Người ta đọc 'Truyện Kiều" để "thương con Kiều quá" như các mẹ vùng quê hay để nghĩ suy "Chạnh thương cô Kiều như đời dân tộc", để tìm thấy ở đó "Những điều trông thấy mà đau đớn lòng" h
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Phòng khoa học-công nghệ sau đại học
Tập thể thầy cô khoa ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Tp.HCM, Đại học Khoa
học Xã hội & Nhân văn, đại học Sư phạm Hà Nội
Ban giám hiệu cùng đồng nghiệp nơi công tác-Trường PTTH chuyên Lê Hồng Phong đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên
Trang 4MỤC LỤC
L ỜI CẢM ƠN 3
MỤC LỤC 4
PH ẦN MỞ ĐẦU 6
1.LÝ DO CH ỌN ĐỀ TÀI 6
2.L ỊCH SỬ VẤN ĐỀ 7
2.1.Về văn bản 7
2.2.Về các công trình nghiên cứu 10
3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
4 PH ẠM VI NGHIÊN CỨU 15
4.1.Về đối tượng khảo sát 15
4.2.Về nội dung 15
5.K ẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 16
CHƯƠNG 1: BẮC HÀNH TẠP LỤC - TẬP THƠ ĐI SỨ CỦA NGUYỄN DU .18
1.1.THÂN TH Ế VÀ SỰ NGHIỆP CỦA NGUYỄN DU 18
1.2.THƠ ĐI SỨ 26
1.2.1.Tình yêu thiên nhiên và tình cảm gắn bó với con người 27
1.2.2.Khí phách và trách nhiệm của công dân Đại Việt ở Bắc Quốc 38
1.2.3.Tình yêu của sứ giả đối với quê hương đất nước 42
1.3.B ẮC HÀNH TẠP LỤC - NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU 47
1.3.1.Nguyễn Du với nhân vật văn hóa - lịch sử Trung Quốc 48
1.3.2.Nguyễn Du với phụ nữ 66
Trang 51.3.3.Nguyễn Du vối người nghèo 74
CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG TẬP B ẮC HÀNH TẠP LỤC CỦA NGUYỄN DU 82
2.1.KHÁI NI ỆM HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT 82
2.2.HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI 83
2.3.HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG TẬP BẮC HÀNH T ẠP LỤC 87
2.3.1.Con người yêu thương 89
2.3.2.Con người đời thường 116
2.3.3.Con người vũ trụ 132
PHẦN KẾT LUẬN 150
PH ẦN PHỤ LỤC CHÚ THÍCH 153
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 155
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Không biết chính xác tự bao giờ cái tên Nguyễn Du đã trở thành thân thuộc đối với
mọi người - không chỉ người dân vùng Tiên Điền quê ông và cũng không chỉ người Việt Nam chúng ta Hai trăm năm có lẻ là khoảng thời gian không ngắn cho một kiếp người nhưng là thời gian cần thiết cho sự thẩm định giá tri của tác phẩm văn chương - những
sản phẩm tinh thần cao quý của con người Và trải qua hơn hai trăm năm với biết bao đổi thay thế sự, những trang thơ Nguyễn Du vẫn đậm sâu trong lòng người đọc như một minh
chứng cho sức sống trường tồn của chúng, như một thách thức đối với thời gian
Nguyễn Du và những vần thơ ông vì thế từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu
của không ít tác giả trong và ngoài nước với nhiều công trình nghiên cứu có giá trị Hẳn nhiên "Truyện Kiều" chiếm được sự quan tâm ưu ái hàng đầu vì sức hấp dẫn độc đáo của
nó Người ta đọc 'Truyện Kiều" để "thương con Kiều quá" như các mẹ vùng quê hay để nghĩ suy "Chạnh thương cô Kiều như đời dân tộc", để tìm thấy ở đó "Những điều trông
thấy mà đau đớn lòng" hay tấm lòng "nghĩ suốt nghìn đời" của thi.hào họ Nguyễn, Có nhiều lí do để đọc Kiều, có nhiều giá trị mới mẻ được phát hiện sau mỗi lần giở lại những trang Kiều, và một đôi khi vì sức hút mãnh liệt của Kiều mà có người chỉ còn nhớ một Nguyễn Du tác giả "Truyện Kiều" Hai trăm năm mươi bài thơ chữ Hán của ông không sánh bằng ba nghìn hai trăm năm mươi bốn câu Kiều chăng? Tất nhiên không thể làm phép so sánh như thế, bởi sự so sánh bao giờ cũng khập khiễng và đó cũng không phải là
lí do để nhiều người vô tình với thơ chữ Hán Nguyễn Du "Truyện Kiều" gần gũi thân thuộc với mọi tầng lớp trong xã hội, người không có một chữ bẻ đôi vẫn có thể đọc thuộc
Kiều do ngôn ngữ - vần điệu và thể loại quen thuộc từng gắn bó với họ qua ca dao dân ca
họ ngâm ngợi hàng ngày Còn thưởng thức thơ chữ Hán đòi hỏi ở người đọc một trình độ
