Cũng như phần lớn các tỉnh khác trong vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, sản xuất nông nghiệp của Trà Vinh luôn được chú trọng hàng đầu và có vai trò cực kì quan trọng trong cơ cấu nền kinh t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
PHÁT TRIỂN THUỶ SẢN TRÀ VINH THỜI
KỲ HỘI NHẬP
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
TP Hồ Chí Minh - 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
PHÁT TRIỂN THUỶ SẢN TRÀ VINH THỜI
KỲ HỘI NHẬP
Mã số : 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN ĐỨC TUẤN
TP Hồ Chí Minh - 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn TS Nguyễn Đức Tuấn đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cám ơn Khoa Địa lý, Phòng Khoa học - Công nghệ sau đại học Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc học tập, trang bị kiến thức để tôi có thể hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến cán bộ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Trà Vinh, Cục thống kê Trà Vinh, Sở Công thương Trà Vinh, Chi cục khai thác
và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Trà Vinh đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp tư liệu, số liệu tham khảo quý báo, hữu ích để tác giả hoàn thành tốt luận văn
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp, các bạn học viên cao học chuyên ngành Địa lý học khóa 19 đã hết lòng động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn đúng thời gian quy định
Tác giả luận văn
TRIỆU HOÀNG HẢI
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU 9
Ch ương 1: 14
C Ơ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN THỦY SẢN 14
1.1 Tổng quan về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp 14
1.2 Tổng quan về ngành thủy sản 18
1.3 Khái quát về kinh tế nuôi trồng thủy sản 26
1.4 Khái quát kinh tế khai thác thủy sản 29
1.5 Khái quát về kinh tế chế biến thủy sản 32
1.6 Khái quát về hoạt động xuất khẩu thủy sản 35
Ch ương 2: 43
PHÁT TRIỂN THỦY SẢN TRÀ VINH THỜI KỲ HỘI NHẬP 43
2.1 Khái quát chung về tỉnh Trà Vinh 43
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 43
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 49
2.2 Đánh giá chung về các điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến phát triển thủy sản tỉnh Trà Vinh 56
2.2.1 Những điều kiện thuận lợi: 56
2.2.2 Các hạn chế: 57
2.3 Phát triển thủy sản tỉnh Trà Vinh thời kỳ hội nhập 57
2.3.1 Khái quát về nền kinh tế tỉnh Trà Vinh 57
2.3.2 Khái quát về tình hình phát triển thủy sản tỉnh Trà Vinh 61
2.3.3 Thực trạng khai thác thủy sản tỉnh Trà Vinh 64
2.3.4 Thực trạng phát triển nuôi trồng thủy sản tỉnh Trà Vinh 68
2.3.5 Đánh giá chung về tình hình khai thác và nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Trà Vinh
Trang 52.3.6 Thực trạng phát triển ngành công nghiệp chế biến thủy sản tỉnh Trà Vinh 85
2.3.7 Thực trạng xuât khẩu thủy sản tỉnh Trà Vinh 87
2.3.8 Đánh giá chung về tình hình xuất khẩu thủy sản trong những năm qua 91
Ch ương 3: 94
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỦY SẢN TỈNH TRÀ VINH TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP 94
3.1 Cơ sở để xây dựng định hướng 94
3.2 Quan điểm cơ bản trong phát triển ngành thủy sản tỉnh Trà Vinh 97
3.3 Định hướng phát triển thủy sản tỉnh Trà Vinh 98
3.4 Giải pháp phát triển thủy sản tỉnh trà vinh trong thời kỳ hội nhập 111
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
PHỤ LỤC 128
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CSHT : Cơ sở hạ tầng
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
GDP : Tổng thu nhập trong nước
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản theo mặt hàng chủ yếu giai đoạn 2000 – 2007 39
Bảng 2.1: Nhiệt độ không khí trung bình năm giai đoạn 2005 - 2009 44
Bảng 2.2: Độ ẩm không khí trung bình năm từ 2005 – 2009 45
Bảng 2.3: Diện tích các loại đất ở tỉnh Trà Vinh 46
Bảng 2.4: Tỷ lệ sinh, tỷ lệ tử và tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên 49
Bảng 2.5: Dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nhất năm 2009 51
Bảng 2.6: Lao động phân theo ngành kinh tế của tỉnh Trà Vinh 52
Bảng 2.7: Diện tích - Dân số - Mật độ dân số tỉnh Trà Vinh năm 2009 53
Bảng 2.8:Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Trà Vinh phân theo khu vực kinh tế 58
Bảng 2.9: Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành của tỉnh Trà Vinh 59
Bảng 2.10: Sản lượng thủy sản tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2001 - 2009 61
Bảng 2.11: Sản lượng thủy sản khai thác từ năm 2001 – 2009 64
Bảng 2.12: Cơ cấu sản lượng thủy sản khai thác phân theo huyện, thị 66
Bảng 2.13: Năng lực tàu thuyền khai thác giai đoạn năm 2005 - 2009 66
Bảng 2.14: Số lượng tàu cá đăng ký, đăng kiểm trong giai đoạn 2005 - 2009 68
Bảng 2.15: Diện tích nuôi thủy sản tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2005 - 2009 69
Bảng 2.16: Diện tích nuôi thủy sản nước ngọt giai đoạn 2005 - 2009 69
Bảng 2.17: Diện tích nuôi trồng thủy sản vùng mặn, lợ giai đoạn 2005 - 2009 71
Bảng 2.18: Sản lượng thủy sản nuôi trồng tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2001 - 2009 73
Bảng 2.19: Cơ cấu sản lượng thủy sản nuôi trồng phân theo giống loài 76
Bảng 2.20: Cơ cấu sản lượng thủy sản nuôi trồng phân theo huyện - thị 76
Bảng 2.21: Các sản phẩm thủy sản chế biến chủ yếu 86
Bảng 2.22: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của tỉnh Trà Vinh 87
Bảng 2.23: Một số mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ yếu giai đoạn 2005 - 2009 87
Bảng 2.24: Cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản của tỉnh Trà Vinh 90
Bảng 3.1: Dự kiến diện tích nuôi thủy sản đến năm 2020 - tỉnh Trà Vinh 100
Bảng 3.2: Quy mô diện tích, sản lượng qua các thời kỳ của từng phương án 102
Bảng 3.3: Phương hướng chuyển đổi sử dụng đất vùng ngọt đến năm 2020 106
Bảng 3.4: Phương hướng chuyển đổi sử dụng đất vùng ngọt hóa đến năm 2020 108
Trang 8Bảng 3.5: Phương hướng chuyển đổi sử dụng đất vùng mặn đến năm 2020 109
Bảng 3.6: Phương hướng chuyển đổi sử dụng đất vùng cù lao đến năm 2020 110
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1.1: Cơ cấu kim ngạch các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ yếu 39
Biểu đồ 2.1: Dân số trung bình tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2005 - 2009 49
Biểu đồ 2.2: Kết cấu dân số theo độ tuổi 50
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế giai đoạn 2005 - 2009 53
Biểu đồ 2.4: Tốc độ tăng trưởng các ngành kinh tế từ năm 2001 - 2009 58
Biểu đồ 2.5: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành giai đoạn 2001 - 2009 60
Biểu đồ 2.6: Sản lượng thủy sản tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2001 - 2009 62
Biểu đồ 2.7: Cơ cấu sản lượng thủy sản theo khu vực khai thác và nuôi trồng 63
Biểu đồ 2.8: Sản lượng thủy sản khai thác giai đoạn 2001 - 2009 64
Biểu đồ 2.9: Sản lượng thủy sản nuôi trồng tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2001 - 2009 74
Biểu đồ 2.10: Cơ cấu các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ yếu 89
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2.1 Bản đồ hành chánh tỉnh Trà Vinh 42
Hình 2.2 Bản đồ phân bố sản lượng thủy sản tỉnh Trà Vinh năm 2009 63
Hình 2.3 Bản đồ hiện trạng sản xuất nông, lâm, diêm nghiệp và nuôi trồng thủy sản năm 2008 72
Hình 3.1 Bản đồ quy hoạch sản xuất nông, lâm, diêm nghiệp và nuôi trồng thủy sản101 Hình 3.2 Bản đồ phân vùng chuyển đổi sản xuất tỉnh Trà Vinh 104
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Năm 2007 Việt Nam chính thức gia nhập WTO Vậy là cánh cửa thị trường thế giới
đã được mở rộng, đây là điều kiện thuận lợi để nền kinh tế Việt Nam có thể hội nhập vào dòng chảy chung của thị trường thế giới, tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình
ổn định và phát triển kinh tế của cả nước Trong điều kiện đó, việc đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng nông sản có lợi thế cạnh tranh cao sang thị trường thế giới để nhằm tạo vị thế vững chắc sẽ là một trong những chiến lược quan trọng đối với một nước nông nghiệp đang trên con đường công nghiệp hóa – hiện đại hóa như Việt Nam
Trong xu thế hội nhập chung của cả nước, nền kinh tế tỉnh Trà Vinh trong những năm qua cũng đang dần có những bước chuyển biến quan trọng để có thể thích nghi, ổn định và phát triển trong tình hình mới Cũng như phần lớn các tỉnh khác trong vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, sản xuất nông nghiệp của Trà Vinh luôn được chú trọng hàng đầu và
có vai trò cực kì quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế khi mà các ngành kinh tế khác như công nghiệp, dịch vụ chỉ mới bắt đầu phát triển và chưa ổn định Trong cơ cấu các mặt hàng nông sản xuất khẩu, có thể nhận thấy thủy sản là một trong những mặt hàng mang lại hiệu quả kinh tế cao và đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế tỉnh Với phương châm xuất khẩu để tăng trưởng kinh tế, trong những năm qua xuất khẩu thuỷ sản Trà Vinh đã có những chuyển biến tích cực, cho đến nay các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu
có tốc độ tăng trưởng khá cao, và là một trong những nguồn thu ngoại tệ quan trọng của tỉnh
Sản xuất và xuất khẩu thủy sản sang thị trường thế giới đã có vai trò to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Trà Vinh Vì vậy việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng phát triển của thủy sản Trà Vinh một cách toàn diện; trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp thích hợp nhằm tăng hiệu quả sản xuất và xuất khẩu thủy sản tỉnh Trà Vinh trong những năm tiếp theo là điều hết sức cần thiết Nhận thấy tầm quan trọng đó tác giả xin chọn
đề tài: "Phát triển thủy sản Trà Vinh thời kì hội nhập" làm luận văn thạc sĩ địa lí học của
