác du lịch cấp chính phủ với tất cả chín nước thành viên khác của khu vực Du lịch nước ta

đã cùng các thành viên ASEAN ký kết Hiệp định hợp tác du lịch ASEAN với mục tiêu xây dựng ASEAN là một điểm du lịch chung hấp dẫn, hướng tới xây dựng cộng đồng vào năm 2015 Trên cơ sở đó, Việt Nam và các nước ASEAN đã xây dựng một kế hoạch hành động để triển khai hiệp định, tập trung vào tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch, phát triển sản phẩm, xúc tiến, quảng bá du lịch và phát triển nguồn nhân lực Một lộ trình hợp tác hướng tới xây dựng cộng đồng chung ASEAN đã được Việt Nam cùng với các thành viên xây dựng và triển khai với các chương trình hợp tác cụ thể Tại Diễn đàn ATF 2009, ASEAN đã ký một thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về nghề du lịch ASEAN (MRA), trong đó các nước sẽ từng bước hài hòa các tiêu chuẩn đào tạo và thừa nhận nghề giữa các nước trong khu vực Trong hợp tác dịch vụ ASEAN, du lịch Việt Nam đã cam kết phân ngành dịch vụ lưu trú, cho phép đối tác ASEAN tham gia liên doanh đầu tư trong lĩnh vực khách sạn, khu nghỉ tổng hợp Về

lữ hành, cho phép đối tác nước ngoài liên doanh với đối tác nước ta, từng bước tham gia kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam

Trong các khuôn khổ đa phương khác, bao gồm Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), ACMECS, CLMV Việt Nam cũng là một trong những thành viên tích cực trong việc đưa ra các sáng kiến và tham gia thực thi các chương trình hợp tác cụ thể về xây dựng sản phẩm, kết nối tua du lịch, quảng bá, nâng cao năng lực quản lý, tiêu chuẩn hóa Hợp tác đa

Trang 26

phương trong các tổ chức du lịch đa phương bao gồm Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), Hiệp hội du lịch châu Á - Thái Bình Dương (PATA) cũng được quan tâm; tranh thủ được nhiều hỗ trợ kỹ thuật trong các lĩnh vực nâng cao năng lực, quy hoạch, phát triển sản phẩm Nhiều sự kiện quan trọng của các tổ chức đã được tổ chức tại Việt Nam, tạo tiếng vang, củng cố vị thế du lịch Việt Nam

Trong hợp tác song phương: Du lịch Việt Nam đã ký được 43 văn bản hợp tác với các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới; các doanh nghiệp thiết lập quan hệ bạn hàng và đối tác với hơn một nghìn hãng của 60 quốc gia và vùng lãnh thổ Với các văn bản hợp tác du lịch song phương được ký, du lịch Việt Nam đã xây dựng được cơ sở pháp lý để đẩy mạnh hợp tác du lịch với các nước trong khu vực, các thị trường trọng điểm, tiềm năng trên bản đồ thế giới Điều này đã và đang tạo điều kiện để ngành du lịch có được sự hỗ trợ của các nước trong đào tạo nguồn nhân lực, vốn đầu tư, công nghệ, kinh nghiệm phát triển du lịch; hợp tác tăng cường xúc tiến quảng bá, khai thác khách từ các thị trường trọng điểm Đã có gần 30 triệu USD được tài trợ để triển khai các dự án phát triển nguồn nhân lực, phát triển sản phẩm, xây dựng hạ tầng cho du lịch cùng nhiều dự án hỗ trợ kỹ thuật trong lĩnh vực quy hoạch du lịch, xây dựng và triển khai Luật Du lịch Cả nước hiện có hơn 200 dự án đầu tư nước ngoài vào du lịch với hàng chục tỷ USD vào các lĩnh vực đang cần thu hút vốn đầu tư như xây dựng khách sạn, khu nghỉ dưỡng, vui chơi

Sự tham gia của du lịch Việt Nam trong hoạt động của các tổ chức, cơ chế khu vực và quốc tế như ASEAN, APEC, ASEM, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), Hiệp hội Lữ hành Du lịch châu Á - Thái Bình Dương (PATA), Tiểu vùng sông Mê Công (GMS), Hành lang Đông - Tây, ngày càng trở nên tích cực và hiệu quả hơn Việt Nam cũng đã đăng cai và tổ chức thành công nhiều hội nghị du lịch quan trọng của thế giới và khu vực; tham gia vào hầu hết các hội chợ du lịch khu vực và quốc tế lớn, tổ chức nhiều chương trình quảng bá, xúc tiến ở các thị trường trọng điểm, góp phần đưa hình ảnh Việt Nam đến với bạn bè quốc tế, thu hút khách quốc tế vào du lịch nước ta

Bên cạnh những kết quả đạt được, cũng phải thừa nhận do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, hợp tác, hội nhập quốc tế về du lịch còn có những hạn chế Đội ngũ cán bộ du lịch nước ta chưa thật sự hoàn thiện Phối hợp liên ngành trong hội nhập kinh tế quốc tế chưa đồng bộ, khuôn khổ pháp lý chưa hoàn chỉnh và phù hợp là

Trang 27

những khó khăn không nhỏ làm giảm hiệu quả tham gia các chương trình hợp tác, hội nhập quốc tế Gần bốn năm tham gia WTO, đã đến lúc ngành du lịch cần rà soát, thay đổi các văn bản quy phạm pháp luật và xem xét khả năng điều chỉnh các cam kết trong WTO để bảo đảm hiệu quả bền vững cho việc tham gia Trước hết cần rà soát lại những nội dung trong Luật Du lịch và các văn bản quy phạm khác liên quan quy định đối với thành lập và hoạt động của liên doanh lữ hành, hoạt động đưa khách Việt Nam

đi du lịch nước ngoài (outbound) và xem xét khả năng xây dựng lộ trình mở cửa dịch

vụ hướng dẫn viên du lịch Cùng với quá trình đó, cần có sự hài hòa giữa rà soát điều chỉnh văn bản quy phạm với xây dựng, triển khai Chiến lược phát triển du lịch và quy hoạch phát triển du lịch mới Hội nhập là hợp tác và cạnh tranh, muốn thắng trong cạnh tranh du lịch nước ta phải vươn lên trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ, giá

cả cạnh tranh, linh hoạt thích ứng được với xu thế mở cửa, chuẩn bị tốt các điều kiện

