1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thơ tứ tuyệt thời lý

106 498 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 6,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy số lượng tác phẩm còn lưu giữ được không nhiều, nhưng thơ văn thời này cũng đầy đủ thể loại, trong đó thể thơ tứ tuyệt chiếm đa số.. Ngoài các công trình kể trên, còn có một số bài n

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

THƠ TỨ TUYỆT THỜI LÝ

LU ẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

THÀNH PH Ố HỒ CHÍ MINH – 2003

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công tành này là của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng đứợe ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Tác gi ả luận văn

Trang 4

MỤC LỤC

L ỜI CAM ĐOAN 3

MỤC LỤC 4

PH ẦN DẪN NHẬP 7

1 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 7

2.L ỊCH SỬ VẤN ĐỀ 8

3.M ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 10

4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10

4.1.Phương pháp thống kê 10

4.2.Phương pháp phân tích - so sánh 11

5.GI ỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ TÀI LIỆU 11

6.K ẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 11

CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VỀ THE THƠ TỨ TUYỆT 14

1.1.QUAN NI ỆM VỀ THỂ THƠ TỨ TUYỆT 14

1.1.1.Về thuật ngữ “tứ tuyệt” 14

1.1.2.Hình thức của một bài tứ tuyệt 16

1.1.3.Thanh bằng và thanh trắc 18

1.2.M ỐI QUAN HỆ GIỮA TUYỆT CÚ VÀ LUẬT THI 19

CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG NỘI DUNG CỦA THƠ TỨ TUYỆT THỜI LÝ 25 2.1.VÀI NÉT V Ề VĂN HÓA - XÃ HỘI THỜI LÝ 25

2.1.1.Tôn giáo 25

2.1.2.Văn hóa - Nghệ thuật 26

2.2.VÀI NÉT V Ề THIỀN TÔNG VIỆT NAM THỜI LÝ 27

Trang 5

2.3.N ỘI DUNG THƠ TỨ TUYỆT THỜI LÝ 29

2.3.1.Thơ tứ tuyệt thời Lý phản ánh giáo lí và yếu chỉ Thiền tông 29

2.3.1.1.Thơ tứ tuyệt thời Lý trực tiếp phản ánh yếu chỉ Thiền tông 30

2.3.1.2.Thơ tứ tuyệt thời Lý gián tiếp thuyết giảng giáo lí đạo Phật và yếu chỉ Thi ền tông 39

2.3.2.Thơ tứ tuyệt thời Lý phản ánh tinh thần “Tam giáo đồng nguyên” 40

2.3.3.Thơ tứ tuyệt thời Lý phản ánh sự khủng hoảng niềm tin đối vối nhà Phật 42

2.3.4.Thơ tứ tuyệt thời Lý phản ánh tinh thần yêu nước 43

CHƯƠNG 3: HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT THƠ TỨ TUYỆT THỜI LÝ 46

3.1.TH Ể THƠ 46

3.1.1.Thể thơ ngữ ngôn tứ tuyệt 46

3.1.2.Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt 47

3.2.CÁC V ẤN ĐỀ VỀ VẦN, NIÊM, LUẬT, ĐIỂN CỐ 48

3.2.1.Vần 48

3.2.1.1.Thơ vần trắc 48

3.2.1.2.Thơ vần bằng 49

3.2.2.Điển cố 49

2.2.3.Niêm luật 51

3.3.K ẾT CẤU 51

3.4.T Ừ NGỮ 52

3.5.HÌNH TH ỨC TỔ CHỨC CÂU 54

3.6.CON NGƯỜI 54

Trang 6

3.6.1.Trước hết đó là con người có trí tuệ siêu việt, học vấn uyên thâm, hiểu đạo,

hiểu đời 55

3.6.2.Con người tự do với một tinh thần phá chấp triệt để 57

3.6.3.Con người hòa đồng 58

3.7.THIÊN NHIÊN 59

3.8.KHÔNG GIAN NGH Ệ THUẬT 61

3.9.TH ỜI GIAN NGHỆ THUẬT 61

CHƯƠNG 4: ĐỐI CHIẾU SO SÁNH GIỮA THỂ THƠ TỨ TUYỆT THỜI LÝ VỚI THỂ THƠ TỨ TUYỆT THỜI TRẦN 63

4.1.VÀI NÉT V Ề VĂN HÓA - XÃ HỘI THỜI TRẦN 63

4.3.NGH Ệ THUẬT THƠ TỨ TUYỆT THỜI TRẦN 74

4.4.ĐỐI CHIẾU, SO SÁNH VÀ KẾT LUẬN 84

PH ẦN KẾT LUẬN 88

B ẢNG PHỤ LỤC 91

TÀI LI ỆU THAM KHẢO CHÍNH 103

SÁCH TI ẾNG VIỆT 103

SÁCH TI ẾNG TRUNG QUỐC 106

Trang 7

PHẦN DẪN NHẬP

Tháng 11 năm 1009, Lê Ngọa Triều (Long Đĩnh) chết Được sự ủng hộ của các nhà

sư, Đào Cam Mộc cầm đầu một số triều thần đưa Tả thân vệ diện tiền chỉ huy sứ, Lý Công Uẩn lên làm vua

Lý Công Uẩn lên ngôi, quyết định lấy năm 1010 làm năm Thuận Thiên thứ nhất Nhà Lý ra đời mở ra một giai đoạn mới cho lịch sử nước nhà

Nhà Lý muốn "Mưu toan việc lớn, tính kế muôn đời cho con cháu" nên đã dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long "ở vào nơi trung tâm trời đất Là chốn tụ hội trọng yếu của bốn

phương đất nước" (Lý Thái Tổ - Thiên đô chiếu)

Thời Lý, nhà nước phong kiến tập quyền được củng cố, có đủ sức mạnh để chống

lại sự xâm lăng của các thế lực phong kiến phương Bắc Năm 1076, Nhà Lý đã chủ động

tấn công Ưng Châu, phá tan cứ điểm xâm lược của quân Tống Năm 1097, đập tan 30 vạn quân Tống xâm lược trên sông Như Nguyệt

Thời Lý, Phật giáo rất thịnh, có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống xã hội và tinh thần

của dân tộc ta Lực lượng sáng tác văn học thời bấy giờ chủ yếu là các vị Thiền sự, cho nên văn học thời Lý chịu ảnh hưởng sâu sắc khuynh hướng thẩm mĩ của Phật giáo

Văn học thời Lý phát triển rực rỡ, đặt nền móng cho nền văn học viết nước ta Tuy

số lượng tác phẩm còn lưu giữ được không nhiều, nhưng thơ văn thời này cũng đầy đủ

thể loại, trong đó thể thơ tứ tuyệt chiếm đa số Ta pó thể tham khảo số liệu thống kê sau : Tài liệu Vận văn Tứ tuyệt Tỉ lệ

Thơ văn Lý Trần(Tập 1) 78 56 72%

Thể thơ tứ tuyệt là thể thơ thịnh hành thời trung đại, các nhà thơ cổ điển rất ưa chuộng thể thơ này ở Việt Nam, nhiều bài thơ tứ tuyệt thời Lý-Trần như "Nam quốc sơn

Trang 8

hà" "Tụng giá hoàn kinh sư" "Thuật hoài" đã trở thành tiếng nói ngắn gọn, đanh chắc

thể hiện ý thức về chủ quyền đất nước, ỷ thức về trách nhiệm công dân trước vận mệnh

quốc gia Các bậc Thiền sư như Vạn Hạnh Thiền sư, Mãn Giác Thiền sư, Tuệ Trúng Thượng sĩ cũng hay sử dụng thể thơ tứ tuyệt để viết kệ làm thơ Tác phẩm của họ đã

trở thành nổi tiếng và được lưu truyền tới muôn đời sau

Tuy ngắn, gọn nhưng thơ tứ tuyệt cũng đủ khả năng chuyển tải những triết lí sâu sắc

về cuộc đời, phản ánh những biến cố trọng đại của lịch sử Khảo sát thơ tứ tuyệt thời Lý,

ta có thể thấy được tinh thần của thời đại nhà Lý về các mặt xã hội, văn hóa nghệ thuật

2.1 Có lẽ do số lượng thơ văn thời Lý lưu giữ được tới nay không nhiều nên hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về mảng thơ văn này, đặc biệt là đề tài về thơ tứ tuyệt thời Lý Thường thì các công trình nghiên cứu có khuynh hướng lấy thơ văn

của cả hai triều đại Lý -Trần làm đối tượng khảo sát, nghiên cứu Nguyễn Phạm Hùng có tác phẩm "Văn học Lý-Trần nhìn từ thể loại" Nguyễn Công Lý có tác phẩm "Bản sắc dân

tộc trong Văn học Thiền tông thời Lý - Trần" Cũng có tác giả chuyên sâu về phương

diện nghệ thuật như Đoàn Thị Thu Vân có công trình "Khảo sát đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam thế kỷ X - thế kỷ XIV" Ngoài các công trình kể trên, còn có một số bài nghiến cứu về từng mảng nhỏ của đề tài này được đăng tải trên Tạp chí Văn học như:

"Chất trữ tình trong thơ Thiền đời Lý" (Trần Ngọc Lan); "Một vài nhận xét về thơ Thiền