mình Thiết nghĩ, trong điều kiện nền kinh tế của Trà Vinh còn đang ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá; giá trị xuất khẩu hàng hoá công nghiệp còn thấp thì việc không ngừng tăng nhanh giá trị xuất khẩu hàng hoá thuỷ sản sẽ có ý nghĩa quan trọng
không chỉ với hiện tại mà cho cả tương lai
2 Mục đích – Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trang 102.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu một cách tổng quan về tiềm năng phát triển thủy sản tỉnh Trà Vinh Phân tích, đánh giá về thực trạng nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu các mặt hàng thủy sản sang thị trường thế giới; từ đó đề ra những định hướng và giải pháp nhằm phát triển thủy sản tỉnh Trà Vinh trong thời kỳ hội nhập quốc tế
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống các vấn đề lí luận chung về tổ chức lãnh thể nông nghiệp, về ngành thủy sản, hoạt động sản xuất và xuất khẩu thủy sản của Việt Nam và thế giới
- Thu thập, xử lí những tài liệu có liên quan đến tình hình nuôi trồng, khai thác, chế biến và xuất khẩu thủy sản tỉnh Trà Vinh
- Nghiên cứu tiềm năng phát triển thủy sản của tỉnh Trà Vinh
- Phân tích và đánh giá thực trạng nuôi trồng, khai thác, chế biến và xuất khẩu thủy sản tỉnh Trà Vinh
- Đề ra những định hướng và các giải pháp cụ thể góp phần thúc đẩy ngành thủy sản tỉnh Trà Vinh phát triển theo hướng bền vững, phù hợp với tình hình hội nhập với nền kinh
3.2 Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu thủy sản của tỉnh Trà Vinh
3.3 Thời gian
Trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2009, định hướng đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020
4 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Với lợi thế về nguồn tài nguyên thủy sản phong phú, tronng những năm qua, sản xuất thủy sản luôn đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp của tỉnh Trà Vinh
Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá tình hình phát triển thủy sản luôn được sự quan tâm của tất cả các cơ quan phụ trách có liên quan, các nhà khoa học, các tập thể và cá nhân trong và ngoài tỉnh đén tìm hiểu, nghiên cứu Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau:
Trang 11- Báo cáo quy hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông - lâm - diêm nghiệp và nuôi trồng thủy sản tỉnh Trà Vinh đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 của Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn tỉnh Trà Vinh
- Quy hoạch chi tiết nuôi thủy sản huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Trà Vinh
- Quy hoạch chi tiết nuôi thủy sản huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Trà Vinh
- Báo cáo kết quả sản xuất nông nghiệp qua các năm của Sở Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn tỉnh Trà Vinh
- Lê Xuân Sinh "Nghiên cứu thị trường hỗ trợ phát triển ngành hàng nghêu ở tỉnh Trà Vinh trong mối quan hệ với các tỉnh ven biển khu vực phía nam Việt Nam", UBND
huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh
- Thạch Thanh Hiền, 2007, "Tình hình sản xuất nông - ngư nghiệp tĩnh Trà Vinh giai
đoạn 2001 - 2005 và định hướng đến năm 2010", luận văn tốt nghiệp, trường Đại học sư
trình nghiên cứu đầy đủ, toàn diện hơn nữa để nhằm đưa ngành thủy sản tỉnh Trà Vinh phát triển vững mạnh, xứng đáng với tiềm năng hiện có, từ đó tạo tiền đề thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Trà Vinh trong những năm tiếp theo
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
5.1.1 Quan điểm hệ thống
- Tỉnh Trà Vinh là một bộ phận cấu thành của hệ thống kinh tế Việt Nam, còn ngành thủy sản của tỉnh là một bộ phận hay còn gọi là một phân ngành của nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng bao gồm nông - lâm - ngư nghiệp, là một hợp phần trong một hệ thống các
Trang 12ngành kinh tế của Trà Vinh Trong hệ thống này, giữa ngành thủy sản và các ngành kinh tế khác có mối quan hệ tác động qua lại với nhau và phát triển theo qui luật nhất định
- Hệ thống các ngành nông nghiệp của tỉnh Trà Vinh bao gồm nhiều cấu trúc hệ thống nhỏ (nông - lâm - ngư nghiệp), các thành phần cấu trúc liên quan chặc chẽ với nhau
và ảnh hưởng lẫn nhau tạo thành một hệ thống kinh tế nông nghiệp của tỉnh
Như vậy, phát triển thủy sản tỉnh Trà Vinh cần phải được nghiên cứu trong mối quan
hệ tương hỗ giữa các thành phần kinh tế xã hội của Trà Vinh nói riêng và nền kinh tế xã hội của cả nước nói chung
5.1.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Về cơ bản, các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội luôn có sự thay đổi và phân hóa trong không gian, đồng thời giữa các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ, tác động và ảnh hưởng qua lại với nhau tạo thành những thế mạnh riêng cho tỉnh và cho từng vùng trong tỉnh
Các thông tin về kinh tế thủy sản của tỉnh phải được phân tích gắn liền với những đặc thù của tỉnh Trà Vinh về mặt vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, và gắn với từng vùng cụ thể Trên cơ sở đó phát hiện ra mối liên hệ thống nhất giữa các lãnh thổ
5.1.3 Quan điểm sinh thái
Sự phát triển kinh tế, gia tăng dân số đều ảnh hưởng đến tài nguyên, môi trường Vì vậy, phát triển kinh tế thủy sản tỉnh Trà Vinh cũng sẽ có những tác động nhất định đến môi trường sinh thái của Tỉnh Do vậy, trên quan điểm sinh thái cần nghiên cứu phát triển kinh
tế thủy sản của tỉnh theo hướng bền vững, vừa tạo ra những sản phẩm sạch, chất lượng cao đáp ứng thị trường; vừa phải tích cực khôi phục, bảo vệ tài nguyên môi trường sinh thái của Tỉnh
5.1.4 Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Các hệ thống tự nhiên, dân cư, kinh tế, đều có nguồn gốc phát sinh phát triển từ quá khứ, hiện tại, đến tương lai và có mối quan hệ nhân quả diễn ra trong quá trình phát triển
Quá trình phát triển thủy sản nói riêng và kinh tế xã hội nói chung có sự biến chuyển theo không gian và thời gian Vì vậy, khi nghiên cứu bất kỳ một đối tượng nào đều cần phải quán triệt quan điểm lịch sử viễn cảnh để thấy được quá trình hình thành, phát triển của chúng Việc nhìn nhận chiều hướng phát triển, sự thay đổi của nó qua từng giai đoạn lịch sử
Trang 13địa phương cho phép chúng ta có cơ sở để đưa ra những dự báo cho sự phát triển kinh tế trong tương lai
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp thống kê
Trong quá trình nghiên cứu các tài liệu Số liệu thu thập được từ Cục thống kê tỉnh, niên giám thống kê tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công thương tỉnh, v.v các thông tin này tương đối đồng nhất và có giá trị pháp lý, có khả năng phục vụ tốt cho đề tài nghiên cứu
Trên cơ sở các nguồn tài liệu đã thu thập tác giả đã tiến hành thống kê tổng hợp tài liệu phù hợp với nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
5.2.2 Phương pháp phân tích thông tin
Sau khi các số liệu được thu thập về và thống kê lại, tác giả tiến hành sắp xếp, đối chiếu, điều tra lại mức độ chính xác của các thông tin, sau đó đi đến việc phân loại, phân tích và so sánh các thông tin Phương pháp này giúp loại bỏ các thông tin không chính xác
5.2.3 Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Đây là phương pháp phổ biến trong khoa học địa lí Trong nghiên cứu địa lí địa phương, phương pháp này được vận dụng trong tất cả các khâu đã làm cho công trình nghiên cứu thêm sinh động, dễ hiểu Thông qua các bản đồ, biểu đồ người đọc dễ dàng thấy được mối liên hệ giữa các đối tượng, thấy được tốc độ tăng trưởng của các đối tượng trong từng giai đoạn cụ thể, từ đó giúp cho các vấn đề nghiên cứu thêm sáng tỏ, dễ hiểu hơn
5.2.4 Phương pháp dự báo
Đây là phương pháp dự đoán khả năng phát triển trong tương lai Tất nhiên phương pháp dự báo phải dựa vào những cơ sở khoa học, tính logic, hệ thống của đối tượng Nó phù hợp với qui luật phát triển tất yếu của chính bản thân đối tượng Phương pháp này dựa vào quan điểm lịch sử viễn cảnh, dựa vào tốc độ gia tăng kinh tế - xã hội và các chính sách, các biện pháp cũng như các chiến lược về dân số và kinh tế của Tỉnh, của Nhà nước, có liên hệ với tình hình thế giới để từ đó đưa ra dự báo cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tinh Trà Vinh nói chung và của ngành thủy sản tỉnh Trà Vinh nói riêng
5.2.5 Phương pháp hệ thống thông tin Địa lý và Map Info
Sử dụng phần mềm Map Info trong việc xử lý số liệu và thành lập bản đồ chuyên đề phục vụ cho việc thực hiện luận văn
Trang 14Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN THỦY SẢN
1 1 Tổng quan về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
1 1.1 Phân công lao động xã hội – Cơ sở nền tảng của tổ chức không gian kinh tế
- xã hội nói chung và tổ chức lãnh thổ nông nghiệp nói riêng
Phân công lao động là một quá trình liên tục, hình thành và phát triển cùng với tiến trình lịch sử nhân loại Khả năng của con người và sự khác biệt về điều kiện sản xuất là nguồn gốc sâu xa của mọi sự trao đổi hàng hóa, phân công lao động xã hội được khởi đầu
và kết thúc bởi sự trao đổi hàng hóa Nó được biểu hiện cụ thể dưới hai hình thức cơ bản nhất là phân công lao động theo ngành và phân công lao động theo lãnh thổ
- Phân công lao động xã hội theo ngành: là tổ chức lao động xã hội theo các ngành
để tạo ra những sản phẩm cụ thể đáp ứng yêu cầu của xã hội Phân công lao động xã hội theo ngành phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một tỉnh, một huyện Phân công lao động xã hội theo ngành phát triển từ thấp đến cao;
từ nông nghiệp đến công nghiệp và cả dịch vụ Sự kiện tách chăn nuôi khỏi trồng trọt, tách các ngành phi nông nghiệp khỏi khu vực nông nghiệp là ý nghĩa đó Khoa học - công nghiệp càng phát triển, trình độ nguồn nhân lực càng cao, nhu cầu tiêu dùng của xã hội càng đa dạng, chất lượng càng cao thì sự phân công lao động xã hội theo ngành càng phát triển
- Phân công lao động xã hội theo lãnh thổ:
Trong quá trình sản xuất, mỗi vùng (địa phương) dựa vào những thế mạnh riêng của mình về các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và các điều kiện kinh tế, xã hội, lịch
sử v.v… để tiến hành chuyên môn hóa sản xuất, nhằm một mặt tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng và mặt khác, có giá thành hạ với hiệu quả cao về kinh tế Việc hình thành chuyên môn hóa sản xuất của từng vùng là kết quả của một quá trình kinh tế và xã hội Quá trình này được gọi là phân công lao động xã hội theo lãnh thổ
Theo Iu.G Xauskin (1973), phân công lao động theo lãnh thổ là kết quả của sự thống nhất giữa các vùng có nền sản xuất khác nhau nhưng lại bỗ sung cho nhau và lôi cuốn chúng vào việc trao đổi hàng hóa Trong quá trình phân công lao động theo lãnh thổ có sự phân hóa về chức năng giữa các vùng Do vậy, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể, phân công lao động theo lãnh thổ một mặt tạo nên sự cân bằng giữa các lãnh thổ (quốc gia, vùng, địa phương) và mặt khác, cá thể hóa các lãnh thổ ấy khi lựa chọn một số ngành chuyên môn hóa Về bản chất, phân công lao động theo lãnh thổ là việc gắn các ngành (xí nghiệp) vào những lãnh thổ thích hợp, đảm bảo mối liên kết chặt chẽ giữa chúng với nhau và sự phát
Trang 15triển hài hòa giữa chuyên môn hóa với liên hiệp hóa, tạo ra sự kết hợp giữa ngành với ngành, giữa ngành với lãnh thổ
Phân công lao động xã hội theo lãnh thổ không phải là bất biến, mà là một phạm trù kinh tế, xã hội, lịch sử Nó phản ánh mối quan hệ giữa con người và con người, giữa con người và tự nhiên trong quá trình sản xuất và đời sống Các mối quan hệ này thay đổi theo thời gian và phát triển không ngừng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp
Các hình thức thể hiện của phân công lao động xã hội theo lãnh thổ:
+ Phân công lao động trên phạm vi toàn thế giới
+ Phân công lao động trong một liên minh quốc gia
+ Phân công lao động giữa các vùng trong một quốc gia
+ Phân công lao động xã hội trong nội vùng
+ Phân công lao động trong tỉnh
+ Phân công lao động địa phương
1.1 2 Quan niệm về tổ chức lãnh thổ
Trong một lãnh thổ có nhiều thành phần về tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội… Vì vậy, để một lãnh thổ có thể phát triển toàn diện, bền vững đòi hỏi các thành phần này phải được sắp xếp, bố trí hợp lí nhằm phát huy tối đa hiệu quả của chúng trong việc tái sản xuất cuộc sống xã hội đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, môi trường theo hướng bền vững
Nhiều nhà khoa học thuộc hàng loạt các lĩnh vực chuyên môn đã đưa ra nhiều khái niệm, định nghĩa về tổ chức lãnh thổ Về cơ bản có thể phân thành hai nhóm sau:
Theo quan điểm của trường phái địa lý Xô Viết, tổ chức lãnh thổ là sự sắp xếp, bố trí
và phối hợp các đối tượng có ảnh hưởng lẫn nhau, có mối quan hệ qua lại giữa các hệ thống sản xuất, hệ thống dân cư nhằm sử dụng hợp lý các nguồn lực để đạt hiệu quả cao về
ki nh tế, xã hội và môi trường
Theo quan điểm của các trường phái địa lý Phương Tây, tổ chức lãnh thổ (còn gọi là
tổ chức không gian kinh tế xã hội) được coi là sự lựa chọn về nghệ thuật sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn nhằm tìm kiếm một tỷ lệ, quan hệ hợp lý về phát triển kinh tế - xã hội
g iữa các ngành hoặc giữa các vùng trong cùng một quốc gia có xét đến mối liên hệ giữa các quốc gia để tạo ra các giá trị mới Theo quan điểm này, về mặt địa lý, tổ chức lãnh thổ
được xem như là một hoạt động có tính chất định hướng tới sự công bằng về không gian
Trang 16giữa trung tâm và ngoại vi, giữa các cực với không gian ảnh hưởng nhằm giải quyết việc làm, cân đối giữa nông thôn và thành thị, bảo vệ môi trường sống của con người
Như vậy, chúng ta có thể hiểu “ Tổ chức lãnh thổ là sự sắp xếp và phối hợp các đối
tượng trong mối liên hệ đa ngành, đa lĩnh vực trong một vùng cụ thể nhằm sử dụng một cách hợp lý các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí địa lí kinh tế - xã hội và cơ sở vật chất
kỹ thuật đã và sẽ tạo dựng để đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao và nâng cao mức sống dân cư của vùng đó”
1.1 3 Quan niệm về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp là một trong những hình thức của tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội Qua một số công trình nghiên cứu của K.I Vanov, V.G Kriuchkov và một
số tác giả khác có thể quan niệm về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp như sau:
“Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp được hiểu là một hệ thống các liên kết không gian của các ngành, các xí nghiệp nông nghiệp và các lãnh thổ dựa trên cơ sở các quy trình kỹ thật mới nhất, chuyên môn hoá, tập trung hoá, liên hợp hoá và hợp tác hoá sản xuất cho phép sử dụng có hiệu quả nhất sự khác nhau theo lãnh thổ về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, nguồn lao động và đảm bảo năng suất xã hội cao nhất”
Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp không phải là bất biến, nói cách khác, hình thái kinh tế
- xã hội nào thì có kiểu tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tương ứng như thế Trong điều kiện hiện nay, tổ chức lãnh thổ nông nghiệp gắn liền với khoa học công nghệ, gắn với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, của khoa học công nghệ, nhiều hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp đã và đang xuất hiện, mang lại hiệu quả cao về mặt kinh tế, xã hội và môi trường
1.1.4 Các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
1.1.4 1 Xí nghiệp nông nghiệp
Xí nghiệp nông nghiệp là một trong nhiều hình thức của tổ chức lãnh thổ nông nghiệp, trong đó có sự thống nhất giữa lực lượng lao động với tư liệu lao động và đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội Mỗi xí nghiệp đều có tính độc lập về pháp lý và có thể có quan hệ với các xí nghiệp khác Các nông hộ, trang trại, hợp tác xã, đồn điền, nông trường quốc doanh,… được coi là xí nghiệp nông nghiệp
1.1.4 2 Thể tổng hợp nông nghiệp
Theo K.I Ivanov, thể tổng hợp nông nghiệp là sự phối hợp của các xí nghiệp nông nghiệp có mối quan hệ tương hỗ và liên kết với nhau về mặt lãnh thổ cũng như giữa các xí
Trang 17nghiệp nông nghiệp và các xí nghiệp công nghiệp cho phép trên cơ sở các quy trình kỹ thuật mới nhất, sử dụng đầy đủ nhất điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý kinh tế và các điều kiện kinh
tế hình thành trong lịch sử để đạt năng suất lao động xã hội cao nhất
Có hai loại thể tổng hợp nông nghiệp :
+ Các thể tổng hợp sản xuất chế biến tại chỗ : Hình thành chủ yếu do điều kiện tự
nhiên quyết định Loại này nhằm mục đích sử dụng có hiệu quả nhất các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và lịch sử của vùng
+ Các thể tổng hợp nông nghiệp ngoại thành : Có đặc trưng là sản phẩm hàng hóa
chủ yếu do nhu cầu của nhân dân thành phố quyết định Các thể tổng hợp nông nghiệp ngoại thành được hình thành xung quanh các thành phố và khu công nghiệp nhằm sản xuất các sản phẩm khó vận chuyển xa Vì vậy, các thể tổng hợp này còn được gọi là vành đay thực phẩm ngoại thành
Ở đây những yếu tố kinh tế đóng vai trò quyết định việc hình thành cấu trúc lãnh thổ của các thể tổng hợp nông nghiệp ngoại thành còn các yếu tố tự nhiên chỉ đóng vai trò thứ yếu
Thể tổng hợp nông nghiệp là một trong những hình thức tổ chức sản xuất theo lãnh thổ mang lại hiệu quả kinh tế cao Đồng thời, đây còn là bộ khung để tạo nên các vùng nông nghiệp
1.1.4 3 Vùng nông nghiệp
Vùng nông nghiệp là hình thức cao nhất của tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Thực chất
đó là những lãnh thổ sản xuất nông nghiệp tương đối đồng nhất về các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, được hình thành với mục đích phân bố hợp lý và chuyên môn hóa đúng đắn sản xuất nông nghiệp trên cơ sở sử dụng đầy đủ và có hiệu quả nhất các điều kiện sản xuất của các vùng trong cả nước cũng như trong nội bộ từng vùng
Như vậy, vùng nông nghiệp là một bộ phận lãnh thổ của đất nước, bao gồm những lãnh thổ có sự tương đồng nhau về :
+ Điều kiện sinh thái nông nghiệp (điều kiện khí hậu, đất đai, nguồn nước,…)
+ Điều kiện kinh tế - xã hội (số lượng, chất lượng và sự phân bố dân cư, lao động trong nông nghiệp, kinh nghiệm và truyền thống sản xuất)
+ Trình độ thâm canh, cơ sở vật chất kỹ thuật nông nghiệp, chế độ canh tác giữa các địa phương trong vùng
Trang 18+ Một số sản phẩm chuyên môn hóa đặc trưng và cơ cấu sản xuất nông nghiệp giữa phần lớn các địa phương trong vùng
1.1.4 4 Băng truyền địa lý trong nông nghiệp
Băng truyền địa lý trong nông nghiệp có thể hiểu là :
- Các dây truyền sản xuất nông phẩm mà quy trình kỹ thuật của nó được tiến hành ở các vùng tự nhiên, kinh tế khác nhau nhằm sử dụng hợp lý nhất những đặc điểm của các vùng này
- Các dây truyền thực hiện các công việc đồng áng, sản xuất và cung cấp cho nhân dân rau, hoa, quả tươi được xây dựng dựa trên cơ sở sử dụng có hiệu quả sự phát triển mùa của tự nhiên
Có hai loại băng truyền địa lý
Loại 1 : Băng truyền địa lý sử dụng sự khác biệt theo vùng lãnh thổ trong quá trình
sản xuất các nông phẩm Loại này thúc đẩy quá trình chuyên môn hóa mỗi ngành trong nông nghiệp Ví dụ ươm cây, chăm sóc,… hay chăn nuôi gia súc sinh sản, gia súc nhỏ, vỗ béo
Loại 2 : Băng truyền địa lý sử dụng sự phát triển mùa của tự nhiên theo các vùng
lãnh thổ Băng truyền này diễn ra trên cơ sở thời hạn chín khác nhau của từng loại cây trồng
để phân bố chúng trên những vùng lãnh thổ khác nhau
1.2 Tổng quan về ngành thủy sản
1.2 1 Khái niệm ngành thuỷ sản
Ngành thuỷ sản là một bộ phận hay còn gọi là một phân ngành của nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng bao gồm nông - lâm - ngư nghiệp Ngành thuỷ sản được coi là ngành sản xuất dựa trên những khả năng tiềm tàng về sinh vật trong môi trường nước để sản xuất ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu không ngừng tăng lên của con người Hoạt động thuỷ sản là việc tiến hành khai thác, nuôi trồng, vận chuyển, bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thuỷ sản, dịch vụ trong hoạt động thuỷ sản, điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản
1.2 2 Vai trò của ngành thủy sản trong nền kinh tế quốc dân
Ngành thủy sản có vai trò to lớn trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt đối với những nước có nhiều tiềm năng về thủy vực và nguồn lợi thủy sản như nước ta Vai trò to lớn của ngành thủy sản được thể hiện rõ qua các mặt sau:
1.2.2.1 Ngành thủy sản cung cấp những sản phẩm thực phẩm quý cho tiêu
Trang 19dùng của dân cư
Ngành thủy sản là ngành sản xuất có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo nhu cầu thực phẩm của con người Các kết quả nghiên cứu của các chuyên gia về dinh dưỡng đã khẳng định hầu hết các loại thủy sản đều là loại thực phẩm giàu đạm, dễ tiêu hóa, phù hợp với sinh lý dinh dưỡng ở mọi lứa tuổi Các chất đạm từ tôm, cua, cá dễ tiêu hóa, ít chứa chất béo và nhất là cung cấp các nguyên tố vi lượng có từ biển như iốt, canxi, brôm, natri, sắt,… rất dễ hấp thụ và có lợi cho sức khỏe
Ngành thủy sản cung cấp một phần thức ăn cho chăn nuôi, đặc biệt cho chế biến thức
ăn chăn nuôi công nghiệp Bột cá và các phế phẩm, phụ phẩm thủy sản chế biến là nguồn
thức ăn giàu đạm được sử dụng làm thức ăn phục vụ chăn nuôi gia súc, gia cầm
1.2.2.2 Cung cấp nguyên liệu cho phát triển công nghiệp
Ngành thủy sản cung cấp nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp chế biến và một số ngành khác Nguồn nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chế biến thực phẩm gồm tôm, cá, nhuyễn thể, rong biển,… Các sản phẩm thủy sản sau khi được chế biến
có thể bảo quản lâu, dễ vận chuyển, và mang lại giá trị kinh tế cao Ngoài ra, các nguyên liệu thủy sản còn được sử dụng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp dược phẩm, mỹ nghệ, v.v…
1.2.2.3 Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Ngành thủy sản đóng góp một phần quan trọng trong tăng tưởng của ngành nông nghiệp và toàn ngành kinh tế nói chung Đối tượng của sản xuất thuỷ sản là những sinh vật sống, thông qua hoạt động chế biến chúng tạo thành những sản phẩm có giá trị dinh dưõng
và giá trị kinh tế cao Việc tiêu thụ những sản phẩm này trong nội địa hay xuất khẩu sang thế giới đều giúp thu được lợi nhuận, góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng của toàn ngành kinh tế nói chung Ngành thuỷ sản phát triển mở ra một cơ hội mới cho nền kinh tế của đất nước
1.2.2.4 Tham gia vào xuất khẩu, thu ngoại tệ cho đất nước
Trong thời kì hội nhập với nền kinh tế thế giới, ngành thủy sản cũng có nhiều cơ hội
để phát triển, đặc biệt là lĩnh vực xuất khẩu thủy sản Xuất khẩu thủy sản sang thị trường các nước trên thế giới không chỉ giúp thu ngoại tệ lớn, mà còn góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế của đất nước, mở ra các mối quan hệ hợp tác, giao lưu giữa các nước trong khu vực và thế giới, góp phần thúc đẩy nền kinh tế - xã hội hội nhập và phát triển vững mạnh
Trang 201.2.2.5 Giải quyết việc làm và tăng thu nhập
Ngành thủy sản phát triển đã tạo ra hàng loạt việc làm và thu hút đông đảo lao động tham gia vào hoạt động khai thác, nuôi trồng, chế biến và dịch vụ thủy sản Phát triển ngành thủy sản góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người dân, giãm sức ép về vấn
đề lao động, việc làm trên phạm vi cả nước
1.2.2.6 Đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
Ngành thủy sản có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Ngành thủy sản cũng là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng mà sản phẩm của nó là các sinh vật sống trong môi trường nước, đó là một trong những loại thực phẩm làm thức ăn bổ dưỡng phục vụ đời sống nhân dân Do đó, phát triển ngành thủy sản vững mạnh sẽ góp phần giải quyết vấn đề an ninh lương thực cho quốc gia
1.2 3 Đặc điểm của ngành thủy sản
1.2 3.1 Đối tượng sản xuất là các sinh vật sống trong nước
Các loài động thực vật sống trong môi trường nước mặt là đối tượng sản xuất của ngành thủy sản Môi trường nước mặt cho sản xuất thủy sản gồm có biển và các mặt nước trong nội địa Những sinh vật sống trong môi trường nước có một số điểm đáng lưu ý sau:
- Về trữ lượng: khó xác định chính xác trữ lượng thủy sản có trong một ao hồ hay ngư trường Đặc biệt ở các vùng mặt nước rộng lớn, các sinh vật có thể di chuyển tự do trong ngư trường hoặc di cư từ vùng này đến vùng khác không phụ thuộc vào ranh giới hành chính Hướng di chuyển của các luồng tôm, cá chịu tác động của nhiều nhân tố như thời tiết, dòng chảy và đặc biệt là nguồn thức ăn tự nhiên
- Các loài sinh vật trong nước sinh trưởng và phát triển chịu sự tác động nhiều của điều kiện thời tiết, khí hậu, dòng chảy, địa hình, thủy văn,… Trong nuôi trồng thủy sản, cần tạo những điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển cao của các loại thủy sản như: tạo dòng chảy bằng máy bơm, tạo ôxy bằng quạt sục nước,… Trong hoạt động khai thác, đánh bắt thủy sản, tính mùa vụ của từng loại thủy sản như sinh sản theo mùa, di cư theo mùa phụ thuộc vào thời tiết khí hậu, điều kiện thủy văn đã tạo nên tính phức tạp về mùa vụ cả về không gian và thời gian
- Các sản phẩm thủy sản sau khi thu hoạch hoặc đánh bắt đều rất dễ ươn thối, hư hỏng vì chúng đều là những sản phẩm sinh vật đã bị tách ra khỏi môi trường sống Để tránh tổn thất trong sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm đòi hỏi phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các khâu từ khai thác, nuôi trồng đến chế biến và kinh doanh tiêu thụ sản phẩm
Trang 211.2 3.2 Thủy vực là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế
Các loại mặt nước bao gồm: sông, hồ, ao, mặt nước ruộng, biển,… được gọi chung là thủy vực được sử dụng vào nuôi trồng và đánh bắt thủy sản Thủy vực là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế của ngành thủy sản Không có thủy vực sẽ không có sản xuất thủy sản
Thủy vực có hai loại: thủy vực tự nhiên và thủy vực nhân tạo Trong điều kiện hiện nay thủy vực nhân tạo do con người tạo ra bằng cách đào ao thả cá, chuyển đất trồng trọt hiệu quả thấp sang nuôi trồng thủy sản, xây dựng hồ đập v.v… Thủy vực tự nhiên là các loại hình mặt nước hình thành một cách tự nhiên có thể sử dụng vào mục đích phát triển sản xuất Ngoài ra, tùy thuộc vào tính chất của nước, thủy vực còn được chia thành thủy vực nước ngọt, thủy vực nước lợ và thủy vực nước mặn
Về cơ bản, thủy vực là một loại tư liệu sản xuất có những đặc điểm sau:
+ Thủy vực có vị trí cố định, mức nước biến đổi theo mùa và chất lượng không đồng đều
+ Thủy vực là tư liệu sản xuất không bị đào thải khỏi quá trình sản xuất, nếu biết sử dụng hợp lý thì duy trì được chất lượng nước tốt cho việc canh tác lâu dài
+ Thủy vực là nơi cư ngụ của các loài động, thực vật thủy sinh
1.2 3.3 Ngành thủy sản là ngành sản xuất vật chất có tính hỗn hợp và tính liên ngành cao
Với tính cách là một ngành sản xuất vật chất, ngành thủy sản bao gồm nhiều hoạt động sản xuất cụ thể có tính chất tương đối khác nhau nhưng có mối liên quan chặt chẽ với nhau như: khai thác, nuôi trồng, chế biến và các dịch vụ thủy sản Khi trình độ lực lượng sản xuất thấp kém, các hoạt động sản xuất cụ thể nói trên chưa có sự tách biệt rõ ràng, thậm chí còn lồng vào nhau Trong điều kiện như vậy, khối lượng sản phẩm sản xuất ra còn ít với chất lượng thấp và chủ yếu đáp ứng nhu cầu thị trường nhỏ hẹp Ngày nay, dưới tác động mạnh mẽ của sự phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội làm cho các hoạt động sản xuất thủy sản được chuyên môn hóa ngày càng cao Các hoạt động chuyên môn hóa khai thác, nuôi trồng, chế biến và dịch vụ thủy sản có trình độ và quy mô phát triển tùy thuộc nhu cầu thị trường và mỗi hoạt động lại dựa trên nền tảng nhất định về cơ sở vật chất kỹ thuật và phương pháp công nghệ, tạo nên những ngành chuyên môn hóa hẹp có tính
chất độc lập tương đối Tuy vậy, do đặc điểm của sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm thủy sản, tính liên kết vốn có của các hoạt động khai thác, nuôi trồng, chế biến và dịch vụ thủy
Trang 22sản lại đòi hỏi phải gắn bó các ngành chuyên môn hóa hẹp nói trên trong một thể thống nhất, ở trình độ cao hơn mang tính liên ngành Như vậy, tính hỗn hợp và tính liên ngành cao của các hoạt động sản xuất vật chất tương đối khác nhau gồm nuôi trồng, khai thác, chế biến
và dịch vụ là đặc điểm của ngành thủy sản Tính hỗn hợp và tính liên ngành cao của các hoạt động sản xuất có tính chất tương đối khác nhau làm cho ngành thủy sản vừa có tính chất của một ngành sản xuất công nghiệp, vừa có tính chất của ngành sản xuất nông nghiệp
Vì vậy, việc quản lý vĩ mô cũng như quản lý kinh doanh trong ngành thủy sản mang tính hỗn hợp
1.2 3.4 Sản xuất kinh doanh thủy sản đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn, độ rủi ro cao
Hầu hết các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy sản đều đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn Trong hoạt động nuôi trồng, tất cả các hoạt động từ khâu đào ao, cải thiện ao nuôi, cải tạo các đầm nuôi thủy sản ở ven biển hoặc cửa sông, chuẩn bị giống, thức ăn, v.v… đều đòi hỏi vốn đầu tư lớn, và tốn nhiều công sức Trong hoạt động đánh bắt, nhất là đánh bắt xa
bờ đòi hỏi phải có vốn đầu tư đóng tàu thuyền, mua sắm các trang thiết bị phục vụ đánh bắt
và thuê mướn nhân công, v.v…
Sản xuất nuôi trồng và đánh bắt thủy sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nhất
là điều kiện thủy văn, bão, lũ lụt Đối với những nước như nước ta có bờ biển dài, diễn biến bão lũ phức tạp nên thường gây thiệt hại nặng cho nghề nuôi trồng thủy sản Trong nhiều trường hợp, thiên tai có thể gây thiệt hại cả đến tính mạng của ngư dân
