1.3- Bộ phận lớn văn chương thời Trần lại là của các vị vua, trong đó, các vị vua Thịnh Trần là những người có học thức và có tài.. Với cái nhìn so sánh, tác giả đã nêu sơ lược một vài n
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
…….o0o……
Thành ph ố Hồ Chí Minh 2003
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
…….o0o……
TRẦN THỊ HỒNG Y
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Trang 3M ỤC LỤC
M ỤC LỤC 3
PH ẦN DẪN NHẬP 4
1 TÍNH C ẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 4
2 L ỊCH SỬ VẤN ĐỀ: 5
3 M ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: 9
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 9
5 GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ TƯ LIỆU: 9
Chương 1 THỜI THỊNH TRẦN VÀ VĂN HỌC THỜI THỊNH TR ẦN 10
1.1 TH ỜI THỊNH TRẦN VỚI HÀO KHÍ ĐÔNG A: 10
1.2 N ỘI DUNG YÊU NƯỚC VÀ NHÂN VĂN TRONG THƠ THỜI THỊNH TRẦN: 12
Chương 2 THƠ CÁC VỊ VUA THỜI THỊNH TRẦN 17
2.1 CÁC CH Ủ ĐỀ LỚN: 17
2.2 TH Ể LOẠI, KẾT CÂU: 77
2.3 HÌNH TƯỢNG: 82
2.4- NGÔN NGỮ: 100
2.5- GI ỌNG ĐIỆU : 104
Chương 3 : SO SÁNH THƠ THỜI LÝ VÀ THƠ CÁC VUA TH ỊNH TRẦN 110
3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG 110
3.2 ĐẶC ĐIỂM RIÊNG 111
PH ẦN KẾT LUẬN 118
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 126
Trang 4PH ẦN DẪN NHẬP
1 TÍNH C ẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1 - Thời Lý Trần (XI-XIV) là một thời đại lớn, thời đại mới trong sự phát triển của lịch sử và văn hóa dân tộc Đặc biệt, thời Thịnh Trần (1225-1357) là giai đoạn lịch sử hào hùng, vẻ vang với thành quả của các cuộc kháng chiến chống xâm lược thắng lợi, xây dựng quốc gia hùng cường của nước Đại Việt
1.2- Về văn học nghệ thuật: Nhà Lý đã mở đầu, đặt nền móng bền vững để nhà
Trần có sự kế thừa và phát triển vượt bậc Vì vậy, một sứ giả phương Bắc là Trương
Hiển Khanh rất nể phục mà nói rằng: "Nước An Nam tuy nhỏ nhưng có văn chương
Chưa có thể nói một cách nông cạn họ là ếch ngồi đáy giếng" [10;tr23]
1.3- Bộ phận lớn văn chương thời Trần lại là của các vị vua, trong đó, các vị vua Thịnh Trần là những người có học thức và có tài Thơ của họ là tiếng lòng của
những người yêu nước thân dân Có một mảng thơ được sáng tác nhằm hướng tới để giáo hóa quần chúng, nên cũng khá gần gũi và thiết tha Tuy nhiên, ngày nay, để lĩnh
hội được giá trị và ý nghĩa của bộ phận thơ này thì không phải dễ vì thơ cổ, lại viết
bằng chữ Hán, nhiều điển cố, điển tích về tài liệu thì hiếm hoi Vì vậy trên thực tế, không chỉ học sinh, sinh viên ở các trường phổ thông, cao đẳng ngại tiếp xúc với nền
văn học cổ mà cả giáo viên cũng phải e dè (trong 248 giáo viên dạy văn trung học cơ
sở ở Trà Vinh, chỉ có 03 giáo viên là cảm thấy hứng thú với nó, đạt tỉ lệ 1,61%)
1.4- Bản thân người viết, trong thực tế giảng dạy phần này còn nhiều lúng túng Nhưng khi đi sâu tìm hiểu dần dần thì phát hiện được nhiều điều thú vị, vì vậy
chọn đề tài này là nhằm để có dịp học hỏi thêm Sau nữa, người viết thiết nghĩ thế hệ
trẻ cần phải biết yêu thích và trân trọng hơn nữa di sản quí giá của dân tộc, mà những người giáo viên hơn ai hết phải cố gắng góp phần trách nhiệm của mình
Trang 52 L ỊCH SỬ VẤN ĐỀ:
Xưa nay, thơ văn Lý-Trần thường được nghiên cứu chung với khuynh hướng
khảo sát chủ yếu về nội dung tư tưởng, vấn đề nghệ thuật thì ít nói đến hoặc chưa được đề cập sâu Nghiên cứu thơ các vua thời Thịnh Trần cả về nội dung lẫn nghệ thuật là một việc làm hết sức cần thiết
Gần đây, thơ Lý-Trần được soi rọi từ nhiều mặt, có nhiều chuyên đề chuyên sâu, nhưng có lẽ thơ Thiền được đặc biệt quan tâm nhiều nhất
Nguyễn Phạm Hùng đã khảo sát văn học Lý-Trần từ góc độ thể loại ("Văn học
Lý-Tr ần nhìn từ thể loại"-NXBGD-1996)
Theo tác giả thì tất cả các thể loại văn học chữ Hán của Việt Nam đều tiếp thu
từ Trung Quốc với những đặc điểm là tiếp thu thường xuyên, từ thấp đến cao, từ thô phác đến tính xảo Đó lầ sự tiếp thu chủ động, sáng tạo, có chọn lọc, đi đôi với cải
biến Cải biến chủ yếu ở nội đung chức năng và phần nào của phương tiện biểu cảm
của thể loại Tác giả cho rằng khái niệm thơ Thiền chủ yếu"Xuất phát từ tiêu chí nội
dung ph ản ánh" Còn "Thơ trữ tình vốn là hình thức nghệ thuật phát biểu trực tiếp thái độ, tình cảm, tâm trạng của con người trước những vấn đề bức xúc của đời sống" [tr 40]
Nguyễn Phạm Hùng đã nghiên cứu tiếp với công trình chuyên sâu về thơ Thiền tác giả đã nêu lên được những vấn đề về lịch sử và tư tưởng nghệ thuật, trong đó có nêu lên những nét khu biệt của thơ Thiền với các loại thơ khác như tính loại biệt về tác
giả, độc giả; của mã hóa và giải mã nghệ thuật; Tính loại biệt về nội đung, chức năng,
của từ vựng và cú pháp trong thơ Thiền Với cái nhìn so sánh, tác giả đã nêu sơ lược
một vài nét về thời gian, không gian nghệ thuật, nhấn mạnh tinh thần nhập thế tích cực
của thơ Thiền đời Trần và kết luận rằng "Thơ Thiền đời Trần thế tục hơn, trữ tình hơn,
đa dạng, phong phú hơn thơ Thiền thờ Lý" ("Thơ Thiền Việt Nam những vấn đề lịch
s ử và tư tưởng nghệ thuật" - NXB ĐQG HN- 1998 – tr 135) Cùng tác giả trong
quyển “Trên hành trình văn học trung đại - NXB ĐQG HN- 2001, đã dành vài chục
Trang 6trang nói về "Trần Thái Tông - Nhà thơ sám hối" và "Trần Nhân Tông giữa cảnh đời
hư thực" cố điểm qua một vài nét nghệ thuật đặc sắc về hình tượng và tư tưởng nghệ
thuật, song rất ít, chỉ vài dòng
Quyển "Văn học Việt Nam từ giữa thế kỷ X - đến giữa thế kỷ XVIII” của nhóm
tác giả Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Sĩ cẩn, Hoàng Ngọc Trì (NXBGD-1989) có nhận xét
về hình thức nghệ thuật thơ thời Trần: "Lời thơ giản dị, ý nhị, không cầu kỳ, chưa
"hoa hòe hoa sói" như thơ đời sau Và có trích lời Phạm Đình Hổ khen "Thơ đời Trần tinh di ễm, thanh viễn” [tr 119]
Nguyễn Công Lý trong "Bản sắc dân tộc trong văn học Thiền tông thời Lý
Tr ần" (NXB Văn hóa thông tin 1997) có nhận xét về thơ Trần Thái Tổng: "Thiên nhiên được miêu tả bằng những hình tượng chọn lọc đẹp đẽ, trau chuốt bằng lời văn
c ực kỳ diễm lệ, song rút lại chỉ là do chuyên chở chân lý huyền diệu mà thôi" Nhưng
đến Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông, thiên nhiên đã "mang tình cảm con
người" Tác giả đã lưu ý: "Trong thơ văn đời Trần, những khuôn mẫu có sẵn của triết
lý Thi ền Tông không phải lúc nào cũng ngự trị trong tâm hồn Thiền sứ - Thi nhân để
r ồi nhà thơ lồng thiên nhiên vào đó" [tr 113]
Đến giữa và cuối đời Trần, thiên nhiên vẫn còn gợi cảm hứng siêu thoát nhưng
rất ít Tư tưởng siêu thoát đã có ý vị thần tiên (Lão-Trang biến thể) như Trần Anh Tông với bài "Vân tiêu am"
Nguyễn Công Lý, trong bài báo đăng trên "Tạp chí Hán Nôm", số 2, năm 2001,
có rút ra "M ấy đặc điểm văn học Lý-Trần": "Văn học Lý-Trần hình thành trong sự lệ thu ộc, ảnh hưởng có thể nói là nặng nề bởi nhiều yếu tố ngoại lai, đặc biệt là yếu tố Hán nhưng cố gắng vận động để phát triển theo hướng dân tộc hóa" Về thể loại
thì "chưa có dấu hiệu gì về dân tộc hóa hình thức"
Từ gốc độ văn học nghệ thuật thì thơ Trần Nhân Tông được giới nghiên cứu quan tâm nhiều nhất Phạm Ngọc Lan chú ý đến giọng điệu của Trần Nhân Tông với
cảm hứng Thiền ương thơ: "Giọng điềm đạm, khách quan, biểu hiện một tâm trạng
Trang 7cân đối, hài hòa và thanh thản" (Trần Nhân Tông cảm hứng Thiền trong thơ- Tạp chí
văn học số 4 - 1992 – tr 47)
Lê Mạnh Thát có “Toàn tập Trần Nhân Tông" - NXB TP.Hồ Chí Minh-2000,
chú ý đến cái nhìn về thời gian một chiều trong thơ chữ Hán Trần Nhân Tông, không
phải thời gian vòng tròn, luân hồi trong quan niệm của người phương Đông Thời gian
một chiều ấy là cứ mỗi một ngày đi qua là một ngày vĩnh viễn mất đi không bao giờ
trở lại, cũng như mặt trăng lặn về phía tây rồi không bao giờ trở lại, không có mặt trăng thứ hai của nó Thơ Trần Nhân Tông được phân tích và đăng rải rác trên các tạp chí hoặc được tập trung, xếp vào hạng những bài thơ hay như quyển "Đến với thơ
hay" của giáo sư Lê Trí Viễn- NXB GD-2000, với hai bài thơ được chọn phân tích là Thiên Trường vãn vọng và Hạnh Thiên Trường hành cung Ông nhận xét:
Đây "Không phải là thơ một khắc, mà là thơ cửa một thời đại Nó đi qua hàng bao
th ế kỷ mà chẳng chút phai mòn sức mạnh rung cảm chinh phục lòng người" [tr 75]
