Trong các triều đại phong kiến Việt Nam, việc tuyển chọn quan lại có vai trò cũng như ý nghĩa vô cùng quan trọng, đây là một trong những công việc cần thiết ngay từ khi bắt đầu thành lập
Trang 1Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
ThS NINH THỊ HẠNH
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đề hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin gửi lời cảm ơn
chân thành và sâu sắc tới cô giáo ThS Ninh Thị Hạnh người đã tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận
Qua đây em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; trường Đại học KHXH& NV cùng cán bộ Thư viện quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ em trong quá trình thu thập tài liệu để làm khóa luận
Em xin cảm ơn sự quan tâm của gia đình và bạn bè đã động viên giúp đỡ em hoàn thành khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 08 tháng 05 năm 2014
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Minh Lý
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự
hướng dẫn của ThS Ninh Thị Hạnh Các số liệu, dữ liệu, kết quả trong
khóa luận là hoàn toàn trung thực Các nguồn tài liệu, trích dẫn có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng Tôi xin cam đoan những điều trên là đúng sự thật
Hà Nội, ngày 08 tháng 05 năm 2014
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Minh Lý
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 4
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của khóa luận 5
6 Bố cục 6
Chương 1 HOẠT ĐỘNG TUYỂN CHỌN VÕ QUAN TRƯỚC THỜI LÝ - TRẦN 7
1.1 Hoạt động tuyển chọn võ quan trước thời Lý - Trần 7
1.2 Đặc điểm hoạt động tuyển chọn võ quan trước thời Lý - Trần 17
Chương 2 HOẠT ĐỘNG TUYỂN CHỌN VÕ QUAN THỜI LÝ - TRẦN (1009 - 1400) 24
2.1 Bối cảnh lịch sử 24
2.1.1 Tình hình kinh tế 24
2.1.2 Tình hình chính trị 27
2.1.3 Tình hình văn hóa - giáo dục 28
2.1.4 Tình hình xã hội 30
2.2 Hoạt động tuyển chọn võ quan thời Lý - Trần 31
2.2.1 Hình thức tuyển chọn 31
2.2.1.1 Giảng Võ Đường 32
2.2.1.2 Nhiệm tử hay tập ấm, tiến cử 35
2.2.1.3 Thông qua cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm 38
2.2.2 Các tiêu chí tuyển chọn 42
Trang 5Chương 3 ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG TUYỂN
CHỌN VÕ QUAN THỜI LÝ - TRẦN 50
3.1 Đặc điểm của hoạt động tuyển chọn võ quan thời Lý - Trần 50
3.2 Vai trò của hoạt động tuyển chọn võ quan thời Lý - Trần 63
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ xưa đến nay việc tuyển chọn quan lại, chọn người hiền tài để phục
vụ đất nước là công việc vô cùng quan trọng của mỗi triều đại, quốc gia Thân
Nhân Trung từng nói “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì
đất nước mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà càng xuống thấp Bởi vậy các bậc vua tài giỏi đời xưa, chẳng có đời nào lại không chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài bồi đắp thêm nguyên khí” Như vậy
có thể thấy được vai trò tầm quan trọng của người hiền tài đối với sự phát triển của đất nước
Dân tộc ta sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đặc biệt, thường xuyên bị
đe dọa bởi thiên tai và dịch họa, do đó dân tộc ta không thể tồn tại và phát triển được nếu thiếu đi tinh thần yêu nước và khí phách anh hùng của toàn thể dân tộc Trên nền tảng vật chất và tinh thần ấy trong lịch sử thường xuyên xuất hiện nhiều nhân tài lỗi lạc đem trí tuệ và lòng yêu nước của mình để phục vụ đất nước Cho dù ở thời đại nào cũng cần đến đội ngũ những bậc hiền tài để phục vụ đất nước Đất nước muốn giàu mạnh phát triển thì chắc chắn cần phải có một đội ngũ trí thức lớn, có cả tâm và tài
Trong các triều đại phong kiến Việt Nam, việc tuyển chọn quan lại có vai trò cũng như ý nghĩa vô cùng quan trọng, đây là một trong những công việc cần thiết ngay từ khi bắt đầu thành lập bởi việc tuyển chọn quan lại nhằm xây dựng lên một hệ thống quan trường vững chắc, góp phần củng cố và phát triển hơn nữa quyền lực các triều đại Với một đội ngũ quan lại đông đảo có đức có tài sẽ đóng góp vai trò quan trọng trong việc duy trì sự phát triển đi lên của đất nước
Nằm trong công việc chung của tuyển chọn quan lại là việc tuyển chọn
võ quan Ngay từ thời kỳ đầu lịch sử những người am hiểu võ thuật làm điều
Trang 7trượng nghĩa luôn được khen ngợi cũng như là tấm gương sáng để mọi người soi vào học tập Vì vậy mà từ rất sớm võ thuật đã giữ vị trí quan trọng trong cuộc sống, người thượng võ thì được đề cao trong xã hội Do đó dù ở thời kỳ nào thì người có võ cũng không bao giờ bị thất thế Khi đất nước, quốc gia dân tộc được xác lập thì đã đẩy mạnh quá trình tuyển chọn quan lại, trong đó
ý nghĩa cũng như mục đích của việc tuyển chọn võ quan không nằm ngoài việc tuyển chọn quan lại Quan võ đóng vai trò quan trọng hơn cả trong bộ máy nhà nước, họ trực tiếp nắm giữ vận mệnh của đất nước cũng như gách vác trọng trách cao cả bảo vệ non sông đất nước Thông qua công tác tuyển chọn võ quan nhằm phát hiện, bồi dưỡng nhân tài võ thuật cho đất nước Cũng như hoàn thành trách nhiệm dân tộc giao phó
Dưới thời Lý - Trần việc tuyển chọn quan lại đã dần dần đi vào quy củ,
có quy định rõ ràng Vì vậy việc tìm hiểu hoạt động tuyển chọn võ quan thời
Lý - Trần mang ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc tìm hiểu hoạt động tuyển chọn võ quan của các triều đại sau nói riêng và hoạt động tuyển chọn quan lại trong lịch sử Việt Nam nói chung Nhận thức được tầm quan trọng của đội ngũ quan lại nên triều đại nào cũng quan tâm chú trọng tới vấn đề này, trong đó vai trò của quan võ là quan trọng hơn cả Trong lịch sử dân tộc dưới hai triều đại này có rất nhiều cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, chính điều đó đã làm rõ thêm vai trò quan trọng của đội ngũ võ quan trong giai đoạn này Bởi giữ vai trò quan trọng như vậy cho nên trong lịch sử chưa bao giờ thôi nhắc đến công lao thành tích của đội ngũ võ quan ở mỗi triều đại Việc tuyển dụng quan võ dưới thời Lý chưa được rõ ràng cũng như chưa có quy định, quy chế cụ thể Nhưng đến thời Trần việc tuyển chọn này có quy củ
rõ ràng hơn, cũng được các sử gia ghi chép lại nhiều hơn Cụ thể đó là việc thành lập Giảng Võ đường vào năm 1253 cho phép con em tôn thất quý tộc vào học tại đây Đồng thời đây cũng là nơi phát hiện, bồi dưỡng những tướng
Trang 8lĩnh giỏi, văn võ toàn tài cũng như mưu cao trí lược Thể hiện sự đặc biệt quan tâm của triều đình đối với bộ phận quan võ
Nghiên cứu tuyển chọn võ quan thời Lý - Trần là việc tập trung đi sâu, làm rõ vấn đề tuyển dụng quan võ qua các hình thức đồng thời chứng minh rằng triều đại sau phát triển, tổ chức thi cử chọn lựa tiến bộ hơn triều đại
trước Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài “Hoạt động tuyển chọn
võ quan thời Lý - Trần (1009 - 1400)” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của
mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tuyển chọn võ quan ở mỗi triều đại là một trong những vấn đề khá quan trọng được nhiều học giả quan tâm chú ý nghiên cứu tới Cụ thể như:
Một là sách thông sửnhư: “Đại Việt sử ký toàn thư” của Ngô Sĩ Liên
do Nxb Văn học (2009) ban hành, “Lịch triều hiến chương loại chí” - Phan
Huy Chú là cuốn chính sử cung cấp những sự kiện xác thực nhất về việc tuyển chọn võ quan Trong đó trình bày cụ thể lịch sử nước ta từ trước triều đại nhà Lý cùng các triều đại sau đó
Hai là sách chuyên khảo: “Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ
XIX” của Đào Duy Anh, tác phẩm do Nxb Khoa học xã hội xuất bản (2002)
Cuốn “Lịch sử văn hóa Việt Nam” của Huỳnh Công Bá - Nxb Thuận Hóa - năm 2008 Và cuốn “Lịch Sử Việt Nam” tập I do tác giả Phan Huy Lê chủ
biên, Nxb Giáo dục ban hành Đây là cuốn sử viết cụ thể và sâu sắc về hai triều đại phong kiến Lý - Trần cũng như việc thi tuyển nhằm tuyển chọn quan lại mà cụ thể trong đó là quan võ, đồng thời cuốn sách cũng chỉ rõ cách thức
tổ chức huấn luyện đào tạo võ quan dưới hai triều đại này
Quan trọng hơn cả là những cuốn sách đi sâu vào tìm hiểu hoạt động
tuyển chọn võ quan trong thời kỳ này như cuốn “Lịch sử quân sự Việt Nam”
tập 3, 4 của Bộ quốc phòng và Viện lịch sử quân sự Việt Nam do Nxb Chính
Trang 9trị quốc gia ban hành, Hà Nội năm 2003 Đây là cuốn sách viết rất chuyên sâu
về việc tuyển chọn cũng như đào luyện võ tướng dưới triều đại Lý - Trần
Ngoài ra còn có cuốn “Những danh tướng chống giặc ngoại xâm thời Trần”
của tác giả Quốc Chấn và do Nxb Thanh Hóa năm 2006 ban hành Cuốn sách này đã trình bày một cách có hệ thống về công lao và vai trò của các vị võ tướng dưới triều đại nhà Trần
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích của đề tài
Đề tài nhằm làm rõ việc tuyển chọn võ quan dưới hai triều đại phong kiến Lý - Trần để nhìn thấy rõ được sự tiến bộ, phát triển của triều đại sau so với triều đại trước Đồng thời có thể rút ra được những nhận định, đánh giá về vấn đề này
- Đưa ra nhận xét, đánh giá về việc tuyển chọn võ quan của hai triều đại, bước đầu đưa ra những so sánh sự tiến bộ của triều đại sau so với triều đại trước
3.3 Phạm vi
- Về mặt nội dung: Tập trung nghiên cứu việc tuyển dụng quan võ dưới
hai triều đại phong kiến Lý - Trần và tác dụng của công tác tuyển chọn này đối với triều đại phong kiến
Trang 10- Về mặt thời gian: Từ khi nhà Lý được thành lập cho đến hết triều đại nhà Trần (1009 - 1400)
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Để hoàn thành khóa luận chủ yếu dựa vào nguồn tư liệu sau:
Các cuốn sách thông sử về lịch sử dân tộc và sách chuyên khảo thời Lý
- Trần
Các cuốn sách chính chuyên sâu về vấn đề tuyển chọn quan lại mà chủ yếu là võ quan
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau:
Phương pháp lịch sử: Đó là đi sâu vào tìm hiểu hoạt động tuyển chọn quan lại nói chung và hoạt động tuyển chọn võ quan nói riêng, nhất là dưới thời Lý - Trần
Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đi sâu tìm hiểu hoạt động tuyển chọn
võ quan thời Lý - Trần, từ đó có sự so sánh và đối chiếu với các triều đại trước và sau đó
Phương pháp lý thuyết: Đi sâu nghiên cứu hoạt động tuyển chọn quan
võ thời Lý - Trần thông qua các cuốn sách chuyên sâu, chuyên khảo
5 Đóng góp của khóa luận
Đề tài có thể làm nguồn tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên quan tâm đến lịch sử Việt nam nói chung và việc tuyển chọn võ quan dưới thời Lý - Trần nói riêng
Đề tài cũng có giá trị thực tiễn trong việc rút ra những bài học nhất định
về nghệ thuật tuyển dụng quân sự, võ thuật để áp dụng vào công tác đào tạo cũng như huấn luyện binh sĩ hiện nay
Trang 116 Bố cục
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục thì khóa luận được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Hoạt động tuyển chọn võ quan trước thời Lý - Trần
Chương 2: Hoạt động tuyển chọn võ quan thời Lý - Trần (1009 - 1400) Chương 3: Đặc điểm và vai trò của hoạt động tuyển chọn võ quan thời
Lý - Trần
Trang 12Chương 1 HOẠT ĐỘNG TUYỂN CHỌN VÕ QUAN TRƯỚC
ca ngợi người anh hùng nào đó có công được tôn thờ biết ơn Do đó ngay từ nhỏ họ đã cho con em mình đi theo học võ, bởi cái lợi của người học võ không ai có thể phủ nhận được Với quan niệm tích cực như vậy nên trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã xuất hiện rất nhiều nhân tài võ thuật kiệt xuất đưa đất nước đi lên thoát khỏi khó khăn nạn ngoại xâm mất nước, mang lại cuộc sống yên bình ổn định cho nhân dân
Để lựa chọn ra những người tài năng, đức độ thực sự đó thì trong lịch
sử đã có nhiều cách lựa chọn, nhưng nhìn chung là thông qua phép thi sẽ có được một kết quả tốt nhất mà lại công bình với tất cả mọi người Tuy nhiên không phải ngay từ đầu đã có điều này mà nó phải trải qua một quá trình lâu dài đi lên không ngừng hoàn thiện của lịch sử dân tộc, cụ thể là phải tới thời
Lý - Trần mới bắt đầu manh nha hình thành con đường thi tuyển lựa chọn ra quan võ để bổ sung vào đội ngũ võ quan đất nước Dù đến lúc này mới có phép thi tuyển chọn nhưng không có nghĩa những triều đại trước đó bộ máy nhà nước thiếu vắng bộ phận quan trọng này Họ vẫn được vua quan triều đình trọng dụng thông qua những con đường khác nhau Vì những con đường
Trang 13này không có quy định, quy chế cụ thể rõ ràng nên nó không được xem là hoạt động thi có tổ chức Dù như vậy nhưng những cống hiến đóng góp của
họ luôn được lịch sử ghi nhận, người đời nhớ đến Hoạt động tuyển chọn võ quan trước thời Lý - Trần cụ thể như sau:
Thời kỳ nhà nước Văn Lang - Âu Lạc
Khi nhà nước chưa ra đời thì dường như không có một nguồn sử liệu chữ viết nào có thể ghi chép lại lịch sử của dân tộc ta lúc bấy giờ mà chủ yếu
là thông qua sử liệu dân gian truyền miệng để hiểu thêm về lịch sử Chỉ biết rằng dân tộc ta sinh ra từ một bọc trăm trứng sau đó trăm trứng nở thành trăm con và 50 con lên rừng còn 50 con xuống biển Dân tộc ta là một dân tộc có nguồn gốc con lạc cháu hồng Vì vậy mà từ khi sinh ra tổ tiên ta đã có người
ở trên rừng, kẻ ở dưới biển là vì thế Cùng với áp lực sự nguy hiểm của cuộc sống tự nhiên, hoang dã và chiến đấu để chống lại thú dữ mà ngay từ đầu tổ tiên ta đã mang trong mình bản năng chiến đấu bảo vệ sự sinh tồn Từ sớm dân tộc ta đã là những con người gan dạ nhất biết sử dụng mưu mẹo cũng như tận dụng tài năng võ nghệ của mình để giết thú vật bảo vệ tính mạng của con người Có thể thấy võ nghệ là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của người dân cũng như sự xuất hiện rất sớm của nó Đồng thời thấy được sự đam
mê võ nghệ của nhân dân ta cũng như lợi ích giúp đời của người học võ
Khi nhà nước ra đời, đó là nhà nước Văn Lang - quốc gia đầu tiên của người Việt đã đánh dấu bước phát triển lớn trong lịch sử loài người Nó đặt nền móng cho sự hình thành của dân tộc với một nền văn hóa riêng - cội nguồn sức mạnh tinh thần của nhân dân Việt để có thể vượt qua được những thử thách hết sức ngặt ngèo, nguy hiểm Khi bộ máy nhà nước thô sơ đầu tiên dựng lên còn rất đơn giản với ba cấp rõ ràng là Hùng Vương đứng đầu đồng thời cũng là người chỉ huy quân sự tối cao của đất nước, giúp việc cho vua là các Lạc hầu, Lạc tướng với thể chế cha truyền con nối, dưới là các bộ đứng
Trang 14đầu là kẻ, chiềng, chạ Nhìn vào bộ máy hành chính đất nước lúc bấy giờ cho thấy vai trò vô cùng quan trọng của các vua Hùng với vai trò là những thủ lĩnh quân sự Và giúp việc cho những chỉ huy quân sự này trong đánh giặc chiến đấu là các Lạc tướng, họ là những người tài giỏi mưu lược cũng như thành thạo võ nghệ Sau khi Thục phán An Dương Vương thay thế vua Hùng
đã phải đối phó với âm mưu xâm lược của nhà Tần ở Trung Quốc, trước điều
đó với tài năng quân sự của người thủ lĩnh cùng với nhân dân đã đánh bại được kẻ thù Nước Âu Lạc vì thế thoát khỏi âm mưu nhòm ngó xâm lược của nhà Tần Việc thủ lĩnh quân sự đồng thời là người đứng đầu đất nước đã phần nào xác lập vị trí vai trò của người học võ trong xã hội lúc bấy giờ rất được quan tâm coi trọng
Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Phùng Hải
Sự kiện đầu tiên là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào những năm 40 Hai Bà là con của một Lạc tướng huyện Mê Linh, ngay từ nhỏ đã yêu thích võ nghệ cũng như có ý thức và tự chủ rất cao theo tinh thần con nhà võ Do
Trang 15không khuất phục trước ách cai trị thâm độc, tàn bạo của nhà Đông Hán cùng với một nỗi hận không bao giờ xóa được là chồng bà bị tên Thái thú Tô Định giết nên Hai Bà đã dựng cờ khởi nghĩa Dù là người đàn bà chân yếu tay mềm nhưng khi đã hô một tiếng thì được đông đảo nhân dân hưởng ứng ủng hộ đi theo, trong đó có rất nhiều phụ nữ tham gia vào cuộc khởi nghĩa và trở thành những tướng soái của Hai Bà như nữ tướng Lê Chân, Vũ Thục Nương, Thiều Hoa, Diệu Tiên, Man Thiện, Đào Kỳ Nhờ vậy lực lượng nghĩa quân lớn mạnh nhanh chóng, cả nước đứng lên đi theo Hai Bà khởi nghĩa đã làm cho
Tô Định khiếp sợ phải bỏ chạy về nước Cuộc khởi nghĩa toàn thắng, chính quyền đô hộ bị lật đổ, nền độc lập tự chủ của dân tộc được khôi phục sau hơn
150 năm bị nô lệ Sau khi cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi, được sự ủng hộ và suy tôn của các Lạc tướng, tầng lớp quý tộc và nhân dân cả nước thì Hai Bà Trưng đã xưng vương (Trưng nữ Vương) Hai Bà cũng bắt tay ngay vào xây dựng chính quyền tự chủ, lấy Mê Linh làm kinh đô và phong tướng cho những người có công trong sự nghiệp giành lại độc lập Việc ban phong cụ thể rõ ràng nhưng dưới thời Hai Bà Trưng thì việc tuyển chọn cũng như đào tạo quan võ dường như chưa có cụ thể, vẫn chủ yếu là được truyền lại, dạy lại, phong tướng trong chiến đấu Họ là những nữ tướng tự nguyện tham gia cầm quân quét sạch quân thù vì vậy họ xứng đáng được xem là những nữ tướng của dân tộc ta, đồng thời cũng là những bạc hùng tài có trí hơn người trong nữ giới Trong hoàn cảnh lúc bấy giờ không có biện pháp cũng như phương thức tuyển chọn cụ thể nhưng khi đất nước cần thì những con người hiền lành bình
dị ấy lại vùng nên thành một làn sóng mạnh mẽ nhấn chìm tất cả kẻ thù xâm lược Dù không cùng nơi ăn chỗ ở nhưng với lòng căm thù giặc, ý chí kiên cường bất khuất họ kéo nhau đến đầu quân cho Hai Bà Trưng để cùng nhau đóng góp sức lực của mình để giúp Hai Bà đền nợ nước trả thù nhà Điểm
Trang 16chung lôi kéo gắn bó họ lại với nhau chính là tinh thần yêu nước, yêu dân tộc rất lớn
Khởi nghĩa Bà Triệu (năm 248) tức Triệu Thị Trinh, đây cũng là một người phụ nữ tài giỏi, gan dạ Với chí khí hơn người cùng lòng căm thù giặc sâu sắc thì Bà cùng anh là Triệu Quốc Đạt vào rừng tập luyện quân sĩ để chuẩn bị khởi nghĩa Cuộc khởi nghĩa đã thu hút đông đảo nhân dân tham gia
đi theo ủng hộ nhưng do thế yếu nên cuộc khởi nghĩa của Bà chưa đi tới thắng lợi Dù vậy nhưng tinh thần chiến đấu cũng như chí khí hơn người của Bà luôn được đề cao, coi trọng Bà và Hai Bà Trưng là những hình ảnh tiêu biểu nhất cho người phụ nữ Việt Nam trong những ngày đầu dân tộc ta bị chèn ép,
áp bức mặc dù là phận nữ nhi chân yếu tay mềm chỉ biết việc nhà nhưng không vì vậy mà họ chịu khuất phục trước cường bạo, tàn ác Các Bà xứng đáng là những nữ tướng của dân tộc Việt Nam, đứng ngang bằng trong hàng ngũ các anh hùng vĩ đại của dân tộc
Khởi nghĩa Lý Bí và sự ra đời nhà nước Vạn Xuân Mặc dù những cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta nổ ra liên tục và gặp không ít thất bại nhưng nó chưa bao giờ ngừng, nhân dân ta chưa bao giờ thôi đầu hàng chấp nhận kiếp sống, thân phận nô lệ Lý Bí xuất thân từ một hào trưởng địa phương có võ công cao cường Với lòng oán hận chính quyền đô hộ cũng như căm ghét chế
độ sĩ tộc nhà Lương nên đã bí mật chiêu tập nhân dân, luyện tập quân sĩ chờ ngày khởi nghĩa Với sự giúp đỡ và ủng hộ của các tướng giỏi như Triệu Túc, Phạm Tu, Triệu Quang Phục cũng như toàn thể nhân dân mà cuộc khởi nghĩa diễn ra trong vòng ba tháng đã giành thắng lợi Sau khi thắng lợi Lí Bí tự xưng hoàng đế xây dựng chính quyền tự chủ với bộ máy nhà nước gồm nhiều chức như Triệu Túc được phong làm Thái phó, Tinh Thiều làm tướng văn còn Phạm Tu thì làm tướng võ Từ đầu hai bên văn và võ đã được đặt ngang nhau, còn việc lựa chọn người làm tướng võ là dựa vào người có nhiều công lao
Trang 17đóng góp trong chiến đấu vì thời kỳ này vẫn chưa đặt ra phép thi để lựa chọn tướng võ Điểm chung của những thủ lĩnh trên đây đều là những người học võ
và biết võ
Tới thời kỳ tự chủ họ Khúc đã đặt nền móng cho nhân dân ta bảo vệ quyền tự chủ của dân tộc mình Trong cuộc kháng chiến đó dưới sự lãnh đạo của Dương Đình Nghệ thì Ngô Quyền, một gia nô của Dương Đình Nghệ đã được cử làm gia tướng chỉ huy đạo quân chủ lực Sau này được Dương Đình Nghệ tin tưởng gả con gái cho Như vậy trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách thì ngay cả một gia nô biết võ cũng được cử làm gia tướng cầm quân đánh giặc Chính vì vậy mà cuộc kháng chiến của nhân dân ta dưới sự chỉ huy của Dương Đình Nghệ đã đánh bại mưu đồ xâm chiếm nước ta của nhà Hán Nền độc lập tự chủ của dân tộc cũng như những thành tựu đạt được trong những năm dưới thời họ Khúc được bảo vệ và giữ vững Do vậy thấy được võ nghệ quan trọng biết nhường nào nhất là trong lúc nguy nan như thế này Không lâu sau Dương Đình Nghệ bị một nha tướng của mình là Kiều Công Tiễn giết
để giành lấy chính quyền Nhận được tin dữ này thì Ngô Quyền đã cùng nhiều tướng lĩnh giỏi khác tiến ra Giao Châu trừng trị, do quá khiếp sợ trước khí thế chiến đấu của nhân dân cũng như tướng lĩnh nên Kiều Công Tiễn đã vội vàng sang cầu cứu vua Nam Hán Chớp thời cơ thuận lợi đó mà vua Nam Hán đã sai con trai mình cầm quân kéo sang xâm lược nước ta Sau khi Ngô Quyền giết Kiều Công Tiễn đã chuẩn bị đối phó với kẻ thù, ông huy động một lực lượng lớn nhiều vị tướng giỏi như Đỗ Cảnh Thạc, Dương Tam Kha, Ngô Xương Ngập cùng nhiều nữ tướng khác bàn mưu đánh giặc Có thể khẳng định rằng Ngô Quyền là một võ tướng giỏi, xuất sắc có mưu chí hơn người khi bố trí trận địa đóng cọc làm nên thắng lợi vang dội chính là chiến thắng Bạch Đằng
Trang 18Thắng lợi đó đã đánh bại ý chí xâm lược của kẻ thù, chấm dứt vĩnh viễn nền đô hộ hơn 1000 năm phong kiến phương Bắc mở ra thời kỳ độc lập
tự chủ lâu dài Như vậy trong suốt một nghìn năm Bắc thuộc nhân dân ta chưa bao giờ cam chịu làm thân phận nô lệ ngược lại luôn vùng lên giành chính quyền mỗi khi có cơ hội Chúng ta có thể thấy được một điều rằng dù trong thời cổ hay thời Bắc thuộc thì tinh thần thượng võ của nhân dân ta vẫn luôn được nêu cao, là một phần quan trọng không thể thiếu trong quá trình đấu tranh giành lại độc lập tự chủ Cụ thể bằng việc không chỉ nam giới học võ, biết võ mà ngay cả những người phụ nữ chỉ lo việc nhà cũng biết đến Và những người cầm đầu luôn là những người am hiểu, giỏi giang võ nghệ nên mới có thể làm nên những thắng lợi vang dội non sông như vậy
Thời kỳ phong kiến tự chủ
Không chỉ ở những thời kỳ trên mà ngay cả khi đất nước đã giành được quyền độc lập tự chủ của một quốc gia dân tộc thì võ học được quan tâm chú trọng ngày càng nhiều hơn Nhận thức được tầm quan trọng trong việc giành