nhất định, một trường thẩm mỹ nhất định, một khả năng cảm và nghĩ nhất định - vượt lên trên yêu cầu đối với người đọc giải trí bình thường Và làm một hành trình ngược ta thấy
rằng sở dĩ có những yêu cầu ấy là vì thơ chữ Hán chính là phần tinh huyết được Nguyễn
Du chăm chút kỹ, chăm chút không phải để giãi bày "mua vui cưng được một vài trống
Trang 7canh" cho người thiên hạ mà chỉ là để bày tỏ lòng mình, tự giãi bày với chính mình và
một đôi khi giãi bay với vài người ông coi là "đồng thuyền đồng hội" Vì thế tìm hiểu thế
giới nghệ thuật thơ Nguyễn Du không thể bỏ qua mảng thơ chữ Hán, nơi chứa đựng
những trăn trở suy tư, những triết lý, những tư tưởng mà thi sĩ họ Nguyễn từng ấp ôm
bản thân mình, những tư tưởng tình cảm, những day dứt, vò xé trong chính tâm hồn mình
một cách trực tiếp, chứ không phải là một cách gián tiếp như trong Truyện Kiều
Chọn đề tài "Hình tượng nghệ thuật về con người trong tập Bắc hành tạp lục của Nguyễn Du" tác giả biết rằng đây không phải là một công việc dễ dàng Và chỉ có lòng
yếu thích và say mê thôi thì chưa đủ Bởi vì hình tượng nghệ thuật bao giờ cũng mang tính quan niệm và nó gắn liền với thế giới quan, với quan niệm nghệ thuật, với cách nhìn
nhận lí giải về con người của tác giả Tầm cao, độ sâu của hình tượng nghệ thuật về con người trong tác phẩm luôn là một thách thức đối với người nghiên cứu
Với trình độ và đặc biệt là vốn chữ Hán có hạn, người viết đến với đề tài này bằng tinh thần học hỏi, mong muốn thử sức mình để khả đĩ góp thêm chút gì nhỏ bé trong quá tình tìm hiểu về Nguyễn Du, để hiểu thêm về tâm tình, tư tưởng của thi nhân trong những
giờ phút khá thảnh thơi, thoát khỏi tai mắt bọn nịnh thần, khỏi những eo sèo của cuộc
sống và tìm thấy ở hình tượng con người nghệ thuật trong "Bắc hành tạp lục" những giá
trị đã làm nên một Nguyễn Du bất tử như ngày hôm nay
2.LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1.V ề văn bản
Do cần đi sâu vào nguyên bản để tìm hiểu kỹ về nội dung nghệ thuật nên chúng tôi
phải khảo sát các văn bản đã có:
Trang 81." Thơ chữ Hán Nguyễn Du" của Bùi Kỷ, Phan Võ, Nguyễn Khắc Hanh Sách gồm
102 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du được chia theo ba thời kỳ:
- Thời kỳ làm quan nhà Lê gồm 28 bài
- Thời kỳ làm quan triều Nguyễn gồm 24 bài
- Thời kỳ đi sứ Trung Quốc gồm 50 bài
2." Thơ chữ Hán Nguyễn Du" của Lê Thước, Trương Chính Sách gồm 249 bài thơ chia theo tên của từng tập thơ Riêng tập Thanh Hiên được chia làm ba giai đoạn:
- "Mười năm gió bụi" (1786- 1795) gồm 27 bài
- " Dưới chần núi Hồng" (1796 - 1802) gồm 33 bài
- " Làm quan ở Bắc Hà" ( 1802 - 1804) gồm 18 bài
Như vậy Thanh Hiên thi tập" gồm 78 bài, Nam Trung tạp ngâm gồm 40 bài và Bắc Hành tạp lục gồm 131 bài
3." Thơ chữ Hán Nguyễn Du" cũng của các cụ Lê Thước, Trương Chính, về cơ bản,
cuốn này cũng giống cuốn trên, được in lại lần thứ hai, và bản in lại lần hai này không có
phần phụ lục chữ Hán
4.“Tuyển tập thơ Hán Việt” của Đông Xuyên, nhà xuất bản Cảo Thơm Sài Gòn năm
1972 Nguyễn Hữu Lê viết lời tựa Sách này chọn lọc một số tác phẩm tiêu biểu của nhiều nhà thơ Trong đó có thơ chữ Hán của Nguyễn Du Sách có 18 bài thơ chữ Hán của ông
5."Tố Như thi" do Quách Tấn dịch nghĩa và dịch thơ Thi Vũ trình bày bìa Nhà
xuất bản An Tiêm, Sài Gòn năm 1973, sách gồm 72 bài, được chia theo từng tập thơ Thanh Hiên Thi tập 30 bài, Nam Trung thi tập 20 bài, Bắc hành tạp lục 22 bài Riêng tập Thanh Hiên tác giả chia ra 3 thời kì:
- Mười năm đất khách (1786 - 1795)
Trang 9
- Sáu năm quê nhà (1796 - 1802)
- Làm quan Bắc Hà (1802 - 1804)
6."Thơ chữ Hán Nguyễn Du" do Đào Duy Anh sắp xếp, dịch nghĩa, chú thích, Nguyễn Kim Hưng hoàn chỉnh bản dịch, biên soạn Sách được chia theo từng tập thơ, tập Thanh Hiên gồm 79 bài, Nam Trung tạp ngâm 40 bài, Bắc hành tạp lục 130 bài Sách không có phụ lục chữ Hán Phần chú thích để riêng phía cuối sách Mục lục ghi theo tên
từng tập thơ
7.Nguyễn Du toàn tập gồm 2 tập, tập 1 thơ chữ Hán do Mai Quốc Liên phiên âm,