Khảo sát thơ từ góc độ nghệ thuật, phần thơ Thiền Lý-Trần, thì có lẽ Đoàn Thị
Thu Vân đã có hướng phát triển mới "Khảo sát một số đặc trưng thơ Thiền Việt Nam
th ế kỷ XI-XIV” vốn là luận án Phó Tiến sĩ khoa học Ngữ văn (1994) của tác giả,
được Trung tâm nghiên cứu Quốc học nhà xuất bản Văn học in thành sách năm 1996
Một số phương diện cần thiết và phù hợp với đặc thù của đối tượng tác giả nghiên cứu như ngôn ngữ, thế giới nghệ thuật, thể thơ, kết câu, cách miêu tả, thể hiện, giọng điệu
đã được nghiến cứu một cách hệ thống, khoa học
Từ việc khảo sát các văn bản, có sự phân tích, thống kê, tác giả đã đưa ra
những nhận xét, kết luận xác đáng
Những công trình nói trên đã giúp cho người viết có hướng tìm hiểu, khảo sát
cụ thể hơn các tác phẩm thơ của nhóm tác giả là các vị vua thời Thịnh Trần cả về nội dung lẫn nghệ thuật Thiết nghĩ đây là một việc làm thiết thực vì các vua thời Thịnh
Trần đã làm nên một bộ phận thơ khá phong phú, có giá trị nhưng chưa được khảo sát
một cách toàn diện Các tài liệu trên, dẫu nói về nghệ thuật thơ của các vua Trần còn
Trang 8tương đối ít, song cũng là những gợi ý giúp người viết có những điểm tựa để suy nghĩ thêm và nghiên cứu sâu hơn
Trang 93 M ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Luận văn này hướng tới giải quyết một số đề sau:
3.1- Góp phần tìm hiểu một cách tương đối toàn diện thơ của các vị vua Thịnh
Trần từ nội dung - tư tưởng đến nghệ thuật
3.2- Đối chiếu, so sánh với thơ thời Lý để thấy nét đặc sắc và đóng góp của thơ các vua Trần
Đề tài này vận dụng các phương pháp nghiên cứu văn học sử, phân tích tác
phẩm, hệ thống hóa, khái quát hóa và so sánh
Trước tiên là phân loại đối tượng, ở từng loại có phân tích theo những phương
diện khác nhau như kết cấu, hình tượng, ngôn ngữ, giọng điệu Sau đó, khái quát
những đặc điểm chung của thơ của các vị vua thời Thịnh Trần Cuối cùng là so sánh
với thơ thời Lý, để thấy sự kế thừa và phát triển thêm của thơ ở giai đoạn sau và yếu tố nào là mới phát sinh
5 GI ỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ TƯ LIỆU:
Đối tượng khảo sát của luận văn này là thơ (chữ Hán) của Trần Thái Tông,
Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông (tức Trần Cảnh,
Trần Hoảng, Trần Khâm; Trần Thuyên, Trần Mạnh)
Tư liệu chính là "Thơ văn Lý-Trần" quyển II (Nguyễn Huệ Chi chủ biên), của
nhà xuất bản khoa học xã hội 1989 Trong quá trình nghiên cứu, có đối chiếu văn bản
với "Thơ văn Lý-Trần" của Ngô Tất Tố (NXB Mai Lĩnh - 1942), "Thơ Thiền
Lý-Tr ần" (NXB Vãn nghệ TP.HCM) của Đoàn Thị Thu Vân và một số văn bản khác
Trang 10PH ẦN NỘI DUNG
Chương 1 THỜI THỊNH TRẦN VÀ VĂN HỌC THỜI THỊNH
TR ẦN
1.1 TH ỜI THỊNH TRẦN VỚI HÀO KHÍ ĐÔNG A:
1.1.1- Quốc gia phong kiên Đại Việt được xây dựng qua các triều đại Đinh,
Lê, Lý đến đời Trần càng được củng cố vững chắc Ở thời Thịnh Trần, dân tộc Việt đã
ba lần đánh bại quân xâm lược Nguyên-Mông, một đế quốc phong kiến hùng mạnh
nhất đương thời Cùng với công cuộc giữ nước, các vua Trần còn chung sức với nhân dân, tích cực xây dựng một quốc gia giàu mạnh, tự lập, tự cường Nền kinh tế lúc ây phát triển, việc sản xuất được dồi đào, xã hội thì thanh bình Những năm từ 1225
(vua Trần Thánh Tông lên ngôi) và đến l357 (Thời Trần Minh Tông) là thời thịnh
vượng của nhà Trần "Nước An Nam bấy giờ vua tôi hòa hợp, lòng người như một,
nhân t ài lũ lượt kéo ra" [39; tr 150] Khí thế đương lên của dân tộc lúc bấy giờ, người
đời sau gọi đó là "Hào khi Đông A" Nền văn hóa nói chung và nền văn học nói riêng
ở thời Thịnh Trần đang trên đà phát triển, đánh dấu một bước tiến rõ rệt so với văn hóa văn học đời Lý Còn từ sau Minh Tông mất, các vua chỉ biết ăn chơi trác táng, dân tình đói khổ Chu Văn An dâng sớ xin chém mười bảy lộng thần, vua không đồng ý, ông bèn lui về ở ẩn Càng về sau, càng suy tàn, cuối cùng cơ nghiệp rơi vào tay Hồ Quí Ly
1.1.2- H ệ ý thức tư tưởng có sự chuyển biến Các vua thời Trần coi trọng
Phật giáo nhưng cũng chủ trương đề cao Nho giáo vì nó có tác dụng tích cực đối với yêu cầu xây dựng chế độ phong kiến đương thời
Nhìn chung, thời Lý-Trần, quan niệm “Tam giáo đồng nguyên" không bao
giờ bị phủ định hoàn toàn Vua Lý Nhân Tông khen thiền sư Giác Hải và đạo sĩ Thông Huyền "Nhất phật nhất thần tiên", tức coi trọng cả Phật và Lão Còn Phật và Nho được ví như "Ngày thì mặt trời soi, đêm đến mặt trăng sáng" Cùng là ánh sáng mà
khác nhau ở chỗ phân công theo hoàn cảnh khác nhau Đến thời Trần, mở đầu là Trần
Trang 11Thái Tông đã "lấy trách nhiệm của Tiên Thánh làm trách nhiệm của mình, lấy giáo
hóa c ủa đức Phật lại cần có Tiên Thánh mới có thể truyền về đời sau" [10; tr 28]
Phật giáo thời Trần còn chiếm địa vị quan trọng, tuy rằng không còn độc tôn như ở
thời Lý Tôn chỉ "Bất lập văn tự, Giáo ngoại biệt truyền, Trực chỉ nhân tâm, Kiến tính
thành Ph ật " trong dòng phái Thiền Tông có sự uyển chuyển theo hướng tích cực, điều hòa tư tưởng xuất thế của Phật với thực tiễn cuộc sống trần thế của Nho Phật giáo
thời Trần không cứng nhắc như thời Lý Nho giáo thời Trần cũng có xu hướng phát triển, nhưng không khô cứng như ở giai đoạn sau, "Phật” lo cứu vớt chúng sinh, "Kh ổng" lo con đường tu, tề, trị, bình, xây dựng một đất nước trật tự, lý tưởng ở
ngay trong cõi đời này Năm 1232, khoa thi Thái học sinh được mở để chọn Tiến sĩ
Từ đời nhà Lý đã có thi Nho sĩ, nhưng chỉ thi Tam trường mà thôi 1247 có khoa thi Tam giáo (Nho-Thích- Lão), làm cho các tư tưởng của các tôn giáo khác nhau này có
dịp gần nhau hơn
1.1.3- Văn học thời Trần phát triển phong phú, đa diện, phản án nhiều mặt
xã hội và con người thời đại Lực lượng sáng tác động hơn so với thời Lý Trình độ
học thức và văn chương có sự tiến bộ vượt bậc Đọc các tác phẩm của Hưng Đạo
Vương (Hịch tướng sĩ), Trần Quang Khải (Tụng giá hoàn kinh sư), Phạm Ngũ Lão (Thu ật hoài) thì thật xứng là những áng văn thơ bất hủ Vào thời Thịnh Trần,
thơ chữ Hán còn là bộ phận quan trọng Các nhà vua đều có các tập thơ Nội dung thơ
nổi bật trước hết là thể hiện lòng yêu nước, đề cao chủ nghĩa anh hùng, tinh thần tự hào đàn tộc và lòng tín vào tiền đồ đất nước Các trước tác của các vua Trần về Phật giáo đã chứ ý đến cả Nho và Đạo, vận dụng chúng vào việc giáo hóa chúng sinh, gắn
với lợi ích cả dân tộc để bảo vệ và xây dựng đất nước vững mạnh Chỉ riêng thơ của các vị vua thời Thịnh Trần đã làm bộ phận rất phong phú với nhiều chủ đề khác nhau
Để tiện việc nghiên cứu, chúng tôi tạm xếp thành các chủ đề lớn sau:
1.1.3.1- Hào khí Đồng A: Thể hiện tinh thần yêu nước và khí phách của
thời đại nhà Trần trong công cuộc kháng chiến chống xâm lăng, giữ yên bờ cõi Đó
Trang 12cũng là không khí thanh bình cửa đất nước được xây dựng sau chiến tranh, âm vang hùng tráng của những ngày chiến thắng còn tiếp tục vang vọng vào thơ các thế hệ đời sau
1.13.2- Tình yêu thiên nhiên, đất nước: tâm hồn các nhà thơ mở rộng, giao
cảm với đất trời Ta thường thấy trong thơ Thịnh Trần một tình yêu nồng nàn đối với
cuộc sống - một cuộc sống có vẻ thảnh thơi, phóng khoáng, bình dị, thậm chí rất dân
dã Đặng Thai Mai nói "Đây là thơ của một tâm trạng cân đối, hài hòa mà thanh cao"
(M ấy điều tâm đắc về một thời đại văn học - Thơ văn Lý Trần -tập I)
1.1.3.3- Vinh sử: Trần Anh Tông là người đã mở đầu cho dòng thơ Vịnh sử
Việt Nam Mặc dù chỉ cớ sáu bài, song nó có ý nghĩa quan trọng, mở đường cho dòng thơ Vịnh sử được phát triển về sau
1.1.3.4- Thiền: Là dòng thơ đặc biệt thành công ở thời Lý Trần Thơ Thiền
của các vị vua thời Thịnh Trần có những nét chung của thơ Thiền thời Lý song về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật có nhiều đổi mới, ngày càng gần gũi, chất trữ tìnhcưng đậm đà hơn
1.2 N ỘI DUNG YÊU NƯỚC VÀ NHÂN VĂN TRONG THƠ THỜI
TH ỊNH TRẦN:
Yêu nước và nhân văn là hai nội dung chủ yếu trong văn học đời Trần Quân Nguyên đã ba lần sang xâm lược (1258, 1285, 1287) và đã ba lần bị đánh lui Sức
mạnh nào đã giúp người xưa làm nên những kỳ tích đó ? Chính là nhờ ở sự đồng tâm
hi ệp lực, trên dưới một lòng, vì giang sơn xã tắc Lê Quí Đôn trong "Kiến văn tiểu
l ục" có viết:
"B ởi vì nhà trần đãi ngộ sĩ phu rộng rãi mà không bó buộc, hòa nhã mà có lễ
