Ngoài các công trình kể trên, còn có một số bài nghiến cứu về từng mảng nhỏ của đề tài này được đăng tải trên Tạp chí Văn học như: "Chất trữ tình trong thơ Thiền đời Lý" Trần Ngọc Lan; "
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THƠ TỨ TUYỆT THỜI LÝ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công tành này là của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng đứợe ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác gi ả luận văn
Trang 4
MỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN 3
MỤC LỤC 4
PH ẦN DẪN NHẬP 7
1 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 7
2.L ỊCH SỬ VẤN ĐỀ 8
3.M ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 10
4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
4.1.Phương pháp thống kê 10
4.2.Phương pháp phân tích - so sánh 11
5.GI ỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ TÀI LIỆU 11
6.K ẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 11
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VỀ THE THƠ TỨ TUYỆT 14
1.1.QUAN NI ỆM VỀ THỂ THƠ TỨ TUYỆT 14
1.1.1.Về thuật ngữ “tứ tuyệt” 14
1.1.2.Hình thức của một bài tứ tuyệt 16
1.1.3.Thanh bằng và thanh trắc 18
1.2.M ỐI QUAN HỆ GIỮA TUYỆT CÚ VÀ LUẬT THI 19
CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG NỘI DUNG CỦA THƠ TỨ TUYỆT THỜI LÝ 25 2.1.VÀI NÉT V Ề VĂN HÓA - XÃ HỘI THỜI LÝ 25
2.1.1.Tôn giáo 25
2.1.2.Văn hóa - Nghệ thuật 26
2.2.VÀI NÉT V Ề THIỀN TÔNG VIỆT NAM THỜI LÝ 27
Trang 52.3.N ỘI DUNG THƠ TỨ TUYỆT THỜI LÝ 29
2.3.1.Thơ tứ tuyệt thời Lý phản ánh giáo lí và yếu chỉ Thiền tông 29
2.3.1.1.Thơ tứ tuyệt thời Lý trực tiếp phản ánh yếu chỉ Thiền tông 30
2.3.1.2.Thơ tứ tuyệt thời Lý gián tiếp thuyết giảng giáo lí đạo Phật và yếu chỉ Thi ền tông 39
2.3.2.Thơ tứ tuyệt thời Lý phản ánh tinh thần “Tam giáo đồng nguyên” 40
2.3.3.Thơ tứ tuyệt thời Lý phản ánh sự khủng hoảng niềm tin đối vối nhà Phật 42
2.3.4.Thơ tứ tuyệt thời Lý phản ánh tinh thần yêu nước 43
CHƯƠNG 3: HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT THƠ TỨ TUYỆT THỜI LÝ 46
3.1.TH Ể THƠ 46
3.1.1.Thể thơ ngữ ngôn tứ tuyệt 46
3.1.2.Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt 47
3.2.CÁC V ẤN ĐỀ VỀ VẦN, NIÊM, LUẬT, ĐIỂN CỐ 48
3.2.1.Vần 48
3.2.1.1.Thơ vần trắc 48
3.2.1.2.Thơ vần bằng 49
3.2.2.Điển cố 49
2.2.3.Niêm luật 51
3.3.K ẾT CẤU 51
3.4.T Ừ NGỮ 52
3.5.HÌNH TH ỨC TỔ CHỨC CÂU 54
3.6.CON NGƯỜI 54
Trang 63.6.1.Trước hết đó là con người có trí tuệ siêu việt, học vấn uyên thâm, hiểu đạo,
hiểu đời 55
3.6.2.Con người tự do với một tinh thần phá chấp triệt để 57
3.6.3.Con người hòa đồng 58
3.7.THIÊN NHIÊN 59
3.8.KHÔNG GIAN NGH Ệ THUẬT 61
3.9.TH ỜI GIAN NGHỆ THUẬT 61
CHƯƠNG 4: ĐỐI CHIẾU SO SÁNH GIỮA THỂ THƠ TỨ TUYỆT THỜI LÝ VỚI THỂ THƠ TỨ TUYỆT THỜI TRẦN 63
4.1.VÀI NÉT V Ề VĂN HÓA - XÃ HỘI THỜI TRẦN 63
4.3.NGH Ệ THUẬT THƠ TỨ TUYỆT THỜI TRẦN 74
4.4.ĐỐI CHIẾU, SO SÁNH VÀ KẾT LUẬN 84
PH ẦN KẾT LUẬN 88
B ẢNG PHỤ LỤC 91
TÀI LI ỆU THAM KHẢO CHÍNH 103
SÁCH TI ẾNG VIỆT 103
SÁCH TI ẾNG TRUNG QUỐC 106
Trang 7PHẦN DẪN NHẬP
Tháng 11 năm 1009, Lê Ngọa Triều (Long Đĩnh) chết Được sự ủng hộ của các nhà
sư, Đào Cam Mộc cầm đầu một số triều thần đưa Tả thân vệ diện tiền chỉ huy sứ, Lý Công Uẩn lên làm vua