và giữ nền độc lập tự chủ của dân tộc thì tất cả các triều đại phong kiến Việt Nam ngay từ khi mới thành lập đã ra sức nâng cao sức mạnh của mình bằng việc nâng cao sức mạnh của quan và quân Để làm được điều này thì việc quan tâm, chú trọng tuyển chọn cũng như đào tạo quan lại hết sức được quan tâm Dù chưa có quy định quy chế cụ thể cho việc tuyển chọn quan võ trong thời kỳ này nhưng không vì vậy mà nước ta thiếu đi một bộ phận quan lại quan trọng này Những quy định, quy cách tổ chức lựa chọn thông qua phép thi cũng ngày được hoàn thiện cùng với sự tiến bộ đi lên của mỗi triều đại trong lịch sử phong kiến Việt Nam
Sau khi đánh bại kẻ thù Ngô Quyền kéo đại quân trở về Cổ Loa Ông quyết định đóng quân ở Cổ Loa để tỏ ý tiếp tục sự nghiệp dựng nước và giữ nước đời Hùng Vương - An Dương Vương, đồng thời cũng để khẳng định
Trang 19quyết tâm giữ vững nền độc lập dân tộc vừa giành lại được sau hơn 10 thế kỷ đấu tranh chống Bắc thuộc Ngô Quyền còn quyết định bỏ chức Tiết độ sứ của phong kiến phương Bắc và tự mình xưng vương cũng như đặt ra các chức quan văn võ, quy định lễ nghi trong triều đình và màu sắc đồ mặc của quan lại các cấp Điều này cho thấy Ngô Quyền đã kiên quyết cắt đứt mọi quan hệ lệ thuộc đối với nước ngoài, xây dựng một vương quốc độc lập Đây là một bước tiến dài rất căn bản của lịch sử Việt Nam Mặc dù tổ chức chính quyền nhà nước lúc bấy giờ còn đơn giản, sơ sài nhưng nó thể hiện được đây là chính quyền của một quốc gia độc lập, tự chủ, đúng như nhận xét của của nhà
sử học Ngô Sĩ Liên ở thế kỷ XV: “Tiền Ngô Vương nổi lên không chỉ có công
chiến thắng mà thôi, việc đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục, có thể thấy được quy mô của bậc đế vương” [10, 120] Ngay từ thời Ngô triều
đình đã chia thành hai bên là quan văn và quan võ, tuy nhiên việc lựa chọn tuyển dụng cũng như đào tạo đội ngũ võ quan thời kỳ này cũng chưa được ghi chép cụ thể Chủ yếu vẫn là bổ nhiệm những người có công cầm quân đánh giặc làm quan võ, đó là những võ tướng chỉ huy cầm quân đánh giặc trên chiến trường
Thời kỳ nhà Đinh - Tiền Lê, sau khi Ngô Quyền mất đất nước rơi vào tình trạng loạn lạc Điều này đã gây nên sự hỗn loạn trong nhân dân, trong khi
đó năm 960 nhà Tống được thành lập đã tiến hành mở rộng lành thổ xuống phía Nam để xâm lược nước ta Làm cho đất nước ta trở nên nguy kịch đã đưa tới yêu cầu cần phải chấm dứt tình trạng hỗn loạn để tiến tới thống nhất đất nước Đinh Bộ Lĩnh là con trai của Đinh Trứ, mê học võ và tuổi nhỏ rất có chí lớn nên đã đứng lên dẹp loạn 12 sứ quân Sau khi đất nước thống nhất và trở lại yên bình thì Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua lập ra nhà Đinh nhưng không lâu sau khi chưa có gì đổi mới thì ông và con trai ông đã bị một viên quan hầu Đỗ Thích giết hại để cướp ngôi Trước tình hình khó khăn ngặt ngèo đó, vua mới
Trang 20lên ngôi còn nhỏ tuổi mà nhà Tống đang lăm le chớp lấy cơ hội đương lúc nước ta khó khăn kéo quân sang xâm lược Trước tình hình nguy hiểm cấp bách đó Thái hậu họ Dương đã cử Lê Hoàn lên làm tổng chỉ huy quân đội và khoác áo long bào mời ông lên làm vua Như vậy nhà Đinh chưa có những thay đổi gì mới thì được thay thế bởi nhà Tiền Lê do vận nước lâm nguy đang tới gần
Năm 980 nhà Lê thành lập (sau gọi là Tiền Lê), Lê Hoàn giữ nguyên tổ chức bộ máy nhà nước thời Đinh với kinh đô Hoa Lư Tổ chức triều đình trung ương do vua đứng đầu, nắm giữ mọi quyền hành về dân sự cũng như quân sự Dưới vua là hai ban văn võ Văn ban có các chức Bộ thượng thư đứng đầu Lục bộ, rồi đến các chức Tả Hữu Tham tri, Gián nghị, Điện học sĩ, Hàn lâm học sĩ… Võ ban có các chức như Đô thống, Nguyên súy, Tổng quản, Khu mật sứ, Thượng tướng, Đại tướng, Đô tướng, Tướng quân, Chỉ huy sứ… trong đó cao nhất là Định quốc công Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đinh Điền về sau thì Lê Hoàn đặt thêm chức thái sư, đại tổng quản, thái úy, đô hộ phủ sĩ xư,
tả và hữu điện tiền chỉ huy sứ… Đặc biệt ở thời Đinh - Tiền Lê còn có một bộ phận tăng quan làm nhiệm vụ cố vấn cho nhà vua Thời Tiền Lê nhằm bảo vệ quyền lực dòng họ, nhà vua đã cử các hoàng tử đến trông coi các châu về tất
cả các mặt Trong triều đình trừ các nhà sư, còn lại các quan trong ngoài triều đình hầu hết là các võ tướng Hệ thống võ quan này nắm giữ những vị trí quan trọng chủ chốt trong triều đình Chính sự đông đảo của tầng lớp võ quan này nên dưới nhà Tiền Lê, quân và nhân ta đã đánh bại được cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống năm 981 giữ vững nền độc lập tự chủ của dân tộc
Bên cạnh việc xây dựng đội ngũ võ quan đông đảo thì nhà Đinh - Tiền
Lê còn chú trọng xây dựng quân đội Ở ngoài kinh thành có một đạo cấm quân gồm 3000 người Đạo quân này chủ yếu làm nhiệm vụ bảo vệ hoàng thành và các vua quan, còn có đạo quân Tứ sương làm nhiệm vụ canh giữ gác
Trang 21cổng thành Trong buổi đầu xây dựng, thống nhất đất nước sau nhiều năm rối loạn và một nhà nước quân chủ tập quyền mới thành lập thì nhà Tiền Lê đã kế thừa những gì đã có của nhà Đinh Xây dựng được một đội ngũ quan lại chủ yếu là các võ tướng dù chưa đầy đủ nhưng đã phần nào phản ánh tầm quan trọng của bộ phận quan võ
Việc tuyển chọn quan lại đương thời vẫn chưa có chế độ cụ thể, buổi bấy giờ những người nắm quyền trong triều đình chủ yếu là những võ tướng
đã từng tham gia cuộc đánh dẹp các sứ quân hoặc là các hoàng tử Về sau một
số văn thần cũng đã được cất nhắc lên giữ các vị trí thân cận với vua và dần thay thế các vị sư giỏi Nhà nước cũng bước đầu phong cấp “hộ nông dân” cho các tướng làm bổng lộc suốt đời Với việc nắm giữ những vị trí quan trọng trong triều đã chứng tỏ quan võ rất được coi trọng
Nhìn chung nhà nước Đinh - Tiền Lê tuy đã tiến một bước quan trọng trên con đường khẳng định nền độc lập dân tộc, nhưng vẫn còn rất đơn giản, thể hiện sự quá độ sang một thời kì phát triển ổn định theo hướng phong kiến hóa ngày càng vững chắc và mang đậm ý thức dân tộc
Như vậy có thể thấy được rằng hoạt động tuyển chọn võ quan trước thời Lý - Trần có ý nghĩa vô cùng to lớn, nó đã đáp ứng được yêu cầu to lớn của lịch sử dân tộc đó là đánh bại giặc ngoại xâm xâm lược phương Bắc cũng như bảo vệ được vững chắc nền độc lập tự chủ dân tộc Công lao to lớn đó thuộc về vai trò của võ quan tướng lĩnh mỗi triều đại, trong bất kỳ hoàn cảnh, giai đoạn nào khi đất nước cần thì đều có người tài giỏi đứng ra gánh vác trách nhiệm của dân tộc Lịch sử dân tộc từ xưa tới nay đã minh chứng rất rõ cho điều đó, ông vua nào lúc đầu cũng là những tướng võ giỏi như Ngô Quyền, Đinh Bộ Linh hay sau này là Lê Hoàn Thường ngày họ chỉ là những
võ quan bình thường nhưng khi dân tộc cần thì họ đã gánh vác trách nhiệm của người làm chủ đất nước để giải cứu dân tộc thoát hỏi lầm than, nền độc
Trang 22lập tự chủ được bảo vệ Chính những công lao to lớn này mà việc đề cao coi trọng vai trò của tầng lớp võ quan tướng lĩnh cao cấp không có gì khó hiểu cả Nhận thức được tầm quan trọng của bộ phận quan võ nên thời kỳ nào bộ phận
võ quan cũng được quan tâm đào tạo, huấn luyện… mặc dù trong thời kỳ trước nhà Lý - Trần hoạt động tuyển chọn quan võ chưa có quy định quy chế
rõ ràng nhưng ta không thể phủ định được vai trò của bộ phận quan trọng này
Có thể dễ dàng lý giải được điều này là bởi nước ta sau một nghìn năm Bắc thuộc mới có thể giành được quyền độc lập tự chủ xây dựng một quốc gia độc lập thống nhất nên tất cả mới chỉ là nền móng nên còn sơ khai chưa thể kiện toàn cụ thể rõ ràng như các triều đại về sau Mà chỉ có thể khẳng định rằng càng các triều đại về sau thì càng đầy đủ cụ thể chặt chẽ hơn về mọi mặt