độ, cho nên nhân vật trong một thời có chí khí tự lập, hào hiệp, cao siêu, vững vàng, vượt ra ngoài thói thường, làm rạng rỡ sử sách"
Như vậy, ta thấy vai trò của các vị vua Trần - người nắm vận mệnh của Tổ
quốc đã cố sự mẫn cảm phi thường, thấu hiểu các yêu cầu của lịch sử, có quan điểm
Trang 13chính trị cởi mở, quán xuyến được triều đại, có những chủ trương, chính sách rất uyển chuyển, lấy sự thuyết phục và tự nhiên làm phương châm hàng đầu Điều đó đã góp
phần làm nên sự vững chãi của triều đại
Các vua Trần đã khéo léo vận dụng tinh hoa của các tư tưởng Nho, Phật,
Lão "Làm cho chúng thâm nh ập nhau đến một chừng mực nào đấy mà có chứ không bị
m ột lợi ích thực tiễn của một thế lực xã hội nào chi phối, làm cho nó méo mó"
(Nguyễn Huệ Chi) Mối quan hệ cộng hưởng ấy mặc dù diễn ra một cách hồn nhiên, song động lực thốc đẩy để nó hài hòa theo hướng tích cực là nhờ đức và tài của các vị vua Trần, làm cho chúng cố kết lại với nhau, đồng thời củng cố kết được lòng dân, giải
tỏa được mọi ức chế, ổn định tâm lý xã hội, đưa các hệ thống giáo lý vốn rất xa cách kia xích lại gần nhau Và con người cũng xích lại gần nhau hơn Các quan niệm từ bi, bác ái, đại hùng, đại lực, vô úy, phá chấp, tự do, bình đẳng đã giúp cho triều đại nhà
Trần có một quan niệm sống đúng đắn, làm nên chất kết dính, gắn bó cả cộng đồng, cùng hiệp lực đấu tranh, xây dựng và phục hưng dân tộc
Trải mấy nghìn năm, dân tộc ta phải thường xuyên đấu tranh để giữ nước, cho nên tinh thần quật khởi chống xâm lăng luôn là ý thức thường trực trong mỗi con người Việt Nam Khi chưa có chữ viết, truyền thống ấy vẫn được lưu truyền lại đời sau bằng những câu chuyện truyền thuyết Đến khi Lý Thường Kiệt đọc bài thơ đánh
Tống, khẳng định chủ quyền của dân tộc, thể hiện niềm tin vào chính nghĩa, đã khơi
dậy được tinh thần yêu nước của tướng sĩ, tạo nên một sức mạnh, từ tinh thần chuyển sang vật chất, đánh tan quân Tống trên sông Như Nguyệt năm 1076 Nhận thức đựơc
sức mạnh to lớn của tinh thần yêu nước, Trần Nhân Tông đã biết vận dụng nó trong
giờ phút đất nước lâm nguy Bằng hai câu thơ ngắn gọn, vua Trần đã củng cố được tinh thần binh sĩ, động viên chiến đấu, đạt hiệu quả ở trận Vạn Kiếp:
"C ối Kê cựu sự quân tu ký,
Hoan Di ễn dỡ tồn thập vạn binh"
(Cối Kê việc cũ người nên nhớ,
Trang 14Hoan Diễn còn kia chục vạn quân)
N ội dung yêu nước trong thơ thời Thịnh Trần không chỉ gắn với sự nghiệp bảo
v ệ Tổ quốc, chống ngoại xâm, mà còn thể hiện ở nhiều khía cạnh phong phú, trên cơ
s ở ý thức về khối cộng đồng vững chắc của dân tộc Vua yêu nước cũng có nghĩa là
thương dân, lo cho đời sống của dân
"Sinh dân nh ất thị ngã bào đồng
T ứ hải hà tâm sử khốn cùng"
(Hết thảy nhân dân đều là đồng bào của ta
Nỡ lòng nào để cho bốn bể phải khốn cùng)
(Ngh ệ An hành điện - Trần Minh Tông)
Nước Đại Việt trong thời Trần thường trải qua chiến tranh Sau mỗi lần quyết chiến, giành quyền độc lập, mỗi người đều nhận ra rằng: độc lập là rất quí, vì phải đổ nhiều xương máu mới đổi lấy được Chính vì thế, giây phút đất nước được thanh bình, ngắm
cảnh đồng quê mộc mạc, trẻ dắt trâu về trong tiếng sáo, cò từng đôi, thỉnh thoảng đáp
xuống đồng Thật giản dị, nhưng cảm thấy đáng yêu biết bao Tình yêu nước ấy, cứ bàng bạc, có khắp trong các bài thơ nói về thiên nhiên Đất nước này, ở đâu cũng đẹp Trong những bài thơ Thiền cũng chứa chan tình yêu nước
Nhân văn là vẻ đẹp của con người Nền văn học giàu tính nhân văn là nền văn
học khẳng định, ca ngợi, đề cao vẻ đẹp của con người, đặc biệt là vẻ đẹp về tâm hồn, trí tuệ, nhân cách Ở đó bao hàm cả một nội dung liên quan là nhân đạo Nhân đạo là khái niệm cụ thể về đạo đức, thể hiện sự thương yêu, quí trọng và bảo vệ con người
Nội dung nhân văn trong thơ các vua Trần không chỉ thể hiện ở lòng yêu thương biết quan tâm đến con người, mà còn giúp con người được thể hiện và phát huy mọi năng
lực của họ trong cuộc sống Hơn ai hết, Phật giáo Thiền Tông ở thời Thịnh Trần, với
tinh th ần tự do, phá chấp, rất phóng khoáng đã làm cho con người được phát triển ở nhi ều mặt? Khẳng định ở tròng mỗi con người đều có tự tính, chân tính, mọi người
bình đẳng, Phật và chúng sinh không khác biệt, đó là một nét đẹp trong giáo lý Phật
Trang 15giáo, có ý nghĩa nhân văn rất cao (Phổ thuyết sắc thân, Phổ thuyết hướng thượng
nh ất lộ - Trần Thái Tông )Vua Nhân Tông biết phát hiện ở quần chúng những nét
phẩm chất tốt đẹp và trân trọng họ (Trúc nô minh), nên các vị bô lão cũng từng được
vời đến để hỏi việc nước Nhà vua biết cảm thông cho số phận của những người cung
nữ suốt đời mòn mỏi trong chốn cung son (Khuê oán) Ngắm sông Bạch Đằng, Trần
Minh Tông vừa tự hào về chiến công lừng lẫy của dân tộc nhưng cũng vừa ngậm ngùi
vì máu người đã đổ quá nhiều (Bạch Đằng Giang) Đó là những biểu hiện của lòng
nhân đạo
Tinh thần nhân đạo Phật giáo đã hòa làm một với tinh thần nhân ái truyền thống
của dân tộc Việt, hòa với mặt tích cực trong đạo "nhân" của Nho giáo, "quy chân phản
phác " của Lão giáo, góp phần tạo nên con người Đại Việt cao thượng, đẹp đẽ Các vị vua thời Thịnh Trần đã góp phần tạo nên vẻ đẹp ấy với bản lĩnh vững vàng, giàu lòng yêu nước và nhân đạo sâu sắc Họ là vua, nhưng số không ít trong họ cũng đồng thời là
những Thiền gia thấm nhuần yếu chỉ của Thiền Vì vậy "Việc đề cao phần đóng góp
này c ủa Phật giáo trong việc xây dựng con người Việt Nam trong quá khứ là một việc
c ần thiết và đúng đắn" [50; tr 13] Nói đến thơ thời Thịnh Trần, không thể bỏ qua vai
trò và ảnh hưởng của Phật giáo Thiền Tông đối với tư tưởng thời đại nói chung và các tác giả được khảo sát nói riêng Khi tóm tắt những nét cơ bản của Thiền tông Việt Nam
thời Lý-Trần, Đoàn Thị Thu Vân có viết: '"Thiền Tông Việt Nam thời Lý Trần có một
s ố nét riêng":
- Thi ền được đưa vào cuộc sống, phục vụ đất nước và nhân dân (nhiều thiền sư
ch ọn lối sống cư sĩ, nhưng khi đất nước cần thì tham chính, đánh giặc, vừa làm việc đời, vừa làm việc đạo), tu dưỡng nhân cách con người (an nhiên tự tại, vô cầu vô ngại, vui s ống tự tin vào bản thân)
- Thi ền dung hợp với Nho và Lão để giúp con người phát triển toàn diện và phù h ợp với con đường phát triển của đất nước Thiền dung hợp với Tịnh độ, Mật tông
và c ả tín ngưỡng dân gian bản địa để phù hợp thực tiễn và đại chúng
Trang 16Nói tóm l ại, đó là một đạo Thiền đầy sức sống " [88; tr.6]
Như vậy, Thiền tông thời Lý-Trần không khuyên người ta lánh đời, bỏ bê việc nước, mà trái lại, rất tích cực nhập thế, làm cho đời thêm tốt đẹp Dân tộc ta vốn có truyền thống yêu nước và nhân đạo, biết hy sinh vì lợi ích cộng đồng Truyền thống ấy
đã làm cho tôn giáo có luồng sinh khí, biến đổi để nó trở nên gần gũi và tích cực
hơn Phật giáo Thiền tông không đơn thuần là tôn giáo, tín ngưỡng mà đã trở thành
quan ni ệm sống, triết lý nhân sinh cao cả Đối với các vị vua Thịnh Trần, tôn giáo càng được vận dụng thiết thực hơn Những ma thuật, những thuốc trường sinh đều
bị vua phê phán Cõi Niết bàn tịch diệt với ý nghĩa đơn thuần của Phật giáo không còn, mà là sự tự tại ở thân, tâm Làm được điều tốt, điều thiện, tức là thân tạm được
nhẹ nhàng Làm điều xấu, để lương tâm cắn rứt thì chẳng khác gì bị đày xuống mười tám tầng địa ngục Đi tu hay không đi tu, điều đó không quan trọng, mà quan trọng là
bản thân mỗi người có giữ được cho trong sáng, thanh cao hay không Các vị vua
Trần, trong đó có Trần Nhân Tông là Đệ nhất Tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử không hề có ý đồ lợi dụng tôn giáo để mê hoặc quần chúng làm điều xằng bậy Các vua Trần phải chinh chiến liên miên, không phải vì hiếu chiến, hiếu sát, mà vì kẻ thù
rắp tâm thôn tính đất nước, tàn hại nhân dân Người dân Đại Việt cũng sẵn sàng hy sinh để gìn giữ chủ quyền Yêu nước gắn với trung quân thời ấy là đúng đắn, bởi các
vị vua ấy đại diện cho cộng đồng, vì lợi ích cộng đồng Chính vì vậy, yếu tố dân chủ trong tư tưởng xã hội thời Thịnh Trần được phát huy khá tích cực, góp phần làm nên chiến thắng tạo nên hào khí Đông A rực rỡ một thời trong lịch sử dân tộc và trong văn
học
Trang 17Chương 2 THƠ CÁC VỊ VUA THỜI THỊNH TRẦN
2.1 CÁC CH Ủ ĐỀ LỚN:
2.1.1 Hào khí Đông A