Lý -Trần" (Đoàn Thị Thu Vân); "Quan niệm về con người trong thơ Thiền Lý-Trần" (Đoàn Thị Thu Vân); "Mãn giác và bài thơ Thiền nổi tiếng của ông" (Nguyễn Huệ Chị)

2.2 Nhìn chung, với mức độ đậm nhạt khác nhau, các tác phẩm, các công trình trên

đã phần nào khắc họa được dung mạo về cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật của thơ văn thời Lý nói riêng, thơ văn Lý - Trần nói chung

Trong tác phẩm "Văn học Lý -Trần nhìn từ thể loại", khi khảo sát một số thể loại văn học tiêu biểu thời Lý - Trần, về phần vận văn, Nguyễn Phạm Hùng dựa hẳn vào tiêu

Trang 9

chí nội dung mà phân thành : Thơ Thiền thời Lý; Thơ trữ tình thời Trần Tác giả nhấn

mạnh "Khái niệm thơ Thiền xuít phát từ tiêu chí nội dung phản ánh của thơ Thiền" [9,

tr.40] Và " Thơ trữ tình vốn là hình thức nghệ thuật phát biểu trực tiếp thái độ, tình

cảm, tâm trạng cửa con người trước những vấn đề bức xúc của đời sống " [9, tr 73] Trong tác phẩm "Bản sắc dân tộc trong Văn học Thiền tông thời Lý -Trần" [16], Nguyễn Công Lý đã nêu lên vài biểu hiện của bản sắc dân-tộc cũng như tinh thần lạc quan, tích cực phong cách bình thản, tin tưởng đối với cuộc sống được thể hiện trong văn

học Thiền tông Lý - Trần Như vậy, khi nghiên cứu về thơ văn Lý - Trần, tuy có điểm qua vài nét về đặc trưng nghệ thuật nhưng tác giả Nguyễn Công Lý cũng nghiêng về bình

diện nội dung, lấy nội dung làm tiêu chí khảo sát

Đoàn Thị Thu Vân, trong công trình "Khảo sát đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền

Việt nam thế kỷ X - thế kỷ XIV" có một cái nhìn thấu đáo về đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam, trên cơ sở lí thuyết của thi pháp học và đặc trưng nghệ thuật của thơ

ca trung đại Việt Nam Tác giả đã chú trọng khảo sát ngôn ngữ, hình tượng, thể thơ, kết

cấu, cách miêu tả, thể hiện và giọng điệu của thơ Thiền

Về thể thơ, tác giả nhận xét:

Hầu hết các tác phẩm thuộc đối tượng khảo sát đều được viết theo thể thơ Đường

luật (thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, hoặc ngũ ngôn tứ tuyệt), một số ít viết theo thể

cổ phong hoặc tứ tự ở thời Lý, đa số thơ Thiền là thơ triết học nên thường sử dụng thơ ngũ ngôn tứ tuyệt (33/ 66 bài thơ Đường luật), số lượng chữ tối thiểu -20 chữ- trong bài thơ bảo đảm tính hàm súc đạt mức cao nhất, cần thiết cho sự khẳng định đanh chắc và

ngụ ý sâu xa của những chân lý được nêu Thiền là vô ngôn, nhiữig điều này cũng chỉ có tính tương đối, vì vậy hình thức của một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt là phù hợp nhất để

diễn đạt một cách kiệm lời những điều cần thiết nhằm khơi gợi sự trực giác nơi đối tượng [41, tr.108-109] Nhận xét này của tác giả đã khẳng định hai vấn đề cơ bản : Thời Lý, đa

số thơ Thiền sử đụng thơ ngũ ngôn tứ tuyệt; hình thức của một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt phù hợp với nội dung khơi gợi trực giác nơi đối tượng

Trang 10

Tác giả Trần Ngọc Lan trong bài viết "Chất trữ tình trong thơ Thiền đời Lý" thiên

về phân tích những yếu tố trữ tình trong thơ Thiền "Thơ Thiền đời Lý quả đã ghi lại được

những giờ phút êm đềm, những khoảnh khắc xao động trong tâm hồn của các nhà sư - thi

sĩ trước cuộc sống" [12, tr.32]

Từ các công trình, các bài nghiên cứu trên, luận văn này thấy rằng:

a Để có sự đánh giá khách quan về giá trị của văn thơ thời Lý, cần khảo sát ỏ cả hai phương điện nội dung và hình thức nghệ thuật

b Do thể thơ tứ tuyệt chiếm tuyệt đại đa số các tác phẩm văn thơ thời Lý (xem số

liệu thống kê ở phần dẫn nhập) nên việc khảo sát văn thơ thời Lý có thể giới hạn trong

phạm vi thể thơ này

Vì những lí do kể trên, luận văn này hướng tới việc giải quyết một số vấn đề sau: 3.1Phác thảo một cái nhìn tổng quát về thể thơ tứ tuyệt

3.2Khảo sát thơ tứ tuyệt thời Lý,về hai phương diện nội đung và nghệ thuật

3.3Đối chiếu, so sánh thơ tứ tuyệt thời Lý với thơ tứ tuyệt thối Trần

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, nhằm giải quyết những yêu cầu cụ thể của đề tài, người viết sử dụng các phương pháp sau:

Trang 11

4.2 Phương pháp phân tích - so sánh

- Nhằm xác định nội đung phản ánh và hình thức nghệ thuật của thể thơ tứ tuyệt

thời Lý

- Làm rõ nét đặc trưng của thể thơ tứ tuyệt thời Lý về cả hai phương diện nội dung

và nghệ thuật so với thơ tứ tuyệt thời Trần

5.GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ TÀI LIỆU

Đối tượng khảo sát của luận văn này là thể thơ tứ tuyệt thời Lý Cho nên nguồn tư

liệu chủ yếu là "Thơ văn Lý - Trần Tập 1" (1978) Viện Văn hộc, NXB.KHXH - Hà Nội

Để tiến hành so sánh với thể thơ tứ tuyệt thời Trần, còn cần nguồn tư liệu từ “Thơ văn Lý- Trần Tập II” (1978), "Thơ văn Lý-Trần Tập III" (1981) Viện Văn học, NXBKHXH Hà Nội

Ngoài ra, người viết còn tham khảo các tác phẩm, các công trình khảo cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu

6.KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Luận văn này gồm có ba phần:

Giới thiệu ý nghĩa của đề tài Điểm lại một số công trình chủ yếu có liên quan tới đề tài Nhấn mạnh mục đích nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, giới hạn vấn đề cần giải quyết, nguồn tư liệu và giới thiệu sơ lược kết cấu của đề tài

Phần này gồm bốn chương:

CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VỀ THỂ THƠ TỨ TUYỆT

Trọng tâm của chương này là xác định khái niệm về thể thơ tứ tuyệt, đặc điểm hình

thức nghệ thuật của thể thơ tứ tuyệt nhằm tạo chuẩn mực cho công việc thống kê, phục

vụ việc phân tích và thao tác so sánh

Trang 12

CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG VỀ NỘI DUNG CỦA THỂ THƠ TỨ TUYỆT THỜI

2.1.Vài nét về văn hóa - xã hội thời Lý

2.2.Vài nét về Thiền tông thời Lý

2.3.Nội dung thơ tứ tuyệt thời Lý

CHƯƠNG 3: HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT THƠ TỨ TUYỆT THỜI LÝ

Trọng tâm của chương này là dựa vào đặc điểm hình thức của thể thơ tuyệt cú và đặc điểm thi pháp thơ ca trung đại để phân tích thơ tứ tuyệt thời Lý

Trang 13

3.9 Thời gian nghệ thuật

CHƯƠNG 4: Đối CHIẾU, SO SÁNH GIỮA THỂ THƠ TỨ TUYỆT THỜI LÝ

VỚI THỂ THƠ TỨ TUYỆT THỜI TRẦN

Sự đối chiếu, so sánh này tiến hành trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật

So sánh đối chiếu để thấy rõ diện mạo thơ tứ tuyệt thời Lý trong mối tương quan với thơ

tứ tuyệt thời Trần Chương này gồm bốn phần:

4.1Vài nét về văn hóa-xã hội thời Trần

4.2Nội dung thơ tứ tuyệt thời Trần

4.3Nghệ thuật thơ tứ tuyệt thời Trần

4.4Đối chiếu, so sánh và kết luận

Trang 14

PH ẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VỀ THE THƠ TỨ TUYỆT

1.1.QUAN NIỆM VỀ THỂ THƠ TỨ TUYỆT

luật chặt chẽ" [4, tr.14] Chính vì hiểu như vậy mà tất cả các bài thơ bốn câu đều được

cho là thơ tứ tuyệt Ví dụ như trong đợt thi thơ tứ tuyệt trên báo Tài hoa trẻ có một số bài

thơ dự thi sáng tác theo khuynh hướng đó

(Hồ Văn Như-Nhớ, Tài hoa trẻ số 180 ngày 10.10.2001)

Cùng một cách hiểu như thế, Chế Lan Viên có bài tứ tuyệt sau :

L ần trước lạnh vừa, lần sau lạnh gắt

Ở đất nước đánh giặc này, ta chỉ sợ gió mùa, không sợ giặc

Trang 15

(Chế Lan Viên - Gió mùa đông bắc)

Ý kiến thứ hai cho rằng: Thơ tứ tuyệt là "Ngắt lấy bốn câu trong bài bát cú mà thành [7, tr.127] Hoặc "Theo lối này (tức tứ tuyệt) thường ngắt hai câu đầu, hai câu cuối, hoặc

bốn câu cuối (của bài bát cú) mà thành" [34, tr.69]