dịch nghĩa chú thích với sự cộng tác của Nguyễn Quảng Luân, Ngô Linh Ngọc, Lê Thu
Yến Sách được chia theo từng tập thơ, Thanh Hiên gồm 78 bài, Nam Trung gồm 40 bài,
Bắc Hành 132 bài Riêng trong tập Bắc Hành có thêm một bài do Giáo sư Mai Quốc Liên phát hiện, đó là bài "Lỗi Dương Đỗ Thiếu lăng mộ li" Sách này được biên tập kĩ càng, công phu hơn, có phần phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ, chú thích Sách có kèm bản đồ đi
sứ, bản tấu trình của Nguyễn Du
8."192 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du "do Bùi Hạnh cẩn biên dịch và chú thích Điều khác biệt của cuốn sách này là chỉ do một người lựa chọn, biên soán, dịch thuật Sách này cũng có hướng đi riêng Không có phần chữ Hán, không có phần dịch nghĩa, chỉ
có phần phiên âm, dịch thơ và chú thích
9."Nguyễn Du - Tác phẩm và lịch sử văn bản" của Thạch Giang và Trương Chính, nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001 Cuốn sách này thừa hưởng những thành
tựu nghiên cứu của những nhà Kiều học, nhà Hán học từ trước đến nay Cuốn sách này ra đời muộn nhất nhưng hai tác giả đã có nhiều kỳ công rà soát, đối chiếu chặt chẽ để tránh
những sai sót trước đây
Phần thơ chữ Hán được thực hiện trên cơ sở văn bản văn học, 1965, có bể sung, sửa
chữa lại sau khi đã tham khảo thêm bản dịch chép tay của các cụ Nguyễn Văn Bách, Phan Trọng Bình, Thạch Can, Trần Hữu Chương, Nguyễn Mỹ Tài gửi cho toàn tập Các bài thơ chữ Hán được sắp xếp lại hợp lý hơn để tiện việc học tập, nghiên cứu Phần dịch
Trang 10nghĩa được sửa chữa Phần dịch thơ cũng được thay bằng những bài dịch theo nguyên thể
của các cụ Phạm Khắc Hoan, Lê Thước, Ngô Ngọc Can
2.2.V ề các công trình nghiên cứu
Lịch sử vấn đề nghiên cứu Truyện Kiều rất rộng lớn, đề cập đến nhiều phương diện Còn thơ chữ Hán Nguyễn Du ít được giới nghiên cứu quan tâm nên những bài viết về thơ
hiện không nhiều và đánh giá chưa đầy đủ: hoặc chỉ nói đến một khía cạnh, hoặc nói quá khái quát, hoặc chỉ để nhấn mạnh cho một nội dung tư tưởng, tình cảm nào đó
Ý kiến sớm nhất và có nói đến những biểu hiện của con người trong thơ Nguyễn Du
là của Hoài Thanh, bài được đăng trên tạp chí văn nghệ, tháng 3 năm 1960, có tựa đề: " Tâm tình Nguyễn Du qua một số bài thơ chữ Hán" Trong bài viết này, ông có nói đến
những nỗi niềm không nói ra được của Nguyễn Du: "Qua Truyện Kiều, ta thấy Nguyễn
Du thương xót như thế nào dưới ngòi bút Nguyễn Du, Nguyễn Du đã đi sâu như thế nào trong đời sống cay cực của con nhà kẻ khó Đọc thơ chữ Hán của Nguyễn Du cũng vậy Đặc biệt có hai bài rất hay về phương diện này là bài Thái Bình mại ca giả, và Sở Kiến hành, cả hai bài đều sáng tác trên con đường đi sứ " Bài viết còn đưa ra những hình ảnh chân thật và cảm động của ông già mù hát rong:
Khước tọa liễm huyền cảo chung khúc"
(Miệng sùi bọt mép, tay mỏi rã rời,
Trang 11Ông già ngồi xuống, xếp đàn, ngỏ lời đã đàn hát xong) Ông còn dựng lên bức tranh ảm đạm của mấy mẹ con người hành khất vì đói phải lưu lạc tha hương, rồi sẽ chết bỏ thây nơi ngòi rãnh
"M ẫu tử bất túc tuất
(Mẹ chết thôi đã đành
Tiếng vỗ con đứt ruột Đây lòng mẹ dày nát
Mặt trời cũng ùa vàng) Bài viết của Hoài Thanh còn đưa ra hình ảnh con người đau khổ qua những hình tượng người nghèo, người ăn xin, người gian ngoan qua những hình tượng Tô Tần, Thượng quan Ngân Thượng Như vậy, với những nhận định ban đầu, Hoài Thanh đã khái quát được hình tượng con người trong thơ chữ Hán Nguyễn Du, chỉ về mặt nội dung, và
chỉ lướt qua chứ chưa đào sâu vấn đề
Sau đó không lâu, năm 1966, Xuân Diệu trong bài viết " Thi hào dân tộc Nguyễn
Du " cung có những nhận xét về con người trong thơ chữ Hán Nguyễn Du như sau:
"Trong thơ chữ Hán - trong Vãn chiêu hồn cũng có điểm như thế - nó không phải là