2.1.1.1- Hào khí là chí khí mạnh mẽ, hào hùng Theo phép chiết tự thì chữ TRẦN ( ) gồm có hai phần: Đông và A Hào khí Đông Á là hào khí đời
Tr ần Không phải ngẫu nhiên mà khí thế hào hùng của nhân dân ta thời Trần đựơc sử
gia đời sau đặt cho cái tên là Hào khí Đông A Trải 215 năm xây dựng và chiến đấu,
đời Lý đã phát huy truyền thống của hàng nghìn năm lịch sử, của "Quốc tộ như đằng
l ạc" để lầm nên "Nam quốc sơn hà" Đến đời Trần, khí thế ấy lại càng lớn mạnh làm nên chi ến công oanh liệt, ba lần đánh tan quân xâm lược Nguyên-Mông, một đế quốc
hung hãn khét tiếng thời Trung cổ, đã từng lừng lẫy và chiến thắng từ Á sang Âu Nói đến thời Trần là nói đến hào khí Đông A, với khí phách hào hùng chống xâm lăng và tinh thần độc lập tự cường trong xây đựng đất nước Tinh thần ấy thể hiện cụ thể khi
giặc Nguyên - một đế quốc rộng lớn gấp trăm lần nước ta tràn sang xâm lấn, nhưng dân
ta, từ trẻ đến già đều quyết tâm với tinh thần "sát Thát" để nêu cao ý chí lập công Trần
Thủ Độ khảng khái "Đầu chưa rơi xuống đất" thì không chịu bó tay Trần Quốc Tuấn
xin với vua "Trước hết hãy chặt đầu tôi đã, rồi sẽ hàng" Trần Bình Trọng "Thà làm
ma đất Nam, không thèm làm vương đất Bắc" Trần Quốc Toản tuổi nhỏ chí cao với
lá c ờ "Phá cường địch, báo hoàng ân" Hội nghị tướng lĩnh ở Bình Than, hội nghị
người già ở Diên Hồng thời Trần Nhân Tông mọi người đều nhất trí hô to "Đánh" khi
nhà vua hỏi "Nên hàng hay đánh" Không phải dân ta hiếu chiến, hiếu sát, mà nguyện
vọng muôn đời là muốn quốc thái dân an Nhưng giặc độc ác, nghênh ngang "Uốn lưỡi
cú di ều mà xỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt tất
Li ệt mà đòi ngọc lụa để thỏa lòng tham khôn cùng, giả hiệu Vân Nam Vương mà thu
b ạc vàng, để vét của kho có hạn” (Hịch Tướng sĩ - Trần Quốc Tuấn) Dã tâm của giặc
rất lớn Ta nhân nhượng, chúng cũng không để yên Toàn dân Đại Việt ý thức được
Trang 18điều đó, nên thà chết chớ không chịu đầu hàng Biết bao câu chuyện cảm động về vua tôi nhà Trần đánh giặc còn ghi sử sách Đó là biểu hiện của hào khí Đông A Hào khí
ấy vẫn tỏa sáng khi đất nước thanh bình, mọi người cùng nhau xây dựng, hàn gắn vết thương sau chiến tranh, đồng thời cũng lo phòng thủ khi giặc lăm le trở lại Chỉ trong
vòng hai mươi chín năm, dân Đại Việt phải ba lần chống giặc Dĩ nhiên là đã hy sinh nhiều, nhưng kết quả là thắng lợi Đó là điều kỳ diệu mà thế giới phải kinh ngạc, thán
phục Những vần thơ để lại của các vua Trần về cuộc chiến này vừa hào hùng vừa thâm
trầm bởi trong chiến tranh phải có sự anh dũng nhưng bên cạnh đó còn phải có sự hy sinh, gian khổ
2.1.1.2- Thơ trực tiếp viết về chủ đề “Hào khí Đông A” không nhiều Chủ
yếu có ba bài của Trần Nhân Tông, một bài viết trước cuộc chiến tranh 1285: "Xuân
nh ật yết Chiêu Lăng", một bài, thật ra chỉ là hai câu thơ động viên binh sĩ trong trận
chiến 1285 "Quân tu ký" và "Tức sự” cảm xúc sau chiến tranh, quân ta thắng lợi
Ý thơ, nói chung là nghĩ về cuộc chiến đấu chống ngoại xâm của dân tộc Bên cạnh đó, thể hiện một niềm tin vững chắc vào sự trường tồn của Tổ quốc Chiêu
Lăng là nơi lăng mộ của vua Thái Tông Vào ngày xuân, Nhân Tông "Yết Chiêu
Lăng", không chỉ là thăm Chiêu Lăng mà còn là yết kiến, hầu chuyện với tiền nhân
Đây là một sự gặp gỡ giữa quá khứ và hiện tại, giữa đời trước và đời sau, giữa đời ông
và đời cháu, rất hào hùng:
"Tì h ổ/ thiên môn túc,
Y quan/ th ất phẩm thông
B ạch đầu quân sĩ tại,
Vãng v ạng thuyết Nguyên
Phong" (Nghìn c ửa nghiêm tì hổ,
Bảy phẩm đủ cân đai
Lính bạc đầu còn đó,
Chuyện Nguyên Phong, kể hoài ("Xuân nhật yết Chiêu Lăng"
Trang 19Trần Lê Văn- dịch) Hình ảnh "tì hổ" (hùm gấu) được ví như sức mạnh vô địch của binh sĩ nhà
Trần Phạm Ngũ Lão cũng từng nhắc đến trong bài Thuật hoài: "Tam quân tì hổ khí
thôn N gưu, ba quân khí mạnh, có thể át cả sao Ngưu trên trời Hình ảnh người lính già
đầu bạc là chứng nhân của quá khứ hào hùng của những năm Nguyên Phong (niên
hiệu của Trần Thái Tông) vẫn còn đó với hào khí cuộc chiến năm Đinh Tỵ 1257 Năm
ấy, vua Thái Tông đã đích thân lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ nhất,
có mặt ở những nơi nguy hiểm, đã chiến đấu và chiến thắng, đem lại niềm tin tưởng và
tự hào cho dân tộc Còn người lính già, đầu tóc bạc phơ vẫn trung thành, đứng cạnh ngôi mộ của chủ mà lòng tự hào vẫn không vơi đi theo thời gian, khiến người ta nhớ mãi
Theo Đại Việt sử ký, năm Giáp Thân 1285, Trần Hưng Đạo hội quân ở Hải Đông, Vân Trà, Ba Điểm để chọn người khỏe mạnh làm tiên phong vượt biển vào Nam Lúc đó, quân ta khá mạnh, tụ họp đầy đủ Trần Nhân Tông làm hai câu thơ dán ở
đuôi thuyền ngự, lấy tích cũ ở cối Kê, để động viên tinh thần chiến đấu Cũng có người
cho rằng địch đang tấn công mạnh, quân ta đang rút Nhưng thế nào đi nữa, hình ảnh vua Nhân Tông, một vị tổng chỉ huy chiến trận đẵ thực sự theo sát và chỉ đạo kịp thời
cuộc chiến đấu, đã có một cuộc nghị sự thần tốc với Trần Hưng Đạo, và trấn an, khích
lệ được lòng binh sĩ:
"C ối Kê cựu sự quân tu ký,
Hoan, Ái do t ồn thập vạn binh"
(Cối Kê việc cũ ngươi nên nhớ,
Hoan, Ái đang con vạn chục quân)."
("Quân tu ký"- Đào Phương Bình - dịch)
Ngày 17 tháng 3 năm Mậu Tý (tức 18/4/1288), sau trận thắng quyết định trên sông Bạch Đằng, triều đình đem các tướng giặc bị bắt là lích Lệ Cơ, Ô Mã Nhi, Sầm Đoạn, Phàn Tiếp làm lễ dâng thắng trận ở Chiêu Lăng Trần Nhân Tông thấy chân
Trang 20mấy con ngựa đá đều phải lấm bùn, vì trước đó, quân Nguyên tràn qua đây, đã đào Chiêu Lăng, định phá đi nhưng chưa kịp Vua Nhân Tông cảm xúc, ngâm hai câu thơ:
"Xã t ắc/lưỡng hồi/ lao thạch mã
Sơn hà/ thiên cổ/ điện kim âu"
(Trên nền xã tắc hai lần ngựa đá phải mệt nhọc,
Nhưng núi sông nghìn đời được đặt vững âu vàng)
"Ng ựa đá cũng hai lần mệt nhọ”, như thể cùng tham gia với toàn dân trong
hai lần chiến đấu chống xâm lược (1285 - lần II, 1287 - lần III) Giặc dã man, muốn đào mồ mả tổ tiên, nhằm tiêu diệt ý chí chiến đấu của dân tộc ta Nhưng chúng đã thất
bại, núi sông nghìn đời được đặt vững âu vàng, nền độc lập, tự chủ của ta ngày càng
bền vững
Cả ba bài đều rắn rỏi, chắc nịch như một lời hứa, là một niềm tin vững chắc vào sự trường tồn của dân tộc Nghệ thuật đối càng nhấn mạnh thêm điều đó
Mấy chục năm sau, hào khí ấy vẫn còn vang vọng Sông Bạch Đằng là nơi
đã từng diễn ra cuộc chiến Ngô Quyền phá tan quân Nam Hán (939), và Trần Quốc
Tuấn đánh tan quân Nguyên (1288) Khi Trần Minh Tông đi ngang vào một buổi chiều, lúc mưa xuân vừa tạnh, thấy hoa vàng điểm tô mặt đất, trong lòng tự hào nghĩ
rằng "Non sông này xưa nay đã hai lần mở mắt và cuộc hơn thua giữa hai nước Hồ -
Vi ệt như mới thoáng qua" Bóng mặt trời chiều đỏ ối, rọi xuống nước sông, cứ ngỡ
như máu chiến trường ngày trước chưa từng khô:
"Giang th ủy đình hàm tà nhật ảnh,
Thác nghi chi ến huyết vị tằng can"
(B ạch Đằng Giang-Trần Minh Tông)
Lời thơ tuy có hào hùng nhưng pha lẫn vẻ ngậm ngùi như đang chứng kiến
cảnh thây rơi máu đổ vì chiến tranh Đến "Việt giới", Minh Tông nghĩ rằng giữa hai
nước Hoa và Di đâu có cách biệt nhau mấy, tại sao không thể yên ổn, để cùng nhau bước lên cõi thọ, đó chẳng là ước vọng của nhiều người hay sao:
Trang 21"Kh ẳng hạn Hoa Di ngoại,
T ề đăng thọ vực trung"
(Đâu có sự ngăn cách giữa Hoa và Di,
Đều cùng nhau bước lên cõi thọ)
Trong lịch sử, nhà Trần không chỉ chống quân Nguyên, mà còn luôn đối phó, giữ yên vùng biên giới phía Tây Nam, giáp với Chiêm Thành, Ai Lao, Chân Lạp Sau khi đánh tan quân Nguyên (1288), thì sau đó 1290, vua Nhân Tông phải thân chinh Ai Lao Năm 1311, vua Anh Tông cùng thân chinh dẹp loại biên giới Chiêm Thành Đó
là bất đắc dĩ, do nạn quấy nhiễu thường xuyên ở biên giới Hơn ai hết, vua Nhân Tông
đã từng chinh chiến, hiểu rõ họa binh đao, vì vậy "Trên đường Tây Chinh", buồm
chiến đang "phăng phăng lướt gió, hoa sóng nổ tưng” một hình ảnh rất hoành tráng,
vậy mà vị tổng chỉ huy trong chiến thuyền lại uể oải, không muốn ngẩng đầu, thấy
cảnh vật thê lương và suy ngẫm, tự hỏi mình có phải như Hán Vũ Đế ngày xưa, bị người đời chê là kẻ hung hăng, hiếu chiến:
"Hán Vũ phiên chiêu cùng độc báng,
Nam nhi c ấp cấp nhược vi táp
(Hán hoàng mang tiếng say chinh chiến,
Lật đật nam nhi có uổng công ?)