Ý kiến thứ ba cho rằng : "Thơ bốn câu người ta còn gọi là tứ tuyệt tức là bài thơ

gồm bốn câu có ý nghĩa thật hay Trong văn học Trung Quốc, người ta không gọi là tứ tuyệt mà gọi là tuyệt cú" [19, tr.213] Trong tác phẩm "Tìm hiểu các thể thơ", Tác giả Lạc Nam xác định "Thơ bốn câu gọi là thơ tứ tuyệt, người Trung Quốc gọi là tuyệt cú" Như

vậy, khái niệm về thể thơ gồm có bốn câu này, trở thành rối rắm vì cùng lúc được định danh là tứ tuyệt và tuyệt cú với nội hàm khác hẳn nhau

Để giải quyết vấn đề này, Tạ Ngọc Liễn, trong bài "Tứ tuyệt có phải là thơ bốn câu?", đã khẳng định : "Trong các tài liệu xưa không hề có thuật ngữ tứ tuyệt, chỉ có thuật ngữ tuyệt cú để chỉ những bài thơ bốn câu ngũ ngôn, lục ngôn hoặc thất ngôn, có quy định bằng trắc niêm luật rõ ràng" [14]

Theo tài liệu xưa, quả là không hề có thuật ngữ tứ tuyệt Tứ tuyệt chỉ là một từ biểu

thị hai nghĩa sau: 1- Lý Hoa làm, Bia của Nguyên Đức Tú, Nham Chân Hương viết, chữ triện trên trán bia của Lý Dương Băng được gọi là tứ tuyệt

2-Một ngày trước lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông được chọn là ngày đại kị

[53, tr.315], còn tuyệt cú là khái niệm đùng để chỉ "Một thể thơ có sự phân biệt ngũ ngôn,

lục ngôn, thất ngôn Bốn câu thành một bài, hoặc dùng vần bằng, hoặc dùng vần trắc,

khỏi đầu là thể thơ mới thời Tề, Lương, sau này vào thời Đường mới có tên là tuyệt cú

Trang 16

[53, tr.1163] Trong bài tuyệt cú, nếu mỗi câu có năm chữ gọi là ngũ tuyệt, bảy chữ gọi là thất tuyệt

Như vậy, khái niệm thơ tứ tuyệt mà chúng ta thường dùng chính là thể thơ tuyệt cú

của Trung Quốc Đó Ịà thể thơ gồm bốn câu và có quy định về gieo vần, về niêm luật rõ ràng Đây cũng là chuẩn mực mà luận văn này dùng để thống kê, phân tích thơ tứ tuyệt

thời Lý Kể từ đây trở đi, luận văn này sẽ tạm dùng danh xiữig tứ tuyệt để chỉ thể thơ tuyệt cú cho phù hợp với thói quen xưa nay của người Việt Danh xưng này được coi như

một tồn tại lịch sử Thiết nghĩ có lẽ đã tới lúc phải định danh cho thể thơ gồm có bốn câu, gieo vần tự do, không chịu ước thúc của niêm luật là "thơ bốn cậu" cho khỏi lẫn lộn khái

niệm

1.1.2 Hình thức của một bài tứ tuyệt

Theo Đặng Đức Siêu và Nguyễn Ngọc San [31, tr.9,10,11] một bài tứ tuyệt có hình

Trong thơ cận thể (thơ Đường luật), một bài tứ tuyệt thường có ba vần (cuối các câu

1, 2, 4), nhưng cũng có thể chỉ có hai vần Đó là hình thức trốn vần (chiết vận), vần có

thể lược bỏ ở câu 1 Từ gieo vần có thể là thanh bằng (vần bằng) hoặc thanh trắc (vần

trắc) Thông thường vần bằng được ưa chuộng hơn vần trắc

- Bằng, trắc, nhịp, luật, niêm

Trang 17

Trình tự sắp xếp các từ có thanh bằng, thanh trắc trong thơ cận thể được

quy định rõ ràng, có thể thu gọn lại thành một số mô thức nhất định như sau:

a Trong thơ ngũ tuyệt, có thể nêu bốn mô thức tiêu biểu nhất:

tế chỉ căn cứ vào thanh của từ thứ hai trong câu mở đầu bài thơ) là thớ luật trắc

Để việc tuân thủ các quy định về bằng, trắc được dễ dàng hơn, thi pháp học cổ điển đưa ra lệ "nhất tam ngũ bất luận" cho thơ thất tuyệt và "nhất tam bất luận" cho thơ ngũ tuyệt Có nghĩa là: Trong một câu thất tuyệt, từ thứ nhất, từ thứ ba, từ thứ năm là bằng

hoặc trắc đều được cả Trong một câu ngũ tuyệt, từ thứ nhất, từ thứ ba là bằng hoặc trắc đều được

Quy định về bằng, trắc trong thơ cận thể được vận dụng theo hai hệ thống: Hệ thống ngang vận dụng trong từng câu thơ như đã trình bày ở phần trên; hệ thống dọc được vận

dụng trong phạm vi cả bài thơ, tạo ra mối quan hệ bằng, trắc giữa từng cặp câu thơ Mối

Trang 18

quan hệ bằng, trắc theo hệ thống dọc này gọi là niêm Theo quy định hai câu thơ được gọi

là niêm với nhau khi từ thứ hai của tông câu phải giống nhau về thanh, nếu là bằng thì đều là bằng, nếu là trắc thì đều là trắc Với thơ tứ tuyệt câu 1 và câu 4, câu 2 và câu 3

phải niêm với nhau

Nhịp thơ đều là chẩn trước, lẻ sau: nhịp thơ ngũ tuyệt 2/3, nhịp thơ thất tuyệt 2/2/3

-Đối

Về thực chất đối là một biện pháp tu từ tạo ra sự sóng đôi, cân xứng giữa từ với từ,

giữa câu với câu nhằm nhấn mạnh vào sự tương phản hoặc tương đồng để tăng thêm hiệu

quả biểu đạt Biện pháp tu từ này vốn đã xuất hiện trong tản văn, trong vận văn cổ Với thơ cận thể, đối được vận dụng rộng rãi trên các mặt thanh điệu (bằng đối với trắc hoặc ngược lại), ý (tương đồng hoặc tương phản), từ loại (danh từ đối với danh từ, tính từ đối

với tính từ nói chung là thực từ đối với thực từ, hư từ đối với hư từ) và câu (kết cấu cú pháp đồng.dạng) Trong thơ tứ tuyệt nói chung không cần đối Nếu cổ đốrtíù câu 1 và câu

2 đối nhau hoặc câu 3 và câu 4 đối nhau, hoặc cả hai cặp câu 1 và 2, 3 và 4 đều đối nhau -Kết cấu

Bốn câu trong thơ tứ tuyệt đều có chức năng riêng, liên kết với nhau một cách hữu

cơ, tạo thành một chỉnh thể nghệ thuật + Câu 1 được gọi là câu khai, với nghĩa mở đầu + Câu 2 gọi là câu thừa, với nghĩa nối tiếp ý đã triển khai trong câu 1 + Câu 3 gọi là câu chuyển, với nhiệm vụ chuyển tiếp ý của hai câu 1 và 2 xuống dưới

+ Câu 4 gọi là câu hợp, với nghĩa gói ghém ý tình, làm lời kết của cả bài thơ

Trong tiếng Hán thời trung cổ, người ta phát hiện có bốn thanh (tứ thanh) là bình, thướng, khứ, nhập Cần cứ vào tên gọi (bình = bằng, thướng = lên, khứ = đi) và căn cứ vào luật chuyển đổi bằng trắc trong thi ca, chứng ta có thể phỏng đoán bình là một thanh điệu không thay đổi độ cao, còn thướng, khứ là hai thanh điệu có thay đổi về mặt nào đó trong quá trình phát âm Sự đối lập giữa bình (thanh bằng) và thướng, khứ (thanh trắc) là

sự đối lập dựa vào tiêu chí khu biệt "Bằng phẳng // không bằng phẳng" Sự đối lập giữa

Trang 19

thướng thanh và khứ thanh là sự biến thiên "lên cao // xuống thấp", về sau, tiêu chí khu

biệt của thướng thanh và khứ thanh là sự biến thiên "đường gãy khúc // đường không gãy khúc"

Còn thanh nhập là kết quả của sự khác nhau khi phát âm những cặp vần: có âm cuối

kết thúc bằng âm mũi, vang, hữu thanh // có âm cuối kết thúc bằng âm tắc, đóng vô thanh Như vậy tiêu chí khu biệt thanh nhập là "trong // đục"

Quá trình biến đổi của thanh điệu tiếng Hán tương đối phức tạp Qua khảo sát các

cứ liệu, Nguyễn Tài Cẩn [2, tr.325] đã dựa ra bảng đối chiếu giữa thanh điệu tiếng Hán

và tiếng Việt như sau:

Toàn thanh Thứ thanh Toàn trọc Thứ trọc Bình NGANG NGANG NGANG HUYỀN Thướng HỎI HỎI NGÃ NGÃ/NẶNG

Khứ, nhập SẮC SẮC NẶNG NẶNG Như vậy, hệ thống bằng, trắc trong ngữ âm tiếng Việt được sắp xếp như sau:

• Thanh bằng : NGANG – HUYỀN

• Thanh trắc: HỎI - SẮC - NGÃ - NẶNG

Đây là tiêu chí để xác định luật bằng - trắc khi thống kê, phân tích các bài thơ Đường luật nói chung và các bài tuyệt cú nói riêng

1.2.1 Xin trở lại ý kiến: Tứ tuyệt là "Ngắt lấy bốn câu trong bài bát cú mà thành" như tác giả Dương Quảng Hàm và một số học giả khác nhận định

Trước tiên, cần làm rõ về thể thơ bát cú Thật ra không có thuật ngữ bát cú Đây chỉ

là cách gọi của người Việt, đùng để chỉ thể thơ gồm tám câu, làm theo Đường luật Thể thơ này "hình thành vào thời Sơ Đường, cách luật tương đối chặt chẽ, mỗi bài tám câu,

Trang 20

câu 2,4, 6, 8 phải cùng vần, hai câu 3, 4 và hai câu 5, 6 phải đối ngẫu, bằng trắc mỗi chữ

có qui định, mỗi câu của bài thơ có năm chữ gọi là ngũ ngôn luật thi, có bảy chữ gọi là

thất ngôn luật thi"

Nếu ngược đòng vận văn truyền thống của Trung Quốc mà xem xét vấn đề, ta dễ dàng nhận thấy: Các bài thơ cổ của Trung Quốc thường không hạn định về số câu

Bài thơ cổ nhất của Trung Quốc gồm năm câu:

Nghĩa : Mặt trời lên, ta đi làm, mặt trời lặn ta nghĩ Ta đào giếng lấy nước uống, cày

ruộng lấy cơm ăn Vua chúa có thể như thế nào với ta?

Trong Kinh thi bài "Quan thư" gồm ba chương, chương 1 có hai câu, chương 2, chương 3 có bốn câu:

Trang 21

Nghĩa : I - Chim thư cưu trên bãi sông, tiếng kêu nghe êm ái, dịu dàng; người con gái hiền lành xinh đẹp ấy, xứng đáng kết hợp lứa đôi với chàng trai có tài có đức kia

II - Rau hạnh mọc so le, vật vờ trên gióng nước, lúc giạt sang trái, lúc giạt sang

phải Người con gái dịu hiền kia, lúc thức lúc ngủ, lúc nào ta cũng nhớ mong, muốn tìm

kiếm nàng Tim kiếm chẳng được, ngày đêm lúc thức lúc ngủ nhớ mong hoài không lúc nào nguôi, buồn thay ! trằn trọc mãi, không sao ngủ được

III - Rau hạnh mọc so le, ngắt ngọn bên trái, ngắt ngọn bên phải Người thiếu nữ xinh đẹp dịu hiền kia, ước gì ta được kết bạn với nàng, hòa hợp như đàn cầm, đàn sắt Rau hạnh mọc so le, lựa ngắt ngọn bên trái, lựa ngắt ngọn bên phải Người thiếu nữ xinh đẹp dịu hiền kia, ước gì ta được nổi chuông trống lên vui đón nàng về

Bài "Khiên thường" gồm hai chương, mỗi chương ba câu :

Trang 22

Nghĩa : Chàng có lòng yêu mến em thì xin chàng hãy xắn quần lội qua sông Trăn sang đây với em Nếu chàng không yêu mến em, lẽ nào lại không có người khác yêu em hay sao? Hỡi chàng trai ngờ nghệch nhất trong số những chàng trai ngờ nghệch kia ơi! 1.2.2 Tuy ngắn nhưng các bài thơ kiểu hai câu, ba câu, bốn câu trên cũng đủ phô

diễn tình cảm, bộc lộ trọn vẹn ý tình của nhân vật trữ tình với đủ cung bậc của thất tình (hỉ, nộ, ái, ố, ai, dục, lạc) Trong quá trình vận động của thi ca, mà đỉnh cao là Đường thi,

ta thấy vắng bóng các bài thơ hai câu, ba câu, chỉ còn lại thể thơ tuyệt cú (ngũ tuyệt và

thất tuyệt) và các bài thơ luật thi (ngũ luật, thất luật) hoặc thơ trường luật, với niêm luật

4, 6, 8 chữ, số câu cũng không nhất định Thơ "Nhạc phủ" thời Hán, Ngụy và các bài thơ

thời Nam Bắc triều có ngũ ngôn và thất ngôn, có bài lẫn lộn cả ngũ ngôn, thất ngôn Thời

đó cũng có thơ thể mới (Tân thể thi hay còn được gọi là Vĩnh minh thể), như "Tiểu thi ngũ ngôn tứ cú", song rất ít thơ hoàn toàn hợp luật, hình thức cũng chỉ hạn chế ỏ ngũ ngôn, chưa phải là thơ cách luật mà thời Đường định ra, chỉ là hình thức quá độ của thơ cách luật

Trang 23

Về nguyên nhân hình thành' thơ cách luật cận thể, trước hết là do tiếng Hán cổ,

phần nhiều là từ đơn âm tiết, nên dễ hình thành đối ngẫu Ngay cả "Kinh thi", "Sở từ" cũng đã sớm xuất hiện không ít câu đối ngẫu Tới thời Tề, Lương, thịnh hành biền văn, các tác giả thời này rất chú trọng hình thức, nên đối ngẫu có đất dụng võ Chịu ảnh hưởng

của trào lưu đó, thi ca cũng thường dùng câu đối ngẫu Đó là một điều hết sức tự nhiên Sau này, đối ngẫu đã trở thành một trong các nhân tố hình thành nên cách luật của thơ

cận thể

Ngoài ra, về thanh điệu của Hán ngữ, ngay từ thời trung cổ, người ta đã thấy Hán

ngữ có bốn thanh là bình, thướng, khứ, nhập (tứ thanh) Thi ca lại cần cổ tiết tíu và nhạc tính Tề Vĩnh Minh, Mạt Thẩm Ước, Tạ Ngùng cho rằng: Trong năm chữ, âm vận phải khác nhau, trong hai câu, nhạc tính phải khác nhau

phối hợp bằng, trắc và phép niêm để liên kết câu

1.2.4 Về diễn tiến của thơ ngũ ngôn, thất ngôn Có người nói loại thơ này có từ

thời Tây Hán, là sự phát triển của "Nhạc phủ" Trịnh Chấn Đạc, trong "Trung Quốc văn

học sử", đã coi những năm cuối triều Tây Hán là thời kỳ sơ khởi của thơ ngũ ngôn Còn thít ngôn thì thoát thai từ "Sở từ" Người ta thấy rằng: mỗi câu thơ dùng năm, bảy chữ càng giàu nhạc tính hơn câu thơ có bốn, sáu chữ, tiết tấu cũng biến hóa hơn Trong một bài thơ, câu biền ngẫu dùng phối hợp với câu bình thường càng làm tăng vẻ đẹp của sự đan xen giữa các kiểu câu Chính vì thế mà thời Tề, Lương, từ thể thơ mới (Tân thể thi)

hơi có cách luật, trải qua sự phát triển hơn một trăm, tới thời Đường, luật thi đạt tới giai đoạn chặt chẽ, tinh xác Cuối cùng đã định hình hình thức thơ cách luật cận thể [54, tr.1200-1204]

Trang 24

1.2.5 Theo "Trung Quốc thi từ diễn tiến sử", thể thơ tuyệt cú có từ thời Lục triều (Ngô, Đông Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần), do sự phát triển của "Tử ca", "Hoan ca" của văn chương Ngô ngữ mà thành, có quan hệ mật thiết với âm nhạc Tuyệt cú còn được gọi

là tuyệt thi, tiệt thi hoặc đoạn thi Tuyệt, tiệt, đoạn, cả ba từ này đều có nghĩa là cắt ngắn,

vì mỗi bài chỉ có bốn câu mà thành tên gọi Người xưa ca ngợi tuyệt cú "Uyển chuyển

biến hóa, lấy ba câu làm chính, chuyển tiếp đúng phép, như thuyền xuôi dòng"

"Lời

gần tình xa, không phô tâm sự, cảnh trước mắt, lời đầu môi, ý ngoài lời, vị ngoài vị, khiến người ngất ngây"

[53, tr.52,53]

Cũng theo tài liệu trên, "Luật thi, phối hợp bằng trắc, chịu câu thúc của đối ngẫu, nghiêm như pháp luật"

xuất hiện vào thời Sơ Đường, Theo Ngũ ngôn luật âm giám, người khai sinh ra thể thơ này là Hà Tốn, Dữu Tín, Từ Lăng

Người thời Đường đã nghiền ngẫm thanh luật, gọt giũa trau chuôi hình thức của thể thơ, làm cho thể thơ này càng hoàn chỉnh hơn

Qua cái nhìn khái quát về con đường hình thành và sự phát triển của niêm luật trong thi ca cùng với sự hình thành và phát triển của hai thể thơ tuyệt cú và luật thi, người viết

có thể khẳng định: Thể thơ tuyệt cú ra đời trước thể thơ luật thi Cho nên ai đó nói rằng tuyệt cú là một nửa của luật thi là vô sở cứ

Trang 25

CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG NỘI DUNG CỦA THƠ TỨ TUYỆT

THỜI LÝ

Thời Lý, về mặt văn hóa- xã hội, có một số điểm đáng chú ý như sau:

2.1.1.Tôn giáo

- Lực lượng Phật giáo rất lớn, càng về sau càng phát triển Một số tăng sĩ có đạo cao, có học vấn uyên bấc được nhà vua tôn ưọng, coi như thầy thì được phong là "Quốc sư" Nhà chùa được xây cất ở nhiều nơi "Lý Thái Tổ lên ngôi Hoàng Đế mới được hai năm, nhà tông miếu chưa xây, đàn xã tắc chưa dựng, đã tạo trước 8 chùa ở phủ Thiên Đức Trăm họ quá nửa là sư, trong nước chỗ nào cũng có chùa chiền" (Ngô Sĩ Liên -

Toàn thư) "Nhà chùa nghiễm nhiên trở thành một bộ phận hữu cơ, gắn bó thân thiết với

cộng đồng làng xã Đất Vua, chùa làng, phong cảnh bụt Đất thì đất của vua nhưng coi sóc phần hồn, phần đời sống tình cảm, lại là các vị sư trong chùa." [45, tr.610]

- Lực lượng Nho giáo được hình thành, Nhà Lý dựng Văn miếu "Năm Thiên huống

bảo tượng thứ hai (1069) Thánh Tôn mới sai đựng nhà Văn miếu, đúc tượng Chu công,

Khổng Tử cùng tượng tứ phối và vẽ tượng 72 học trò lớp cao của cụ Khổng, rồi bắt thờ cúng quanh năm và sai thái tử tới đó mà học

Rồi năm Anh Vũ Chiêu Thắng thứ nhất (1075), mới đặt nhà Quốc tử giám, và bổ

những người văn thần có văn học vào coi nhà ấy" [38, tr.26] Nhà Lý mở khoa thi Minh kinh bác học (1075), qua đó các nho sĩ được bổ dụng như Thái sư Lê Văn Thịnh, Hàn lâm học si Mạc Hiển Tích "Mùa xuân, tháng hai, xuống chiếu thi Minh kinh bác học và thi Nho học tam trường Lê Văn Thịnh được trúng tuyển, cho vào hầu Vua học" (Đại Việt

sử ký toàn thư), nhưng chế độ khoa cử thời này vẫn còn nhiều hạn chế Trước hết nó không được tổ chức theo kì hạn thường xuyên (tổ chức được 3 khoa có 22 người đỗ) Hơn nữa, nền giáo dục lúc này vẫn chủ yếu nhằm vào việc dạy học cho các Hoàng tử Sau sự biến Thái sư Lê Văn Thịnh làm hổ hóa phản năm Bính tí (1096) uy tín của Nho giáo bị giảm sút nghiêm trọng Theo "Việt điện u linh tập", sự biến đó xảy ra như sau:

Trang 26

Vua ngự chiếc thuyền chài có Mục Thận, người phường Tây Hồ, đứng ở đầu mũi quăng lưới Thuyền ra giữa hồ, thình lình mây mù kéo tới, bầu trời tối đen, nhìn chung quanh không thấy rõ vật gì Bỗng nghe thấy tiếng thuyền chèo vùn vụt, lướt qua mù tới thuyền Vua Vua lấy giáo ném ra, mù tan đi Trong thuyền, thấy con hổ đang nhe răng như muốn cắn Vua sợ lắm, Mục Thận thấy vậy cũng kêu nguy cấp, sẩn lưới ở tay, Thận ném vào thuyền kia, bắt được hổ Ai đè, lại hóa ra là Lê Văn Thịnh

Có thể đây là một tấn kịch được dựng lên nhằm đánh đổ uy thế của giới Nho sĩ, vì

thế mà hàng thế kỉ tiếp theo, khoa cử đã bị gác lại Trong hàng ngũ quan lại cũng như trên văn đàn, giới Nho sĩ vắng bóng hẳn, nhường chỗ cho thế lực tăng ni Phật giáo phát triển rầm rộ

Ngay từ đầu công nguyên, chính quyền đô hộ đã du nhập chữ Hán, mở trường đồng hoá dân ta của giai cấp thống tri ngoại tộc nên dân ta chống lại

Theo Ngô Tất Tố "Cái học từ thời Bắc thuộc trở đi đến đời nhà Ngô chỉ là học để giao thiệp với người Tàu, không phải học để thâu thái văn hóa của họ" [37, tr.21] Cho đến thế kỉ X, tuy chữ Hán đã trỏ thành chữ viết chính thức nhưng số người biết chữ còn

rất ít Khi Lý Công Uẩn lên ngôi, tôn hiệu còn rất lủng củng lôi thôi "Phụng thiên chí lý, ứng vận tự tại, thánh minh long hiện, duệ văn anh vũ, sùng nhân quảng hiếu, thiên hạ thái bình, khâm minh quang ưạch, chương minh vạn bang, hiện ứng phù cảm, uy chấn phiên nam, duệ mưu thần trợ, thánh trị tắc thiên, đạo chính hoành đế" Điều đó đủ biết trình độ

chữ Hán của dân ta thời đó thế nào

Trước thời Lý, có thể nói rằng, chúng ta chưa có văn học viết Sau khi lên ngôi, nhà

Lý bước đầu chú ý tới việc dạy và học chữ Hán, biến việc học chữ Hán từ chống đối trở thành tự giác Nhà Lý đã dựng trường, mở kì thi, tuyển chọn nhân tài Tuy giáo dục Nho

học dưới thời Lý chưa phát triển lắm, nhưng việc làm đó của nhà Lý đã khởi đầu cho việc

tiếp thụ Hán học, tạo được một tầng lớp trí thức cho xã hội, góp phần quan trọng tạo nên

nền văn học viết đậm đà bản sắc dân tộc

Trang 27

Thời Lý, các bậc Thiền sư là lớp trí thức quan trọng Họ là những cây bút chủ lực

của văn học thời Lý Phần lớn các tác phẩm thời Lý lưu tới ngày nay là tác phẩm của các

bậc Thiền sư

2.2.1 Phật giáo truyền vào Việt Nam theo hai ngả: Từ Ấn Độ truyền sang theo đường biển và từ Trung Hoa truyền tới theo đường bộ Theo đường biển, các nhà sư Ấn

Độ đã đến Việt Nam ngay từ đầu công nguyên Luy Lâu, trị sở chính của quận Giao Chỉ

thời đó, đã sớm trở thành một trung tâm Phật giáo quan trọng Chùa chiền mọc lên san sát, đã có tới hàng mấy trăm nhà sư tinh thông kinh kệ Sau này, trong khi đàm đạo với Tùy Văn Đế (581 - 601), Pháp sư Đàm Thiên (một cao tăng đời Tùy) đã nói "Xứ Giao Châu có đường ăn thông sang Thiên Trúc Khi Phật giáo chưa tới Giang Đông thì ở Lúy Lâu đã có trên hai chục chùa, có hơn năm trăm sư, đọc tụng mười lăm bộ kinh Do đó người ta nói rằng Phật pháp truyền vào Giao Châu trước Giang Đông vậy", về sau, việc truyền đạo trực tiếp từ Ẩn Độ sang giảm đần, trong khi đó, đạo Phật từ phương Bắc truyền sang chiếm ưu thế Từ Trung Hoa có ba tông phái Phật giáo được truyền vào Việt Nam là Thiền tông, Tịnh độ tông, Mật tông Trong các tông phái Phật giáo đó, Thiền tông phát triển mạnh và có nhiều đặc sắc, nổi tiếng có phái Thảo Đường thời Lý do nhà sư

Thảo Đường lập ra và phái Trúc Lâm thời Trần do Trần Nhân Tông lập ra Thiền tông chú trọng vào công phu Thiền định và sự giác ngộ trong lòng chứ không câu nệ kinh kệ

và các nghi thức Có thể vừa theo Thiền vừa tận tâm giúp việc đời Chính vì vậy trong

"Thiền tông chỉ nam tợ", Trần Thái Tông đã nhắc tới lời Đại sa môn phái Trúc Lâm :

"Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng Lòng lặng lẽ mà hiểu, đó chính là chân Phật Nay nếu Bệ hạ giác ngộ điều đó thì lập tức thành Phật, không cần khổ công tìm kiếm bên ngoài" [46, tr.27]

về nguồn gốc, Thiền hoặc Thiền na là cách dịch âm của Trung Quốc đối với

chữ phạn Dhyàna, có nghĩa là yên tĩnh mà suy nghĩ Khi Thiền định thì không được nằm, chi được ngồi, cho nên còn gọi là tọa Thiền Tương truyền Bồ đề đạt ma (Bodhidharma)

Trang 28

là người lập ra phép tọa Thiền đơn giản, dễ theo Ông là người đưa ra hai phương pháp tu hành là "lí nhập" và "hạnh nhập"