tiểu thuyết, là kịch nữa mà thuần là tâm tình bản thân Nguyễn Du đã để con người của mình trong thơ, đã cho ta thấy Tố Như, Tố Như bên sau cái vỏ ông quan, ông chánh sứ Ở đây, chúng ta quen thuộc với Tố Như, có thể nói là chúng ta vào dưới da của Nguyễn Du Thơ chữ Hán (và Văn chiêu hồn) soi cho chúng ta hiểu thêm Truyện Kiều, hai tác phẩm trên là cho chúng ta yêu thêm Nguyễn Du, do vậy càng yêu Truyện Kiều hơn nữa"
Trang 12Trong bài viết này, Xuân Diệu đưa ra một cái nhìn tương đối về con người Nguyễn
Du trong thơ chữ Hán Đến ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Xuân Diệu đã đề cập khá toàn diện Ông bày tỏ sự nặng lòng của mình với người trung thần Khuất Nguyên, Hàn Tín, Văn Thiên Tường, Đỗ Phủ mấy mẹ con người hành khất, người hát rong mù Xuân Diệu cũng nhắc đến sự căm phẫn của Nguyễn Du trước toàn bộ thực trạng xã
hội lúc bấy giờ Đó là sự nham hiểm, tàn ác của những tên quan, của những kẻ "đi ra xe
ngựa, về vênh váo "
Như vậy, so với nhận định đầu tiên, bài viết của Xuân Diệu đã phần nào khái quát thêm nhiều loại con người trong thơ chữ Hán Ông viết: "Nguyễn Du không phải là con người hành động mà là con người tư tưởng Con người ấy tiếp nhận tất cả mọi cay đắng trong đời với một thái độ lặng lẽ chịu đựng Nhưng bên trong con người đó, một cuộc đấu tranh ngấm ngầm chống lại mọi nguy cơ sa ngã vẫn diễn ra dai dẳng không ngừng Và so
với người khác, những nỗi cực nhọc mà cọn người ấy chịu còn phải nhân lên gây mấy
lần, vì nó dồn nén, súc tích lại thành những nỗi đau vò xé tâm can chứ không được giải phóng ra thành hành động"
Và ở một chỗ khác: "Con người ấy chỉ biết nâng đau khổ lên thành triết lý, và rồi
quẩn quanh trong triết lý đến nỗi không nhìn thấy nguyên nhân mọi nỗi khổ hiện thực của mình "
Rõ nhất và có giá trị nhất vẫn là lời nhận xét của Nguyễn Huệ Chi trong bài
"Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán"
Ông viết: "Hình tượng một con người đi trong bóng đêm dày đặc, hãi hùng, bị gió
lạnh đồn cả vào mình, và cứ mong cho chóng sáng mà không thấy sáng, thật đã phản ánh đúng cái cảm nghĩ tuyệt vọng của Nguyễn Du về sự mất phương hướng Đây không chỉ
là hình ảnh tự họa chính xác nhất của nhà thơ mà còn là hình ảnh có một ý nghĩa xã hội
rộng lớn: Tấn bi kịch lịch sử ở giai đoạn cực kỳ thối nát, tan rữa Ý nghĩa nhận thức đồng
thời cũng là ý nghĩa nhân đạo trong phần lớn những bài thơ chữ Hán nói về mình của Nguyễn Du, chính là như vậy
Trang 13Bài viết còn chú trọng khai thác hình thức nghệ thuật:
"Vì thế, trong thơ chữ Hán Nguyễn Du, các hình tượng nhân vật đối lập cứ xuất
hiện theo cái thế song song tương phản, thành từng cặp không rời."
"Mặt khác, đứng về kết cấu của hình tượng thơ, Nguyễn Du thường ít khi để cho
những nhân vật phản diện đứng riêng biệt một mình Thông thường, chúng vẫn được hình dung gắn sát với nhân vật chính diện ", " Nhưng đọc thơ ông, từ những bài nói về người nghèo khổ đến những bài nói về giai nhân, những anh hùng, rất tự nhiên, một sợi dây liên tưởng cứ nối liền từng cặp hình tượng nhân vật đối lập lại"
Đào Xuân Quý có bài " Nguyễn Du trong những bài thơ chữ Hán "đăng trên báo văn nghệ tháng 11 năm 1965 cũng có nói đến con người Tuy chưa đề cập đến vân đề liên quan tới cảm xúc, suy nghĩ, tình cảm của nhân vật trữ tình trong thơ nhưhg bài viết đã đưa ra những nhận xét, bình luận, đánh giá nội dung tư tưởng, tình cảm của tác giả
Mai Quốc Liên trong lời nói đầu cuốn " Nguyễn Du toàn tập " thì nhận định:
"Nhưng cũng từ cái nhìn đó mà Nguyễn Du thâm cảm và biểu dương hết lời những nhân vật và quyền lực, đứng về phía con người, đất nước và nhân dân"
Thêm vào đó, Mai Quốc Liến còn phân tích những đặc thù trong thi pháp thơ chữ Hán Nguyễn Du Ông viết: "Hàng trăm câu như thế, hàng trăm câu đối nghịch tài hoa mà sâu sắc như thế, làm nên thế giới nghệ thuật của Nguyễn Du, một thế giới tràn ngập
những suy tư bạc tóc về nhân thế"
Còn "Tâm sự của Nguyễn Du qua thơ chữ Hán của Trương Chính" chỉ nói đến nội dung các tập thơ chứ chưa đi sâu vào hình tượng nghệ thuật về con người