(T ầy chinh đạo trung)
Trần Anh Tông thì cảm xúc lúc chinh Chiêm Thầnh trở về, sau hơn nửa năm,
việc binh đao đã dàn xếp xong, gối đầu bên cửa sổ thuyền, lòng giang hồ âm lại, bóng màn tướng không còn đi vào giấc mơ nữa:
"Thuy ền song nhất chẩm giang hồ noãn,
B ất phục du chàng nhập mộng trung"
(Chinh Chiêm Thành hoàn chu b ạc Phức Thành cảng) Văn học Lý-Trần, nhất là
thời Trần đã mở đầu cho dòng văn học viết yêu nước đầu tiên của dân tộc ta Âm hưởng hào hùng có tác dụng động viên tinh thần chiến đấu, bảo vệ đất nước còn vang mãi về sau Cảm hứng chính của văn học yêu nước là cảm hứng sử thi, là ý thức của
Trang 22cộng đồng mỗi khi vận nước gặp nguy hiểm, mỗi cá nhân phải có trách nhiệm trước sự
tồn vong của Tổ quốc Các vua Trần không phải chỉ bảo vệ ngai vàng, mà còn vì giang
sơn xã tắc Các từ "Xã tắc, sơn hà" được nhắc đến với thái độ thiêng liêng trân trọng
Hình ảnh vừa cụ thể, vừa có tính khái quát cao: người lính già đầu bạc, kể mãi chuyện Nguyên Phong và hình ảnh "Ngựa đá", "Sông Bạch Đằng" có ý nghĩa là những chứng
nhân bất tử cho hào khí của dân tộc tượng trưng cho lòng yêu nước, như được in, được
khắc sâu vào tâm trí mỗi người bằng những vần thơ ngắn gọn, hào hùng Bài thơ ngắn, câu thơ gọn, nghệ thuật đối rất chỉnh, từ khỏe chắc, hình ảnh tiêu biểu, dù là thơ tức
sự, không cố tình gọt giũa, nhưng thực tế hào hùng đã tạo nên những vần thơ yêu nước
đẹp đẽ thông qua ngồi bút tài hoa của các vị vua Trần (Xuân Nhật yết Chiêu Lăng,
là không tán thành chiến tranh, nhưng vì lợi ích cộng đồng, dù chủ động chiến đấu,
nhưng trong hoàn cảnh bất đắc dĩ Cụm từ "Cùng binh độc vũ" được nhắc lại nhiều lần trong thơ nhà Trần, chứng tỏ họ không phải và không muốn làm kẻ "cùng binh
độc vũ" (hung hăng hiếu chiến)
Xét về loại thể, các bài thơ trên hầu hết đều được viết theo luật Đường, rất hoàn chỉnh, niêm luật chặt chẽ; các bài Xuân Nhật yết Chiêu Lăng, Quân tu ký, Tức
s ự lời lẽ trang nghiêm, mạnh mẽ, hào hùng, đanh chắc, ít chữ, ít câu Các bài bát cú
phù hợp lối trữ tình, tả cảnh, lồng vào cảm xúc Nhiều câu tả cảnh rất đẹp; xuất hiện ở thơ thất ngôn bát cú:
"C ẩm phàm khinh sấn lãng hoa khai"
(Buồm gấm nhẹ nhàng lướt đi, hoa sóng nổ tung)
(Tây Chinh đạo trung-Trần Nhân Tông)
Trang 23"H ải thẩn thôn triều quyết tuyết lan"
(Hải thẩn nuốt thủy triều cuộn làn sóng bạc)
(B ạch Đằng Giang - Trần Minh Tông)
"C ẩm lãm qui lai hệ lão dung,
Hi ểu sương hoa trọng thấp vân hồng
Sơn gia vũ cước/ thanh tùng nguyệt,
Ngư quốc triều đầu/hồng liễu phong"
(Thuyền kép bằng dây gấm trở về dưới gốc cây đa già,
Sương sớm nặng hạt làm ướt đậm mui thuyền
Xóm núi dưới chân mưa, vầng trăng trên ngọn thông xanh,
Làng chài ở đầu ngọn thủy triều, gió lướtbãi răm đỏ)
(Chinh Chiêm Thành hoàn chu b ạc Phúc Thành - Trần Anh Tông)
Trở về với chủ đề "Hào khí Đông A", ta đã biết tạo nên hào khí ấy là toàn thể
nhân dân Đại Việt, trong đó các bậc nhân tài là nguyên khí, của dân tộc mà thời Trần
đã khéo bồi dưỡng, biết trân trọng và sử dụng Người ta nói rằng nhân tài ở thời Thịnh
Trần xuất hiện như trăm hoa nở rộ, mà trong dòng tôn thất, hoàng tộc cũng có nhiều
bậc kỳ tài, cả văn lẫn võ Thật vậy, xét về lịch sử, các tướng lĩnh cầm binh, chỉ huy
mặt trận, tướng của họ Trần rất nhiều Xét về lĩnh vực văn chương, nhà họ Trần cũng
để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng, thậm chí các vị vua Trần lại là người mở đầu cho dòng
văn chương chữ Nôm như Trần Nhân Tông với hái tác phẩm "Cư trần lạc đạo
phú" và "Đắc thú lâm tuyền thanh đạo ca” rất quan trọng và có ý nghĩa, đánh dấu
bước chuyển biến của nền văn chương chữ Nôm Đại Việt Tuy nhiên ở luận văn này,
do giới hạn của phạm vi nghiên cứu, tạm gác lại hai tác phẩm Nôm trên, chỉ trích phần thơ chữ Hán, hai bài thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
2.1.1.3- Các vua Tr ần rất trọng dụng nhân tài Thơ đề tặng các vị trung
th ần biểu hiện cao niềm ưu ái đó Ngay cả Trần Trọng Trưng, trung thần của nhà Nam
Tống, khi nhà Tống mất, ông không theo nhà Nguyên mà chạy sang Đại Việt Khi ông
Trang 24mất, vua Thánh Tông thương tiếc, làm bài thơ viếng: "Thống khốc Giang Nam lão cự
khanh" (Đau đớn khóc người bề tôi kỳ cựu của đất Giang Nam)
(Vãn Tr ần Trọng Trưng)
Với câu bốn chữ, hoặc bảy chữ, vài dòng ngắn gọn, các trung thần đã được khắc
họa bằng những lời tốt đẹp nhất, trang trọng nhất Ngay cả đối với "trúc nô" (một loại
gối tựa hoặc kê tay, đan bằng sậy hoặc trúc, dùng trong mùa nực cho mát), ám chỉ hàng ngũ nô tì, nhà vua cũng dành cho lời khen về những phẩm chất cao quí, đáng trân trọng Hình thức đối đã được phát huy để đặc tả những phẩm chất trung thần:
"Nh ất đại công danh/thiên hạ hữu,
Lưỡng triều trung hiếu/thế gian vô"
(Công danh trọn một đời, thiên hạ còn có kẻ,
Tấm lòng trung hiếu đối với hai triều vua thì thế gian không có được như
ông)
(T ặng Trần Quang Khải - Trần Thánh tông)
Tr ần Quang Khải (1241-1294), là con trai thứ ba Trần Thái Tông Dưới triều
Trần Thánh tông (1258-1278), ông là Tướng quốc thái úy, tước Đại Vương Đến triều Nhân Tông (1279-1293), được thăng Thượng tướng Thái sư Cùng với Trần Quốc
Tuấn, ông cũng là một nhân vật trọng yếu của Vương triều, đóng góp nhiều công sức vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước Trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông (1284-1285, 1287-1288), ông là một trong những người đóng vai trò chủ chốt,
có mặt ở nhiều chiến trường quan trọng, tham gia những trận phản công lớn, đánh tan
quân giặc ở Hàm Tử, Chương Dương, giải phóng kinh thành Thăng Long (Bài
thơ "Tụng giá hoàn kinh sư” của ông khi phò giá hai vua Trần về lại kinh đô vang lên
hùng hồn, ý nghĩa chẳng kém thua gì bài "Nam quốc sơn hà") Trước khi ông ra chiến
trận, vua Trần Thánh Tông đã tặng lá cờ với hai câu thơ đã nêu trên, hết lời khen ngợi Ông chẳng những là người có tài cầm quân, mà còn một nhà ngoại giao giỏi, một nhà
Trang 25thơ yêu nước tiêu biểu thời Trần Những lời khen tặng của vua Trần đối với ông thật
chẳng ngoa chút nào
Tu ệ Trung Thượng sĩ tức Trần Tung (1230-1291), con trai Trần Liễu, anh
ruột Hưng Đạo Vương và cũng là anh ruột Hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm - vợ vua Trần Thánh Tông Ông đã trực tiếp cầm quân chống giặc, dưới quyền điều khiển
của Quốc công Tiết Chế Trần Quốc Tuấn Trong kháng chiến lần thứ hai, ông cùng
Trần Quốc Tuấn đuổi Thoát Hoan chạy dài Trong kháng chiến lần thứ ba, ông được giao nhiệm vụ ngoại giao quan trọng, nhiều lần đến đồn trại vờ ước hẹn trá hàng, làm cho quân giặc mất cảnh giác, sau đó cho quân đến cướp doanh trại giặc Tuệ Trung không chi có tài về quân sự, ngoại giao, mà về văn chương cũng nổi tiếng, và còn là
m ột gương mặt tiêu biểu cho Thiền phong đời Trần “Thượng sĩ trộn lẫn cùng thế
t ục, hòa cùng ánh sáng, chứ không trái hẳn với người đời Nhờ đó mà nối theo được
h ạt giống pháp, và dìu dắt được kẻ sơ cơ Người nào tìm đến hỏi han, người cũng chỉ
b ảo cho biết điều cương yếu, khiến họ trụ được cái tâm, mặc tính hành tàng, không rơi vào danh hay thực Ngày kia, Thái hậu làm tiệc lớn đãi người Người dự tiệc,
g ặp thịt cứ ăn Thái hậu lấy làm lạ, hỏi rằng: "Anh tu Thiền mà ăn thịt thì thành Phật sao được ?"Thượng sĩ cười đáp: "Phật là Phật, anh là anh Anh chẳng cần làm Phật,
Ph ật cũng chẳng cần làm anh Cô chẳng nghe các bậc cổ đức nói "Văn Thù là Văn Thù, gi ải thoát là giải thoát" đố sao ? [10;tr 545]
Theo ngữ liệu trên ta thấy Trần Tung là m ột nhà Thiền học có bản lĩnh, có lý
trí, không câu nệ ở giáo điều sách vở, biết đập vỡ thái độ khư khư bám víu vào những khái niệm có sẵn, biết "hòa quang đồng trần", giác ngộ được chân lý cao siêu của nhà
Phật nhưng vẫn không thoát ly thế giới cõi trần Chính vì vậy, Trần Nhân Tông rất kính trọng, tôn làm thầy và hết lòng ca ngợi trong bài "Tán Tuệ Trung Thượng sĩ”:
"V ọng chỉ/di cao,
Toàn chi /di kiên
H ốt nhiên/ tại hậu,
Trang 26Chiêm chi/ t ại tiền
Phù th ị chi vi,
Thượng sĩ chi Thiền"
(Nhìn lên càng thấy cao,
Khoan vào càng thấy cứng
Bỗng nhiên ở phía sau,
Nhìn lại thấy phía trước,
Cái đó gọi là
Đạo Thiền của Thượng sĩ)
Ý thơ trên, vua Nhân Tông dựa vào sách "Luận ngữ”, là lời Khổng Tử ca ngợi
cái "Đạo" (Cả bốn câu đều được sử dụng lại, thay đổi từ "Ngưỡng" thành "Vọng", đảo
vị trí của câu ba và bốn, và thêm câu năm và sáu):
"Ngưỡng chi di cao,
Toàn chi di kiên
Chiêm chi t ại tiền,
H ốt yên tại hậu"
(Nhìn lên càng th ấy cao,
Dùi vào càng th ấy cứng,
B ỗng nhiên vừa ở phía trước,
Đã thấy ở phía sau)
Những bậc công thần kỳ cựu, noi gương trung hiếu, trinh liệt, cứng cỏi bền
vững, thẳng thắn, khí phách ngang tàng, vì sự ích nước lợi dân mà hành động, không a dua, xu nịnh, đó mới là những kẻ thực tài, đáng được triều đình trân trọng Thái độ
bi ệt đãi nhân tài, biết trọng người trung thực, đó là dấu hiệu của mội triều đình tiến
b ộ, Những người như Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư, Trần Tung được ca ngợi,
không phải vì họ thuộc hoàng tộc, mà họ là những người có công với nước, là những anh tài, đã qua thử thách trong chiến đấu, đứng mũi chịu sào, lập nhiều công trận Như