Nội dung của "lí nhập" là từ trong nhận thức, tìm cách thoát li thế giới hiện thực để đạt thế giới siêu hiện thực (tức Chân như) Không những phải quên sự tồn tại cá nhân mà còn phải quên cả tính chân thực của thế giới khách quan nữa Người ta không đạt tới Chân như chính là vì bị những đối tượng của cảm quan bưng bít Vì thế phải ngăn chặn

sự xâm nhập của những cái đó Như vậy "lí nhập" yêu cầu người tu hành phải hiểu rõ đạo

lí của Phật giáo thì mới có thể ngộ đạo Còn "hạnh nhập" thì bao gồm bốn phép sau : gạt

bỏ mọi ý niệm phản kháng, luyện lấy tính nhẫn nhục chịu đựng, gạt bỏ mọi sự phân biệt

phải ừái, thiện ác, gạt bỏ mọi ước muốn nguyện vọng suy nghĩ và hành động đúng như giáo lí của đạo Phật "Về thực chất, hạnh nhập chính là dùng phương pháp tu hành để cầu minh tâm kiên tính" [31, tr.188] Sau này, Thiền tông không những phủ nhận hai phương pháp đó, mà còn chủ trương phá chấp, tâm truyền, không cần kinh điển, không cần văn

tự, lấy việc đốn ngộ làm chính, mục đích của ngộ đạo là kiến tính thành Phật

2.2.2 Thiền tông Việt Nam có truyền thống gắn bó giữa đạo và đời Nhiều Thiền sư

vừa làm việc đạo vừa làm việc đời Khi đất nước cần, sẩn sàng nhập thế, tham chính, cùng triều đình, lo toan việc nước Khi đất nước đã thanh bình, lại sẩn sàng xuất thế, lui vào ẩn cư, mượn cửa chùa làm nơi di dưỡng tinh thần, sống an nhiên tự tại, vui thú với thiên nhiên Nhiều vì vua, nhiều nhà quý tộc đã trở thành nhà Thiền học, có học vấn uyên thâm như Thái Tông, Tuệ Trung, Nhân Tông Trong bài 'Truy tán Thiền sư Vạn Hạnh"

Lý Nhân Tông đã ca ngợi công ơn của Vạn Hạnh với vương triều nhà Lý:

Trang 29

Nghĩa : Vạn Hạnh học rộng thông suốt được ba cõi, lời nói của sư quả phù hợp với

những câu thơ sấm cổ Quê hương là làng cổ Pháp, chống gậy tầm xích trấn vững kinh kì 2.2.3 Để phù hợp với thực tiễn Việt Nam, Thiền tông Việt Nam đã dung hợp với tín ngưỡng dân gian bản địa Buổi đầu du nhập vào Việt Nam, Phật tổ được coi là một đấng toàn năng, có thể cứu khổ cứu nạn Điều này "thích ứng với một quần chúng (xứ ta), ở đó

tư tưởng ma thuật bao trùm, nó phù hợp với yêu cầu của một dân tộc bị áp bức bội nước Hán lớn mạnh hơn mình gấp mấy chục lần Dân tộc đó muốn được giải phóng, muốn được cầm đầu bởi những lãnh tụ có phép thần thông để có thể chuyển yếu thành mạnh1' [5, tr.234] Chính vì thế Phật tổ được giới thiệu như một siêu nhân:

Phật là tên thụy, như là tên thần của Tam hoàng, thánh của Ngũ đế Phật là ông tổ đầu tiên của đạo đức, nguồn gốc của thần minh Phật có thể biến hóa huyền ảo, có thể tròn, có thể vuông, có thể già, có thể trẻ, có thể biến đi, có thể hiện ngay, có thể đi trên

lửa mà không cháy, giẫm lộn lưỡi dao mà không bị thướng, trong chỗ bẩn mà không bị nhiễm, trong chỗ họa mà không bị tai ương, muốn đi thì bay, người thì phát sáng, cho nên

gọi là Phật (Lịch sử Phật giáo Việt Nam tr 39)

2.2.4 Thiền tông Việt Nam còn dung hợp với các môn phái, các giáo phái khác để cùng phát triển, giúp con người phát triển toàn diện, tạo nên nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Có thể nói rằng: Suốt hai triều đại Lý - Trần, đạo Phật là quốc đạo Chẳng những dân đi tu mà vua cũng đi tu, hoặc náu mình trong cửa chùa để tu, hoặc tu tại gia Phật giáo phổ biến đến mức những giá tri tính thần của Phật giáo còn'được phản ánh trong văn

học dân gian Việt Nam (Sự tích chim bìm bịp, Từ Đạo Hạnh hóa hổ, Năng nhẫn bất năng

nhẫn ) nhưng Phật giáo không tìm cách lấn át các tôn giáo khác Việt Nam trở thành

mảnh đất yên lành cho "Tam giáo đồng nguyên"

2.3.NỘI DUNG THƠ TỨ TUYỆT THỜI LÝ

Thời Lý, Phật giáo được coi trọng, trở thành lực lượng có ảnh hưông sâu rộng trong

xã hội Tiếng nói chủ yếu trên văn đàn là tiếng nói của các bậc Thiền sư

Trang 30

Đề tài chủ yếu của thi ca thời này, chủ yếu là các vấn đề thuộc về yếu chỉ Thiền tông (hoặc là trực tiếp thuyết giảng qua các bài kệ, hoặc là gián tiếp thuyết giảng qua hình ảnh trong thiên nhiên và trong cuộc sống, hoặc là bày tỏ cảm xúc mang màu Thiền) Các thi sĩ tỏ ra lão luyện khi vận dụng các thể thơ Hán vào công việc sáng tác thi ca Thể thơ được ưa chuộng nhất là tuyệt cú Cố nhiên là phải như thế Cái thể thơ bốn câu mỗi câu năm hoặc bảy tiếng này tỏ ra đắc địa với chủ trương "vô ngôn", "trực chỉ nhân tâm"

của Thiền tông, kiệm lời mà tác động mạnh vào nhận thức của người tiếp nhận, buộc người tiếp nhận phải lập tức công nhận, có những điều phải suy đoán, có những điều chỉ

có thể tiếp nhận bằng trực giác mà không thể hiểu được nếu đùng luận lý logic

2.3.1.1 Thơ tứ tuyệt thời Lý trực tiếp phản ánh yếu chỉ Thiền tông

Về vũ trụ quan, Thiền tông chủ trương vạn vật nhất thể "Vạn giả nhất chi tán; nhất

nai v ạn chi tông - Vạn là sự phân tán của một, một là cội gốc của vạn" (Pháp Bảo - Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh) [46, tr.358] Vạn vật tuy cùng bản thể nhưng lại biến

hóa và biểu hiện dưới muôn vàn dạng thức khác nhau Những dạng thức ấy lại luôn luôn

biến động gọi là Pháp tướng, Vô thường Vì lẽ đó mà Phật giáo quan niệm "Sắc thị

không, không t ức sắc - sắc là không, không tức là sắc" (Sắc không) [46, tr.353] Thân xác

dẫu có bị hủy diệt, Sắc tướng không còn nhưng Bản thể không hề mất sắc tướng và Pháp tướng khi hiện lên thì thành vạn vật, khi ẩn đi thì sẽ không còn Sự mất còn luôn luôn thay đổi chuyển hóa cho nhau Cuộc đời trở nên huyền ảo, không có thực

Các bậc đại sư Thiền tông đều lấy việc chứng nhập bản thể làm mục tiêu duy nhất

Lục Tổ Đàn Kinh nói: "Đâu ngờ tự tính vốn tự thanh tịnh, đâu ngờ tự ứnh vốn chẳng sinh

chẳng diệt, đâu ngờ tự tính vốn tự đầy đủ, đâu ngờ tự tính vốn không dao động, đâu ngờ

tự tính hay sinh muôn pháp" Tự tính mà bản kinh này nói tới chính là Bản thể Bản chất

của Tự tính là thanh tịnh, không ô nhiễm Tự tính không sinh không diệt, là lực lượng căn

bản của vũ trụ Tự tính vốn có sẩn trong bản thân-mỗi con người, về căn bản, Tự tính không tĩnh, không động, nhưng điều đó không phải bất biến, Tự tính phát triển khiến cho đại thiên thế giới này có trật tự như thế, rồi sau đó có thể sinh trưởng Như vậy Bản thể không phải là cái gì cao xa, trái lại nó rất phổ biến Xét về Bản thể, chư Phật cùng tất cả

Trang 31

chúng sinh đều như nhau "Phật dữ chúng đồng" Trong "Tham đồ

hiển quyết", Khi trả lời câu hỏi của tăng đồ: Phật và Thánh, nghĩa thế nào? Viên Chiếu Thiền sư trả lời:

Trùng dương đến, cúc vàng dưới giậu

Nghĩa là: Muốn biết Phật lằ gì? Thánh là gì? Chỉ cần nhìn xem cây cúc ở dưới giậu trong tiết trùng dương, hay chim oanh ở đầu cành trong một ngày xuân ấm áp Cả hai đều

một vẻ như nhau Phật và Thánh cũng vậy Xét về Bản thể không có gì khác nhau

Các Thiền sư cho rằng:

Nghĩa: Đạo vốn không có xứ sở, xứ sở của nó chính là cái Chân tông Nếu nói rằng Chân tông cũng là huyễn, thì cái hữu là huyễn và càng tỏ rõ cái không là không

Theo quan niệm của các Thiền sư: các hiện tượng đều là không, chúng không phải

là các thực thể, mà chỉ là biểu hiện của Bản thể Vạn vật đều có Phật tính, chư Phật và chúng sinh đều cùng chung một Bản thể

Trang 32

Nghĩa: Ánh sáng của trí tuệ thật không có nguồn gốc nào cả Người là không mà ta cũng không Các vị Phật quá khứ, hiện tại, và tương lai Tính Phật vốn giống nhau