để sẵn sàng tham gia liên kết, liên doanh với đối tác nước ngoài

Để triển khai hiệu quả nội dung văn bản hợp tác đã ký, khai thác tốt thị trường khách du lịch, vốn đầu tư, công nghệ du lịch của khu vực và thế giới, cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư để thu hút đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực du lịch, tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch nhằm tăng sức hấp dẫn

và chất lượng sản phẩm Các cơ quan du lịch quốc gia và đại diện của doanh nghiệp nên nhanh chóng thiết lập đại diện tại những thị trường trọng điểm, nhằm thu thập thông tin, nghiên cứu thị trường, đối tác, giới thiệu các cơ hội đầu tư và là cầu nối để đẩy mạnh hoạt động xúc tiến, nâng cao hình ảnh du lịch Việt Nam

Với mục tiêu tranh thủ nguồn ngoại lực cho phát triển, trước những vận hội cũng như khó khăn trước mắt, ngành du lịch đã và đang nỗ lực nhằm sớm thực hiện được mục tiêu trên con đường hội nhập quốc tế; tham gia hiệu quả trong "sân chơi" chung WTO; để từ đó "phát triển nhanh du lịch, đưa Việt Nam trở thành trung tâm du lịch, thương mại, dịch vụ tầm cỡ khu vực"

1.5 Khái quát về hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế hay liên kết kinh tế quốc tế (international economic integration) là quá trình gắn kết nền kinh tế và thị trường của một quốc gia với nền kinh tế và thị trường thế giới và khu vực thông qua các biện pháp tự do hóa và mở rộng và mở cửa thị trường trên các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương

Trang 28

Tự do hóa thương mại (loại bỏ các rào cản đối với thương mại hàng hóa và dịch vụ) chỉ là một nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế còn bao hàm những nội dung rộng hơn và cao hơn tự do hóa thương mại: tự do hóa lưu chuyển các yếu tố khác tham gia quá trình sản xuất kinh doanh như vốn, công nghệ, nhân công; thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, thuận hiện các biện pháp thuận lợi hóa thương mại và đầu tư như đơn giản hóa, hiện đại hóa các thủ tục hải quan, thủ tục hành chính; thuận lợi hóa và tự do hóa việc đi lại của doanh nhân; xây dựng các tiêu chuẩn thống nhất; giải quyết các tranh chấp thương mại theo quy định quốc tế

Như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình trong đó hai hay nhiều chính phủ

ký kết với nhau các hiệp định để tạo nên khuôn khổ pháp lý chung cho sự phối hợp và điều chỉnh quan hệ kinh tế giữa các nước Mức độ hội nhập tuy có khác nhau, nhưng tất cả đều nhằm thuận lợi hóa và tự do hó hoạt động kinh tế đối ngoại của mỗi nước, góp phần sử dụng các nguồn lực có hiệu quả hơn và nâng cao mức sống của người dân

1.6 Điều kiện phát triển du lịch trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập là cách nói ngắn gọn của cụm từ hội nhập kinh tế quốc tế, nên cần hiểu là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế và thị trường của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa trên các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương … Nhự vậy hội nhập (hay hội nhập kinh tế quốc tế) thực chất cũng là sự chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa Nguyên tắc hội nhập của Việt Nam là: Hội nhập nhưng phải giữ độc lập tự chủ, tự lực

tự cường, bảo đảm an ninh quốc gia, ổn định chính trị - xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa

Với bên ngoài: Ký kết và tham gia các định chế và tổ chức kinh tế quốc tế, cùng các thành viên đàm phán, xây dựng các luật chơi chung và thực hiện các quy định, các cam kết đối với thành viên của các định chế tổ chức đó

Với bên trong: Tiến hành công việc cần thiết để đảm bảo đạt được mục tiêu của quá trình hội nhập cũng như thực hiện các quy định, cam kết về hội nhập cũng như thực hiện các quy định, cam kết về hội nhập (Điều chỉnh chính sách; Điều chỉnh cơ cấu kinh tế; Cải cách cần thiết về kinh tế, xã hội: Đào tạo phát triển nguồn nhân lực)

Trang 29

Toàn cầu hóa kinh tế, xét về bản chất, là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ kinh tế, sự tác đọng và phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các nước, các khu vực Toàn cầu hóa ngày nay là sản phẩm của sự phát triển và văn minh nhân loại và do đo

nó là cơ hội để mọi quốc gia đón nhận, tụ nguyện hội nhập và góp sức mạnh thúc đẩy

sự phát triển toàn cầu

Chúng ta có thể thấy một số đặc trưng chủ yếu của toàn cầu hóa kinh tế như sau:

Thứ nhất, toàn cầu hóa kinh tế được biểu hiện nổi bật ở sự gia tăng nhanh chóng các luồng giao lưu quốc tế về thương mại, đầu tư, tài chính, công nghệ dịch vụ, lao động trong toàn cầu hóa về tài chính là đặc trưng nổi bật chi phối các tiến trình tự

do hóa về thương mại, dịch vụ và đầu tư đã kết nối với nhau thành một mạng trên quy

mô toàn cầu

Thứ hai, trong nền kinh tế toàn cầu, quản lý vĩ mô, dưới sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, trở thành yếu tố có tính chất quyết định trong tương lai phat triển của

nó Sự phát triển của kỹ thuật viễn thông và công nghệ thông tin đã cung cấp những phương tiện hoàn hảo hơn để áp dụng phổ biến trong mọi lĩnh vực quản lý và theo đó,

đã trở thành phương tiện lưu chuyển vốn toàn cầu Như vậy, tính chất xã hội hóa, ản xuất quy mô lớn trên phạm vi toàn cầu xác lập vai trò quyết định và tính năng động của công tá quản lý