Trang 27Trần Tung không màng công danh, tu tập đạo Thiền, trở thành Thượng sĩ Trần Thì
Ki ến xử kiện cống minh chính trực; Phạm Tông Mại hết lòng bênh vực cho người vô
t ội; Trần Sùng Thao, bề tôi kỳ cựu dưới ba triều Trần Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông; Tr ần Bang Cẩn có "Tấm lòng son chói sáng" Đó là những bậc kỳ tài Không
chi có họ mới đáng ca ngợi, mà còn biết bao kẻ vô danh, những thường dân có lòng
yêu nước, những nô tì trung nghĩa, là những 'Trúc nô" "ngạo tuyết, lăng sương" nhưng
tâm thông suốt, đốt cứng cỏi, có khác gì bậc "Quân tử”
Những phẩm chất tốt đẹp của các bậc trung thần được khắc họa bằng những
vần thơ rất đẹp Những câu thơ tứ tự ngắn gọn, bình dị, cổ kính, trang trọng, như khắc, như chạm, làm nổi bật những tính cách như:
"Trinh cao", "trinh li ệt", “nan chiết"
(rất cao, rất cứng, khó gãy)
(T ứ hữu Gián nghị Đại phu Trần Thì Kiến hốt minh - Trần Anh Tông)
- "Tâm hư”, "tiết kính", "ngạo tuyết”, "lăng sương"
(Tâm thông suốt, đốt cứng cỏi, trải tuyết lạnh, dầu dãi trong sương)
(Trúc nô minh - Tr ần Nhân Tông)
Thơ thất ngôn bát cú Đường luật giàu hình ảnh, cảm xúc, thuận lợi cho việc bình giá khen chê Phạm Tông Mại đã từng can ngăn vua Minh Tông, đừng giết oan
Trần Quốc Chẩn Nhưng vua không nghe Về sau, vỡ lẽ, vua hối hận thì chuyện đã
rồi Một bài học đựơc rút ra, mặc dù đã muộn Vua nghĩ lại, càng quí trọng đức tính
của những người thẳng thắn, trung thực, mạnh mẽ để giúp vua "chỉnh đốn triều
cương" Trên điện chầu ngang tàng như con hổ, như chim cắt, thật xứng công danh
của bậc nam nhi:
"Điện thượng ngang tàng ưng hổ khí,
Nam nhi đáo thử thị công danh"
(T ứ Phạm Tông Mại - Trần Minh Tông)
Trang 28Ngày xưa, Ngụy Văn Đế (Tào Phi) trọng đãi Ngu Phiên, dành sẵn một chỗ
ngồi riêng cho ông mỗi khi vào chầu, vua Minh Tông nhắc đến tích đó để thể hiện sự
ưu đãi đối với Thiếu Bảo Trần Sùng Thao, mong ông đem sức còn lại đền đáp ba triều "Kháng tương mạt lộ đáp tam triều" - (Tứ Thiếu Bảo Trần Sùng Thao) Vua
Minh Tông cũng nhắc lại tích Hán Cao Tổ, Việt Vương Câu Tiễn cổ dài, miệng như
mỏ chim, là người có thể cùng chung hoạn nạn chứ không thể chung hưởng yên vui lâu dài Ý nói rằng mình không phải là Câu Tiễn, nên Dưỡng Chân Bình Thôn Tử
tức Trần Khánh Dư đừng bắt chước Phạm Lãi mà bỏ về ở ẩn:
"Long chu ẩn hà tằng đồng điểu chuế,
Biên chu hưu phiếm Ngũ hồ dao"
(Mũi rồng đâu có giống mỏ chim,
Xin chớ thả thuyền lênh đênh trên Ngũ hồ xa xôi),
(Dưỡng Chân Bình Thôn Tử Nhân Huệ Vương trang)
Thơ trung đại hay dùng điển cố, điển tích Trong chín bài trong nhóm đề tài tặng các trung thần thì có tám lần sử dụng Mật độ vừa phải đủ để diễn tả súc tích nội dung
Tóm lại, các vị vua Trần đã dùng những từ ngữ, hình ảnh nổi bật để cực tả
phẩm chất cao quí của những vị trung thần Những từ chỉmức độ tột đỉnh được dùng
tới như: cự khanh, nhất đại công danh, trinh cao, trinh liệt chứng tỏ rằng họ Tất được trân trọng Giọng điệu chung là chân thành, thẳng thắn, nồng hậu, trang trọng, hướng
về nội dung ca ngợi, chứng tỏ các vua Trần đã rất quí và trân trọng nhân tài Đó là điều quan trọng để tập hợp nhân lực, tạo nên hào khí thời đại, không phải triều nào cũng làm được như vậy Sau đó chẳng bao lâu, những cự khanh trang liệt như Chu Văn An, Nguyễn Trãi phải lần lượt ra đi, chính là lúc triều đình phong kiến sụp đổ Đây phải
chăng là bài học thực tiễn mà mọi thời đại đều phải rút kinh nghiệm và vận dụng Đất
nước thịnh, suy đều có liên quan mật thiết đến nhân lực, nhân tài, nguyên khí cửa
qu ốc gia, mà người đứng đầu, cấc bậc lãnh tụ phải nhóm lại được những nguồn
sá ng ây để rồi lại tỏa sáng, để soi rọi, xua đi mọi bóng đen mù mịt Bóng đen ấy,
Trang 29trước hết là gian thần, điêu ngoa xảo trá, rất khó nhận ra mà thời nào cũng có Nếu vua
"rối" thì dễ cho bống tối bao trùm, được vua "sáng" thì cái xấu không có cơ hội phát
triển Phải là đấng minh quân, sáng suốt, có tài mới sử dụng được nhân tài, không đố
kỵ tài năng Chỉ có những kẻ độc ác, bất tài, vô dụng, không tin ở sức mình mà muốn ở ngôi cao, nên luôn sinh lòng nghi kỵ, thích nghe những lời xu nịnh, tập trung quanh mình
những kẻ cúi luồn để lợi dụng lẫn nhau, nhưng với dân thì hung hăng, hách dịch, bòn rút của cải Dung dưỡng cho những kẻ sâu dân, mọt nước, trước sau gì Nhà nước ấy cũng bại vong Thời Trần buổi đầu sở dĩ cực thịnh bởi vì có những vị vua không đặt
lợi ích cá nhân lên hàng đầu, mà xã tắc giáng sơn mới là điều quan trọng Ngai vàng có lúc được xem như đôi giày rách, có thể quảng đi, không quyến luyến, có thể trao lại cho người khác Nhưng Tổ quốc phải được phải được coi trọng Các vua Thái Tông, Nhân Tông sau khi nhường ngôi, làm Thái Thượng Hoàng, người viết sách Thiền, người đi tu ở núi Yên Tử nhưng vẫn để mắt theo dõi, vẫn phải xử phạt những người trị nướckhông nghiêm Hơn nữa, như Ngô Thời Nhậm nhận xét, có lẽ một phần có lý là các vị Thái Thượng Hoàng chọn núi Yên Tử làm nơi lui về, không chi để hưởng nhàn
mà còn là chọn nơi có vị thế thích hợp để theo dõi vùng biên giới Tổ quốc, vì thời ấy, vùng biên giới cũng thường bị quấy nhiễu Các vị vua -Thiền gia đời Trần không phải
là người tiêu cực như có người phê phán Một điều tâm đắc được rút ra từ thời Thịnh
Trần là nhân dân được quan tâm từ đời sống vật chất đến tinh thần Dân trong nước
thời ấy theo đạo Phật hơn phân nửa, mặt tích cực của Phật giáo được phát huy Chùa chiền là nơi di dưỡng tâm linh, hướng thiện cũng là nơi dạy học, bốc thuốc chữa bệnh,
nơi lưu giữ văn hóa truyền thống Được như vậy cũng nhờ tài, trí và tâm của những
người lãnh đạo Vậy, các vị vua thời Thịnh Trần cũng là nguyên khí, nguồn gốc sức
m ạnh của triều đại, tạo nên hào khí "Đông A"
2.1.1.4- Thơ thù tiếp và tống tiễn sứ nhà Nguyên:
Tổng số 11 bài, thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật 8/11 bài, chiếm đa số; Thất ngôn tứ tuyệt 2 bài, ngũ ngôn bát cú: 1 bài Đây là thơ cảm hứng sáng tác khi tiếp đón,
Trang 30đưa tiễn các sứ thần nhà Nguyên Nội dung chính là bày tỏ quan điểm, cảm xúc của các vị vua Trần, thay lời của dân Đại Việt, nói lên tiếng nói chung của dân tộc là
ước vọng hòa bình, không muốn xảy ra chiến tranh đổ máu Song chủ quyền dân
tộc phải được tôn trọng, nền văn hóa riêng của dân tộc phải được bảo vệ Dù nước nhỏ
có nhún nhường, nhưng đừng ỷ lớn mạnh mà ức hiếp nước bé Lời lẽ nói chung là khiêm tốn nhưng không hề hạ thấp cương vị của dân tộc mình
Các bài thơ được sáng tác trong khoảng thời gian từ 1265-1331 Từ 1265-1291:
có ba bài, ba lần tiếp sứ mục đích của sứ nhà Nguyên là tuyên dụ chiếu của vua Nguyên, bắt vua Trần phải sang chầu, Thượng hoàng Trần Thái Tông viết bài: "Tống
B ắc sứ Trương Hiển Khanh" Lời thơ tao nhã, lời lẽ chí tình, làm Trương Hiển Khanh
sau này đã có lời khen và vị nể Không phải thơ chủ đề này sử dụng nhiều điển cố,
điển tích để khoe khoang chữ nghĩa mà là có dụng ý.Phương Bắc có nền văn hóa lâu
đời, trong lịch sử cũng có những vị vua tốt, từ thời thượng cổ đã có vua Nghiêu, vua Thuấn, rất yêu quí dân lành Nhà Hán, thời kỳ đầu cũng rất nhân hậu Nhắc đến
Khổng- Nhân là nói đến đạo lý Thánh hiền, không dùng bạo lực mà thu phục được
lòng người Nhắc lại những tích ấy để đề cao đạo lý, nhân nghĩa, vừa nhắc nhè nhẹ
nhàng, nhưng cũng là lời cảnh báo mạnh mẽ những ai đi ngược lại đạo lý ấy Sau
này, Nguyễn Trãi cũng trên quan điểm ấy, phê phán giặc Minh:
"Vi ệc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo"
(Cáo Bình Ngô)
Hồ Chí Minh, trong "Tuyên ngôn độc lập" cũng lấy dẫn chứng trong tuyên
ngôn của Pháp và Mỹ để khẳng định nhân quyền và dân quyền Người ta gọi đó là thủ
pháp "G ậy ông đập lưng ông", làm cho lời lẽ hàm súc nhưng ý lại sâu xa khôn lường
Có 13 lần sử dụng câu thơ, ý thơ trong nền văn hóa, văn học của Trung Quốc như trong Kinh Thi, trong thơ Đỗ Phủ, trong sách Gia Ngữ lời rất đẹp; hoặc nhắc lại nhân vật lịch sử Trung Hoa
Trang 31- "Cố vô quỳnh báo tự hoài tàm"
(Nghĩ không có ngọc quỳnh đáp lại, lòng tự thẹn)
(Kinh Thi: "Đầu ngã dĩ mộc đào, báo chi dĩ quỳnh đao"
Nghĩa là: Tặng ta quả mộc đào, ta đáp lại bằng ngọc quỳnh dao)
- "Ốc lương lạc nguyệt chiếu thư am"
(Gió thu trước đầu ngựa thổi vào thanh gươm)
(Nhớ Lý Bạch, Đỗ Phủ viết: "Lạc nguyệt mãn ốc lương,
Do nghi chi ếu nhan
s ắc" Nghĩa là: Trăng sáng đầy rường nhà,
Những tưởng rọi sáng dung nhan)
Thái Tông mượn các ý đó để biểu thị tình cảm mến khách của mình, Thái độ của vua rất nhã nhặn, lịch thiệp, biểu hiện sự hòa nhã, nhân hậu trong văn hóa ứng xử của Đại Việt
- "Th ử khứ vi tri khuynh cái nhật"
(Sách Gia Ngữ chép: Khổng Tử sang đất Đàm, gập Trình Tử đọc đường, hai
người nghiêng lọng nói chuyện với nhau suốt ngày) Kết thúc bài "Tống bác sứ
Trương Hiển Khanh", Trần Thái Tông có lời rất ý vị, tính tế, thể hiện khát vọng hòa
bình của nước Nam ta:
'Th ử khứ vi tri khuynh cái nhật,
Thi thiên liêu vi đáng thanh đàm"
(Nghiêng lọng ngày nào chưa dễ biết,
Thơ này xin thế chuyện riêng chung)
(Đào Phương Bình - địch)