1.2 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG TUYỂN CHỌN VÕ QUAN TRƯỚC THỜI LÝ - TRẦN
Dân tộc ta sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh thường xuyên bị đe dọa bởi thiên tai và địch họa, bởi vậy sẽ không thể tồn tại và phát triển được nếu không có tinh thần yêu nước và khí phách anh hùng của toàn thể nhân dân nhất là những quan võ tài giỏi Trên nền tảng vật chất và tinh thần ấy trong lịch sử dân tộc thường xuyên xuất hiện nhiều tài năng lỗi lạc đem thêm niềm tin và sức mạnh cho nhân dân và cùng nhân dân vượt qua mọi khó khăn
và thử thách như Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn…
Họ chính là hiền tài của đất nước, nguyên khí của quốc gia thể hiện tinh thần thượng võ, yêu võ trong họ Khi quốc gia thành lập nhà nước ra đời các ông vua đã bắt tay ngay vào xây dựng bộ máy nhà nước Trong quá trình xây dựng đó cần phải tiến hành tuyển chọn, đào tạo bỏ sung quan lại vào bộ máy nhà nước Quan võ chính là sức mạnh nền tảng của mỗi quốc gia, đất nước
Họ trực tiếp nắm giữ trọng trách vai trò cao cả mà dân tộc giao phó đó chính
là bảo vệ đất nước, giữ gìn an ninh - quốc phòng Quốc gia dân tộc có ổn định
Trang 23để phát triển vững mạnh là nhờ công lao to lớn của đội ngũ quan võ cũng như quan quân Vì vậy dù ở triều đại nào thì đội ngũ võ quan cũng luôn được ra sức tuyển chọn, huấn luyện và triều đại sau phát triển tổ chức quy củ hơn triều đại trước Do đó chất lượng võ quan được đào tạo càng về sau càng tài giỏi thao lược hơn và đồng nghĩa với điều đó là càng ngày càng trưởng thành có
thể đánh bại được nhiều kẻ thù nguy hiểm hơn
Đặc điểm thứ nhất là hoạt động tuyển chọn võ quan trước thời Lý - Trần mang tính tự phát
Đặc điểm này có thể khẳng định được ngay từ những triều đại đầu tiên,
bộ phận võ tướng rất được coi trọng, đề cao cụ thể đó là thông qua cuốn Đại
quan lại đương thời chưa có chế độ cụ thể Những người nắm quyền chủ yếu
là võ tướng đã từng tham gia cuộc đánh dẹp các sứ quân hoặc là các hoàng
tử Về sau một số văn thần cũng được cất lên giữ các vị trí thân cận với vua, thay dần các vị sư giỏi Nhà nước cũng bước đầu phong cấp “ hộ nông dân” cho các tướng làm bổng lộc suốt đời” [4, 111] Có thể thấy vai trò của võ
quan đặc biệt quan trọng, quan trọng hơn rất nhiều so với văn quan Không chỉ vậy họ còn được nhà nước trọng dụng đối xử hết sức ưu đãi khi được ban cấp hộ nông dân để làm bổng lộc suốt cuộc đời Vì những lẽ đó mà những võ tướng binh lính giỏi càng ra sức cố gắng chiến đấu cống hiến cho hết sức mình cho đất nước dân tộc nhằm bảo vệ, giữ gìn vững chắc nền độc lập tự chủ Để đi tới đặc điểm tuyển chọn một cách tự phát, tự giác không theo quy định quy chế cụ thể nào là do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ Khi nhà nước chưa thực sự kiện toàn trọn vẹn thì tất cả những hoạt động ban đầu còn sơ khai mới mẻ Đồng thời khi bộ máy nhà nước, bộ mặt của quốc gia còn quá đơn giản thì lịch sử cũng chưa cho phép đi tới những tiến bộ mang tính vượt
Trang 24bậc đó là thông qua phép thi cử để lựa chọn ra người hiền tài cho đất nước cũng như tuyển chọn quan võ cho triều đình
Ngoài ra còn thông qua hoàn cảnh thực tế, để phân phong các chức tướng, chẳng hạn như trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng thì hầu như không có một tiêu chí nào để phong tướng Đặc biệt hơn lại là tướng nữ (bởi thường chỉ
có tướng nam) nhưng dựa vào hoàn cảnh cụ thể lúc bấy giờ khi có rất nhiều người phụ nữ tài giỏi đến đầu quân cho Hai Bà để cùng giúp sức giết giặc Tô Định thì Hai Bà đã phong tướng cho rất nhiều người phụ nữ và giao cho họ cầm quân chiến đấu Thông qua thực tiễn chiến đấu lập công để phong tướng thì đã mang tính khách quan hơn rất nhiều Ngô Quyền là gia thần nhà họ Khúc nhưng võ công giỏi nên trong cuộc khởi nghĩa của mình, Khúc Thừa Dụ
đã tin tưởng cử Ngô Quyền làm gia tướng nắm giữ cũng như chỉ huy đạo quân chủ lực đánh giặc Ngoài ra còn rất nhiều ví dụ trong lịch sử dân tộc có thể minh chứng cho điều đó
Như vậy có thể thấy đặc điểm của hoạt động tuyển chọn võ quan trước thời Lý - Trần là tự phát, tự nhiên dường như chưa có quy định quy chế cụ thể nào cả Do đó chất lượng của đội ngũ võ quan đó không được cao như những triều đại về sau Mặc dù không được cao nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận được vai trò của họ, dù không được đào tạo bài bản cũng như chọn lựa cẩn thận kỹ lưỡng nhưng bộ phận quan võ vẫn làm tốt nhiệm vụ của mình đó chính là bảo vệ vua quan, bảo vệ đất nước Cũng như góp phần làm vẻ vang lịch sử dân tộc ta khi đánh bại hầu hết các cuộc hành quân xâm lược từ phương Bắc tràn xuống với âm mưu bành trướng mở rộng lãnh thổ như nhà Nam Hán, nhà Tống… ở Trung Quốc Với vai trò quan trọng đó đã làm cho nhân dân ta có thể thoát khỏi thân phận bị áp bức, đô hộ
Trang 25Đặc điểm thứ hai là có sự bắt chước, làm theo mô hình mẫu Trung Quốc
Cụ thể đã có một vài sách cổ viết rằng dưới triều đại nhà Ngô, Ngô Quyền châm trước theo chế độ của các triều đại phong kiến Trung Quốc mà định quan chế triều nghi và phục sắc cho các quan văn võ Tuy nhiên theo tình hình nghiên cứu sử học hiện tại, chúng ta chưa biết rõ được nội dung của các chế độ do nhà Ngô sáng lập là thế nào Dù vậy thì ta cũng biết được rằng các tướng sĩ có công trong cuộc chiến thắng thì được phong tước và cấp thái
ấp ví như Phạm Lệnh công được phong ở miền Nam Sách (Hải Dương) Bấy giờ hào trưởng ở các địa phương cũng như tù trưởng ở miền thượng du hầu hết quy phục chịu mệnh lệnh của Ngô Quyền Ngay từ buổi đầu gây dựng giang sơn thì những ông vua nước ta cũng đã thực hiện chính sách phong thưởng cho những người có công để cổ vũ khích lệ tinh thần chiến đấu của họ
Ở nước ta từ thời Đinh đã bắt đầu định chế giai phẩm quan văn, quan
võ cũng như đặt chức tướng quân Trong đó Phạm Phòng Át có một giai đoạn được cử làm Thân vệ tướng quân, hay Lê Hoàn ngoài chức Thập đạo tướng quân thì còn kiêm giữ chức Điện tiền chỉ huy sứ dưới triều vua Đinh Ngoài ra còn có một đội ngũ đông đảo võ quan, tướng lĩnh tham gia vào cơ cấu chỉ huy quân thập đạo Mỗi tướng được chỉ huy một đạo quân riêng đóng quân ở các đạo Khi Lê Hoàn lên ngôi vua cũng đã cho kiểm duyệt quân ngũ Triều đình Tiền Lê được chia làm hai ban văn và võ Trong ban võ có Phạm Cự Lạng giữ chức Thái Úy, Tử Mục thì làm tướng quản tri quân dân sự, lĩnh tước hầu Năm 1006 Khai Minh Vương Lê Long Đĩnh lên ngôi đã cho sửa đổi quan chế
về văn võ nhất thiết theo mô hình nhà Tống Bấy giờ Lý Công Uẩn được giữ chức tứ sương quân phó chỉ huy sứ sau được thăng lên Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ quản lý cấm quân Như vậy bên cạnh việc phân phong danh tướng một cách tự phát thì các triều đại phong kiến đầu tiên của Việt Nam cũng đã
Trang 26bắt đầu có sự bắt chước đi theo mô hình của Trung Quốc Điều này cũng dễ hiểu thôi vì giữa hai nước láng giềng nằm ngay cạnh nhau và có một nền văn hóa tương đồng nhưng không phải là một, cùng với việc Trung Quốc là nước lớn có lịch sử lâu đời còn nước ta chỉ là một nước nhỏ nằm cạnh nước lớn, trong khoảng 1000 năm Bắc thuộc nước ta cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ Trung Quốc nên việc bắt chước theo mô hình của nước lớn cũng không có gì
Nhà nước Đinh - Tiền Lê rất chú trọng việc xây dựng quân đội Vì vậy