Thứ 3, từ tính tương thuộc chặt chẽ giữa các nền kinh tế quốc gia, các hoạt động thương mại dịch vụ, đầu tư, tai chính đều được gia tăng mạnh mẽ và bắt buộc mọi nền kinh tế đều được tham giavafo một kiển thị trường thế giới thống nhất - một

"sân chơi chung" bình đẳng cho mọi nền kinh tế, bất kể đó là nền kinh tế thuộc trình

độ và xuất phát điểm phát triển như thế nào Nói cách khác, bước vào thế kỷ XXI thì toàn cầu hóa trước hết là toàn cầu hóa về thị trường, được bắt nguồn từ toàn cầu hóa thông tin và cuối cùng là các hóa trình kinh tế

Thứ tư, sự phát triển kinh tế toàn cầu từng bước hình thành luật pháp, các quy định, các tiêu chuẩn và chính sách xuyên quốc gia Chính phủ các nước khi chế định luật pháp, chính sách, lộ trình thực hiện cac cải cách kinh tế - xã hội đều phải tính đến tac động của bôi cảnh quốc tế và khu vực Bởi lẽ trong nền kinh tế toàn cầu, quốc gai dân tộc có chủ quyền không còn là chủ thể duy nhất có vai trò chế định chính sách kinh tế mà là sự hiện diện đồng thời và ngày càng nổi bật của 5 chủ thể cùng tham gia

Trang 30

vào quá trình này Đó là: quốc gai dân tộc có chủ quyền; các khối kinh tế khu vực (vi

dụ ASEAN, EU ); các thể chế kinh tế quốc tế (IMF WB, WTO ); các công ty xuyên quốc gia (TNCs) và các tổ chức phi chính phủ (NGOs)

Thứ năm, trong nền kinh tế toàn cầu hóa, xu hướng liên kết khu vực và quốc tế được đẩy mạnh hơn bao giờ hết Kể từ thập kỷ 90, hàng loạt các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế dưới nhiều cấp độ và có tính thể chế ngày càng cao, đã ra đời Như vậy, chính đặc trưng này quy định sự tham gia tất yếu của mọi nền kinh tế quốc gia vào cac thể chế kinh tế khu vực và quốc tế

1.7 Một số xu hướng phát triển du lịch thế giới đến năm 2020

Trong những năm qua, tình hình du lịch thế giới và khu vực có sự tăng trưởng liên tục nhưng khác nhau ở từng giai đoạn Số lượng khách du lịch quốc tế đạt 940 triệu lượt (năm 2010), 983 triệu lượt (năm 2011) và chạm mốc 1 tỷ lượt (năm 2012) Trong đó, tính đến năm 2011, châu Âu vẫn là thị trường thu hút nhiều khách du lịch quốc tế nhất (504 triệu lượt), tiếp theo là châu Á và Thái Bình Dương (217 triệu lượt) Tổng thu du lịch quốc tế ước đạt 928 tỷ USD (năm 2010) và 1.030 tỷ USD (năm 2011) Việt Nam hiện nằm trong top 5 điểm đến hàng đầu khu vực ASEAN và top 100 điểm đến hấp dẫn của du lịch thế giới Mặc dù đạt tốc độ tăng trưởng cao trong năm

2010 (34,8%) và năm 2011 (19,1%) nhưng mức tăng tuyệt đối của Việt Nam vẫn chưa bằng Thái Lan và Singapore Thị trường nguồn của du lịch Việt Nam (năm 2012) theo khu vực là: Đông Bắc Á (46%), ASEAN (20%), Châu Âu (13%), Bắc Mỹ (8%), Thái Bình Dương (5%) và thị trường khác (8%) Mục đích chuyến đi của khách quốc tế đến Việt Nam (năm 2012) là: du lịch, nghỉ ngơi (61%), công việc (17%), thăm thân nhân (17%) và các mục đích khác (5%)

Khách du lịch trong thời gian tới trên phạm vi toàn cầu chủ yếu là thế hệ sinh năm 1977 đến 1993 Họ có thói quen phản hồi về chất lượng dịch vụ qua các mạng xã hội và đến năm 2020 sẽ là những nhà lãnh đạo, quản lý và lực lượng tiêu dùng chính

Xu hướng đi du lịch sẽ là theo hoạt động hơn là theo điểm đến; du lịch nội vùng đến các điểm đến gần.Vì vậy, các điểm đến và các nhà cung cấp dịch vụ cần có chiến lược phát triển du lịch phù hợp Bên cạnh đó, công tác xúc tiến quảng bá du lịch ngày càng được đẩy mạnh; các sản phẩm du lịch chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe và du lịch xanh được chú trọng cũng đặt ra yêu cầu đối với công tác quy hoạch, chính sách, tiêu chuẩn hóa ngành du lịch

Trang 31

Thực trạng và xu hướng du lịch thế giới tạo cho du lịch Việt Nam nhiều cơ hội

để phát triển như: nhu cầu du lịch thế giới và khu vực ngày càng tăng; xu thế hợp tác khu vực ngày càng được đẩy mạnh; nguồn khách du lịch nội vùng châu Á - Thái Bình Dương và khách du lịch cao cấp từ châu Âu, châu Mỹ rất lớn Tuy nhiên, thách thức không nhỏ đối với du lịch Việt Nam đó là sự cạnh tranh với các nước có ngành du lịch phát triển trong khu vực, xây dựng sản phẩm đặc thù nổi bật đáp ứng nhu cầu của từng phân đoạn khách du lịch, marketing và khả năng tiếp cận từ bên ngoài

Trên cơ sở phân tích thực trạng, dự báo xu hướng du lịch thế giới cũng như cơ hội, thách thức đối với du lịch Việt Nam, nhóm nghiên cứu đã đưa ra một số đề xuất đối với ngành du lịch Việt Nam như: đề cao vai trò phát triển du lịch; kiện toàn tổ chức bộ máy ngành du lịch, tạo điều kiện đi lại thuận lợi cho du khách, áp dụng chính sách tài chính, marketing điểm đến du lịch, phát triển sản phẩm du lịch, kêu gọi đầu tư, quản lý phát triển du lịch bền vững