Lý Công Uẩn lên ngôi, quyết định lấy năm 1010 làm năm Thuận Thiên thứ nhất Nhà Lý ra đời mở ra một giai đoạn mới cho lịch sử nước nhà
Nhà Lý muốn "Mưu toan việc lớn, tính kế muôn đời cho con cháu" nên đã dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long "ở vào nơi trung tâm trời đất Là chốn tụ hội trọng yếu của bốn
phương đất nước" (Lý Thái Tổ - Thiên đô chiếu)
Thời Lý, nhà nước phong kiến tập quyền được củng cố, có đủ sức mạnh để chống
lại sự xâm lăng của các thế lực phong kiến phương Bắc Năm 1076, Nhà Lý đã chủ động
tấn công Ưng Châu, phá tan cứ điểm xâm lược của quân Tống Năm 1097, đập tan 30 vạn quân Tống xâm lược trên sông Như Nguyệt
Thời Lý, Phật giáo rất thịnh, có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống xã hội và tinh thần
của dân tộc ta Lực lượng sáng tác văn học thời bấy giờ chủ yếu là các vị Thiền sự, cho nên văn học thời Lý chịu ảnh hưởng sâu sắc khuynh hướng thẩm mĩ của Phật giáo
Văn học thời Lý phát triển rực rỡ, đặt nền móng cho nền văn học viết nước ta Tuy
số lượng tác phẩm còn lưu giữ được không nhiều, nhưng thơ văn thời này cũng đầy đủ
thể loại, trong đó thể thơ tứ tuyệt chiếm đa số Ta pó thể tham khảo số liệu thống kê sau : Tài liệu Vận văn Tứ tuyệt Tỉ lệ
Thơ văn Lý Trần(Tập 1) 78 56 72%
Thể thơ tứ tuyệt là thể thơ thịnh hành thời trung đại, các nhà thơ cổ điển rất ưa chuộng thể thơ này ở Việt Nam, nhiều bài thơ tứ tuyệt thời Lý-Trần như "Nam quốc sơn
Trang 8hà" "Tụng giá hoàn kinh sư" "Thuật hoài" đã trở thành tiếng nói ngắn gọn, đanh chắc
thể hiện ý thức về chủ quyền đất nước, ỷ thức về trách nhiệm công dân trước vận mệnh
quốc gia Các bậc Thiền sư như Vạn Hạnh Thiền sư, Mãn Giác Thiền sư, Tuệ Trúng Thượng sĩ cũng hay sử dụng thể thơ tứ tuyệt để viết kệ làm thơ Tác phẩm của họ đã
trở thành nổi tiếng và được lưu truyền tới muôn đời sau
Tuy ngắn, gọn nhưng thơ tứ tuyệt cũng đủ khả năng chuyển tải những triết lí sâu sắc
về cuộc đời, phản ánh những biến cố trọng đại của lịch sử Khảo sát thơ tứ tuyệt thời Lý,
ta có thể thấy được tinh thần của thời đại nhà Lý về các mặt xã hội, văn hóa nghệ thuật
2.1 Có lẽ do số lượng thơ văn thời Lý lưu giữ được tới nay không nhiều nên hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về mảng thơ văn này, đặc biệt là đề tài về thơ tứ tuyệt thời Lý Thường thì các công trình nghiên cứu có khuynh hướng lấy thơ văn
của cả hai triều đại Lý -Trần làm đối tượng khảo sát, nghiên cứu Nguyễn Phạm Hùng có tác phẩm "Văn học Lý-Trần nhìn từ thể loại" Nguyễn Công Lý có tác phẩm "Bản sắc dân
tộc trong Văn học Thiền tông thời Lý - Trần" Cũng có tác giả chuyên sâu về phương
diện nghệ thuật như Đoàn Thị Thu Vân có công trình "Khảo sát đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam thế kỷ X - thế kỷ XIV" Ngoài các công trình kể trên, còn có một số bài nghiến cứu về từng mảng nhỏ của đề tài này được đăng tải trên Tạp chí Văn học như:
"Chất trữ tình trong thơ Thiền đời Lý" (Trần Ngọc Lan); "Một vài nhận xét về thơ Thiền
Lý -Trần" (Đoàn Thị Thu Vân); "Quan niệm về con người trong thơ Thiền Lý-Trần" (Đoàn Thị Thu Vân); "Mãn giác và bài thơ Thiền nổi tiếng của ông" (Nguyễn Huệ Chị)
2.2 Nhìn chung, với mức độ đậm nhạt khác nhau, các tác phẩm, các công trình trên
đã phần nào khắc họa được dung mạo về cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật của thơ văn thời Lý nói riêng, thơ văn Lý - Trần nói chung