mà số cấm quân ở kinh thành đã lên tới 3000 người Nếu như võ tướng có nhiệm vụ chiến đấu trên chiến trường bảo vệ đất nước thì quân đội lại có nhiệm vụ bảo vệ trông coi kinh thành Như vậy vai trò của quân đội cũng quan trọng không kém so với quan võ Để tăng thêm sức mạnh quốc gia dân tộc nhà nước Đinh - Tiền Lê đã thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông” nghĩa
là cho quân lính chính quy thay phiên nhau về quê cày ruộng chỉ để lại một bộ phận vừa đủ để làm nhiệm vụ thường trực Khi mà đất nước có chiến tranh hay có biến động thì tất cả sẽ được huy động một cách tối đa Có thể thấy chính sách này đã bảo đảm được việc nhà nước luôn có một đội quân thường trực đông đảo sẵn sàng đối phó với ứng biến cũng như có một lực lượng quân đội đông đảo tham gia sản xuất, tự túc lương thực hàng ngày
Trang 27Vào năm 974 vua Đinh Tiên Hoàng đã định ngạch quân 10 đạo, mỗi đạo có 10 quân và mỗi quân có 10 lữ, mỗi lữ có 10 tốt, trong đó mỗi tốt lại có
10 ngũ, mỗi ngũ có 10 người Do vậy tổng số quân lên tới 100 vạn người Vì vậy có thể nói chính sách “ngụ binh ư nông” là một phương thức tổ chức lực lượng vũ trang rất đặc sắc của nhà Đinh - Tiền Lê, đồng thời nó cũng rất phù hợp với hoàn cảnh của đất nước ta cũng như con người Việt Nam Với những
ưu điểm và lợi ích đó thì chính sách này đã được các vương triều sau đó duy trì và phát triển Đồng thời chế độ “toàn dân là binh” được hình thành ở đầu thế kỷ X đã trở thành một truyền thống quân sự tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
ta Cùng với việc tổ chức quân đội thì nhà nước cũng đã có sự quan tâm hơn
cả đến võ quan và quân đội thông qua việc ban phẩm phục cho quan lại văn
võ cùng quân đội
Về vua quan thì vua Đinh Tiên Hoàng năm thứ sáu niên hiệu Thái Bình (năm 975) đã định phẩm phục cho các quan văn võ (tuy nhiên quy chế ấy thì ngày nay không thể khảo lại được) Riêng về quân đội thì binh lính được trang bị quần áo, mũ da (bốn bề khâu giáp lại, trên hẹp dưới rộng, chóp phẳng) Đến thời Lê thì Lê Ngọa triều năm thứ mười ba niên hiệu Ứng thiên (1006) đã đổi phẩm phục cho các quan văn võ nhất nhất theo lối chế của nhà Tống Do đó phần nào thấy được phẩm phục của quan lại ngày xưa, nó được
mô phỏng giống như các triều đại phong kiến Trung Quốc Với việc triều đình Đinh - Tiền Lê quy định trang bị, luật lệ cho quan lại cũng như quân đội đã phần nào thể hiện bước trưởng thành về thiết chế nhà nước Đại Việt Điều này cho thấy nhà nước Đại Việt ngày càng hoàn chỉnh hơn về bộ máy nhà nước cũng như về thiết chế quân sự
Trang 28TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Như vậy, việc tuyển chọn quan lại có ý nghĩa vô cùng to lớn đó chính
là công việc quan trọng của quốc gia đất nước Mỗi một triều đại sau khi thành lập việc đầu tiên cần làm là tổ chức bộ máy nhà nước, trong đó tuyển chọn quan lại được tiến hành đầu tiên Để lựa chọn ra những người giỏi văn giỏi võ thì nhà vua đã đặt ra những lệ thi, quan chế nhưng ở thời kỳ đầu dựng nước này thì lệ thi và quan chế chưa rõ ràng chủ yếu tự phát Mặc dù việc tuyển chọn chưa cụ thể nhưng triều đình vẫn lựa chọn và tuyển dụng được những võ tướng tài ba Dù không có phương thức, biện pháp cụ thể lựa chọn quan võ như những triều đại về sau thì các triều đại này vẫn hoàn thành tốt vai trò và trách nhiệm của một người quan võ, đó là đánh bại quân giặc ngoại xâm bảo vệ tốt nền độc lập tự chủ của dân tộc
Hơn nữa những triều đại phong kiến đầu tiên của lịch sử Việt Nam về
cơ bản là một nhà nước võ trị Khi kế tục triều Ngô thì nhà nước Đại Cồ Việt với các vua (Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành) đều có nguồn gốc xuất thân từ những tướng lĩnh vốn quen xung phong trận mạc chiến đấu trên chiến trường, hay là tổng chỉ huy tối cao của quân đội nắm giữ mọi quyền hành chỉ huy trong tay Điều đó đã làm cho hệ thống quan lại phần lớn là các võ quan luôn luôn được coi trọng, cất nhắc đề cao hơn cả Dưới thời Tiền Lê có các chức
võ quan như Đại tổng quản, Thái úy, Điện tiền chỉ huy sứ… quan võ thời này thường được cất nhắc, bổ nhiệm cũng như được vua tin tưởng trao cho nắm giữ binh quyền Vì vậy hầu hết vua cùng những quan lại cao cấp đều là những
võ quan tài giỏi, tài đức vẹn toàn Từ đó đã quy định chế độ chính trị những triều đại đầu tiên này là đi theo chế độ võ trị Chính sự ảnh hưởng của chế độ
võ trị nên bộ phận quan võ luôn được đặc biệt quan tâm, và nắm giữ vị trí to lớn quan trọng chủ chốt trong triều đình, quyết định sự tồn tại hay suy vong của mỗi triều đại trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược
Trang 29Trong nông nghiệp, nước ta là nước có nền kinh tế nông nghiệp chủ
yếu nên các vua nhà Lý cho tới các vua nhà Trần sau này luôn luôn chăm lo quan tâm đến sản xuất nông nghiệp Cụ thể trong việc bảo vệ sức sản xuất, sức kéo Năm 1010, Lý Công Uẩn đã xuống chiếu bắt những người trốn tránh phải trở về quê cũ, vua Lý Thánh Tông ra nhiều chiếu khuyến nông Hàng năm vào đầu mùa xuân các vua Lý thường thân chinh cày vài đường trong lễ
“tịch điền” để khuyến khích sản xuất nông nghiệp và cũng có lần vua đích thân đi xem cấy gặt để tỏ lòng khuyến khích Ngoài ra để bảo vệ sức sản xuất thì nhà Lý - Trần cũng đã chú ý bảo vệ nhân đinh - nguồn lao động chủ yếu trong xã hội cũng như lực lượng sản xuất trực tiếp Nhà nước đã có những luật lệnh để bảo vệ trâu bò nên tội trộm trâu hay giết trâu thường bị cho vào
tội rất nặng Cụ thể năm 1117 thái hậu Linh Nhân đã nói rằng: “Gần đây ở
kinh thành, hương ấp có nhiều người trốn làm nghề trộm trâu, trăm họ cùng quẫn, mấy nhà cày chung nhau một con trâu Trước đây ta đã từng nói tới việc ấy, nhà nước đã có lệnh cấm Nay giết trâu lại nhiều hơn trước Bấy giờ vua mới ra lệnh là kẻ nào ăn trộm trâu, giết trâu phạt 80 trượng đồ làm khao giáp, vợ xử 80 trượng đồ làm tang thất phụ và đền trâu Nhà láng giềng không tố cáo thì xử 80 trượng” [10, 209 - 210] Để có lực lượng lao động
Trang 30thường xuyên thì nhà Lý đã cho thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông” Ngoài ra thì triều đình cũng cho phép các vương hầu quý tộc có quyền chiêu tập những người nghèo khó, lưu lạc đi khai khẩn đất hoang để mở mang thêm ruộng nương Với những chính sách trên sức sản xuất không những được tăng lên mà còn góp phần rất lớn trong việc bảo vệ sức kéo, tăng cường nguồn lực chính của nông nghiệp
Để nâng cao chất lượng sản xuất nông nghiệp thì vấn đề thủy lợi rất được quan tâm Cụ thể nhà Lý rất quan tâm công tác thủy lợi như đào sông, đào kênh, đắp đê… nhưng công tác đắp đê phòng lũ và ngăn mặn còn mang tính “vùng - địa phương” nên tác dụng của những con đê còn hạn chế Phải đến thời Trần thì công tác đắp đê, trị thủy mới có tổ chức trên phạm vi toàn quốc Để tránh ngập lụt gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới mùa màng của nhân dân nên vua Thái Tông cũng như các vua sau đó đã sai đắp đê hai bên bờ sông và cử quan đặc trách trông coi việc đê gọi là Hà đê sứ Đây là sự tiếp nối tiến bộ của nhà Trần so với nhà Lý Mỗi năm sau vụ mùa, triều đình còn ra lệnh cho quân sĩ đắp đê hay đào lạch, hào giúp đỡ dân chúng Nhà Trần đã ý thức được rằng muốn bảo vệ mùa màng, nhà cửa, tính mạng một cách ổn định lâu dài thì phải có quy hoạch đắp đê quy mô theo cả dòng sông Sử cũ đã ghi
“Đắp đê để giữ nước sông gọi là đê quai vạc, đắp suốt từ đầu nguồn cho tới
bờ biển để ngăn nước lũ tràn ngập Đắp đê quai vạc bắt đầu từ đấy” [4, 21]