1.8 Các yêu cầu đặt ra đối với phát triển du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Cùng với chính sách mở cửa hội nhập chung của đất nước, theo phương châm chủ động hội nhập, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, du lịch - một ngành kinh tế dịch vụ đã đẩy mạnh các hoạt động hợp tác cả song phương và đa phương

Thông qua hội nhập quốc tế, du lịch Việt Nam tranh thủ được nhiều hợp tác, hỗ trợ phát triển, góp phần nâng cao hình ảnh, năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế

Trong khuôn khổ hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế đa phương mà du lịch Việt Nam đã và đang tham gia, việc nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2006 đã mở ra cơ hội phát triển mới cùng nhiều thách thức cho ngành du lịch trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Có thể nói, các cam kết trong lĩnh vực dịch vụ du lịch của Việt Nam khá thông thoáng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư nước ngoài tham gia cung cấp các dịch vụ liên quan du lịch và thực hiện những cam kết trong WTO Việc đưa ra chính sách mở cửa thị trường cho phù hợp cam kết, cho phép các đối tác trên thế giới tham gia cung cấp dịch vụ du lịch ở Việt Nam đã tạo sức ép nhất định đối với các doanh nghiệp trong nước phải tự mình vươn lên, hoặc tìm đối tác để liên kết, liên doanh, nâng cao sức cạnh tranh của doanh

Trang 32

nghiệp Đây cũng là cơ sở để các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam mở rộng quan hệ và thâm nhập sâu hơn vào thị trường cung cấp dịch vụ du lịch cả trong nước và ngoài nước Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với phát triển du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế:

- Tạo sân chơi bình đẳng, thực hiện các cam kết đối với WTO của ngành du lịch Việt Nam

Hội nhập sẽ tạo áp lực rất lớn với doanh nghiệp du lịch Việt Nam trong cạnh tranh Phần lớn doanh nghiệp du lịch của ta thuộc loại nhỏ, chất lượng dịch vụ hạn chế, năng lực quản lý thấp Đội ngũ nhân lực du lịch thiếu và yếu về trình độ ngoại ngữ và kinh nghiệm, nhất là thiếu những người có chuyên môn cao Quá trình hội nhập, mở cửa cũng có thể tạo ran guy cơ phá hoại môi trường và cảnh quan du lịch nếu không có sự quan tâm và những biện pháp quản lý hiệu quả Đó là một số thách thức chính đang đặt ra đối với ngành dịch nói chung và các doanh nghiệp du lịch Việt Nam nói riêng Hội nhập kinh tế là xu thế tất yếu Trong quá trình hội nhập, nhà nước chỉ hỗ trợ, tạo môi trường pháp lý thông thoáng và thuận lợi, còn thành công tùy thuộc vào sức cạnh tranh, sự năng động của doanh nghiệp Đã đến lúc các doanh nghiệp không thể trông chờ vào sự bảo hộ của nhà nước mà phải thật sự tự than nỗ lực

- Thu hút nguồn ngoại tệ vào Việt Nam:

Đối với các nước đang phát triển, nhất là những nước có nền kinh tế chuyển đổi, mở cửa hội nhập như nước ta, thì việc thu hút nhiều ngoại tệ là nhu cầu lớn và có vai trò quan trọng trong việc nhập khẩu thiết bị, công nghệ, nguyên nhiên vật liệu phục

vụ sản xuất hàng xuất khẩu … Có nhiều con đường để thu hút ngoại tệ, trong đó việc thu hút khách du lịch quốc tế là con đường có nhiều lợi thế

Việc thu hút khách quốc tế đến Việt Nam không chỉ đem lại một lượng ngoại tệ không nhỏ, mà còn là cách tốt nhất để giới thiệu hình ảnh của đất nước với thế giới Đây còn là một hình thức xuất khẩu tại chỗ, đem lại lợi đơn, lợi kép

Đầu tư trực tiếp (FDI):

Đầu tư trực tiếp (FDI) là một loại hình di chuyển vốn giữa các quốc gia, trong

đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động

sử dụng vốn đầu tư

Về thực chất FDI, là loại hình đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư bỏ vốn để xây dựng hoặc mua phần lớn, thậm chí toàn bộ các cơ sở kinh doanh ờ nước ngoài đề là chủ sở

Trang 33

hữu toàn bộ hay từng phần cơ sở đó và trực tiếp quản lý điều hành hoặc tham gia quản

lý điều hành hoạt động của đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư Đồng thời họ cũng chịu sự trách nhiệm theo sở hữu về kết quả sản xuất kinh doanh của dự án FDI có các đặc điểm sau:

+ Tỷ lệ vốn của các nhà đầu tư nước ngoài trong vốn pháp định của dự án đạt mức tối thiểu tùy theo luật đầu tư của từng nước quy định

+ Các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp điều hành và quản lý dự án mà họ bỏ vốn đẩu tư Quyền quản lý doanh nghiệp phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn đầu tư trong vốn pháp định của dự án

+ Kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh của dự án được phân chia theo tỷ

lệ góp vốn vào vốn pháp định sau khi nộp thuế cho nước sở tại và trả lợi tức cổ phần (nếu có)

+ FDI thường được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau

+ Chính phủ có vai trò trực tiếp khuyến khích hay hạn chế FDI, quản lý quá trình FDI và tạo ra khuôn khổ thể chế hỗ trợ cho họat dộng FDI

- Phát huy lợi thế so sánh, nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt nam Trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên thứ 150 của WTO, du lịch là một trong những ngành nằm trong quá trình cạnh tranh gay gắt

Trang 34

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TÂY NINH GIAI ĐOẠN

2007-2012 2.1 Cơ sở thực tiễn

2.1.1 Thực tiễn phát triển du lịch trên thế giới và Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Cơ hội, thuận lợi của quốc tế và trong nước đối với du lịch Tây Ninh

Thế giới trong những năm đầu của thế kỷ XXI đang có những biến đổi sâu sắc

về kinh tế - xã hội; tính năng động và nhịp độ tăng trưởng cao của nền kinh tế các nước khu vực châu Á; xu thế toàn cầu hóa và hợp tác tiểu vùng (WEC, GMS ) dẫn đến nhu cầu du lịch tăng mạnh Xu thế và trào lưu đi du lịch của khách du lịch đang có

xu hướng chuyển dần từ Tây sang Đông mà khu vực Đông Á - Thái Bình Dương và Đông Nam Á là những điểm đến lý tưởng và có sức lôi kéo mãnh liệt (theo dự báo của