Trong tác phẩm "Văn học Lý -Trần nhìn từ thể loại", khi khảo sát một số thể loại văn học tiêu biểu thời Lý - Trần, về phần vận văn, Nguyễn Phạm Hùng dựa hẳn vào tiêu
Trang 9chí nội dung mà phân thành : Thơ Thiền thời Lý; Thơ trữ tình thời Trần Tác giả nhấn
mạnh "Khái niệm thơ Thiền xuít phát từ tiêu chí nội dung phản ánh của thơ Thiền" [9,
tr.40] Và " Thơ trữ tình vốn là hình thức nghệ thuật phát biểu trực tiếp thái độ, tình
cảm, tâm trạng cửa con người trước những vấn đề bức xúc của đời sống " [9, tr 73] Trong tác phẩm "Bản sắc dân tộc trong Văn học Thiền tông thời Lý -Trần" [16], Nguyễn Công Lý đã nêu lên vài biểu hiện của bản sắc dân-tộc cũng như tinh thần lạc quan, tích cực phong cách bình thản, tin tưởng đối với cuộc sống được thể hiện trong văn
học Thiền tông Lý - Trần Như vậy, khi nghiên cứu về thơ văn Lý - Trần, tuy có điểm qua vài nét về đặc trưng nghệ thuật nhưng tác giả Nguyễn Công Lý cũng nghiêng về bình
diện nội dung, lấy nội dung làm tiêu chí khảo sát
Đoàn Thị Thu Vân, trong công trình "Khảo sát đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền
Việt nam thế kỷ X - thế kỷ XIV" có một cái nhìn thấu đáo về đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam, trên cơ sở lí thuyết của thi pháp học và đặc trưng nghệ thuật của thơ
ca trung đại Việt Nam Tác giả đã chú trọng khảo sát ngôn ngữ, hình tượng, thể thơ, kết
cấu, cách miêu tả, thể hiện và giọng điệu của thơ Thiền
Về thể thơ, tác giả nhận xét:
Hầu hết các tác phẩm thuộc đối tượng khảo sát đều được viết theo thể thơ Đường
luật (thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, hoặc ngũ ngôn tứ tuyệt), một số ít viết theo thể
cổ phong hoặc tứ tự ở thời Lý, đa số thơ Thiền là thơ triết học nên thường sử dụng thơ ngũ ngôn tứ tuyệt (33/ 66 bài thơ Đường luật), số lượng chữ tối thiểu -20 chữ- trong bài thơ bảo đảm tính hàm súc đạt mức cao nhất, cần thiết cho sự khẳng định đanh chắc và
ngụ ý sâu xa của những chân lý được nêu Thiền là vô ngôn, nhiữig điều này cũng chỉ có tính tương đối, vì vậy hình thức của một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt là phù hợp nhất để
diễn đạt một cách kiệm lời những điều cần thiết nhằm khơi gợi sự trực giác nơi đối tượng [41, tr.108-109] Nhận xét này của tác giả đã khẳng định hai vấn đề cơ bản : Thời Lý, đa
số thơ Thiền sử đụng thơ ngũ ngôn tứ tuyệt; hình thức của một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt phù hợp với nội dung khơi gợi trực giác nơi đối tượng
Trang 10Tác giả Trần Ngọc Lan trong bài viết "Chất trữ tình trong thơ Thiền đời Lý" thiên
về phân tích những yếu tố trữ tình trong thơ Thiền "Thơ Thiền đời Lý quả đã ghi lại được
những giờ phút êm đềm, những khoảnh khắc xao động trong tâm hồn của các nhà sư - thi
sĩ trước cuộc sống" [12, tr.32]
Từ các công trình, các bài nghiên cứu trên, luận văn này thấy rằng:
a Để có sự đánh giá khách quan về giá trị của văn thơ thời Lý, cần khảo sát ỏ cả hai phương điện nội dung và hình thức nghệ thuật
b Do thể thơ tứ tuyệt chiếm tuyệt đại đa số các tác phẩm văn thơ thời Lý (xem số
liệu thống kê ở phần dẫn nhập) nên việc khảo sát văn thơ thời Lý có thể giới hạn trong
phạm vi thể thơ này