Muôn vật trên đời đều có Bản thể Ví như nước lửa kia, ngày ngày thâm nhập lẫn nhau, tạo nên muôn vàn hiện tượng Nhưng cuối cùng, mọi hiện tượng kia đều quy về

Bản thể

Nghĩa: Nước, lửa ngày ngày thâm nhập lẫn nhau Nguồn gốc của chúng không thể bàn tới được Báo cho anh biết, chúng không có xứ sở Mà chỉ là cái "Nhất như" và cái

“Nhất như” mà thôi

Các bậc Đại sư Thiền tông cho rằng: Muốn đạt được Chân như phải đạt được Tâm

hư vô (Phật tâm) Phật tâm từ vô thủy (không có cội nguồn) đến nay, không từng sinh ra cũng không hề diệt mất Tâm này không có màu sắc, không hình không tướng, không

"Hữu" không "Vô", không chia mới cũ, không phải lớn cũng không phải nhỏ, thật khó

hạn lượng, vượt qua mọi cách gọi thông thường đối với sự vật, là cái tuyệt đối, không

phải là đối tượng của tư duy, chỉ có thể chứng ngộ

Muốn tìm về Chân như phải giữ được sự thuần khiết, sự tình lặng của Tâm Tâm yên đứng vững như núi Tu Di, bên trong ác thiện không sinh, bên ngoài ác thiện không đến, người tu hành thanh tịnh như hoa sen Nếu sự lặng lẽ đạt tới cực điểm thì đương nhiên nhìn mà chẳng thấy, lắng mà chẳng nghe Tâm tĩnh lặng mới có thể suy nghĩ sâu

sắc, mới có thể ngộ đạo Tâm chưa dứt bỏ vọng niệm, hãy còn luẩn quẩn trong vòng

"Hữu" "Vô" thì sao ngộ đạo được

Trang 33

Nghĩa: Cái thể tinh thần diệu hư vô, khó lòng vin tới Nhưng khi Tâm hư vô thì hiểu được diệu tính cũng chẳng khó gì Giống như ngọc bị thiêu trên núi, màu sắc vẫn tươi nhuần mãi mãi Và cũng như hoa sen nở trong lò lửa mà vẫn tươi nhuần

Kinh Lăng Nghiêm có câu "Chẳng phải Tâm chẳng phải Không thì cũng tức là

Tâm, tức là Không" Mai Trực (Viên Chiếu) đã có một cái nhìn khẳng định về Tâm hư vô Ông cho rằng một khi đã đạt được Tâm không thì người ta không còn phải phân vân vì sắc và Không

Nghĩa: Thân thể người ta như tường vách đến lóc đổ nát Tất cả đều vội vã, ai mà

chẳng buồn Nhưng nếu nhận thức được rằng cái tâm là không, sắc tướng cũng là không, thì "Sắc" với "Không" khi ẩn khi hiện mặc nó đổi dời Để cho Tâm hư vô chẳng dễ dàng

gì, tìm nó thì mênh mông mù mịt

Trang 34

Nghĩa: Tồn tại giữa cỗi đờí chính là thân thể người ta Còn Tâm là kho báu của Như Lai Chiếu sáng khắp nơi nơi Nhưng tìm nó thì mênh mông mờ mịt

Giúp con người đạt được Tâm hư vô, từ đó tìm lại Bản thể, theo Thiền tông là phải giũ bỏ vọng niệm (chỉ cái ý nghĩ sai lạc của chúng sinh, đo bị lục trần chi phối), phải cởi

bỏ mọi sự vướng mắc và câu chấp, phấn biệt nhị nguyên giữa "Hữu" và "Vồ" Hữu và

Vô là hai phạm trù quan trọng nói về nhận thức thế giới của con người Hữu là khư khư

chấp lấy kiến giải có, cho cái gì cũng là có thực, trái với Vô là khư khư chấp lấy kiến giải không, hoàn toàn phủ nhận thế giới cả hai kiến giải này theo Thiền tông đều là sai lầm,

phải đạt được nhận thức "phi Hữu phi Vô" (chẳng phải có, chẳng phải không) mới là giác

ngộ Giữa "Sắc" và "Không" (Sắc là phạm trù đối lập với Không, sắc chỉ thế giới hiện tượng, do sự suy tưởng hư hão của chúng sinh mà có)

Lâm Khu (Huệ Sinh) cho rằng : Khi đã hiểu được cái lẽ "phi Hữu phi Vô", con

người đã đạt đến mức Tâm hư vô thì việc nhận ra Bản thể là điều tất yếu

Trang 35

Nghĩa: Lặng lẽ như vầng trăng trên nứi Lăng Già, Hư không như con thuyền vượt

biển Biết đúng cái không thì cái không hóa ra cái có Và sẽ mặc ý mà đi suốt Tam muội (Tam muội: Chỉ cảnh giới của người đã bỏ được mọi ràng buộc mà đi tới sự giải thoát) Cái quan niệm Hữu // Vô được Từ Lộ (Đạo Hạnh) chỉ rõ: Nó tựa như vầng trăng đáy nước, thật là huyễn ảo, có đấy mà thực ra chẳng có

Nghĩa: Bảo là có thì từ hạt cát, mảy may đều có Cho là không thì hết thảy là không

Có và Không như ánh trăng dưới nước Đừng có bám hẳn vào cái Có và cũng đừng cho cái không là Không

Thiền tông chủ trương việc cầu đạo của Thiền tăng chẳng phải cầu từ Phật, Pháp, Tăng, chẳng phải tìm trên văn tự, chẳng phải cầu từ việc tu hành, chỉ có thể truyền ngoài giáo lí Thiền tông cho rằng nếu như đã hiểu rõ đạo lí của Phật mà còn đi tìm, cầu vào lời nói thì đã chấp trước vào lí kia Cho nên không cần thuyết pháp, không cần thuyết giáo, không cần quá nệ vào kinh kệ

Trang 36

Nghĩa: Thoát li được lòng ham muốn đi vào Niết bàn mới có thể bàn tới chuyện đi vào Niết bàn Sau khi sinh vào cõi vô sinh mới nên nói vô sinh Nam nhi tự mình có cái chí tung trời Đừng đi theo bước của Như Lai

Thiền sư Tô Minh Trí cho rằng:

Nghĩa : Giáo ngoại chỉ có thể truyền theo cách riêng, Hy dy là bắt nguồn từ cõi Thiền Nếu người ta muốn phân tích về nó, thì có khác chi tìm tia khối ở trong bóng

nắng

Người tu hành phải dùng trực giác mà lĩnh hội đạo lí, nếu cứ chăm chú vào kinh kệ,

cứ tìm hỏi đâu là cõi Phật thì không thể đắc đạo vì người đó vẫn chưa thoát khỏi chữ

"Hữu" Rốt cuộc cũng như cá chép không vượt được Vũ môn

Nghĩa: Nào ai biết rằng trong cô gái trẻ trung đã thấy mái đầu bạc Nói cho người

học đạo hiểu, Nếu cứ lo tìm hỏi đâu là cõi Phật, thì cũng như cá chép nhảy thi ở Long môn bị chấm trán mà thôi

Trang 37

Kiều Phù (Bảo Giám) trong bài "Cảm hoài", đà gửi lời nhắn nhủ chúng sinh: Muốn đắc đạo chớ dựa vào tu hành

Nghĩa: Thành được chính giác, ít khi dựa vào tu hành Vì tu hành chỉ là giam cầm cái ưu việt của trí tuệ Chỉ cần nhìn thấy đạo ư huyền điệu của hòn ngọc ma ni, thì đúng như mặt trời rực rỡ trên không

Thiền tông cho rằng cách thể nhập đại đạo chỉ có Đốn ngộ Trong giây phút Đốn

ngộ, nhân duyên sạch làu, tâm thành hư vô Tâm có hư vô thì trí tuệ mới xuất lộ giống như mây tan để lộ ánh mặt trời Đọ là giây phút bùng vỡ của tiềm thức, trong một trạng thái gần như xuất thần Có khi sự Đốn ngộ huyền bí đó đi kèm tiếng thét Tiếng thét đó ví như tiếng sét đánh vào cái mờ mịt của ý thức

Nghĩa: Chọn được kiểu đất long xà rất hợp, có thể ở được Tình quê suốt ngày vui không chán Có lúc lên thẳng đỉnh núi chơ vơ, kêu dài một tiếng, lạnh cả bầu trời

Về tác phẩm này, Nguyễn Đăng Na trong bài "Con đường tuệ giải bài kệ gọi là 'Ngôn hoài' của Không Lộ Thiền sư" [17, tr.48] có cách lí giải riêng Theo ông, "Ngôn hoài" là một bài kệ đáp, nhằm trả lời bài kệ vấn của Thị giả Vị Thị giả hỏi ông:

Trang 38

Nghĩa: Rèn luyện thân tâm thì mới được trong sạch Như thân cây thẳng tấp mà rườm rà đứng trước sân không Có người tới hỏi phép của Không vương Ngồi tựa bên bình phong, bóng lồng lấy hình

Không Lộ Thiền sư không tri lời thẳng vào lời Thị tử hỏi Ông trả lời gián tiếp bằng bài kệ trên, nội dung của kệ đáp phải được hiểu là: Sao còn phân biệt "Long" (Thánh nhân) với "Xà" (Phàm nhân) Hãy để cho lòng mình tự nhiên thanh thản, chẳng chịu sự câu thúc của nhân tình và thế sự (dã tình) trong suốt cuộc đời (chung nhật), vui hướng tới