Tổ chức Du lịch thế giới đến năm 2020 khu vực Đông Á - Thái Bình Dương và Đông Nam Á sẽ đón khoảng 125 triệu lượt khách quốc tế, mức tăng trưởng bình quân lượng khách quốc tế đến khu vực giai đoạn đến năm 2010 là 6%/năm) Đây là những điều kiện thuận lợi và nhiều cơ hội để du lịch Tây Ninh phát triển theo xu thế hội nhập khu vực và quốc tế

Việt Nam nằm trong vùng phát triển kinh tế năng động nhất thế giới Nền kinh

tế không ngừng phát triển, GDP bình quân hàng năm tăng (Việt Nam tiếp tục được xếp

là nước có tốc độ phát triển kinh tế cao trong khu vực Châu Á, đứng thứ 2 sau Trung Quốc); cơ cấu kinh tế đang chuyển đổi nhanh sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN; kết cấu hạ tầng ngày càng được đầu tư phát triển, đặc biệt là giao thông

đi lại thuận tiện hơn và rút ngắn thời gian, khoảng cách; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; nhận thức du lịch thay đổi theo hướng tích cực; nhu cầu

du lịch ngày càng tăng nhanh

Việt Nam có chế độ chính trị ổn định, an ninh đảm bảo; đất nước, con người thân thiện và mến khách; điểm đến an toàn và thân thiện

Hệ thống pháp luật của nước ta đang từng bước được hoàn thiện; chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập với việc gia nhập các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới đã

và đang tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế đối ngoại, trong đó có du lịch; chủ trương bỏ thủ tục VISA đối với công dân ở một số thị trường trọng điểm như Châu Âu, các nước Asian, Đông Bắc Á Các hãng hàng không trong và ngoài nước

Trang 35

đã có thêm các đường bay trực tiếp đến một số thị trường mục tiêu như: Anh, Pháp, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc góp phần thu hút thêm khách du lịch các nước nói trên đến Việt Nam

Việt Nam có quy mô dân số lớn thứ 13 trong gần 200 nước, lực lượng lao động dồi dào, thị trường tri thức ngày càng phát triển, người Việt Nam cần cù thông minh, chịu khó và hiếu khách

Tiềm năng tài nguyên tự nhiên đa dạng phong phú và có truyền thống văn hóa lâu đời của Việt Nam đây là những tài nguyên quan trọng để phát triển du lịch

Thách thức, khó khăn

Tình hình chính trị thế giới còn chứa đựng nhiều yếu tố phức tạp, khó khăn; các cuộc xung đột cục bộ, khủng bố và bất ổn vẫn có thể xảy ra ở một số khu vực; các thế lực đang áp đặt và thâu tóm quyền lực nên đã tác động và chi phối thị trường trong đó

có thị trường du lịch Vấn đề nợ công và cuộc khủng hoảng kinh tế, đồng tiền của châu

Âu tác động và làm giảm số lượng khách du lịch quốc tế đi du lịch Vấn đề toàn cầu hoá, các rào cản thương mại tiếp tục gây bất lợi và tăng sức ép cạnh tranh đối với các nước đang phát triển như nước ta Thị trường tài chính, tiền tệ, giá cả và các chính sách tỷ giá, lãi suất của các đối tác lớn đều tác động đến giá cả các dịch vụ và mức chi tiêu của khách du lịch vào nước ta và thị trường khách du lịch của Việt Nam đi du lịch nước ngoài

Trình độ phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật và công nghệ trong nước và mức sống của người dân nhìn chung còn thấp so với nhiều nước trong khu vực đã ảnh hưởng đến chất lượng các dịch vụ, cũng như việc tổ chức xúc tiến quảng bá các sản phẩm du lịch đối với thị trường du lịch trong nước và quốc tế

Tài nguyên, môi trường du lịch Việt Nam nói chung và Tây Ninh nói riêng đang có nguy cơ bị suy thoái do những bất cập trong quản lý, công tác bảo vệ, bảo tồn

và khai thác thiếu tính bền vững Hệ thống hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch trên địa bàn tỉnh Tây Ninh chưa đáp ứng nhu cầu du khách, đặc biệt khách du lịch quốc tế

Việc đầu tư phát triển du lịch còn thiếu tập trung, thiếu vốn, chưa hiệu quả; các chính sách về đầu tư chưa thông thoáng chưa kịp thời nên ảnh hưởng đến việc huy động vốn và khai thác mọi nguồn lực xã hội vào đầu tư phát triển du lịch

Công tác xây dựng, chỉ đạo, quản lý và thực hiện quy hoạch phát triển du lịch còn chồng chéo; hệ thống các chính sách, quy định pháp luật liên quan đến phát triển

Trang 36

du lịch thiếu đồng bộ; kinh nghiệm quản lý, kinh doanh, và trình độ nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, người lao động trong lĩnh vực du lịch còn nhiều hạn chế

2.1.2 Thực tiễn phát triển du lịch vùng Đông Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh

Du lịch các tỉnh Đông Nam Bộ nằm trên tuyến du lịch xuyên Việt, là cầu nối du lịch Bắc - Nam; điểm đầu của tuyến du lịch Xuyên Á , Sản phẩm nổi bật về du lịch biển, du lịch sinh thái và du lịch văn hoá, du lịch kết hợp mua sắm và du lịch kết hợp khám, chữa bệnh Năm 2012 các tỉnh trong vùng đón được hơn 4 triệu lượt khách du lịch quốc tế và hơn 26 triệu lượt khách nội địa, thu nhập du lịch đạt hơn 46.300 tỷ đồng, chiếm xấp xỉ 31% cả nước

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm du lịch lớn nhất nước, thu hút hàng năm 70% lượng khách quốc tế đến Việt Nam, là trung tâm đưa khách đến các tỉnh lân cận như Tây Ninh, vùng Đông Nam bộ và Tây Nam bộ