Đến năm 1999, Lê Thu Yến lần đầu tiên cho ra đời chuyên luận "Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du ".Đây là công trình công phu và có giá trị Chương II và chương III đi sâu khám phá thế giới nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du, đã khái quát được các biểu hiện hình tượng nghệ thuật về con người trong thơ Trong đấy tác giả đã phát hiện ra hình tượng con người âu lo, con người lãng mạn, con người đau khổ Đó là
Trang 14những nét lớn tập trung trong cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Du qua toàn bộ thơ chữ Hán
Như vậy, từ chuyên luận này, chúng ta có một cái nhìn khá toàn diện về thơ chữ Hán Nguyễn Du ở những công trình trước, từ những nhận xét của mình, các tác giả chỗ này hay chỗ khác đều có điểm qua cái nhìn nghệ thuật Còn chuyên luận này cho ta thấy
một cách khái quát cái hình tượng nghệ thuật về con người trong suốt ba tập thơ chữ Hán
của Nguyễn Du, chứ không chỉ riêng ở tập thơ nào
Do tính chất, mục đích và phạm vi các công trình, các bài viết trên mà các nhà nghiến cứu chưa đi sâu vào cái nhìn nghệ thuật về con người trong thơ chữ Hán Nguyễn
Du, đặc biệt là hình tượng con người nghệ thuật trong Bắc hành tạp lục
Nội dung trọng tâm của đề tài mà chúng tôi thực hiện là: "Hình tượng nghệ thuật về con người trong thơ chữ Hán Nguyễn Du " trong tập Bắc Hành tạp lục - tập thơ viết trên đường đi sứ chứ không phải toàn bộ thơ chữ Hán của Nguyễn Du, tất cả các bài viết trên, đặc biệt là công trình "Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du" của tác giả Lê Thu
Yến là một trong những cơ sở, tiền đề giúp chúng tôi thực hiện tốt công trình này
3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong luận văn này, chúng tôi phối hợp sử dụng các phương pháp phân tích - tổng
hợp, phương pháp lịch sử và phương pháp so sánh, phân loại - thống kê
Bắc Hành tạp lục là một tập thơ, do đó khi tiến hành nghiên cứu, chúng tôi sẽ cố
gắng khảo sát trên văn bản từng bài, hệ thống hóa các tác phẩm nhỏ trong một tác phẩm
lớn, quan sát chúng như những chỉnh thể Qua đó có thể rút ra được tính thống nhất cũng như một số đặc điểm mâu thuẫn trong tình cảm và trong tư tưởng Nguyễn Du Điều này
sẽ được soi rọi bằng chính cuộc đời tác giả để tìm ra nguồn mạch của tư tưởng Nguyễn
Du thể hiện trong Bắc Hành Đồng thời chúng tôi cũng tiến hành so sánh, đối chiếu nội dung tư tưởng và đặc điểm nghệ thuật của các bài thơ trong Bắc Hành tạp lục với các tác
giả khác cũng làm trong thời gian đi sứ Cuối cùng, chúng tôi sẽ tổng hợp, khái quát lại
tất cả những điều đã phân tích và đối chiếu để tìm ra hình tượng nghệ thuật về con người
Trang 15trong tập thơ đi sứ của Nguyễn Du Dưới góc độ thi pháp học, chúng tôi sẽ tìm hiểu quan
niệm nghệ thuật của tác giả thông qua hình tượng con người, nhân vật có mặt trong tác
phẩm của ông Vì là hình tượng con người nhân vật trong thơ trữ tình nên chúng ta có thể xem xét ở nhiều góc độ với nhiều mối quan hệ: cái tôi với bản thân, cái tôi với mọi người, cái tôi với thế giới tự nhiên bên ngoài
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Về đối tượng khảo sát
Những tư liệu về thơ chữ Hán Nguyễn Du mà chúng tôi xin được phép sử dụng để nghiên cứu là cuốn Nguyễn Du toàn tập của Mai Quốc Liên, Ngô Linh Ngọc, Lê Thu
Yến
4.2.V ề nội dung
- Bổ sung, cụ thể hóa quan điểm về quan niệm nghệ thuật của các tác giả đi trước
- Dựa vào một số công trình nghiên cứu sẵn có, phát hiện ra điều mà các tác giả đi trước chưa làm, chưa nghiên cứu cụ thể về quan niệm con người nghệ thuật trong thơ chữ Hán nói chung và trong tập thơ Bắc Hành tạp lục nói riêng
- Đưa ra một hướng đi mới về cách tiếp cận hình tượng con người nghệ thuật trong thơ ca và trong nghiên cứu văn học nói chung Đó là cách tiếp cận hệ thống - cấu trúc, cách tiếp cận vấn đề trong mối liên quan với đặc trưng thể loại và cách tiếp cận văn hóa
học