1.2 4 Một số hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh tiêu biểu trong ngành thủy sản
- Mục đích sản xuất: Chủ yếu nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của gia đình, một
phần trao đổi mua bán ra bên ngoài thị trường nhằm cải thiện nhu cầu cuộc sống gia đình
- Về quan hệ sở hữu: Yếu tố quan trọng nhất cho hoạt động kinh tế của hộ là đất đai,
mặt nước Theo quy định, hộ được giao sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất
Trang 23nông, lâm thủy sản và phải nộp tiền thuê đất cho Nhà nước Các yếu tố nguồn lực khác đáp ứng nhu cầu phát triển thủy sản như giống, trang thiết bị, tiền vốn v.v… do hộ tự mua sắm hay đi thuê
- Về quan hệ lao động: Kinh tế hộ gia đình nói chung, hộ thủy sản nói riêng không có
thuê mướn lao động, mà dựa trên lao động bản thân hộ gia đình Khi nhu cầu sử dụng lao động vượt quá khả năng đáp ứng của lao động gia đình như lúc thu hoạch, làm vệ sinh ao nuôi,… thì hình thức chủ yếu là đổi công, vần công giữa các hộ
- Về cơ chế quản lý: Hộ tự chủ trong hoạt động kinh doanh, tự tìm kiếm đầu vào cho
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đầu ra
- Về tính chất của sự phát triển: Phát triển thủy sản thời gian qua biểu hiện rất rõ tính
tự phát: người dân tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất với quy mô lớn, tự lo nguồn giống hay thức ăn theo cách hiểu biết của từng hộ Nghề nuôi trồng thủy sản mặc dù đã phát triển mạnh, nhưng vẫn còn là nghề phụ đối với số đông các hộ
1.2.4.2 Kinh tế trang trại thủy sản
Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cao hơn hộ gia đình, được hình thành và phát triển trong thời kì công nghiệp hóa, thay thế cho kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc
Có hai loại trang trại
+ Trang trại gia đình: là loại hình trang trại phổ biến nhất ở tất cả các quốc gia, là
những cơ sở lấy hộ gia đình làm đơn vị sản xuất kinh doanh, sử dụng lao động trong gia đình là chủ yếu và có thể thuê thêm lao động bên ngoài nhưng không nhiều và chủ yếu là sản xuất nông sản hàng hoá
+ Trang trại tư bản chủ nghĩa: là những cơ sở, doanh nghiệp nông nghiệp sản xuất
nông sản hàng hoá theo phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hoàn toàn sử dụng lao động làm thuê
Ở các nước Châu Á cũng như các nước Âu - Mỹ, trang trại tư bản chủ nghĩa có số lượng không nhiều và chiếm tỷ trọng thấp hơn số trang trại gia đình
Thực tiễn phát triển trang trại thủy sản ở nước ta đến nay thể hiện rõ một số đặc trưng cơ bản sau:
- Mục đích: Mục đích trực tiếp của sự hình thành, phát triển trang trại thủy sản là
huy động các nguồn lực vào sản xuất nuôi trồng thủy sản đáp ứng nhu cầu thị trường Hoạt động đầu tư lập trang trại là hoạt động kinh doanh nhằm mục tiêu lợi nhuận, được Nhà nước
hỗ trợ và bảo hộ trong quá trình xây dựng, thực hiện dự án
Trang 24- Về quan hệ sở hữu: Tư liệu sản xuất trong trang trại thuộc quyền sở hữu hoặc sử
dụng của chủ trang trại Những tư liệu sản xuất đi thuê hoặc được giao sử dụng thì người chủ trang trại có quyền sử dụng trong thời hạn thuê, thời hạn được giao
- Về quan hệ lao động: Lao động của trang trại gồm có lao động gia đình trang trại và
lao động thuê mướn
- Về cơ chế quản lý: chủ trang trại là người trực tiếp điều hành sản xuất kinh doanh
Các trang trại gia đình không sản xuất kinh doanh đơn độc mà thường kết hợp với các hợp tác xã dịch vụ kinh tế- kỹ thuật và các doanh nghiệp nông nghiệp quốc doanh để tạo điều kiện thuận lợi cho đầu vào và đầu ra trong sản xuất kinh doanh
- Về tính chất sự phát triển: Phát triển trang trại nói chung và trang trại thủy sản nói
riêng vừa qua còn thiếu quy hoạch, kế hoạch đồng bộ về phát triển kinh tế xã hội với quy hoạch phát triển trang trại Khoảng 30% đất trang trại đang sử dụng chưa được Nhà nước giao quyền sử dụng đất ổn định làm cho chủ trang trại chưa yên tâm bỏ vốn đầu tư; Trình độ quản lý của chủ trang trại và của người lao động còn thấp so với yêu cầu phát triển
1.2.4 3 Kinh tế hợp tác xã thủy sản
Hợp tác xã (HTX) là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lao động lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên, nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển
kinh tế- xã hội của đất nước (Luật Hợp tác xã, 1996)
Đối với HTX thủy sản, về cơ bản nội dung của tổ chức HTX thủy sản được hiểu như sau:
Về hình thức sở hữu tài sản:
- Đối với hợp tác xã nuôi trồng thủy sản:
Tài sản và vốn thuộc sở hữu của hộ gia đình xã viên dùng cho sản xuất kinh doanh nuôi trồng thủy sản; đất hoặc đất có mặt nước được giao thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình; tài sản và vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh của hộ gia đình xã viên, phục vụ nhu cầu và lợi ích của xã viên thuộc sở hữu tập thể HTX Vốn cổ phần thuộc sở hữu xã viên
- Đối với hợp tác xã khai thác hải sản:
+ Tài sản và vốn của các đơn vị thuyền nghề, của các bộ phận sản xuất kinh doanh khác, công trình văn hóa – xã hội và phúc lợi công cộng thuộc sở hữu tập thể HTX, vốn cổ phần thuộc sở hữu xã viên
Trang 25+ Tài sản và vốn do xã viên, tư nhân góp vào HTX để sản xuất kinh doanh thuộc sở hữu của xã viên, tư nhân
- Đối với hợp tác xã kinh doanh dịch vụ phục vụ khai thác, nuôi trồng thủy sản: Tài
sản và vốn, công trình văn hóa – xã hội và phúc lợi công cộng, thuộc sở hữu tập thể HTX; vốn cổ phần thuộc sở hữu xã viên
Quy mô và hình thức tổ chức hợp tác xã
- Hợp tác xã nuôi trồng thủy sản và hợp tác xã kinh doanh dịch vụ thủy sản: Tùy
theo khu vực nuôi trồng hoặc ngành nghề sản xuất kinh doanh dịch vụ, HTX tổ chức sản xuất kinh doanh những khâu, việc mà tập thể làm có hiệu quả hơn, trên nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi Quy mô HTX tùy thuộc trình độ quản lý của cán bộ và nguyện vọng xã viên, nhưng ít chất phải có 10 xã viên trở lên
- Hợp tác xã khai thác hải sản: Tùy theo loại nghề khai thác cá biển, một đơn vị có
thể sử dụng một hoặc hai, ba chiếc tàu thuyền
+ Một đơn vị thuyền nghề là một HTX: Phải có ít nhất từ 10 xã viên trở lên, có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
+ Nhiều đơn vị thuyền nghề hợp thành một HTX: Số lượng đơn vị thuyền nghề tùy thuộc trình độ quản lý và nguyện vọng của xã viên Nhưng mỗi đơn vị thuyền nghề là một đơn vị kinh doanh tự chủ về sản xuất, kinh doanh
- Liên hiệp hợp tác xã: Ở những địa bàn có ít nhất 3 hợp tác xã thành viên tham gia
góp vốn có quan hệ với nhau về công nghệ, ngành nghề sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nếu tự nguyện có thể tổ chức thành Liên hiệp hợp tác xã Các HTX thành viên là những đơn vị sản xuất, kinh doanh, có tư cách pháp nhân
Về xã viên và cổ phần
Xã viên là cá nhân muốn xin vào HTX đều phải theo quy định của Điều lệ hợp tác
xã Hộ gia đình muốn xin vào HTX thì cử người làm đại diện (chủ hộ) làm đơn xin vào HTX
- Góp cổ phần là nhiệm vụ của xã viên Mức cổ phần tối thiểu của xã viên căn cứ vào yêu cầu vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh và khả năng đóng góp của xã viên Xã viên có thể góp nhiều cổ phần nhưng ở mỗi thời điểm vốn góp của mỗi xã viên không vượt quá 30% tổng số vốn điều lệ của HTX
1.2.4.4 Kinh tế nhà nước trong ngành thủy sản
Kinh tế nhà nước là một bộ phận cấu thành trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
Trang 26phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Kinh tế nhà nước là khái niệm rộng,
có thể hiểu đó là tổng thể các nguồn lực đang và sẵn sàng phát huy tác dụng trong guồng máy vận động của nền kinh tế quốc dân do Nhà nước nắm giữ và chi phối vì những mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước
Trong ngành thủy sản Việt Nam hiện nay, kinh tế nhà nước bao gồm những bộ phận chủ yếu sau:
- Các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, bao gồm các trung tâm nghiên cứu thủy sản của vùng, trại giống bố mẹ (trại giống cấp I), giống đầu dòng các loại thủy sản Các doanh nghiệp này có vốn 100% của Nhà nước
- Sở hữu nhà nước trong các công ty cổ phần hoạt động trong các lĩnh vực nuôi trồng, khai thác hoặc chế biến
- Toàn bộ hệ thống kết cấu hạ tầng dịch vụ hậu cần của ngành thủy sản do Nhà nước đầu tư: các cảng cá, cảng neo dậu tàu thuyền, các chợ có tập trung v.v…
- Phần hỗ trợ của ngân sách nhà nước để xây dựng “Quỹ tái tạo nguồn lợi thủy sản” Quỹ được sử dụng để phục vụ cho các hoạt động khôi phục, tái tạo, phát triển nguồn lợi thủy sản
- Các khu bảo tồn biển, bảo tồn thủy sản nội địa, các vùng cấm và hạn chế khai thác thủy sản
- Đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản do vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước
1.3 Khái quát về kinh tế nuôi trồng thủy sản
1.3.1 Quan n iệm về nuôi trồng thuỷ sản
Nuôi trồng thuỷ sản là một bộ phận sản xuất có tính nông nhiệp nhằm duy trì, bổ sung, tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản
Nuôi trồng thuỷ sản là một bộ phận của ngành thuỷ sản Nuôi trồng thuỷ sản ra đời bắt nguồn từ nhu cầu của cuộc sống khi mà sản lượng khai thác thuỷ sản ngày càng có nguy
cơ cạn kiệt
1.3 2 Một số đặc điểm của nuôi trồng thủy sản
Nuôi trồng thủy sản là một bộ phận của ngành thủy sản, vì vậy về cơ bản, nuôi trồng thủy sản cũng mang những đặc điểm tương tự của ngành thủy sản Tuy nhiên, nuôi trồng thủy sản vẫn có những nét đặc trưng sau:
- Nuôi trồng thủy sản phát triển rộng khắp đất nước và tương đối phức tạp so với các ngành sản xuất vật chất khác Ở đâu có nước là ở đó có nuôi trồng thủy sản Vì vậy nuôi
Trang 27trồng thủy sản phát triển rộng khắp tại mọi vùng địa lý từ miền núi xuống miền biển Thủy sản nuôi rất đa dạng, nhiều giống loài mang tính địa lý rõ rệt, có quy luật riêng của từng khu
hệ sinh thái điển hình Do vậy công tác quản lý và chỉ đạo sản xuất của ngành phải phù hợp với từng khu vực lãnh thổ hay từng vùng khác nhau