2.2 Khái quát chung về tiềm năng phát triển du lịch Tây Ninh

2.2.1 Tài nguyên tự nhiên

2.2.1.1 Địa hình và khoáng sản

Tiềm năng và điều kiện tài nguyên tự nhiên

Vị trí địa lý Là một tỉnh có nhiều lợi thế so với các tỉnh trong khu vực ĐNB, nằm ở vùng kinh tế năng động và phát triển nhất của Việt Nam; tiếp giáp thành phố

Hồ Chí Minh - Trung tâm kinh tế khu vực phía Nam đồng thời giữa 02 thành phố lớn của 02 nước là TP.Hồ Chí Minh (Việt Nam) và TP.PhnomPenh (Vương quốc Campuchia); có biên giới chung Việt Nam - Campuchia dài 240km với 2 cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, Xa Mát và các cửa khẩu khác; nằm trên trục giao thông Xuyên Á (đoạn đi qua địa bàn tỉnh dài 28km) Với khoảng cách không xa sân bay Tân Sơn Nhất, cảng Sài Gòn và rất gần với các khu công nghiệp tập trung trên địa bàn huyện

Củ Chi - TP.Hồ Chí Minh và Bình Dương, hỗ trợ hay thay thế các nguồn lực quan trọng cho sản xuất kinh doanh, có khả năng thu hút các nhà đầu tư trong, ngoài nước

và khách du lịch

Địa hình Tây Ninh có địa hình khá bằng phẳng, độ dốc không lớn Núi Bà Đen

là ngọn núi cao nhất trong vùng du lịch ĐNB với độ cao 986m, nơi thấp nhất là vùng trũng sông Vàm Cỏ Đông với độ cao từ 3 - 5m so với mực nước

Địa hình của tỉnh được phân chia thành các dạng sau:

Trang 37

Dạng địa hình núi: Núi Bà Đen thuộc kiểu địa hình sườn xâm thực bào mòn mãnh liệt có độ dốc từ 250 đến 400

Dạng địa hình dốc thoải: địa hình có độ dốc từ 15 - 30m, độ dốc 20 đến 30, dạng địa hình này có ở các huyện Tân Biên, Dương Minh Châu, Hòa Thành, Trảng Bàng, Bến Cầu

Dạng địa hình đồng bằng: bao gồm các thềm sông có độ cao từ 5 -10m, địa hình này thường phân bố dọc các sông Sài Gòn, Vàm Cỏ Đông thành từng dải rộng 20 - 100m, chiều dài tới vài km

Ngoài những kiểu địa hình nêu trên, Tây Ninh còn có các diện tích ngập nước

và bán ngập nước bao gồm Hồ Dầu Tiếng, các sông Sài Gòn, Vàm Cỏ Đông, Vườn quốc gia Lò Gò- Xa Mát, các suối và các trảng, diện tích này thay đổi theo mùa là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển các loại hình du lịch cho khách du lịch

Tây Ninh có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều; có nền nhiệt và số giờ nắng cao quanh năm, thuận lợi cơ bản để tổ chức các loại hình dịch vụ du lịch

2.2.1.2 Thủy văn

Chế độ thủy văn Tỉnh Tây Ninh phụ thuộc chủ yếu vào chế độ hoạt động của hai con sông lớn chảy qua là sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông, ngoài ra còn có nhiều suối, kênh rạch, tạo ra một mạng lưới thủy văn phân bố tương đối đồng đều trên địa bàn Tuy nhiên, mật độ sông rạch ở Tây Ninh tương đối thưa, chỉ đạt 0,32km/km2

Sông Sài Gòn là nhánh sông của hệ thống sông Đồng Nai; chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam giữa hai tỉnh Bình Phước và Tây Ninh đến Bến Cát (tỉnh Bình Dương) Lòng sông trung bình 20 m, uốn khúc quanh các triền đồi đến vùng Dầu Tiếng tỉnh Tây Ninh, tạo nên hồ chứa nước Dầu Tiếng Đoạn hạ lưu chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam rồi chảy về thành phố Hồ Chí Minh đến Tân Thuận thì hợp với sông Đồng Nai thành sông Nhà Bè chảy ra Phụ lưu sông Sài Gòn thuộc địa phận tỉnh Tây Ninh có suối Sanh Đôi bắt nguồn từ Phundang thuộc tỉnh Congpongcham (Campuchia) chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam đến Bà Hom hợp với sông Sài Gòn với chiều dài 73,2 km

Sông Vàm Cỏ Đông: Đoạn chảy qua địa bàn tỉnh Tây Ninh dài 151 km, bắt nguồn từ Congpongcham (từ độ cao 150 m) chảy qua các huyện: Tân Biên, Châu Thành, thị xã Tây Ninh, Gò Dầu, Hoà Thành, Bến Cầu, Trảng Bàng, chảy theo hướng

Trang 38

Tây Bắc - Đông Nam đến ngã ba Bàu Quỳ hợp với sông Vàm Cỏ Tây rồi hợp với sông Soài Rạp đổ ra biển

Hệ thống ao hồ: Hồ thuỷ lợi Dầu Tiếng diện tích 27.000 ha, dung tích 1,45 tỷ m3 nước, 3/4 diện tích hồ thuộc địa phận tỉnh Tây Ninh, còn lại thuộc địa phận tỉnh Bình Dương; hồ Dầu Tiếng không chỉ phục vụ cho việc tưới tiêu mà còn là khu vực có thể tổ chức các loại hình du lịch và các dịch vụ để thu hút khách du lịch

Tổng chiều dài sông, kênh, hồ có khả năng khai thác là 422,8 km Nhìn chung

hệ thống sông, kênh, rạch nội địa của tỉnh thuận lợi cho việc phát triển giao thông đường thuỷ và phát triển du lịch

Tài nguyên nước Hồ Dầu Tiếng phần thuộc về tỉnh Tây Ninh nằm trên địa bàn huyện Dương Minh Châu và Tân Châu có diện tích khoảng 20.000 ha Hồ Dầu Tiếng

có vị trí quan trọng không chỉ cung cấp, điều hòa nguồn nước cho phát triển nông nghiệp mà còn cung cấp nước sinh hoạt cho vùng hạ lưu Hệ sinh thái và môi trường nơi đây rất thuận lợi cho việc tổ chức các loại hình du lịch sinh thái cho khách du lịch