"Nghiêng l ọng", "Thanh đâm" - trò chuyện tao nhã, ấy là lập trường hòa bình,
chính nghĩa của dân tộc ta Nhưng cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ ba cũng đã
xảy ra Kết quả giặc thua chạy, nhiều tướng giặc bị bắt sống Thế là 1289, vua Nhân Tông lại đón sứ, nghe tuyên dụ chiếu của vua Nguyên "tha tội" và phong tước cho vua
Trang 32Trần như cũ, đồng thời đòi ta trao trả các tướng tá của chúng đã bị ta bắt giữ Thật là
lạ, một dân tộc đã đánh thắng ngoại xâm, rồi lại chịu thần phục nước mà mình đã đánh
bại Không có gì khó hiểu, đó là thái độ mềm mỏng của các vua Trần, bất đắc
dĩ ta mới tiến hành cuộc chiến Dù sao đi nữa, khiêm nhường một chút để dân yên, đó
là chủ trương đúng đắn của các vua ta
"T ặng Bắc sứ Lý Tư Diễn", lời vẫn khiêm nhường nhưng vẫn không ngăn nổi ý
thơ hào hùng, hoành tráng Niềm vui tỏa rộng cả đất trời, một không gian rộng lớn tự
do Nghệ thuật đối lập giúp ta cảm nhận được niềm vui đó:
"Thác khai địa giác/ giai hòa khí,
T ịnh hiệp thiên hà/tẩy chiến trần
(Khí hòa góc đất đều lan tới ,
Bụi chiến sông trời rửa sạch trơn)
Không phải dễ dàng mà có được kết quả này Dân Đại Việt đã đổ nhiều xương máu mới được tin tốt lành ("Phượng hàm đan chiếu xuất hồng vân" - Chim phượng
ngậm tờ chiếu đỏ xuất hiện đám mây hồng, tức chiếu của vua Nguyên xá tội cho Đại
Việt !) Vừa cứng rắn, vừa mềm mỏng, dân Đại Việt kiên quyết giữ cho được phong
tục của nước mình, đó là văn hóa, là chủ quyền dân tộc 1291, Trương Hiển Khanh lại sang một lần nữa, vẫn không ngoài ý định chiêu dụ Đại Việt qui phục và bắt Nhân Tông sang chầu Vua Trần có bài thơ:
"Qu ỹ Trương Hiển Khanh xuân bính - Tặng bánh ngày xuân cho Trương
Hiển Khanh:
"H ồng ngọc đôi bàn xuân thái bính,
Tòng lai phong t ục cựu An Nam"
(Bánh rau mùa xuân, như ngọc hồng bày đầy mâm,
Đó là phong tục của nước An Nam xưa nay)
Một hình ảnh thật giản dị, được vua Nhân Tông nâng lên, khái quát hóa thành hình ảnh tượng trưng cho tinh thần độc lập tự chủ của dân tộc Thái độ vua Trần vừa
Trang 33ân cần, vừa rạch ròi Lời thơ mềm mại, nhẹ nhàng nhưng cũng thật rắn rỏi, mãnh liệt
Đó cũng là văn hóa ứng xử độc đáo của Đại Việt mà các vua Trần là tiêu biểu
1293, lấy cớ vua Trần không đích thân sang chầu, nhà nguyên chuẩn bị đem quân đánh Đại Việt lần thứ tư Nhưng 1294, Hốt Tất Liệt (Nguyên Thành Tổ) chết, cháu là Thiết Mộc Nhi (Nguyên Thành Tông) lên thay, đã xuống chiếu bãi binh Sau
ba lần kháng chiến thắng lợi, ít ra mưu đồ xâm lược của nhà Nguyên đã bị đè bẹp Lần này sứ Nguyên sang, không còn một bạo lực nào để thi hành, nên chúng sợ bị Đại Việt khinh thường Dẫu thế, Thượng hoàng Nhân Tông đã tiếp đãi sứ ân cần, và có lẽ đây là
một trong những cuộc tiếp đón ngoại giao mà Thượng hoàng ưng ý nhất ! Lời thơ đằm
thắm, "Thắng không kêu” đó cũng là tinh thần Đại Việt:
"Kh ảm khảm Linh trì nõan tiễn diên,
Xuân phong vô k ế trụ quy tiên
B ất tri lưỡng điểm thiều tinh phúc,
K ỷ dạ quang mang chiếu Việt
thiên" (Sâu thẳm Linh Trì, nồng
rượu tiễn, Gió xuân không giữ được
người về
Nào hay sao sứ hai ngôi phúc
Còn chiếu trời Nam mấy khắc khuya)
(T ống Bắc sứ Lý Trọng Tần, Tiêu Phương Nhai)
Nước ta ở vùng nhiệt đới, theo người phương Bắc thì nơi đây "Lam chướng
nghìn trùng" có lẽ vì vậy mà sứ Nguyên thường đến vào tiết xuân Vì vậy không gian,
thời gian trong thơ sứ cũng tràn sắc xuân Lúc này chiến tranh không xảy ra, tình giao
hảo hai nước tạm ổn Đó cũng là thời gian yên ổn - là mùa xuân của Đại Việt Các sứ
thần được ví với các vì sao, mang lại ánh sáng yên lành vừa tỏ tình hòa hiếu Lời nhắc
nhở trong thơ vẫn là hãy nhớ lời giao ước để tránh họa đao binh cho hai nước!
"Đỉnh ngữ nguyện ôn Trung Thống chiếu,
Mi ễn giao ưu quốc mỗi như đàm"
Trang 34(Xin hãy ôn lại lời nói "chuông vạc" trong tờ chiếu năm Trung Thống, Để tránh cho
nhau khỏi mối phiền"lo nước” luôn luôn nung đốt trong lòng) ("Tống Bắc sứ Ma Hợp,
Ki ều Nguyên Lãng" - Trần Nhân Tông)
(Năm Trung Thống thứ hai (1261), nhà Nguyên sai sứ mang thư sang dụ Đại
Việt, đại ý nói: các phong tục và qui chế về mũ áo cho các quan Đại Việt đựợc theo lệ
cũ của mình mà sử dụng Nhà Nguyên đã răn bảo các viên tướng ở Vân Nam không được đem binh lấn cướp vùng biên giới và không quấy nhiễu nhân dân Đại Việt nữa
Đó là lời nói chuông vạc ("đĩnh ngữ ” ) lời hệ trọng, tiêu biểu cho uy tín của quốc gia phong kiến, cần phải đựơc tuân thủ Nếu nuốt lời thì còn gì là uy tín của một nước
lớn V ẫn là những lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng sâu sắc Trung Quốc là nơi bắt nguồn học thuyết Nho giáo, nội dung chính là dạy làm người với những đức tính "Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín" Đạt những điều đó là bậc thánh nhân, quân tử, trượng
phu Nên lý lẽ các vua Trần rất sắc bén, xoáy vào đó để nhắc "Người theo đạo Thánh
hi ền", lấy lễ nghĩa mà tiếp đãi thì cả thiến hạ theo về, cần chi phải động binh đao
Ngày xưa Mã Viện sang dựng cột đồng, gây bao tội ác thì những người đàn bà sức yếu cũng phải vùng lên Đó là những lời cảnh tỉnh đanh thép, rất có lý và có tình:
"C ửu đỉnh điện an nhược Thái san,
Th ời dương thời vũ chướng yên hàn
Ph ổ thiên ngọc bạch/qui Nghiêu Thuấn,
T ị ốc huyền ca/ học Khổng Nhan
Đồng trụ bất tu/lao Mã Viện,
B ồ tiên nan phục/tiễn Lưu Khoan
Thánh ân hao đãng từ vân khoát,
Hóa tác cam lâm mãn th ế gian"
(Chín vạc bền như núi Thái sơn,
Nắng hòa mưa thuận khói mù tan
Dưới trời ngọc lụa chầu Nghiêu Thuần,
Trang 35Khắp cõi đàn ca học Khổng Nhan
Lọ phải cột đồng thời Mã Viện,
Khen gì roi cói kiểu Lưu Khoan
Mây lành phủ khắp nhuần ơn thánh,
Hóa trận mưa rào tưới thế gian)
("Cảm tạ sứ Bắc Mã Hợp Mưu, Dương Đình Trấn - họa vần bài trước" Trần Minh
Tông) - (Đào Phương Bình, Nam Trân - dịch)
Thờ thù tiếp vốn mang tính lý luận, khố khan Nhưng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, với cách bố cục, kết cấu truyền thống của nó cùng với lý trí sắc bén và tâm hồn nhạy cảm của các vị vua Trần đã làm cho thơ vừa có lý, có tình, tạo nên
những xúc cảm thẩm mỹ nơi người đọc Phép đối ở cặp câu thực và luận làm chò thơ
sắc sảo về ý tứ Những câu miêu tả thiên nhiên làm cho thơ đậm màu sắc trữ tình Cặp câu kết đọng lại tấm lòng của tác giả sâu nặng với dân, với nước, thường là niềm mong
mỏi hòa bình, muốn được thực hiện ở Đại Việt được lâu bền Từ ngữ biến hóa, uyển chuyển, khi mềm mỏng, khi đanh chắc, có lúc nhún nhường Nhưng không quá mức, làm nhục quốc thể, khiến người khác phải kính nể Đó là nét đẹp của thơ thù tiếp sứ
thần nhà Nguyên của các vị vua Trần Giá trị chính của thơ này là khả năng lập luận,
thể hiện trí tuệ mẫn tiệp, tài ứng phó nhanh nhạy nhưng sắc bén của các vua Trần
Những điển cố, điển tích sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, chứng tỏ sự uyên bác về học
thức đồng thời cũng biết biến sự hiểu biết đó thành vũ khí lợi hại cho công cuộc ngoại giao mà trước đó ở các vua tiền Lê và Lý chưa thấy thể hiện rõ Vua Lê Đại Hành
muốn tiếp, tiễn sứ Tống phải nhờ các nhà sư (câu chuyện sư Pháp Thuận giả làm người đưa đò, ứng khẩu, đọc tiếp hai câu thơ về đôi ngỗng mà sứ Tống ngẫu hứng làm còn dang dở) Sang thời Lý, cả triều thần hợp sức, tìm đặt một tên hiệu cho Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn), dài dằng dặc đến 52 từ Điều này chứng tỏ rằng sự học đến triều Trần
đã tiến bộ vượt bậc, mà các vị vua Trần là người tiên phong, vừa là người tạo điều kiện cho sự tiến bộ đó Cắc vua có thể đứng mũi chịu sào nơi đầu sóng ngọn gió, khi
Trang 36xông tr ận thì đa mưu trí lược, khi ngoại giao thì khéo léo khôn ngoan , khi trị nước thì làm lòng dân yên ổn, lúc cần thì cả nước đồng lòng Mệnh đanh cho thời Trần
là th ời đại "Hào khí Đông A” kể cũng rất xứng vậy,
2.1.2-V ịnh sử:
Trần Anh Tông là người mở đầu cho dòng thơ Vịnh sử ở nước ta Thơ Vịnh sử
của ông gồm có sáu bài, đều là thất ngôn tứ tuyệt, ngắn gọn, đủ để bình giá, tỏ thái độ khen, chê các nhân vật lịch sử, đặc biệt các vị vua Trung Quốc là đối tượng trực tiếp
Đến thời Anh Tông, đất nước Đại Việt đã trải qua chiến tranh, quay về với thời bình, xây dựng đất nước, có nhiều vấn đề mới, phức tạp nảy sinh Ý thức về di sản của cha ông, vua Anh Tông có lẽ phải trăn trở nhiều, luôn nghĩ rằng mình phải làm gì để
trở thành một hậu duệ tốt, một ông vua tốt Trải ba triều đại từ Hán - Đường - Tống, điểm qua lịch sử Trung Hoa, ông có chính kiến riêng của mình Đối thoại với nhân vật
lịch sử cũng chính là đối thoại với chính bản thân để đúc rút kinh nghiệm, hành động cho bản thân Đặc điểm chung của các tác phẩm là mang tính lý lưận, tự
mình tranh cãi với mình rồi có lời đánh giá đúng sai khen, chê thỏa đáng Nhà thơ thường dùng câu, từ ngữ có tính nghị luận, để cuối cùng đi đến kết luận:
- "B ất thị cao Hoàng ân đức bạc, (câu phủ định)
- Hàn, Bành chung t ự khi Hàn Bành", (câu khẳng định )
(Chẳng phải ơn đức của Cao Tổ mỏng manh,
Rốt cục do Hàn Bành tự hại Hàn Bành)
(Hán Cao T ổ)
- "Nam n ội thê lương tri hiếu dĩ,
T ức chân Linh Vũ khởi vô tâm":
(Đành rằng cung Nam nội lạnh lẽo là có duyên cớ,
Nhưng việc lên ngôi ở đất Linh Vũ nào phải là vô tâm ?)