- Số lượng và chất lượng thủy vực và nguồn lợi thủy sản rất khác nhau Mỗi mặt nước nuôi trồng thủy sản có độ màu mỡ khác nhau phụ thuộc vào thổ nhưỡng vùng đất và nguồn nước, nguồn cung cấp Vật nuôi trong ao hồ rất khó quan sát trực tiếp nên rủi ro trong nuôi trồng tương đối lớn, đòi hỏi người nuôi cần có kinh nghiệm và kiến thức kỹ thuật cần thiết
- Hoạt động nuôi trồng thủy sản có tính mùa vụ rõ nét Trong nuôi trồng thủy sản, thời gian lao động không trùng với thời gian sản xuất Thường thì thời gian sản xuất dài hơn thời gian lao động Đặc điểm này là do đối tượng của hoạt động nuôi trồng thủy sản là các sinh vật thủy sinh, chúng có quy luật sinh trưởng và phát triển riêng Lao động của con người chỉ có thể tác động vào những giai đoạn nhất định Vì vậy mà trong sản xuất, có thời gian cần nhiều lao động, nhưng có thời gian cần rất ít lao động
1.3 3 Các phương thức và hình thức nuôi trồng thủy sản điển hình
1.3 3.1 Các phương thức nuôi lấy thịt điển hình
- Nuôi quảng canh: hay còn gọi là nuôi truyền thống là hình thức nuôi bằng nguồn
thức ăn tự nhiên trong các ao, hồ, đầm ở nông thôn và các vùng ven biển
- Nuôi quảng canh cải tiến: là hình thức nuôi chủ yếu bằng nguồn giống và thức ăn
tự nhiên, nhưng bổ sung thêm giống nhân tạo ở mức độ nhất định, đồng thời có đầu tư cải tạo thủy vực nhằm tăng sản lượng
- Nuôi bán thâm canh: là hình thức nuôi chủ yếu bằng giống nhân tạo và thức ăn nhân tạo, nhưng kết hợp nguồn thức ăn tự nhiên trong thủy vực Ngoài ra hệ thống ao hồ nuôi còn được đầu tư cơ sở hạ tầng như điện, thiết bị cơ khí, thủy lợi… nhất là chủ động về nguồn nước cung cấp Có khả năng xử lý và khống chế môi trường bằng hệ thống máy bơm sục khí
- Nuôi thâm canh: là hình thức nuôi hoàn toàn bằng con giống và thức ăn nhân tạo, được đầu tư cơ sở hạ tầng đầy đủ (quy hoạch hệ thống ao hồ, thủy lợi, giao thông, điện nước, cơ khí), có thể chủ động khống chế các yếu tố môi trường Mật độ giống thả dầy, năng suất cao
- Nuôi công nghiệp: là hình thức nuôi hoàn toàn bằng con giống và thức ăn nhân tạo
Trang 28với một độ rất cao Sử dụng các máy móc và thiết bị nhằm tạo cho vật nuôi một môi trường sinh thái và các điều kiện sống tối ưu, sinh trưởng tốt nhất, không phụ thuộc vào thời tiết và mùa vụ, trong thời gian ngắn nhất đạt các mục tiêu sản xuất và lợi nhuận
1.3.3 2 Một số hình thức nuôi tiêu biểu
Nuôi cá nước ngọt ở các loại hình mặt nước
- Nuôi cá nước tĩnh:
Để đạt năng suất cao người ta thường nuôi ghép nhiều loại có tập tính ăn khác nhau Khi nuôi trồng thủy sản phát triển người ta đưa ra một vài công thức nuôi ghép với quy trình
kỹ thuật lấy một loài làm chủ rồi ghép với các loài khác
- Nuôi cá nước chảy:
Nuôi cá bè trên sông rất phát triển ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, đối tượng nuôi chính là cá tra, cá ba sa Nhà ở làm ngay trên lồng bè nuôi cá, có bố trí chỗ ăn ở hợp lý
và phòng chống ô nhiễm nước vùng nuôi cá
Ngoài ra ở các vùng núi, người dân thường tận dụng các khe suối, kênh rạch có nước chảy làm ao nuôi, hoặc đào ao nuôi rồi dẫn dòng chảy qua đường ống vào ao Cách làm rất
đa dạng sáng tạo
- Nuôi cá ruộng trũng:
Hiện nay các loại hình nuôi cá ruộng phổ biến là xen canh và luân canh Thông thường có thể nuôi xen canh lúa – cá, lúa – tôm hoặc nuôi luân canh một vụ lúa, một vụ tôm
Nuôi cá nước lợ và cá biển
Nuôi cá nước lợ và cá biển có hiệu quả khá cao, tỷ suất lợi nhuận đạt 60 – 90% Hình thức nuôi phổ biến trong đầm, eo, vịnh và lồng bè
Nuôi tôm và các thủy sản khác
Hiện nay ở Việt Nam có một số hình thức nuôi tôm tiêu biểu sau:
- Nuôi tôm nước ngọt có tôm càng xanh, đã chủ động được giống bằng cho đẻ nhân tạo thành công
- Nuôi tôm nước lợ có tôm sú và một số loài khác như tôm rảo, tôm thẻ
- Nuôi tôm nước mặn chủ yếu là tôm hùm với hình thức nuôi lồng lưới cho tỷ suất lợi nhuận cao, song lại có khó khăn do chưa chủ động được về giống
- Nuôi các thủy sản khác như: nuôi cua biển, hoặc các loài nhuyễn thể như nghêu, sò, trai ngọc,…
Trang 291.3.4 Tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam
Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển nuôi trồng thủy sản Bờ biển dài hơn 3.260
km với 112 cửa sông, lạch và các đầm phá, eo vịnh có khả năng nuôi trồng thủy sản nước
lợ, mặn phong phú Ngoài ra còn hàng nghìn đảo lớn nhỏ nằm rải rác dọc theo đường biển
là những khu vực có thể phát triển nuôi thủy sản quanh năm
Trong nội địa, hệ thống sông ngòi chằng chịt, ngoài ra còn có các đầm hồ thủy lợi, thủy điện đã tạo ra tiềm năng to lớn về diện tích mặt nước Theo thống kê của Bộ thủy sản tổng diện tích có khả năng nuôi trồng thủy sản khoảng 1,7 triệu ha bao gồm: 120.000 ha hồ
ao nhỏ, mương vườn; 244.000 hồ chứa mặt nước lớn; 446.000 ha ruộng úng trũng, nhiễm mặn, cấy lúa một vụ hoặc hai vụ bấp bênh; 635.000 ha vùng triều Ngoài ra còn phải kể đến khoảng trên 100.000 ha eo, vịnh, đầm phá ven biển đang được quy hoạch nuôi trồng thủy sản
Đối tượng nuôi thủy sản nước ngọt ở nước ta rất phong phú Khu hệ cá sông Hồng có
210 loài và khu hệ cá đồng bằng Sông Cửu Long có 300 loài Trong đó có khoảng 30 loài có giá trị kinh tế cao, bao gồm cá mè trắng, mè hoa, cá chép, cá trắm cỏ, trắm đen, cá trôi, cá rô phi, cá trê phi, cá quả, cá tra, cá ba sa, tai tượng v.v.… Phát triển nuôi cá nước lợ, nước mặn như: cá đối, cá vược, cá cam, cá giò, cá hồng v.v…
Đối với tôm nuôi cũng phong phú cả ở trong nước ngọt, nước lợ và nuôi trên biển như: tôm càng xanh, tôm sú, tôm thẻ, tôm hùm, Một số đối tượng nuôi khác như: trai ngọc, bào ngư, vẹm xanh, sò huyết, cua biển…
Nuôi trồng thủy sản ở nước ta có thể tiến hành được từ Bắc vào Nam nhờ khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và một số vùng pha chút khí hậu ôn đới Chế độ thủy văn ở hầu hết các sông vùng đồng bằng, đặc biệt là vùng hạ lưu cửa sông đều thích hợp cho nhiều loài thủy sản sinh sống và phát triển
Người lao động ở nông thôn và các vùng ven biển đều biết nuôi trồng thủy sản như một nghề truyền thống Lao động ngư dân với kinh nghiệm và kiến thức nuôi trồng thủy sản của mình đang là yếu tố thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản
1.4 Khái quát k inh tế khai thác thủy sản
1.4 1 Quan niệm về ngành khai thác thủy sản
Khai thác thủy sản là một chuyên ngành hẹp, là tiểu ngành sản xuất các nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thủy sản và cung cấp thủy sản tươi sống cho thị trường tiêu thụ
Có vai trò rất quan trọng trong thương mại quốc tế và nền kinh tế của mỗi quốc gia
Trang 30Công nghiệp khai thác hải sản hoạt động trên các đại dương và biển, thuộc nhóm ngành khai thác tài nguyên Hoạt động khai thác phụ thuộc nhiều vào những thay đổi của tự nhiên, của môi trường sinh thái biển, phải thường xuyên đối mặt với nhiều rủi ro hơn các ngành kinh tế khác Hơn nữa sản phẩm sau khi khai thác thuộc loại mau ươn chóng thối, sản lượng hao hụt nhanh dễ dàng dẫn đến thất thu, thua lỗ trong kinh doanh Yêu cầu về các dịch vụ hậu cần, đặc biệt khâu sơ chế bảo quản lạnh và vận chuyển là rất chặt chẽ và không thể thiếu
1.4 2 Một số đặc điểm của hoạt động khai thác hải sản ở Việt Nam
- Nguồn lợi hải sản Việt Nam đa dạng, cá biển đa loài, kích cỡ cá thể và quần đoàn rất khác nhau, cho nên đặc tính nguồn lợi này gây khó khăn cho khai thác khi phải lựa chọn các thông số kỹ thuật cho ngư cụ Các thông số kỹ thuật phải sao cho vừa có tính kinh tế, đánh bắt được nhiều lại vừa có tính chọn lọc cao để bảo vệ nguồn lợi
Ở Việt Nam, một năm thường có hai mùa khai thác: vụ Nam và vụ Bắc, phụ thuộc vào gió mùa Tây Nam và Đông Bắc Vì vậy nghề đánh cá biển Việt Nam là một nghề khai thác đa loài (khác hẳn với nhiều nước Tây Âu và Bắc Mỹ), đội tàu khai thác cũng đa dạng
về kích cỡ và trong nhiều trường hợp phải bố trí kiêm ghép nhiều nghề trên một đơn vị tàu thuyền
Đặc tính số lượng loài phong phú nhưng số lượng cá thể mỗi loài lại không nhiều cũng gây khó khăn cho tổ chức chế biến, bởi vì mỗi mẻ lưới, mỗi chuyến biển phải mất nhiều công phân loại cá, tôm Chất lượng và số lượng nhiều khi không đáp ứng yêu cầu của chế biến công nghiệp
- Mặc dù vùng nước ven bờ có độ sâu dưới 30m chỉ chiếm một diện tích gần 17% tổng diện tích thềm lục địa nước ta nhưng đã phải chịu áp lực khai thác rất cao dẫn đến nguồn lợi vùng nước ven bờ cạn kiệt
- Nguồn lợi hải sản nước ta nhìn chung không giàu, càng xa bờ, mật độ hải sản càng giảm Thực tế khai thác xa bờ cho thấy lượng cá tiêu chuẩn xuất khẩu thấp Vùng khai thác
xa bờ có nguồn lợi phân tán, quần tụ đàn nhỏ nên khó khăn cho khai thác đạt hiệu quả cao Thêm vào đó, các điều kiện khí hậu thủy văn của vùng biển lại rất khắc nghiệt, nhiều giông bão, làm cho nghề khai thác thêm nhiều rủi ro và tăng thêm chi phí sản xuất
- Đời sống ngư dân ven biển còn thấp, trình độ học vấn không cao Áp lực kinh tế đã tạo ra tình trạng khai thác hủy diệt nguồn lợi bằng nhiều hình thức, đặc biệt nguy hiểm là sử dụng chất nổ, xung điện và hóa chất xianua
Trang 311.4 3 Tiềm năng nguồn lợi thủy sản tự nhiên ở Việt Nam
Theo những đánh giá mới nhất, trong toàn vùng biển Việt Nam, trữ lượng và khả năng khai thác đối với từng loài thủy sản như sau:
- Trữ lượng cá biển là 4,2 triệu tấn với khoảng trên 2000 loài cá, trong đó sản lượng cho phép khai thác là 1,7 triệu tấn/năm, bao gồm 850 nghìn cá đáy, 700 nghìn tấn cá nổi nhỏ, 120 nghìn tấn cá nổi đại dương,…
- Có trên 1.600 loài giáp xác, sản lượng cho phép khai thác 50 – 60 nghìn tấn/năm, trong đó có giá trị cao là tôm biển, tôm hùm và tôm mũ ni, cua, ghẹ,…
- Có khoảng 2.500 loài động vật thân mềm, trong đó có ý nghĩa kinh tế cao nhất là mực và bạch tuộc (cho phép khai thác 60 – 70 nghìn tấn/năm)
- Hàng năm có thể khai thác từ 45 – 50 nghìn tấn rong biển có giá trị kinh tế như rong câu, rong mơ,…
- Ngoài ra, Việt Nam còn rất nhiều loài thủy sản quý như bào ngư, đồi mồi, chim biển và có thể khai thác vây cá, bóng cá, ngọc trai,…