Nhờ đó, tình hình nông nghiệp thời Lý - Trần đã có những bước phát triển mới, đời sống nhân dân được ổn định tạo ra cơ sở vững chắc cho công cuộc xây dựng đất nước cũng như góp phần làm nên những thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm
Trong thủ công nghiệp, dưới nhà Lý - Trần có hai bộ phận là thủ công
nghiệp Nhà nước và thủ công nghiệp dân gian Thủ công nghiệp nhà nước triều đình đã trưng tập các thợ khéo, thợ giỏi về làm trong các xưởng gọi là
Trang 31thợ bách tác với mục đích sản xuất phục vụ riêng nhu cầu Nhà nước đúc tiền, chế tạo vũ khí, làm các phẩm phục triều nghi… những sản phẩm này họ không được tự bán trong dân gian Còn thủ công nghiệp dân gian thì thợ thủ công dân gian sản xuất và buôn bán trong các phường phố ở kinh thành và thôn quê Họ là những người nông dân kiêm thợ thủ công Trong các nghề thủ công thì dệt là nghề thủ công truyền thống phổ biến, sau nữa là nghề đúc đồng, làm gốm, khắc bản in, nghề mộc… với những tác phẩm hết sức nổi tiếng mang tính chất Phật giáo (An Nam tứ khí)
Trong thương nghiệp, với sự ổn định đất nước cũng như nhu cầu trao
đổi hàng hóa trong nước ngày càng tăng mà thương nghiệp thời kỳ này khá phát triển Cụ thể nhà Lý đã cho đúc tiền bằng hợp kim đồng giống như tiền lưu hành ở vùng Đông Nam - Trung Quốc Tuy nhiên thì tiền do triều đình đúc ra không đáp ứng đủ nhu cầu lưu thông hàng hóa nên nhiều đồng tiền nhà Tống và thậm chí thời Đường vẫn được lưu hành trong nước Mạng lưới chợ
có mặt ở làng xã, phố phường như ở kinh thành Thăng Long có chợ Hoàng Hoa, chợ Bạch Mã… để phục vụ mục đích trao đổi hàng hóa với nhau Với sự phát triển khá phồn thịnh và tự do của thương nghiệp nên triều đại Lý - Trần
đã xác định: “tiền là phương tiện lưu thông hàng hóa Các vua Đại Việt thời
Lý-Trần đều có đúc tiền Ngoài ra, trên thị trường còn sử dụng nhiều tiền Trung Quốc Nhà Trần đã mở rộng việc mua bán đất bằng tiền, nộp tiền để lấy quan chức” [4, 206] Như vậy có thể thấy quan hệ tiền tệ đã xâm nhập vào
đời sống chính trị và tín ngưỡng của tầng lớp nhân dân cũng như tầng lớp quan lại bấy giờ
Dưới triều đại Lý - Trần nền kinh tế của đất nước hết sức được quan tâm chú ý, do đó mà kinh tế của đất nước đã có những bước phát triển quan trọng đáp ứng được nhu cầu trao đổi kinh tế trong nước, ngoài nước và quốc phòng an ninh Đồng thời với sự phát triển nền kinh tế đất nước đã tạo nên
Trang 32nền tảng vững chắc để triều đại Lý - Trần có thể ổn định phát triển bền vững, cũng như có tiềm lực quốc phòng để chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước thông qua các phương pháp tuyển chọn người tài
2.1.2 Tình hình chính trị
Ngoài việc phải đối phó với kẻ thù xâm lược bên ngoài nhìn chung chính trị thời Lý - Trần tương đối ổn định Về bộ máy nhà nước, vua là người nắm trong tay toàn bộ quyền lực như: ban hành pháp luật, thực thi pháp luật, giữ quyền xét xử tối cao, đồng thời đứng đầu quân đội, ngoại giao và chính sách thuế Dưới vua là bộ máy giúp việc gồm Quan đại thần với các chức quan như: Tam thái (Thái sư, Thái phó, Thái bảo), Tam thiếu (Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu bảo), Thái úy, Thiếu úy, Bình chương sự Ngoài ra cơ quan chuyên môn còn có: Hàn lâm viện, Khu mật sứ, Quốc tử giám cùng một vài
cơ quan khác triều đình đặt hệ thống quan chức theo 9 phẩm, đứng đầu có các chức vinh hàm Tam thái, Tam thiếu (Sư, Phó, Bảo) Chức Thái úy có vai trò như Tể tướng (Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành từng giữ chức này), Thiếu úy coi việc cấm binh Giúp việc cho Tể tướng có chức Hành khiển Ở địa phương nhà Lý chia cả nước ra làm 24 lộ, phủ, đặt các chức Tri phủ, Tri châu, dưới phủ là huyện, hương Nhà Trần kế thừa gần như nguyên vẹn bộ máy nhà nước thời Lý, trên cơ sở đó bổ sung thêm chức Tam tư và đổi 24 lộ của nhà Lý
thành 12 lộ gồm có: “Thiên Trường (Nam Hà), Long Hưng (Thái Bình), Quốc
Oai (Hà Tây), Bắc Giang (Bắc Ninh, Bắc Giang), Hải Đông (Quảng Ninh và một phần Hải Dương), Trường Yên (Ninh Bình), Kiến Xương (đông Thái Bình), Hồng (phần Hải Dương), Khoái (phần Hưng Yên), Thanh Hóa (Thanh Hóa), Hoàng Giang (phần đất Hà Nam), Diễn Châu (Bắc Nghệ An)” [4, 178]
Về thể chế chính trị thì khác xa so với các triều đại sau đó là quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền thì nhà Lý - Trần đã cho xây dựng một thể chế chính trị phù hợp với vương triều mình Đó là chế độ quân chủ thân dân, vua
Trang 33quan có mối quan hệ gần gũi thân thiết với dân chúng, thường xuyên tiếp cận dân chúng trong các dịp lễ hội Với chế độ chính trị như vậy nó đã quy định phương thức tuyển chọn quan lại của triều đại này, không phải là thi cử, tuyển chọn chặt chẽ gắt gao như các triều đại sau này mà ngược lại hệ thống quan lại nắm giữ vị trí chủ chốt trong bộ máy nhà nước đều là tầng lớp quý tộc, tôn thất Sau này có thêm những người tài năng bên ngoài dòng họ
Luật pháp Lý - Trần được xem là luật cổ thành văn đầu tiên ở nước ta,
đó là những bộ luật nổi tiếng như Hình thư (nhà Lý), Hình luật (nhà Trần) Do
đó nó mang giá trị giáo dục và tính răn đe to lớn Nó cũng góp phần quan trọng trong việc ổn định xã hội, giữ vững và bảo vệ sức sản xuất cũng như những quy định về kỷ cương phép nước
Với nền chính trị thân dân tiến bộ trên đã đưa tới sự ổn định đất nước tạo điều kiện cho việc thi tuyển lựa chọn quan lại phát triển, quan trọng nhất trong đó là bộ phận võ quan với vai trò bảo vệ giữ vững chủ quyền, lãnh thổ đất nước,
2.1.3 Tình hình văn hóa - giáo dục
Văn hóa Đại Việt phát triển một cách rực rỡ và đạt tới đỉnh cao dưới nhà Lý - Trần
Về mặt tôn giáo, tín ngưỡng dưới nhà Lý phật giáo được đưa lên vị trí
quốc giáo còn nho cũng đã có sự phát triển nhưng chưa đủ điều kiện để phát triển mạnh mẽ như các triều đại sau đó Đạo giáo cũng có ảnh hưởng nhất định thể hiện trong chế độ thi cử Văn hóa Lý - Trần được xem là giai đoạn phát triển thịnh đạt nhất của văn hóa Đại Việt, nó đã khôi phục lại yếu tố văn hóa Việt cổ, đồng thời cải biến tích hợp những yếu tố văn hóa ngoại sinh tạo nên một phong cách riêng cho mình Do đó văn hóa Đại Việt mang tính dân tộc sâu sắc
Trang 34Văn học thời này rất phong phú đa dạng với nhiều thể loại, trong đó có
2 dòng chính là văn học phật giáo và văn học yêu nước dân tộc Cụ thể có các
tác phẩm như Thiền uyển tập anh, Tam tổ thực lục, Thiền tông chỉ nam…
Ngoài ra còn có dòng văn thơ yêu nước, dân tộc phản ánh tinh thần anh dũng, bất khuất chống giặc, lòng tự hào dân tộc qua các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm như Nam quốc sơn hà - Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ - Trần Quốc Tuấn, Phú sông Bạch Đằng - Trương Hán Siêu…
Trong giáo dục, khoa cử, thời đầu Lý nền giáo dục Đại Việt chủ yếu là
Phật học, sau đó nho giáo từ từ phát triển Đến năm 1070 vua Lý Thánh Tông cho xây dựng nhà Văn Miếu ở kinh thành Thăng Long đắp tượng Khổng Tử, Chu Công, tứ phối 72 người hiền của đạo Nho Lúc đầu khi mới mở trường Quốc Tử Giám chỉ có các quý tộc quan liêu và con em được theo học nên nhìn chung việc giáo dục nho học ở thời Lý còn hạn chế Sang thời Trần giáo dục nho học đã có sự tiến bộ hơn, Quốc Tử Giám với nhiều tên gọi mới ngày càng được củng cố và mở rộng đối tượng học tập Tại các lộ cũng cho mở trường học để dạy cho dân chúng Chính vì vậy mà nhiều khoa thi liên tục được mở ra để nhằm tuyển dụng nhân tài cho đất nước Nhà Trần tồn tại 175 năm trong lịch sử đã tổ chức được 14 khoa thi (trong đó 10 khoa chính thức