Tây Ninh có nguồn nước ngầm phân bố rộng khắp trên địa bàn, lưu lượng nước lớn, chất lượng tốt Tổng lưu lượng nước ngầm có thể khai thác là 50 - 100m3/giờ

2.2.1.3 Rừng

Tài nguyên rừng Tỉnh Tây Ninh có hệ sinh thái rừng dày, bán ẩm đặc trưng cho hệ sinh thái rừng chuyển tiếp giữa Tây Nguyên, ĐNB và TNB Diện tích đất có rừng là 43.388 ha, đất chưa có rừng 14.139 ha, đất khác 12.099 ha Phân các loại sau:

Diện tích rừng đặc dụng là 30.848 ha do Sở NNPTNT Tây Ninh quản lý gồm: VQG Lò Gò-Xa Mát (Tân Biên) với diện tích 18.806 ha; rừng văn hóa - lịch sử Chàng Riệc (Tân Châu) với diện tích 11.438 ha; rừng di tích lịch sử văn hóa Núi Bà và Giống Lâm nghiệp (TX.Tây Ninh) với diện tích 1.855 ha Ngoài ra, còn một số diện tích rừng đặc dụng do cấp UBND huyện quản lý

Rừng phòng hộ tỉnh Tây Ninh bao gồm rừng phòng hộ đầu nguồn hồ thủy lợi Dầu Tiếng, phòng hộ môi trường và cảnh quan tập trung ở 3 huyện Tân Biên, Tân Châu và Dương Minh Châu với tổng diện tích 29.270 ha

Rừng sản xuất có diện tích 9.508 ha tập trung ở 3 huyện: Châu Thành là 4.373,64 ha, Tân Châu là 4.514,84 ha và Tân Biên là 1.417,30 ha

Hệ sinh thái rừng đa dạng và phong phú gồm: Thực vật có 200 loại thực vật, 50 loài gỗ quý có giá trị kinh tế cao như cẩm lai, giáng hương, sến, gõ đỏ, sao đen, dầu

Trang 39

rái, gõ mật, trắc,… Động vật dưới tán rừng có hơn 60 loài thú thuộc 25 họ, gần 30 loài

bò sát thuộc 12 họ và trên 100 loài chim thuộc 40 họ, có khá nhiều loài quý hiếm như: chồn dơi, cu ly, khỉ, voọc, sóc, các loại chim quý

Chế độ nhiệt: Tây Ninh có chế độ nhiệt cao và ổn định Nhiệt độ trung bình

260C đến 270C Tuy nhiên có sự khác biệt về chế độ nhiệt giữa các tiểu vùng, ở phía Bắc tỉnh nhiệt độ trung bình thấp hơn các tiểu vùng phía Nam Chênh lệch nhiệt độ trung bình các tháng trong năm từ 30

C - 40C giữa các tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất, nhưng lại có biên độ nhiệt ngày đêm lại khá cao từ 80

C - 100C vào các tháng mùa khô

Chế độ nắng: Tây Ninh có số giờ nắng khá cao, dao động trung bình từ 2.700 - 2.800 giờ/năm Vào mùa khô, số giờ nắng cao hơn, trung bình 8 - 9 giờ/ ngày; vào mùa mưa số giờ nắng trung bình từ 6 - 7 giờ/ngày

Chế độ gió: Hai loại gió thịnh hành ở Tây Ninh là gió mùa khô và gió mùa mưa, phù hợp với chế độ trong khu vực Chế độ gió mùa khô có hướng Bắc - Đông Bắc; chế độ gió mùa mưa thổi theo hướng Tây - Tây Nam Tốc độ gió bình quân 1,7m/giây

Chế độ mưa: lượng mưa ở Tây Ninh khá lớn, trung bình 1.900mm - 2.300mm, phân bố không đều trong năm Vào mùa mưa có tới 110 - 130 ngày có mưa, chiếm khoảng 85% - 90% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô lượng mưa thấp nhất tháng 1, 2

Chế độ ẩm: Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình từ 82% - 83%; cực đại

có thể lên tới 86% - 87% Mùa mưa độ ẩm không khí cao hơn mùa khô từ 10% - 20%

Một số tài nguyên tự nhiên quan trọng có ý nghĩa đối với phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh

Tài nguyên du lịch Núi Bà Đen là một quần thể di tích lịch sử văn hóa và danh thắng nổi tiếng Nam Bộ được Bộ VHTTDL công nhận là di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số 100/VH-QĐ ngày 21/01/1989 Tiềm năng tài nguyên du lịch được thể hiện ở chỗ là sự kết hợp hài hòa độc đáo giữa tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân

Trang 40

văn Tài nguyên du lịch tự nhiên được thể hiện rõ nét là cảnh quan tự nhiên, thiên nhiên tạo hóa giữa đồng bằng trải dài của 02 khu vực ĐNB và TNB có 03 ngọn núi cao với hệ sinh thái rừng tự nhiên phong phú; tiềm năng hệ thống hang động đầy huyền thoại như hang Rồng, hang Gió, động Ba Cô, động Thanh Long và nhiều hang chưa được thám hiểm, nhiều khu vực là những tảng đá cao, gồ ghề, dốc và bí hiểm tạo động lực cho các đoàn du lịch thích mạo hiểm và khám phá Trong khu vực cũng có những khu đất bằng phẳng để phát triển các loại hình dịch vụ du lịch, các khu du lịch nghỉ dưỡng, các vườn cây ăn trái đặc sản như mãng cầu Bà Đen, chuối, mít, soài