Bên cạnh nguồn lợi thủy sản biển, Việt Nam cũng có nguồn lợi thủy sản tự nhiên nội địa khá phong phú Cá nước ngọt có 544 loài trong 18 bộ, 57 họ, 228 giống với thành phần giống loài phong phú và sự đa dạng sinh học cao Cá nước lợ, mặn có 186 loài chủ yếu Một
số loài có giá trị kinh tế như: cá song, cá hồng, cá tráp, cá vược, cá măng, cá đối, cá bống,… Tôm có 16 loài chủ yếu có giá trị kinh tế như tôm sú, tôm lớt, tôm rảo, tôm càng xanh,… Nhuyễn thể có một số loài chủ yếu: trai, điệp, nghêu, sò,…
1.4.4 Hình thức tổ chức khai thác
1.4.4 1 Ngư dân khai thác thủy sản nước ngọt
Toàn quốc có diện tích mặt nước ngọt lớn trong các hồ và sông ngòi Các thủy vực nước ngọt cung cấp sinh kế cho một phần dân cư nông thôn sống bằng nghề khai thác thủy sản nước ngọt Hiện nay số lượng người sống dựa vào khai thác thủy sản nước ngọt và sản lượng đánh bắt đang giảm đi do hoạt động thực tiễn khai thác quá nhiều và ô nhiễm môi trường nước Hiện nay, ở hầu hết các vùng nước ngọt đều không cho phép khai thác tự do nữa, quyền sử dụng mặt nước dần dần được giao cho các cá nhân hoặc tổ chức khác nhau
Do đó biện pháp khai thác thủy sản nước ngọt cũng dần được chuyển thành nuôi trồng thủy sản nước ngọt
Nhìn chung, ngư dân khai thác thủy sản nước ngọt phần lớn ở quy mô gia đình Họ thường sử dụng lực lượng lao động trong gia đình để khai thác thủy sản
Trang 321.4.4 2 Ngư dân đi biển khai thác hải sản
Phần lớn hoạt động đánh bắt của ngư dân được tổ chức ở quy mô hộ gia đình, số ngư dân còn lại được tổ chức dưới dạng doanh nghiệp hay các hợp tác xã
Hoạt động đánh bắt thủy sản trên biển của ngư dân mang tính chất chuyên môn hóa nghề nghiệp rõ nét Các nghiên cứu cho thấy rằng 87,7% ngư dân chủ yếu sống bằng nghề đánh bắt thủy sản mang lại hơn 75% tổng thu nhập; 42,3% ngư dân không có công việc gì khác ngoài đánh bắt thủy sản Phần còn lại trong số ngư dân có thể tham gia vào các hoạt động kinh tế khác nhau như buôn bán nhỏ, nuôi trồng thủy sản, dịch vụ sửa chữa tàu thuyền v.v…
Trong thời gian qua, đội tàu khai thác xa bờ đang tăng lên Tuy nhiên do hạn chế trong hoạt động tổ chức các dịch vụ hậu cần đánh bắt nên thời gian trực tiếp đánh bắt trên biển của các tàu đánh bắt còn ít, tốn nhiều thời gian đi về gây lãng phí và hiệu quả đánh bắt chưa cao
1.5 Khái quát về kinh tế chế biến thủy sản
1.5 1 Vị trí của ngành chế biến thủy sản
Chế biến thủy sản là một ngành công nghiệp chế biến quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Công nghiệp chế biến thủy sản thuộc lĩnh vực chế biến thực phẩm, nhưng phát triển bằng công nghệ riêng, đặc thù cho những sản phẩm mau hỏng như: tôm, cá, mực v.v… Chế biến thủy sản tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng, đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, đặc biệt trong xuất khẩu
Phát triển công nghiệp chế biến thủy sản đi trước một bước như ở các nước công nghiệp sẽ sử dụng được tối ưu nguồn nguyên liệu thủy sản, giảm thất thoát lớn sau khi thu hoạch đối với loại nguyên liệu mau hỏng này, đồng thời vừa tiết kiệm nguyên liệu, không phải bán đi sản phẩm thô, vừa có điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường
1.5 2 Đặc điểm của công nghiệp chế biến thủy sản
- Sản phẩm thủy sản sau chế biến có giá trị gia tăng nhờ vào chất lượng cao và phù hợp với thị hiếu đa dạng của người tiêu dùng trong nước cũng như nước ngoài Sản phẩm thủy sản thuộc loại hàng dễ ôi thiu, hư hỏng Vì vậy, để sản phẩm thủy sản đạt chất lượng cao phụ thuộc phần lớn vào giai đoạn bảo quản ban đầu sau thu hoạch Công nghệ lạnh luôn gắn liền với chế biến thủy sản
- Sản phẩm chế biến từ thủy sản rất đa dạng do sự đa dạng về nguyên liệu, đồng thời
Trang 33bảo quản, chế biến và các mặt hàng chế biến cũng rất đa dạng
- Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thủy sản trên thế giới và trong từng quốc gia ngày càng tăng Đối với số lượng, chất lượng sản phẩm cũng đòi hỏi ngày càng cao do đó vệ sinh an toàn thực phẩm thủy sản phải được bảo đảm nghiêm ngặt
- Nguồn nguyên liệu ổn định là điều kiện quan trọng để phát triển công nghiệp chế biến thủy sản vững mạnh
- Công nghiệp chế biến thủy sản liên quan trực tiếp đến ô nhiễm môi trường, đặc biệt
là ô nhiễm môi trường nước và mùi độc hại Vì vậy, các doanh nghiệp chế biến thủy sản cần
có quy trình xử lý chất gây ô nhiễm môi trường, coi đó là yêu cầu bắt buộc trong sản xuất của doanh nghiệp
1.5 3 Một số công nghệ chế biến thủy sản chủ yếu ở nước ta
1.5 3.1 Công nghệ chế biến sản phẩm thủy sản sơ chế
Công nghệ sản xuất sản phẩm thủy sản đông lạnh sơ chế
Các mặt hàng thủy sản đông lạnh sơ chế được chế biến từ hầu hết các loại sản phẩm thủy sản Sản xuất các mặt hàng thủy sản đông lạnh sơ chế thường trãi qua các công đoạn sản xuất chủ yếu sau:
1 Tiếp nhận nguyên liệu
2 Rửa, phân loại, phân cỡ sơ bộ
3 Xử lý nguyên liệu: bỏ đầu, da, nội tạng, cắt khúc, phi lê, rửa
4 Phân cỡ, xếp khuôn
5 Cấp đông
6 Ra khuôn, bao gói
7 Bảo quản, đông lạnh
Công nghệ sản xuất sản phẩm thủy sản khô sơ chế
Hình thức sản xuất sản phẩm khô sơ chế chủ yếu do các hộ gia đình ngư dân thực hiện với quy mô nhỏ lẻ hoặc sản xuất khối lượng ít trong nhà máy, được thực hiện theo các công đoạn sản xuất chủ yếu sau:
1 Tiếp nhận nguyên liệu
2 Phân loại, mổ nội tạng, phi lê hoặc xẻ cá, mực, tôm
3 Phơi hoặc sấy khô
4 Chỉnh hình, bao gói
5 Bảo quản
1.5 3.2 Công nghệ chế biến sản phẩm thủy sản có giá trị gia tăng
Trang 34 Công nghệ sản xuất sản phẩm thủy sản đông lạnh có giá trị gia tăng
Các sản phẩm có giá trị gia tăng được chế biến từ nguồn nguyên liệu có chất lượng tốt, còn tươi Do vậy, những nguyên liệu này phải được xử lý và bảo quản đúng cách, kịp thời, đúng yêu cầu kỹ thuật ngay sau khi đánh bắt Các công đoạn sản xuất chủ yếu gồm:
1 Tiếp nhận nguyên liệu
2 Rửa, phân loại, phân cỡ sơ bộ
3 Xử lý sơ bộ: bỏ đầu, da, nội tạng, phi lê, cắt khúc, rửa…
4 Xử lý nhiệt, tinh chế hoặc phối chế
5 Cấp đông IQF
6 Bao gói
7 Bảo quản đông lạnh
Công nghệ sản xuất sản phẩm thủy sản khô có giá trị gia tăng
Đây là công nghệ sản xuất các sản phẩm khô, chín được đóng gói nhỏ Nguyên liệu được dùng là cá hoặc mực khô sơ chế đã được phơi khô hoặc phơi tái, tẩm ướp gia vị và đem nướng, cán xé Đây là sản phẩm ăn liền nên các công đoạn sản xuất được thực hiện trong điều kiện vệ sinh nghiêm ngặt Các công đoạn sản xuất chủ yếu gồm:
1 Phân loại nguyên liệu khô hoặc phơi tái
2 Xử lý ngâm hoặc tẩm ướp gia vị
3 Nướng và cán xé
4 Bao gói sản phẩm theo quy cách
5 Bảo quản sản phẩm
Công nghệ sản xuất các sản phẩm thủy sản đóng hộp
Đây là công nghệ sản xuất các thủy sản hộp, được chế biến ở áp suất cao, sản phẩm chứa trong hộp kín Các công đoạn sản xuất chủ yếu:
1 Tiếp nhận nguyên liệu, làm sạch, phân loại
Trang 351.6 Khái quát về hoạt động xuất khẩu thủy sản
1.6 1 Vai trò của ngành xuất khẩu thủy sản đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam
1.6 1.1 Đối với phát triển kinh tế ngành
Tạo tích lũy ban đầu quan trọng cho hiện đại hóa ngành thủy sản
Xuất khẩu thủy sản Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tham gia hợp tác, đầu tư phát triển nuôi trồng thủy sản, hiện đại hóa công nghiệp chế biến xuất khẩu để tăng sản lượng, chất lượng trong sản phẩm Xuất khẩu làm tăng nguồn thu ngoại tệ, tạo điều kiện tích lũy ban đầu quan trọng cho hiện đại hóa ngành thủy sản
Xuất khẩu có vai trò tích cực trong đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất của ngành
Xuất khẩu thủy sản là hoạt động kinh doanh trên phạm vi thị trường thế giới, một thị trường mà sự cạnh tranh ngày càng diễn ra quyết liệt Hàng hóa muốn tồn tại và phát triển phải phụ thuộc rất lớn vào chất lượng, giá cả, do đó phụ thuộc rất lớn vào công nghệ sản xuất chúng Từ đó đặt ra yêu cầu cần phải luôn đổi mới, cải tiến thiết bị, máy móc và tiếp nhận những công nghệ sản xuất tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng
Xuất khẩu thủy sản có vai trò quan trọng trong phát triển toàn diện ngành
Xuất khẩu thủy sản góp phần mở rộng thị trường, khai thác có hiệu quả các nguồn lợi của biển, của diện tích mặt nước trong nội địa, phát triển nuôi trồng thủy sản, đồng thời nâng cao trình độ đào tạo cán bộ quản lý trong ngành thủy sản Xuất khẩu thủy sản cũng
góp phần không nhỏ trong việc tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người lao động hoạt động trong ngành thủy sản, góp phần ổn định chính trị, xã hội
1.6 1.2 Đối với phát triển nền kinh tế quốc dân
Xuất khẩu thủy sản tạo nguồn vốn cho nhập khẩu và tích lũy phát triển sản xuất, phục vụ công nghiệp hóa đất nước
Công nghiệp hóa đất nước là con đường tất yếu đề khắc phục tình trạng nghèo nàn và chậm phát triển của đất nước Để thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trước mắt chúng ta cần nhập khẩu một số lượng lớn máy móc, thiết bị hiện đại từ bên ngoài nhằm trang bị cho nền sản xuất Nguồn vốn để nhập khẩu thường dựa vào các nguồn
Trang 36chủ yếu: đi vay, viện trợ, đầu tư nước ngoài và xuất khẩu Nguồn vốn vay rồi cũng phải trả, còn viện trợ và đầu tư nước ngoài có hạn, hơn nữa các nguồn này thường lệ thuộc vào nước ngoài Vì vậy, xuất khẩu sẽ tạo nên nguồn vốn quan trọng cho nhập khẩu Nước nào gia tăng được xuất khẩu thì nhập khẩu theo đó cũng tăng theo
Xuất khẩu thủy sản đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế đất nước
Trong số các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta, thủy sản luôn duy trì vị trí thứ
3 về kim ngạch từ nhiều năm nay sau xuất khẩu dầu thô và xuất khẩu may mặc và là một trong những động lực lớn thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu của cả nước Do tính đa dạng của nhu cầu thị trường bên ngoài tác động, làm cho sản xuất biến đổi về mặt cơ cấu sản phẩm để phù hợp với tính đa dạng của thị trường hơn Đồng thời, sự phát triển của xuất khẩu thủy sản đã làm cho các vùng sản phẩm chuyên môn hóa ngày càng phát triển và liên kết với nhau để khai thác tốt lợi thế của từng vùng, sản xuất ra nhiều hàng hóa đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường Bên cạnh đó, các ngành công nghiệp liên quan (công nghiệp chế tạo máy, sản xuất thức ăn, chế biến,…) cũng phát triển theo, tạo nên sự chuyển dịch trong cơ cấu nền kinh tế