và 4 khoa phụ) và lấy được 283 người đỗ Như vậy dựa trên tình hình xã hội
và sự phát triển của giáo dục đã góp phần quan trọng tạo nên nền văn hóa phong phú đậm đà bản sắc dân tộc
Với một nền văn hóa - giáo dục phát triển như vậy đã góp phần làm nên
sự tồn tại lâu dài của hai triều đại này, đồng thời cũng đã tạo nên đặc điểm riêng mang đậm bản sắc dân tộc ta trong lịch sử Cũng như đưa nền giáo dục Đại Việt ta đi lên một tầm cao mới là thông qua phép thi tuyển để tuyển chọn nhân tài phục vụ đất nước trong đó có bộ phận võ quan
Trang 352.1.4 Tình hình xã hội
Xã hội Đại Việt thời Lý - Trần là một xã hội tương đối ổn định với sự phân tầng đẳng cấp trên quy mô quốc gia với 2 đẳng cấp chính là vua quan và thứ dân, dưới thứ dân là tầng lớp nô tỳ Tuy nhiên sự phân hóa xã hội chưa sâu sắc như các triều đại sau này và giữa hai đẳng cấp này vẫn có những mối quan hệ gần gũi Các cộng đồng làng xã còn khá thuần nhất, lúc này sự phân hóa các hạng dân ở đây chủ yếu theo lứa tuổi (tiểu hoàng nam, đại hoàng nam, lão, long lão) Tục trọng lão, trọng xỉ (thiên tước) còn rất đậm trong các làng xã
Nhà vua là người đứng đầu đại diện cho quốc gia dân tộc, trên danh nghĩa có uy quyền tối thượng và toàn năng Tới nhà Trần thì áp dụng một chế
độ mới rất tiến bộ là chế độ “Thái thượng hoàng” khi vua còn trẻ quyền hành thực tế nằm trong tay Thái thượng hoàng Tuy nhiên khoảng cách giữa danh
và thực ở đây còn khá lớn Các vua Lý cũng như các vua Trần thường tự coi mình là cha mẹ của dân thi hành chính sách thân dân kiểu gia trưởng kết hợp với tư tưởng nhân từ bác ái của đạo Phật Đồng thời thường xuyên thăm hỏi việc đắp đê, gặt hái cũng như xuống dự dân chúng, xem đấu vật, đua thuyền trong các dịp hội hè
Dù ở bất kỳ triều đại nào quý tộc tôn thất luôn là chỗ dựa của nhà vua
và triều đình trong các cuộc kháng chiến chống Tống, chống Nguyên… cũng như trong công cuộc trị nước Trong triều đại này chủ yếu tầng lớp quý tộc tôn thất nắm giữ các chức vụ cao cấp Một số ít quan liêu không phải là tông thất đã gia nhập vào tầng lớp quý tộc bằng cách được ban quốc tính (lấy họ vua) như Lý Thường Kiệt hoặc được nhận làm nghĩa tử (con nuôi vua) Dần dần tầng lớp nho sĩ quan liêu phi quý tộc càng có nhiều cơ hội tham chính trong bộ máy nhà nước thông qua con đường thi cử, lập nhiều công lớn trong chiến tranh
Trang 36Tăng ni, tăng quan thời Lý - Trần đã giữ một vị trí quan trọng trong xã hội cũng như trong triều đình Thời Lý một số vị sư giỏi được giữ chức cố vấn cho vua như Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Thông Biện, Pháp Loa, Huyền Quang … nhà chùa có ruộng đất riêng và nô tỳ riêng
Đẳng cấp thứ dân bao gồm chủ yếu bộ phận nông dân tự do trong các làng xã, họ cày ruộng công và có một ít ruộng tư, có nghĩa vụ nộp tô thuế, lao dịch và binh dịch cho nhà nước Ngoài ra còn có nô tỳ, tuy không hẳn là một đẳng cấp riêng biệt nhưng lại là một tầng lớp xã hội khá đông đảo Sự ổn định
về tình hình xã hội dưới thời Lý - Trần đã góp phần tích cực vào quá trình phát triển đất nước, trong đó có lĩnh vực giáo dục, khoa cử tạo điều kiện để Đại Việt ta có những điều kiện tốt nhất để phát triển văn hóa giáo dục Trong
đó ưu tiên hơn cả là việc lựa chọn tuyển dụng nhân tài
Vớinhững yếu tố trên đã góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp để đưa Đại Việt tuần tự phát triển đi lên thoát khỏi âm mưu nhòm ngó xâm lược của phương Bắc cũng như để ra uy với phương Nam Để có sức mạnh đó thì vai trò của bộ phận võ quan trong triều không nhỏ, do đó để bổ sung vào hàng ngũ võ quan thì triều đình đã ra sức lựa chọn
2.2 HOẠT ĐỘNG TUYỂN CHỌN VÕ QUAN THỜI LÝ - TRẦN
Hơn nữa việc tuyển chọn quan lại còn nhằm quy tụ và sử dụng được nhiều nhân tài cho đất nước Chính vì vậy, thông qua việc tuyển chọn quan lại
Trang 37nói chung và tuyển chọn quan võ nói riêng đã chọn lọc, đào tạo được hệ thống quan lại thanh liêm, trong sạch giúp ích cho vua cũng như đất nước Vua hiền
ắt sẽ có bề tôi giỏi, mỗi quốc gia phong kiến khi có một minh quân sáng suốt
ắt sẽ có bề tôi giỏi ra giúp sức cống hiến hết mình cho vua Lịch sử phong kiến Việt Nam với những trang lịch sử chói trang hào hùng của dân tộc đã minh chứng rất rõ điều này Như vậy có thể thấy việc tuyển chọn cũng như rèn luyện võ quan dưới hai triều đại Lý - Trần chủ yếu dựa vào những hình thức sau: thông qua Giảng Võ Đường, nhiệm cử hay tuyển cử, và trực tiếp thông qua các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm…
2.2.1.1 Giảng Võ Đường
Để tuyển chọn bổ sung vào bộ máy nhà nước những vị quan văn thanh liêm cũng như những vị quan võ tài giỏi thì nhà nước Lý - Trần đã tuyển chọn thông qua hình thức Giảng Võ Đường
Nhằm nâng cao trình độ cũng như chất lượng của đội ngũ võ quan thì nhà Lý đã cho lập Điện Giảng Võ ở phía Tây kinh thành Thăng Long Các triều đại trước chưa từng nghĩ và làm được việc này thì nay đến nhà Lý đã làm được Nó thể hiện sự tiến bộ mang tính vượt bậc về tư duy của các vua
Lý trong việc chú ý đào tạo lâu dài những người tài năng thực sự cho đất nước
Vua Lý tiến hành thành lập Điện Giảng Võ để làm nơi giảng dạy cũng như luyện tập cho các tướng sĩ và binh lính Đây được xem là nơi để các võ tướng tới rèn luyện cũng như thao lược võ nghệ vì ở đó có bãi tập và trường đua ngựa Bên cạnh việc rèn luyện binh sĩ cũng như tướng lĩnh ở khu Giảng
Võ thì nhà Lý còn có Xạ Đình tức là bãi tập bắn Việc thành lập Điện Giảng
Võ hay cho lập thêm Xạ Đình còn để nâng cao trình độ cũng như khả năng võ nghệ thì vua thường sai các quan võ hàng ngày lên đến nơi đây để luyện tập phép công chiến cũng như phá trận Dưới thời Lý việc cưỡi ngựa, sử dụng
Trang 38cung kiếm được xem là yêu cầu bắt buộc đối với các vương hầu, võ quan, tướng lĩnh trong triều đình lúc bấy giờ Và quan Thái úy Lý Tự Khánh được xem là người nổi tiếng với tài bắn cung
Đối tượng chính và chủ yếu được lựa chọn tuyển thẳng vào Điện Giảng
Võ học tập, rèn luyện võ nghệ là con em trong hàng ngũ quý tộc tôn thất nhà
Lý Cùng với đó là các thân vương, hoàng tử Điện Giảng Võ được xem là trường học quân sự cao cấp của triều đình, vì đây là nơi dành riêng cho vua quan, thái tử, thân vương, võ quan, tướng lĩnh cùng với con em hàng ngũ quý tộc Ngoài việc học quân sự binh pháp ra thì đây còn là chỗ luyện tập, thao lược võ nghệ bởi ở đây còn có bãi tập
Hình thức đào tạo chủ yếu là cho học binh pháp, tập cưỡi ngựa, bắn tên, rèn tập võ nghệ Đây được xem là những yêu cầu cơ bản nhất đối với việc đào tạo võ quan cho đất nước Đồng thời yêu cầu người võ quan phải là người biết trau dồi tinh thông võ nghệ, hiểu biết trận pháp thì mới có thể chỉ huy được ba quân tướng sĩ Để chất lượng đào tạo được nâng thêm nữa, vua còn nhắc nhở các quan võ ngày ngày cần phải chăm lo rèn luyện võ nghệ để không ngừng nâng cao trình độ của mình Do tài liệu về võ quan tướng lĩnh khá ít ỏi nên không thể khảo lại được những võ quan nổi tiếng được tuyển chọn thông qua hình thức này
Nhà Trần cũng như nhà Lý đã cho lập Giảng Võ Đường (tương đương với Điện Giảng Võ) ở phía Tây kinh thành Thăng Long để làm nơi huấn luyện quân sĩ Sang thời Trần không gọi tên Điện Giảng Võ nữa mà chuyển sang thành Giảng Võ Đường Còn nội dung thì không có gì đổi khác, đây vẫn là trường học quân sự cao cấp và chính quy của triều đình Nhằm tuyển chọn để
đi tới đào tạo, huấn luyện ra thành những võ quan tài ba có ích cho đất nước, cũng như nâng cao sức mạnh chiến đấu của dân tộc