Vì những lí do kể trên, luận văn này hướng tới việc giải quyết một số vấn đề sau: 3.1Phác thảo một cái nhìn tổng quát về thể thơ tứ tuyệt
3.2Khảo sát thơ tứ tuyệt thời Lý,về hai phương diện nội đung và nghệ thuật
3.3Đối chiếu, so sánh thơ tứ tuyệt thời Lý với thơ tứ tuyệt thối Trần
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, nhằm giải quyết những yêu cầu cụ thể của đề tài, người viết sử dụng các phương pháp sau:
- Nhằm khảo sát tỉ lệ sử dụng thể thơ tứ tuyệt trong kho tàng thơ văn thời Lý để đánh giá vị trí và giá tri của thể thơ này
- Để có cứ liệu tiến hành thao tác đối chiếu, so sánh thơ tứ tuyệt thời Lý với thơ tứ tuyệt thời Trần
Trang 114.2 Phương pháp phân tích - so sánh
- Nhằm xác định nội đung phản ánh và hình thức nghệ thuật của thể thơ tứ tuyệt
thời Lý
- Làm rõ nét đặc trưng của thể thơ tứ tuyệt thời Lý về cả hai phương diện nội dung
và nghệ thuật so với thơ tứ tuyệt thời Trần
5.GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ TÀI LIỆU
Đối tượng khảo sát của luận văn này là thể thơ tứ tuyệt thời Lý Cho nên nguồn tư
liệu chủ yếu là "Thơ văn Lý - Trần Tập 1" (1978) Viện Văn hộc, NXB.KHXH - Hà Nội
Để tiến hành so sánh với thể thơ tứ tuyệt thời Trần, còn cần nguồn tư liệu từ “Thơ văn Lý- Trần Tập II” (1978), "Thơ văn Lý-Trần Tập III" (1981) Viện Văn học, NXBKHXH Hà Nội
Ngoài ra, người viết còn tham khảo các tác phẩm, các công trình khảo cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu
6.KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn này gồm có ba phần:
Giới thiệu ý nghĩa của đề tài Điểm lại một số công trình chủ yếu có liên quan tới đề tài Nhấn mạnh mục đích nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, giới hạn vấn đề cần giải quyết, nguồn tư liệu và giới thiệu sơ lược kết cấu của đề tài
Phần này gồm bốn chương:
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VỀ THỂ THƠ TỨ TUYỆT
Trọng tâm của chương này là xác định khái niệm về thể thơ tứ tuyệt, đặc điểm hình
thức nghệ thuật của thể thơ tứ tuyệt nhằm tạo chuẩn mực cho công việc thống kê, phục
vụ việc phân tích và thao tác so sánh
Trang 12CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG VỀ NỘI DUNG CỦA THỂ THƠ TỨ TUYỆT THỜI
LÝ
Do đặc điểm xã hội thời Lý là nặng Phật nhẹ Nho nên hầu hết các tác phẩm thời đó đều mang nặng triết lí nhà Phật, lực lượng sáng tác chủ yếu là các vị Thiền SƯ Điều đó
buộc luận văn này phải giới thiệu vài nét về Thiền tông Việt Nam Khi phân tích nội dung dòng thơ Thiền thời Lý, cần lấy yếu chỉ của nhà Phật, giáo lí của đạo Phật làm luận điểm
để soi rọi, làm sáng tỏ vấn đề
Chương này gồm ba phần:
2.1.Vài nét về văn hóa - xã hội thời Lý
2.2.Vài nét về Thiền tông thời Lý
2.3.Nội dung thơ tứ tuyệt thời Lý
CHƯƠNG 3: HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT THƠ TỨ TUYỆT THỜI LÝ
Trọng tâm của chương này là dựa vào đặc điểm hình thức của thể thơ tuyệt cú và đặc điểm thi pháp thơ ca trung đại để phân tích thơ tứ tuyệt thời Lý
Chương này gồm chín phần :
3.1Thể thơ
3.2Các vấn đề về vần, niêm luật, điển cố
3.3Từ ngữ
3.4Hình thức tổ chức câu
3.5Kết cấu
3.6Con người
3.7Thiên nhiên
3.8Không gian nghệ thuật
Trang 13
3.9 Thời gian nghệ thuật
CHƯƠNG 4: Đối CHIẾU, SO SÁNH GIỮA THỂ THƠ TỨ TUYỆT THỜI LÝ
VỚI THỂ THƠ TỨ TUYỆT THỜI TRẦN