Xuất khẩu thủy sản tác động tích cực đến giải quyết công ăn, việc làm
và cải thiện đời sống nhân dân
Các mặt hàng xuất khẩu thủy sản là những mặt hàng có chất lượng cao, được sản xuất qua nhiều công đoạn khác nhau, mỗi công đoạn đều cần nhiều lao động tham gia sản xuất Do đó, hoạt động xuất khẩu thủy sản thu hút hàng triệu lao động vào làm việc,tăng thu nhập và cải thiện đời sống
1.6.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu thủy sản Việt Nam
1.6 2.1 Các nhân tố trong nước
Khả năng cung cấp nguyên liệu thủy sản
Khả năng đáp ứng đủ về số lượng, chất lượng nguyên liệu thủy sản cho hoạt động chế biến, xuất khẩu thủy sản là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến khả năng phát triển của hoạt động xuất khẩu thủy sản Nhìn chung, khả năng đáp ứng nguồn nguyên liệu thủy sản phụ thuộc nhiều vào năng lực khai thác thủy, hải sản và khả năng nuôi trồng thủy sản của ngư dân
Môi trường kinh tế và khoa học công nghệ
Trang 37Đây là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chiến lược và thời cơ kinh doanh của các doanh nghiệp
Hiện nay nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường chịu sự quản lý vĩ mô của nhà nước Đảng và nhà nước ta chủ trương đa dạng hóa các thành phần kinh tế và mở cửa ra bên ngoài, tự do buôn bán, kinh doanh xuất nhập khẩu trong khuôn khổ luật pháp cho phép Mọi vấn đề của doanh nghiệp đều do các doanh nghiệp chủ động giải quyết, điều này tạo cho các doanh nghiệp quyền chủ động sáng tạo nhiều hơn và làm ăn đạt hiệu quả hơn
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã tác động tích cực đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Yếu tố công nghệ có tác động làm tăng hiệu quả trong kinh doanh xuất khẩu ở các doanh nghiệp Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, chế biến thủy sản đã tạo ra những sản phẩm xuất khẩu có chất lượng cao, nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường thế giới
Ngoài ra, yếu tố tỷ giá hối đoái hiện hành cũng tác động mạnh mẽ tới hoạt động kinh doanh xuất, nhập khẩu của các doanh nghiệp Nó là một yếu tố tác động trực tiếp tới hiệu quả của thương mại quốc tế Ngoài ra, yếu tố lạm phát và khả năng kiểm soát lạm phát của chính phủ cũng là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh thủy sản và làm nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế - xã hội nói chung
Môi trường chính trị và luật pháp
Có tác động mở rộng hoặc kìm hãm sự phát triển, cũng như việc tận dụng các cơ hội kinh doanh của các doanh nghiệp trong lĩnh vực xuất khẩu thủy sản Môi trường chính trị ổn định và chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động tìm kiếm, xâm nhập thị trường các nước Việc sửa đổi, bổ sung để ngày càng hoàn thiện bộ Luật thương mại theo hướng hội nhập; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Luật thủy sản là hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản có thể hoạt động một cách năng động
1.6.2 2 Các nhân tố từ môi trường quốc tế
Nhu cầu tiêu thụ thủy sản của thị trường thế giới
Thủy sản ngày càng được người tiêu dùng ưa chuộng và coi như một loại sản phẩm
có chất lượng cao ít bị ô nhiễm, ít gây bệnh tật Vì vậy, xu hướng thời gian tới thị trường buôn bán thủy sản thế giới sẽ sôi động hơn, với mức tiêu dùng cao hơn và sẽ có nhiều quốc gia tham gia vào mậu dịch quốc tế về hàng thủy sản hơn Đây là điều kiện thuận lợi cho các nước xuất khẩu thủy sản nói chung và cho Việt Nam nói riêng
Trang 38Tiêu thụ thủy sản thế giới vẫn có xu hướng gia tăng nhanh nhờ triển vọng tăng trưởng kinh tế và thu nhập cao ở các nước đang phát triển Thị trường nhập khẩu thủy sản châu Á đang phát triển nhanh, đặc biệt là Trung Quốc, Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan và một số quốc gia trong khu vực Các thị trường Nhật Bản, Hồng Kông, Trung Quốc và Hàn Quốc chiếm 87% giá trị nhập khẩu hàng thủy sản của châu Á Ở châu Âu, các thị trường nhập khẩu lớn nhất đều là thành vên của EU Có 8 thị trường có giá trị nhập khẩu thủy sản hàng năm vượt 1 tỷ USD và chiếm gần 80% giá trị nhập khẩu thủy sản của châu
Âu là Tây Ban Nha, Pháp, Italia, Đức, Anh, Đan Mạch, Hà Lan và Bỉ Bắc Mỹ là khu vực nhập khẩu thủy sản lớn thứ ba thế giới Trong đó, Mỹ là thị trường nhập khẩu lớn thứ hai thế giới
Về thị hiếu, tiêu thụ thủy sản thế giới sẽ chuyển sang hướng tiêu dùng nhiều thủy sản tươi sống, thực phẩm đông lạnh, đặc biệt là các loài có giá trị cao: giáp xác, nhuyễn thể, cá ngừ, cá hồi… Yêu cầu về an toàn thực phẩm cũng ngày càng cao và phổ biến rộng rãi trên khắp thế giới
Môi trường văn hóa – xã hội của các nước nhập khẩu thủy sản
Thị trường được xây dựng trước hết bởi nhu cầu khách hàng Khách hàng và hành vi ứng xử của họ trên thị trường phụ thuộc rất lớn vào môi trường văn hóa xã hội mà họ đang sống Đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất khẩu thủy sản, do khách hàng của họ là những người có quốc tịch khác nhau, có nền văn hóa đặc trưng khác nhau nên nhu cầu, thị hiếu, thói quen, tập quán tiêu dùng ở các nước cũng khác nhau Vì vậy, Việt Nam muốn xuất khẩu thủy sản vào thị trường nào đều cần phải nghiên cứu về thị hiếu, tập quán tiêu dùng,… của nước đó
1.6.3 T ình hình xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong những năm qua
1.6 3.1 Kim ngạch xuất khẩu và các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam đã tăng từ 1478,5 triệu USD năm 2000 lên 3763,4 triệu USD vào năm 2007, đạt tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm 19,3%, đây là tỷ lệ tăng trưởng khá cao
Quá trình phát triển kim ngạch xuất khẩu thủy sản diễn ra đồng thời với quá trình mở rộng các mặt hàng thủy sản xuất khẩu Nhìn chung, sản phẩm thủy sản xuất khẩu Việt Nam khá đa dạng, nhưng chủ yếu tập trung vào các nhóm sản phẩm sau:
Trang 39Bảng 1.1: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản theo mặt hàng chủ yếu giai đoạn 2000 – 2007
Đơn vị: triệu USD
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam năm 2008
Về cơ cấu kim ngạch xuất khẩu thủy sản theo sản phẩm trong những năm qua đã có
sự chuyển biến rõ rệt Nếu như năm 2000 kim ngạch xuất khẩu thủy sản hàng đông lạnh chiếm 59,6%, các mặt hàng thủy sản khác chiếm 40,4% thì đến năm 2007, kim ngạch xuất khẩu hàng đông lạnh tăng lên 75,1%, các mặt hàng thủy sản khác giãm còn 24,9%
Biểu đồ 1.1: Cơ cấu kim ngạch các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ yếu
Nhìn chung, tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu tôm đông lạnh tuy có giãm nhưng đây vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực, năm 2000 tỷ trọng tôm đông lạnh chiếm 42,7% đã giãm xuống còn 36,9% năm 2007 Cá đông lạnh là mặt hàng xuất khẩu quan trọng thứ hai sau tôm đông lạnh, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này ngày càng tăng nhanh Năm 2000, cá đông lạnh chỉ chiếm 11,6%, nhưng đến năm 2007 đã tăng lên 36,6% Về mực đông lạnh,
Trang 40hiện nay Việt Nam xuất khẩu khoảng 61 triệu USD, tuy chiếm tỷ tệ không cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản (chỉ chiếm 1,6% vào năm 2007), nhưng đây cũng là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng, có khả năng cạnh tranh với các nước châu Á Ngoài các sản phẩm xuất khẩu chủ lực trên, Việt Nam còn xuất khẩu một số mặt hàng thủy sản khác như: nhóm các sản phẩm đồ hộp thủy sản; nhóm sản phẩm thủy sản khô, muối và hun khói; nhóm sản phẩm thủy sản kỹ thuật là bột cá và dầu cá Tỷ trọng nhóm mặt hàng thủy sản khác đã giảm nhanh trong nhiều năm qua, từ 40,4% năm 2000 xuống còn 24,9% vào năm 2007
Chất lượng các mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam đã được nâng lên không ngừng và nhanh chóng được chấp nhận ngày càng cao tại các thị trường trên thế giới, trong
đó có thị trường EU, Mỹ là những thị trường khắc khe vào bậc nhất trên thế giới về vấn đế chất lượng thực phẩm
1.6 3.2 Một số thị trường xuất khẩu thủy sản chủ yếu
Hiện nay hàng thủy sản Việt Nam đã có mặt trên 70 nước trên thế giới Xét trên mối quan hệ chính trị, xã hội thì tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và quan hệ ngoại giao rộng
mở của Việt Nam sẽ tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi để mở rộng thị trường xuất khẩu thủy sản
của nước ta sang nhiều nước trên thế giới
Thị trường Nhật Bản
Nhật Bản được coi là thị trường lớn nhất trong các thị trường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, song thị trường này đang có xu hướng giảm Kim ngạch xuất khẩu thủy sản vào thị trường Nhật Bản năm 1997 chiếm 50,3% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản của
cả nước, rồi tiếp tục giảm qua các năm, đến năm 2005 chỉ chiếm khoảng 28,7% Thị trường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam có xu hướng giảm dần do cạnh tranh quyết liệt từ các nước xuất khẩu khác trong khu vực như: Thái Lan, Trung Quốc, Indonexia, Ấn Độ; đồng thời do kết quả của quá trình đa dạng hóa thị trường của ngành thủy sản nước ta, để giảm bớt sự quá phụ thuộc ở mức cao vào một thị trường
Thị trường Bắc Mỹ:
Thị trường Bắc Mỹ bao gồm Canada và Mỹ Đây là thị trường xuất khẩu lớn đang được các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam hướng tới, đặc biệt là thị trường Mỹ Trong những năm qua, thị trường Mỹ đã có những bước tăng trưởng vượt bậc, năm 2000 kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang thị trường Mỹ đạt 301 triệu USD, chiếm 20,3% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản, đến năm 2005 kim ngạch xuất khẩu