Niết bàn (Vô dư), thì nhất định sẽ có thời điểm đạt tới sở nguyện (như Thiện tài đồng tử

đã thành Phật trên đĩnh nói Tu Di vách thẳng đứng) (Lúc đó) tiếng chuông sẽ ngân vang

và lòng trỏ nên tĩnh lặng tựa hư không

Đây là cách hiểu về bài kệ "Ngôn hoài" của tác giả Nguyễn Đăng Na Nhưng cách

giải nghĩa từ hàn trong câu (câu 4) cùa ông cũng cần xem lại

Tác giả cho rằng: "Chẳng thể dịch hàn thái hư là làm lạnh bầu trời Hàn là trỏ nên

tịch mịch lặng lẽ" Rất tiếc là trong tiếng Hán, "hàn" chỉ có nghĩa gốc là lạnh, rét (Ví dụ: Bít hàn nhi lật - Không rét mà run) và nghĩa phái sinh là (1) sợ hãi (Ví dụ: Triệu Lương hàn tâm - Triệu Lương sợ hãi) (2) nghèo khổ (Ví dụ: bần hàn, hàn sĩ)

Vì lí do kể trên, câu bốn của bài "Ngôn hoài" “Trường khiếu nhất thanh hàn thái

hư” chì có thể là tiếng thét của sự Đốn ngộ, biểu thị khát vọng vươn tới Chân như, được

ngang tầm với vũ trụ của Không Lộ Thiền sư

Trang 39

2.3.1.2 Thơ tứ tuyệt thời Lý gián tiếp thuyết giảng giáo lí đạo Phật và yếu chỉ Thiền tông

Ngoài trực tiếp thuyết giảng về giáo lí đạo Phật và yếu chỉ Thiền tông, các bậc Đại

sư Thiền tông thời Lý cồn thông qua cảnh vật thiên nhiên, gián tiếp giảng về giáo lí nhà

Phật

Muôn vật có sinh có diệt (hữu trụ, hữu diệt), cũng như con người có sinh có hóa Có

ai thoát khỏi vòng sinh, lão, bệnh, tử Khi mới sinh ra, tướng sinh của người được ví như mùa xuân, dương xuân thịnh vượng, muôn vật tốt tươi, liễu biếc đào hồng, oanh ca bướm múa Khi trò về già, tướng già của người ví như mùa hạ, trời nồng đá chảy, mọi vật khô héo, hoa tàn liễu rạc Đến khi ngã bệnh, tướng bệnh của người ví như mùa thu, sương

buốt mới sa, cỏ xanh đều ùa, núi biếc non xanh, móc ngọc vừa rơi, thêm phần lạnh lẽo Đến lúc nhắm mắt xuôi tay, tướng chết của con người tựa với mùa đông, âm tinh cực

thịnh, mưa tuyết tơi bời, dương khí dần tan Cuộc đời có rồi lại không, có thịnh có suy

lất cả những điều đó đều là huyễn ảo, chỉ có Bản thể là mãi trường tồn Thấu hiểu lẽ đó thì chẳng có gì phải lo buồn sợ hãi

Nghĩa: Người đời như bóng chớp, có rồi lại không Như cây cối mùa xuân tốt tươi, mùa thu khô héo Mặc cho vận đời dù thịnh hay suy đừng sợ hãi, vì sự thịnh suy cũng mong manh như giọt sương đầu ngọn cỏ

Khi đã hiểu cái mà người ta sỏ kiến là huyễn ảo thì con người không

Trang 40

còn vọng động, tâm trở nên tĩnh lặng Đối diện với thiên nhiên tươi đẹp, có hoa nở bướm lượn, các bậc Thiền sư vẫn an nhiên tự tại Họ cho rằng hoa ấy, bướm ấy là hình ảnh không thực, chớ nến bận tâm

Nghĩa: Xuân sang hoa và bướm khéo quen với thời tiết, hoa và bướm cần phải thích ứng với kì hạn của chúng Nhưng hoa và bướm vốn dĩ đều là hư ảo Chớ nên bận tâm về hoa và bướm

Nhiều khi một cảnh thực của cuộc sống cũng được các bậc Thiền sư nhìn với điểm nhìn của một nhà tu hành Giữa cảnh thiên nhiên tươi đẹp, ngư ông kia vẫn say giấc

nồng Ấy là vì ngư ông đã giác ngộ một điều: cảnh đẹp đó chỉ là huyễn ảo

Nghĩa: Sông xanh muôn dặm, trời muôn dặm Một xóm dâu gai, một xóm khói mây Ông chài ngủ say tít không ai gọi, Quá trưa tỉnh dậy, tuyết xuống đầy thuyền

Ngoài nội dung thuyết giảng giáo lí và yếu chỉ Thiền tông, thơ Thiền còn phản ánh tinh thần "Tam giáo đồng nguyên" của thời đại Đạo giáo do Lão Tử đề xướng, Trang Tử

Ngày đăng: 02/12/2015, 09:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3.Nguy ễn Huệ Chi (1987), "Mãn Giác và bài thơ Thiền nổi tiếng của ông", Tạp chí Văn học số 5/1987 tr 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mãn Giác và bài thơ Thiền nổi tiếng của ông
Tác giả: Nguy ễn Huệ Chi
Năm: 1987
12.Tr ần Ngọc Lan (1986), "Chất trữ tình trong thơ Thiền đời Lý" Tạp chí Văn học s ố4/1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất trữ tình trong thơ Thiền đời Lý
Tác giả: Tr ần Ngọc Lan
Năm: 1986
14.T ạ ngọc Liễn (1997), “Tứ tuyệt có phải là thơ bốn câu?” Văn nghệ trẻ (số 25) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tứ tuyệt có phải là thơ bốn câu
Tác giả: T ạ ngọc Liễn
Năm: 1997
15.T ạ Ngọc Liễn (2002), “Thể thơ thất ngôn tuyệt cú”, Văn nghệ trẻ (số 23) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể thơ thất ngôn tuyệt cú
Tác giả: T ạ Ngọc Liễn
Năm: 2002
17.Nguy ễn Đăng Na (2002), "Con đường tuệ giải bài kệ gọi là Ngôn hoài của Không L ộ Thiền sư", Tạp chí Văn học số 7-2002 tr. 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường tuệ giải bài kệ gọi là Ngôn hoài của Không Lộ Thiền sư
Tác giả: Nguy ễn Đăng Na
Năm: 2002
39.Đoàn Thị Thu Vân (1992) "Một vài nhận xét về thơ Thiền Lý-Trần" Tạp chí Văn h ọc số 2, tr.35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài nhận xét về thơ Thiền Lý-Trần
40.Đoàn Thị Thu Vân (1993) "Quan niệm về con người trong thơ Thiền thời Lý- Tr ần" Tạp chí Văn học số 3 tr 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về con người trong thơ Thiền thời Lý-Trần
1.Đỗ Tùng Bách (2000), Thơ thiền Đường Tống, NXB Đồng Nai Khác
2.Nguy ễn Tài Cẩn (1979), Nguồn gốc và quả trình hình thành cách đọc Hán Việt, NXB Khoa h ọc xã hội Khác
4.Trương Chính - Đặng Đức Siêu (1978), sổ tay văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa Khác
5.Tr ần Văn Giàu (2000), Tuyển Tập, NXB Giáo dục Khác
6.Nguy ễn Thị Bích Hải (1995), Thi pháp thơ Đường, NXB Thuận Hỏa, Huế Khác
7.Dương Quảng Hàm (1968), Việt Nam Văn học sử yếu, NXB Trung tâm học liệu Sài Gòn Khác
8.Nguy ễn Văn Hạnh - Huỳnh Như Phương (1998), Lý luận Văn học - vấn đề và suy nghĩ, NXB Giáo dục Khác
9.Nguy ễn Phạm Hùng (1966), Văn học Lý - Trần nhìn từ thể loại, NXB Giáo dục Khác
10.Đinh Gia Khánh (1976), Hợp tuyền thơ văn Việt Nam, NXB Văn học Khác
11.Tr ần Trọng Kim (1995), Đường thi, NXB Vãn hóa thông tin Khác
13.Mai Qu ốc Liên (1998), Phê bình và tranh luận văn học, NXB Văn học Hà Nội Khác
16.Nguy ễn Công Lý (1997), Bản sắc dân tộc trong Văn học Thiền Tông thời Lý Tr ần, NXB Văn hoá thông tin Khác
18.L ạc Nam (1993), Tim hiểu các thể thơ, NXB Văn học Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  ảnh vầng trăng, tượng trưng cho trí tuệ bát nhã " Trí gi ả do như nguyệt chiếu  thiên  -  Trí tu ệ như trăng chiếu khắp trời" (Kiều Phù -  C ảm hoài II) cũng thường được - thơ tứ tuyệt thời lý
nh ảnh vầng trăng, tượng trưng cho trí tuệ bát nhã " Trí gi ả do như nguyệt chiếu thiên - Trí tu ệ như trăng chiếu khắp trời" (Kiều Phù - C ảm hoài II) cũng thường được (Trang 60)
BẢNG PHỤ LỤC - thơ tứ tuyệt thời lý
BẢNG PHỤ LỤC (Trang 91)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w