Về tài nguyên nhân văn, đây là hệ thống kiến trúc vừa tự nhiên vừa mang kiến trúc tôn giáo sáng tạo của con người, lại có tính chất thần bí mang yếu tố tín ngưỡng

và tâm linh truyền miệng; nơi đây cũng diễn ra nhiều trận đánh hết sức ác liệt trong thời gian dài giữa bộ đội với lực lượng quân đội Mỹ và Ngụy chiếm đóng trên và dưới núi với trang thiết bị tối tân, để lại những di tích lịch sử, những câu chuyện huyền thoại về lòng anh dũng kiên cường và sự hy sinh cao cả của bộ đội đã đi vào tâm niệm bằng các lời ca bất tử, thu hút biết bao nhiêu thế hệ đến tham quan, trở về với cội nguồn với đời sống tâm linh và truyền thống cách mạng của dân tộc

Hội xuân Núi Bà Đen với các hoạt động tổng hợp văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao, vui chơi giải trí được tổ chức hàng năm vào dịp đầu xuân âm lịch, hàng năm thu hút hơn 1,5 triệu lượt khách du lịch đến tham quan, cả năm thu hút hơn 2,5 triệu lượt khách

Tài nguyên du lịch Hồ Dầu Tiếng Là hồ nhân tạo lớn nhất khu vực Đông Nam

Á với 27.000 ha mặt nước, 4.560 ha đất bán ngập, dung tích 1,45 tỷ m3 nước là điều kiện thuận lợi để phát triển thành khu nghỉ dưỡng, giải trí, thể thao, câu cá, bãi tắm, du thuyền, các môn thể thao dưới nước… Trong lòng hồ có các đảo nổi có thể xây dựng các khu nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí cho khách du lịch Bên cạnh đó, rừng lịch sử cạnh hồ là không gian hùng vĩ với rừng cây cao thích hợp cho du lịch dã ngoại tham quan Phía Bắc của hồ thuộc huyện Tân Châu còn có khu rừng tự nhiên và vùng bờ hồ thơ mộng là nơi thích hợp cho nghỉ dưỡng, tham quan rừng tự nhiên Tuy nhiên, đây là

hồ thủy lợi vừa là nơi cung cấp nước sinh hoạt cho nhiều vùng Vì vậy, việc tổ chức các dịch vụ tại hồ Dầu Tiếng cần phải được sự chấp thuận của các cơ quan quản lý, nếu tổ chức dịch vụ cần phải đảm bảo tiêu chuẩn môi trường

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cục Thống kê Tây Ninh, Niên giám thống kê năm 2009, 2010, 2011, 2012 Khác
2. Nguyễn Văn Bình (2002), Cơ sở khoa học và giải pháp thực hiện xã hội hóa du lịch ở Việt Nam Khác
3. Nguyễn Văn Đính, Trần Minh Hòa (2008), Giáo trình kinh tế Du lịch, Nxb Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội -2008 Khác
4. Trần Thị Minh Hoà (2008), Giáo trình Kinh tế du lịch, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân Khác
5. Đỗ Thị Thanh Hoa (2007), Nghiên cứu đề xuất tiêu chí khu du lịch sinh thái ở Việt Nam Khác
6. Phạm Quang Hưng (2006), Cơ sở đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của du lịch Việt Nam, Tạp chí Du lịch Việt Nam số 1 Khác
7. Vũ Đức Minh (1999), Tổng quan về du lịch, Nxb Giáo dục Khác
9. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Các Báo hoạt động du lịch và báo cáo thống kê du lịch Tây Ninh từ năm 2005 đến năm 2012 Khác
10. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2008), Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Tây Ninh đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Khác
11. Joseph E Stiglitz (2006), Vận hành toàn cầu hóa, Nxb trẻ Khác
12. Nguyễn Xuân Thắng (2007), Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế đối với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội Khác
13. Trần Đức Thanh (2008), Nhập môn du lịch, Nxb ĐHQG Hà Nội Khác
14. Đỗ Cẩm Thơ (2007), Nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch Việt Nam có tính cạnh tranh trong khu vực, quốc tế Khác
15. Lê Thông (chủ biên) (2011), Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam, Nxb Đại học Sư phạm Khác
16. Lê Thông (chủ biên) (2010), Việt Nam các tỉnh và thành phố, Nxb Giáo dục Khác
17. Lê Thông (chủ biên) (2009), Việt Nam - đất nước, con người, Nxb Giáo dục Khác
18. Nguyễn Văn Thường, Trần Khánh Hưng (2011), Giáo trình kinh tế Việt Nam, Nxb Đại học kinh tế quốc dân Khác
19. Trần Diễm Thúy (2010), Văn hóa Du lịch, Nxb Văn hóa - Thông tin Khác
20.Tỉnh ủy Tây Ninh (2011), Nghị quyết chuyên đề đẩy mạnh tiềm năng phát triển du lịch Tây Ninh Khác
21.Tổng cục Du lịch (2000), Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số 2-1  Hiện trạng  số lƣợng khách du lịch - Phát triển du lịch Tây Ninh đến năm 2020 trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng s ố 2-1 Hiện trạng số lƣợng khách du lịch (Trang 50)
Bảng số 2-4 - Hiện trạng về lao động trong ngành du lịch tỉnh Tây Ninh - Phát triển du lịch Tây Ninh đến năm 2020 trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng s ố 2-4 - Hiện trạng về lao động trong ngành du lịch tỉnh Tây Ninh (Trang 59)
Bảng số 3-1-  Dự báo về khách du lịch - Phát triển du lịch Tây Ninh đến năm 2020 trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng s ố 3-1- Dự báo về khách du lịch (Trang 69)
Bảng số 3-3 -Dự báo mức chi tiêu trung bình, tổng thu từ khách du lịch - Phát triển du lịch Tây Ninh đến năm 2020 trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng s ố 3-3 -Dự báo mức chi tiêu trung bình, tổng thu từ khách du lịch (Trang 72)
Bảng số 3-4 - DB: Dự báo thu nhập từ du lịch (GDP du lịch), vốn đầu tƣ - Phát triển du lịch Tây Ninh đến năm 2020 trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng s ố 3-4 - DB: Dự báo thu nhập từ du lịch (GDP du lịch), vốn đầu tƣ (Trang 73)
Bảng 3-7 - Dự báo nhu cầu và phân bổ nguồn vốn - Phát triển du lịch Tây Ninh đến năm 2020 trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 3 7 - Dự báo nhu cầu và phân bổ nguồn vốn (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w