Được viết ương quá trình đi sứ ở Trung Hoa, Bắc Hành tạp lục sẽ là cánh cửa để cho ta tiếp cận với con người nghệ thuật Nguyễn Du Và tuy chỉ là những vần thơ Nguyễn Du viết cho riêng mình với những đề tài thật xưa cũ, nhưng ngòi bút của đại văn hào đã khiến cho các thi phẩm ấy xứng đáng được lưu truyền thiên cổ Tình thương của Nguyễn Du đã làm xóa mờ đi mọi sự khác biệt hoàn cảnh lịch sử, địa lý, mọi khoảng cách không gian và thời gian Bên cạnh đó, với Bắc Hành, ta còn có thể thấy được tầm
kiến thức sâu rộng của Nguyễn Du về lịch sử, về văn hóa, văn học và cả lòng người, hiểu được vì sao Nguyễn Du không chỉ được tôn vinh là một thi nhân mà còn được coi là một
Trang 16nhà văn hóa lớn Ông xứng đáng với danh hiệu đó bởi ông "có con mắt nhìn thấu sáu cõi,
tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời" Lời nhận xét của Mộng Liên Đường xưa kia không biết có làm Nguyễn Du ngậm cười nơi chín suối, khi đến nghìn năm sau có người hiểu mình đến như vậy
5.KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Do những đặc điểm về đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu như đã nêu trên, luận văn "Hình tượng nghệ thuật về con người trong Bắc Hành tạp lục của Nguyễn
Du có kết cấu như sau:
Chương 1 Bắc Hành tạp lục - Tập thơ đi sứ của Nguyễn Du
1.1.Thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Du
1.2.Thơ đi sứ
1.3.Bắc Hành tạp lục - Những nội dung chủ yếu
1.3.1.Nguyễn Du với những nhân vật văn hóa - lịch sử
1.3.2.Nguyễn Du với người phụ nữ
1.3.3.Nguyễn Du với người nghèo
Chương 2: Hình tượng nghệ thuật về con người trong tập Bắc Hành tạp lục của Nguyễn Du
Trang 172.1.Khái niệm hình tượng nghệ thuật
2.2.Hình tượng nghệ thuật về con người
2.3.Hình tượng nghệ thuật về con người trong tập Bắc Hành tạp lục 2.3.1.Con người yêu thương
2.3.2.Con người đời thường
2.3.3.Con người vũ trụ
Phần kết luận
Trang 18
PH ẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: BẮC HÀNH TẠP LỤC - TẬP THƠ ĐI SỨ CỦA
NGUYỄN DU
1.1 THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA NGUYỄN DU
Nguyễn Du sinh năm 1765 tại phường Bích Câu (Thăng Long) quê quán Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Ông là con trai tể tướng Nguyễn Nghiễm và bà Trần Thị
Tần
Mười năm đầu của cuộc đời Nguyễn Du trôi qua êm đềm và có phần tẻ nhạt trong dinh cơ của cha ở phường Bích Câu, Thăng Long Hồn thơ Nguyễn Du đã được nảy nở
và nuôi dưỡng chính tại nơi đây, trong không khí và nếp sống của một gia đình Nho học,
có truyền thống văn chương, mấy đời làm quan to Bước đường đời của Nguyễn Du
chừng như đã được ấn định trước theo truyền thống gia đình như cha, như anh: đi học, đậu cao, làm quan, vinh hoa, phú quí như về sau này ông đã có dịp hoài vọng:
(Giang Đình hứa cảm - Thanh Hiên thi tập) (Thuyền tiên cuộn nước như rồng thần đấu nhau
Chiếc lọng quí phấp phới trên không như chim hạc lành bay) Không chỉ công thành danh toại, gia đình Nguyễn Du còn có truyền thống văn chương Theo cuốn "Nguyễn Du, tác phẩm và lịch sử văn bản" của Trương Chính và Nguyễn Thạch Giang thì họ Nguyễn Tiên Điền người nào cũng hay thơ Nguyễn Nghiễm
có hai tập "Quân trung liến vận và Xuân đình tạp ngâm" Bài phú ông làm trong một kỳ thi ứng chế, tự vua ra đầu bài và chấm thi, đề là "Khổng Tử mộng Chu Công" rất được truyền tụng
Trang 19Nguyễn Khản không có tập thơ riêng nào Thơ ông được chép trong quyển "Nguyễn Gia Phong vận tập" Ông là một trong những người địch Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn Năm 1780 xảy ra vụ "Mật án Canh Tý" Trịnh Sâm lập Cán thay Tông làm thế tử Nguyễn Khản giúp Trịnh Tông nhưng việc bị bại lộ, Khản bị giam Khi bị bắt, ông có làm một bài thơ tự tình bằng quốc âm Trịnh Sâm xem cảm động, tha tội cho ông (1) Nguyễn Nể cũng là người hay thơ Hai người cháu gọi Nguyễn Du bằng chú, nhưng tuổi thì xấp xỉ bằng nhau là Nguyễn Thiện và Nguyễn Hành thường cùng nhà thơ ngâm vịnh Hai người con gái Nguyễn Khản là Nguyễn Thị Bành và Nguyễn Thị Đài đều giỏi thơ
quốc âm Thêm vào đó, Nguyễn Du có điều kiện học và đọc rất nhiều sách thánh hiền từ