(Đường Túc Tổng)
- "Biên phong s ắt sắt bức nhân hàn,
Chính thi đông phong tận túy gicm"
Trang 37Nh ất nhật quyền quy sư tướng thủ,
Thái bình thiên t ử thập niên nhàn
(T ống Độ Tông)
(Gió nơi biên thùy vi vứt làm người giá lạnh,
Chính là lúc nhà vua mặc sức say sưa trong gió đông
Một ngày quyền bính về tay sư tướng,
Thời "Thải bình", thiên tử rỗi mười năm)
Vua thứ sáu nhà Nam Tống (1265-1275) làm vua mười năm, mà không có quyền hành gì Thừa tướng là Giả Tụi Đạo chuyên quyền, làm cho Nam Tống ngày càng suy yếu, để đất nước rơi vào tay quân Nguyên Đó là một bài học gần gũi nhất làm Anh Tông phải suy nghĩ Điều ông lo lắng nhất là làm vua mà bất tài Vua mà bất tài vô dụng thì sẽ cam phận bù nhìn, lo hưởng lạc thú, mặc kệ cho lộng thần chuyên quyền Nếu biết nghe trung thần thì còn làm điều hay việc tốt Những lời nói của trung
thần thường khó nghe, lời của kẻ xu nịnh thường ngọt ngào, dễ lọt tai Bài thơ có khuynh hướng trữ tình, trào phúng Dòng cảm xúc chuyển hóa sinh động, mở đầu là
cảm giác lạnh giá trong âm thanh tiếng gió vi vu, hiu hắt nơi biên thùy, đầy niềm thông cảm, xót xa Bỗng chuyển hướng phê phán, kết tội gay gắt "chính trị” chính là
lúc nhà vua say sưa trong gió đông Hình ảnh đối lập thể hịên rõ mối thương cảm cùng
sự phẫn nộ của tác giả Từ điểm nhìn của quần chúng đau khổ, tác giả lên án thái độ
thờ ơ vô trách nhiệm của vua Nam Tống - Tống Độ Tông Từ góc độ của một vị nguyên thủ quốc gia mà suy ngẫm, bằng một ý đối ngầm: chữ "nhàn" và "thái
bình" của mười năm làm vua Tống Độ Tông thực sự là một bù nhìn, đáng mỉa mai Bài thơ luật bằng, vần bằng, có ba vần, tưởng như một dòng sông êm ả xuôi chảy, nhưng thật ra, chứa chất nhiều mầm giông tố bên trong Kết quả là nhà Nam Tống đã
bị diệt vong
Giọng điệu chung cùa dòng thơ này đều thâm trầm, sâu lắng, vừa hướng ngoại,
nhận xét, phê phán các hiện tượng lịch sử rồi lại hướng nội, quay lại soi rọi bản thân
Trang 38Tác giả phải có câu trả lời, phán quyết sự việc để rồi có giọng điệu phù hợp với các sự
kiện đã nêu Câu "Thái bình thiên tử thập niên nhàn" chắc chắn phải là điều tác giả
suy ngẫm nhiều và tự vấn lương tâm, mình có phải là loại "thiên tử” ấy không ? Mình
có đủ bản lĩnh để sử dụng nhân tài, hay là kẻ bất tài, để lộng thần chuyên quyền ?
Trong sáu bài, thì đã có bốn bài nói đến lộng thần (Hán Cao Tổ, Hán Văn Đế, Đường
Túc Tông, T ống Độ Tông)
Hán Cao Tổ có Hàn Tín, Bành Việt giúp, dẹp được Tần, lập nên nhà Hán Theo Nguyễn Hiến Lê trong "Sử Trung Quốc " (tập I) có ghi: "Lưu Bang (Cao Tổ) vốn là
m ột nông dân vô học làm đình trưởng (như cai trạm) thời nhà Tần, nhờ bọn sĩ là Tiêu
Hà, Trương Lương, Hàn Tín, Trần Bình, Anh Bố, Bành Việt mà thắng được Sở Bá Vương (Hạng Võ), cho đó là toàn công của mình, có thể không dùng tới họ nữa Ông
vô tài mà l ại độc tài, mới đầu thưởng công họ, phong Hàn Tín làm Sớ Vương, Bành
Vi ệt làm Long Vương, Anh Bố làm Hoài Nam Vương Sau nghi kỵ họ, chỉ sợ họ lật đổ mình, nên Tín, Vi ệt kết quả đều bị tru di tam tộc; Bố sợ họa đến mình, cử binh làm
ph ản, thua rồi chết, chỉ có Trương Lương là sáng suốt như Phạm Lãi thời Xuân Thu,
bi ết tránh trước cái họa, công thành rồi thì bỏ hết danh lợi mà về ẩn" Bi kịch đó vẫn
thường xảy ra trong lịch sử Khi còn gian nan thì người ta là chiến hữu, khi đã thành công rồi thì kẻ là chúa, kẻ là tôi Chúa thường kém tài, kém học, mà tôi thì tự phụ, không chịu phục tùng Vì vậy mà bị thảm họa Làm vua đúng nghĩa thì không phải dễ Trong lịch sử Trung Hoa, nhà Hán và Đường được khen ngợi, có nhiều bậc vua hiền Trong năm vị vua đựợc nêu, đều bị phê phán, chỉ có Hán Cao Tổ được đề cao là kẻ đã
"Tru T ần diệt Hạng cứu sinh linh" và chế ngự được anh hùng hoàn thành nghiệp lớn
Cuối cùng bi kịch cũng đã xảy ra Lời phán xét của tác giả có hơi chủ quan chăng ?
Đời Hán Văn Đế là thời tương đối thịnh trị (179-155) Ông theo đạo Khổng lẫn đạo Lão, nhân hậu và cần kiệm ông sống rất giản dị, để dân tự do làm ăn, ít can thiệp vào đời sống của họ, lấy đức giáo hóa dân, hình phạt không dùng đến Tục truyền suốt hai mươi ba năm cầm quyền, Văn Đế không xây cất một cung điện nào cả Trong
Trang 39cung điện không dùng màn thêu, ông cũng như các cung phi chỉ mặc đồ tơ loại tầm thường nhất:
"Hình th ố, tô khoan diệc chí nhân,
Dưỡng thành tứ bách Hán gia xuân
D ặc đề tiêu đắc thân thanh kiệm
B ất phí công thần, phí lộng thần"
(Bỏ hình phạt, nhẹ tô thuế, cũng là ông vua rất nhân hậu,
Xây đắp nên cơ nghiệp bốn trăm năm của nhà Hán,
Mặc áo sồi thâm đạt được đức thanh kiệm,
Nhưng không xa phí cho công thần mà xa phí cho kẻ bề tôi lộng hành)
(HánVănĐế)
Trong sáu bài, thì có ba bài làm theo luật trắc Bài này ba câu đầu, giọng nhiệt thành ca ngợi công đức Hán Văn Đế Đến câu cuối cùng bỗng có tiểu đối "Bất ghi
công th ần/ phí lộng thần" và bốn thanh trắc cùng nhóm từ "Phí lộng thần" làm câu thơ
như chùng lại để rồi xoáy mãi vào tâm trí người đọc, và tác giả đã tiếc cho Văn Đế quá hiền, thiếu cương quyết, để cho Đặng Thông được quyền sử dụng cả núi đồng ở đất Thục để đúc tiền Các bài thơ khác được gieo vần bằng với giọng điềm tĩnh, bình tâm mà suy xét Tuy nhiên ẩn bên trong, có bài mang giọng trào phúng mỉa mai nhẹ nhàng nhưng sâu sắc Hán Vũ Đế được nhắc nhiều trong thơ các vị vua Thịnh Trần Vua Nhân Tông trên đường Tây Chinh, e ngại trong lòng, sợ người đời chê là kẻ
"cùng binh độc vũ" như Hán Vũ Đế, rất ham đánh dẹp và hiếu chiến Hán Vũ Đế lại
mê tín thần tiên, xây nhiều cung thất do đó thuế má nặng nề, chinh chiến liên miên Ông cho đúc pho tượng đồng, tay đỡ mâm, đặt trên đài cao để hứng sương luyện thuốc trường sinh Tác giả phán xét rất nhẹ nhàng nhưng thâm thúy, có ấn tượng, giàu hình ảnh, giàu cảm xúc và cũng rất hốm hỉnh:
"Cam Tuy ền lộ lãnh tiên nhân chưởng,
Thanh th ảo thê thê ám Mậu Lăng"
Trang 40(Hạt móc ở cung Cam Tuyền làm lạnh tay người tiên,
Cỏ xanh um tùm che rợp Mậu Lăng)
Mậu Lăng là nơi chôn Hán Vũ Đế Vua chỉ biết cho riêng mình, sống hưởng thụ,
ích kỷ, làm hại dân lành: Sự nhẫn tâm ấy làm lạnh cả tượng đá vô tri, huống nữa là con
người Chẳng có sự trường sinh nào, chỉ có tiếng xấu thì còn, í người đời cười chê mãi
Chẳng thành thần tiên, mà chỉ thành ma ! Thật buồn thảm cho Hán Vũ Đế cuồng ngông Những từ “lộ lãnh", "thê thệ ám" gây ấn tượng, gợi cảm xúc rất nhiều và mang
sắc thái phê phán cũng rất sâu sắc
Những phẩm chất được đề cáo là "cứu sính linh”, “chế ngự" được anh hùng;
hoàn thành nghiệp lớn "Giá ngự anh hùng đại nghiệp thành”, bỏ hình phạt nhẹ tô thuế,
nhân hậu, thanh kiệm, biết biệt đãi hiền tài Thực hiện đựợc những điều đó đối với
một ông vua thì không phải dễ Trong thực tế, đối xử thế nào với bề tôi cho phải, nhất
là những công thần ? Từ công thần chuyển sang lộng thần khoảng cách không xa Đời
sống phức tạp, muôn hình muôn vẻ “tôi gian” đã đáng sợ, mà "vợ ác" càng đáng sợ
hơn Một điều đáng phải suy nghĩ nữa, hành động của những người không phải xa lạ, chính con cái hoặc người thân của mình Lòng "chí hiếu" của Đường Túc Tông và
hành động lên ngôi ở Linh Vũ hồi loạn An Lộc Sơn, đâu có phải là vô tâm ?
"Gian th ần tặc phụ hoặc do thâm,
Chí hi ếu không giao lệ mãn khâm
Nam n ội thê lương tri hữu dĩ,
T ức chân Linh Vũ khởi vô tâm"
"(Tôi gian, vợ ác mê hoặc sâu xa,
Luống khiến nước mắt người con chí hiếu thấm ướt vạt áo
Đành rằng cung Nam nội lạnh lẽo là có duyên cớ,
Nhưng việc lên ngôi ở đất Linh vũ há phải là vô tâm ?)
(Đường Túc Tông)
Làm vua không phải dễ Trong thời chiến cũng như thời bình, đều có sự phức
tạp Trăn trở để mong làm một ông vua tốt cũng là lẽ thường tình Điểm qua các bài thơ, ta thấy những điều e ngại của vua Trần Anh Tông không phải hão huyền Vừa sau