Sự đối chiếu, so sánh này tiến hành trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật
So sánh đối chiếu để thấy rõ diện mạo thơ tứ tuyệt thời Lý trong mối tương quan với thơ
tứ tuyệt thời Trần Chương này gồm bốn phần:
4.1Vài nét về văn hóa-xã hội thời Trần
4.2Nội dung thơ tứ tuyệt thời Trần
4.3Nghệ thuật thơ tứ tuyệt thời Trần
4.4Đối chiếu, so sánh và kết luận
Phần kết luận
Khẳng định giá trị về mặt nội dung cũng như hình thức nghệ thuật của thể thơ tứ tuyệt thời Lý
Nhấn mạnh nét đặc trưng về hai phương điện nội dung và nghệ thuật của thơ tứ tuyệt thời Lý, giúp cho việc giải mã các b.ài thơ thuộc thể thơ này
Trang 14
PH ẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VỀ THE THƠ TỨ TUYỆT
1.1.QUAN NIỆM VỀ THỂ THƠ TỨ TUYỆT
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về thuật ngữ tứ tuyệt Tựu trung có các
luồng ỷ kiến sau :
Ý kiến thứ nhất cho rằng: Tứ tuyệt là một kiểu bài thơ chỉ có bốn câu Số tiếng trong câu không hạn chế, cách gieo vần tự do, không chịu sự ràng buộc của niêm luật Đại biểu cho trường phái này, tác giả Nguyễn Sĩ Đại cho rằng : "Tứ tuyệt trước hết là một bài thơ bốn câu, không nhất thiết ngũ ngôn hay thất ngôn, không nhất thiết phải có niêm
luật chặt chẽ" [4, tr.14] Chính vì hiểu như vậy mà tất cả các bài thơ bốn câu đều được
cho là thơ tứ tuyệt Ví dụ như trong đợt thi thơ tứ tuyệt trên báo Tài hoa trẻ có một số bài
thơ dự thi sáng tác theo khuynh hướng đó
(Hồ Văn Như-Nhớ, Tài hoa trẻ số 180 ngày 10.10.2001)
Cùng một cách hiểu như thế, Chế Lan Viên có bài tứ tuyệt sau :
L ần trước lạnh vừa, lần sau lạnh gắt
Ở đất nước đánh giặc này, ta chỉ sợ gió mùa, không sợ giặc
Trang 15(Chế Lan Viên - Gió mùa đông bắc)
Ý kiến thứ hai cho rằng: Thơ tứ tuyệt là "Ngắt lấy bốn câu trong bài bát cú mà thành [7, tr.127] Hoặc "Theo lối này (tức tứ tuyệt) thường ngắt hai câu đầu, hai câu cuối, hoặc
bốn câu cuối (của bài bát cú) mà thành" [34, tr.69]
Ý kiến thứ ba cho rằng : "Thơ bốn câu người ta còn gọi là tứ tuyệt tức là bài thơ
gồm bốn câu có ý nghĩa thật hay Trong văn học Trung Quốc, người ta không gọi là tứ tuyệt mà gọi là tuyệt cú" [19, tr.213] Trong tác phẩm "Tìm hiểu các thể thơ", Tác giả Lạc Nam xác định "Thơ bốn câu gọi là thơ tứ tuyệt, người Trung Quốc gọi là tuyệt cú" Như
vậy, khái niệm về thể thơ gồm có bốn câu này, trở thành rối rắm vì cùng lúc được định danh là tứ tuyệt và tuyệt cú với nội hàm khác hẳn nhau
Để giải quyết vấn đề này, Tạ Ngọc Liễn, trong bài "Tứ tuyệt có phải là thơ bốn câu?", đã khẳng định : "Trong các tài liệu xưa không hề có thuật ngữ tứ tuyệt, chỉ có thuật ngữ tuyệt cú để chỉ những bài thơ bốn câu ngũ ngôn, lục ngôn hoặc thất ngôn, có quy định bằng trắc niêm luật rõ ràng" [14]
Theo tài liệu xưa, quả là không hề có thuật ngữ tứ tuyệt Tứ tuyệt chỉ là một từ biểu
thị hai nghĩa sau: 1- Lý Hoa làm, Bia của Nguyên Đức Tú, Nham Chân Hương viết, chữ triện trên trán bia của Lý Dương Băng được gọi là tứ tuyệt
2-Một ngày trước lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông được chọn là ngày đại kị
[53, tr.315], còn tuyệt cú là khái niệm đùng để chỉ "Một thể thơ có sự phân biệt ngũ ngôn,
lục ngôn, thất ngôn Bốn câu thành một bài, hoặc dùng vần bằng, hoặc dùng vần trắc,
khỏi đầu là thể thơ mới thời Tề, Lương, sau này vào thời Đường mới có tên là tuyệt cú