bé, được tiếp xúc với những làn điệu dân ca quan họ, những truyền thuyết thần kỳ của dân tộc mình thông qua người mẹ rất mực dịu hiền xứ Kinh Bắc, một xứ sở nổi tiếng về
nếp sống giàu có và lịch lãm Nhiữig tuổi thơ tươi đẹp ấy không kéo dài được bao lâu Năm Nguyễn Du tròn mười tuổi đã có hai biến cố lớn xảy ra: Nguyễn Trụ, anh cùng mẹ
với Nguyễn Du mắc bệnh mất ở Kinh giữa tuổi mười tám Tiếp đến, Nguyễn Nghiễm cũng qua đời Hai cái tang của gia đình như cánh cửa khép lại thời vàng son của gia đình
họ Nguyễn và cũng kết thúc luôn thời thơ ấu ấm êm của ông
Mồ côi cả cha lẫn mẹ, Nguyễn Du về ở với người anh cả là Nguyễn Khản Khản
học giỏi, thông minh, đỗ đạt sớm, làm quan to, được chúa Trịnh quí mến và lại là con người tài hoa, phong lưu rất mực Sách "Vũ Trung tùy bút" chép: "Nguyễn Khản ham thích hát xướng, gặp khi con hát tang trở cùng cứ cho tiền bắt hát trong nhà không lúc nào bỏ tiếng tơ, tiếng trúc " (2)
Hoàn cảnh ấy, cuộc sống ấy đã sớm in vào hồn thơ măng tơ của Nguyễn Du nhiều
ấn tượng sâu đậm Cũng có thể đây chính là khởi sự của lòng thương cảm đặc biệt của ông đối với phụ nữ nói chung và ca kỹ nói riêng Cũng trong thời gian này, Khản thăng giáng bất thường, cho đến khi kiêu binh nổi loan thì trốn lên Hà Sơn Bình với Nguyễn Điều rồi sau đó hai anh em phải bỏ về Nghệ Tĩnh (1784)
Khi Tây Sơn ra Bắc, Nguyễn Khản cũng bôn ba theo chúa Trịnh vua Lê một phen
nữa nhưng rồi bị bệnh và chết năm 1786 Nguyễn Điều cũng đã chết mấy tháng trước đó
Trang 20Cùng với sự sụp đổ của chế độ Lê - Trịnh, gia đình họ Nguyễn cũng dần dần suy sụp theo Và đến khi ba anh em Nguyễn Du, Nguyễn Nề, Nguyễn Ức không theo kịp Lê Chiêu Thống đành quay lại, mỗi người đi một nơi
Cũng trong những năm bối rối đó, Nguyễn Du đi thi hương ở Sơn Nam đậu Tam Trường (1784) Tuy đỗ thấp nhưng ông vốn là người học rộng, hiểu nhiều, không những Nho học mà Phật, Đạo đều thông suốt Gia phả chép: "Thời làm quan ở Kinh, có nhiều văn sĩ theo học với ông Điều đó chứng tỏ ông là người có học vấn uyên thâm Thế nhưtig
vì không đỗ cao, ông chỉ tập ấm người bố nuôi họ Hà mà giữ chức chính thủ hiệu đội quân hùng hậu tình Bắc Thái sau khi ông này qua đời
Năm 1789, sau khi chia tay với anh là Nguyễn Nễ, và em là Nguyễn ức, Nguyễn Du
trở về quê vợ ở làng Hải An, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, ở nhà anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn Anh em mỗi người một nơi Chưa bao giờ Nguyễn Du cảm thấy mình bất
lực và thất vọng như thế này Tập " Thanh Hiên" ra đời và được Nguyễn Du tiếp tục sáng tác trong gần 20 năm, chia làm 3 giai đoạn :
1.Giai đoạn " Mười năm gió bụi" từ năm Tây Sơn bắt đầu đưa quân ra Bắc Hà (1786) cho đến năm Nguyễn Du trở về quê nhà ở Hồng Lĩnh ( khoảng cuối 1795 đến 1796)
2.Giai đoạn " Dưới chân Núi Hồng " (từ năm 1796 đến 1802)
3.Giai đoạn " Ra làm quan ở Bắc Hà" (từ cuối 1802 đến cuối 1804) (3)
Nỗi buồn đau trước thời thế và gia đình đã tan tác được Nguyễn Du than thở:
(Quỳnh Hải nguyên tiêu - THTT) (Chốn non Hồng không còn nhà, anh em tan tác
Đầu bạc nhiều giận nỗi ngày tháng trôi)
Trang 21Giống như Đỗ Phủ xưa kia, Nguyễn Du giờ đây lại lênh đênh với cuộc phong trần
Hiện thực cuộc sống lại đầy rẫy những khó khăn:
Trường đồ nhật mộ tân du thiểu
(U cư - bài 2 -THTT) (Mười năm gió bụi rời kinh thành đi xa
Đầu bạc phơ phơ ở nhờ nhà người Đường dài, trời chiều, bạn mới ít
Một nhà xuân lạnh bệnh cũ nhiều)
Thời gian này ta có thể thấy tâm trạng u uất, bế tắc cùng với những nỗi dày vò, trăn
trở của Nguyễn Du kết đọng trong từng nét bút Từng ngày, từng giờ trôi nổi cùng cuộc
sống bấp bênh, đã khiến Nguyễn Du quan tâm nhiều đến con người và thời cuộc Ông trở nên chán nản, bi quan:
(Tự thán-bài 1-THTT) (Sống chưa làm nên danh, thân đã suy yếu
Tóc bạc phơ phơ, gió chiều thổi) Nguyễn Du sinh thời được hấp thụ một nền nho học chuẩn mực, đã cũng rất tự hào
về tài năng của mình và khao khát được phụng sự nước nhà Thế nhưng hiện thực cuộc
sống đã không được như ông mong muốn Danh không thành, chí không đạt, hùng tâm tráng chí cứ mãi nguội dần theo tháng năm với tóc bạc nghèo đói:
Trang 22"Lo ạn thế nam nhi tu đối kiếm ( Lưu biệt Nguyễn Đại Lang I - NTTN )
(Làm trai thời loạn nhìn thanh gươm mà thẹn)
(Tấm lòng hùng tráng lụi tàn làm cây đoản kiếm thành vô dụng)
(Thư kiếm đều không thành sinh kế quẫn bách)
(Hùng tâm và sinh kế cả hai đều mờ mịt)
(Tóc bạc rồi dù có hùng tâm cũng chỉ biết than thở )
Buồn đau như thế, Nguyễn Du đã mong ước:
và
(Ước sao có thể xuống tóc vào rừng ở)
Thế nhưng tất cả những điều đó cũng chỉ là những lời nói dổi của một con người lỡ
thời Niềm tâm sự thật, chân tình nhất mà ông vẫn hằng day dứt là :
Hư danh vị phóng bạc đầu nhân"
(Mạn hứng - bài I - THTT ) (Đã lâu không còn cao hứng với giấc mộng gác vàng Nhiừig hư danh vẫn chưa buông tha cho người đầu bạc) Thêm vào đó, ông phải gánh chịu cuộc sống vô vị, cơ cực, thiếu thốn:
Trang 23"V ăn tự hà tằng vi ngã dụng
Cơ hàn bất giác thụ nhân liên"
(Khất thực-THTT) (Văn chương chữ nghĩa nào đã từng ích gì cho ta Không dè đói rét phải nhận lòng thương hại của người đời) Mùa đông năm Bính Thìn (1796), Nguyễn Du bị quân Tây Sơn bắt giữ vì theo Nguyễn Anh Nhờ có Quận công Nguyễn Thận, trấn tướng của Tây Sơn ở Nghệ An là
bạn thân của Nguyễn Đề và lại là một người rất mến tài thơ của Nguyễn Du nên chỉ giam
giữ mấy tháng rồi thả cho về Nguyễn Du có làm bài " My trung mạn hứng " (Cảm hứng trong tù) ghi lại sự việc này:
Mười tuần lao từ nỗi lòng thấp thỏm cái sống cái chết"
Sáu năm ở quê nhà, tâm sự của một người bất đắc chí trong ông đã lên đến tột bực
Ngập tràn trong các câu thơ là niềm cảm thương da diết của một người tuyệt vọng, vụng đường sinh kế lại lỡ làng công danh:
(Tạp thi-bài số 1-THTT) (Trai tài đầu bạc ngóng trời than
Dựng nghiệp mưu sinh luống lỡ làng)
(Vĩnh Châu Liễu Tử Hậu cố trạch - BHTL) (Nay đầu bạc chỉ luống tự mình than vãn với gió thu)
Và nhà thơ không biết phải chịu đựng như thế đến bao giờ:
Trang 24"Phù sinh lao l ục kỷ thời hưu" (Đồng Lung Giang - THTT)
(Còn cảnh phù sinh vất vả đến bao giờ mới thôi) Trong thời gian này, ông lấy săn bắn, câu cá làm niềm vui Ông tự đặt mình là Hồng Sơn liệp bộ (Người đi săn ồ núi Hồng) và Nam Hải điếu đồ (Người đi câu cá ở biển Nam.)
Và cũng trong thời gian này, Nguyễn Du đã tự thoát ra khỏi cái vỏ của một nhà nho dòng dõi trâm anh thế phiệt, sống gần gũi hơn với dân quê mình Những buổi hát đối đáp, hát ví, hát phường vải tại nơi đây đã nuôi dưỡng con người nghệ sĩ vĩ đại trong Nguyễn
Du Và có lẽ chính ở khúc quanh này, Nguyễn Du đã kịp nhận ra sự khô cứng, công thức,
sự bức bối tù túng của lối thơ ngâm hoa vịnh nguyệt và nhận ra vẻ đẹp diệu kỳ, tao nhã,
uyển chuyển của thơ ca dân tộc Có lẽ Truyện Kiều có nguồn gốc từ đây
Tinh hình chính sự trọng nước cũng có nhiều thay đổi Lúc này triều Tây Sơn không còn nữa, triều Nguyễn được dựng lên
Năm 1802, Nguyễn Anh lên ngôi và lấy hiệu Gia Long Khi Gia Long lên ngôi, vị vua này cho vời lại các cựu thần nhà Lê cũ ra triều nhận chức mới trong đó có Nguyễn
đã làm không ít người yêu quí và cảm thấy gần gũi ông
Trang 25Dù đường quan xuôi chèo mát mái nhưng dường như những biến động đảo điên của
lịch sử cũng như hiện thực đen tối luôn hiển hiện đã làm nguội lạnh "giấc mộng gác vàng" của ông vốn bình lặng và an nhàn trong những ngày ở sông Lam, núi Hồng, giờ đây phải gò mình trong khuôn khổ mũ cao, áo dài của một ông tri huyện đã thực sự làm Nguyễn Du bức bối, ngột ngạt:
(Ký hữu - THTT) (Ngọc mộc đã không toàn mặt thật
Châu xoàng chi bõ bận đanh thời)
Và ông luôn tự dặn lòng:
"Thượng uyển oanh kiều đa đố sắc"
(Tống nhân -NTTN) (Các con chim oanh đẹp ở vườn
thượng uyển hay ghen nhau về màu sắc) Nguyễn Du là người kín đáo Đại Nam chính biên liệt truyện viết: " Nguyễn Du là người ngạo nghễ, tự phụ song bề ngoài tỏ vẻ giữ gìn cung kính, mỗi lần vào chầu vua thì
ra dáng sợ sệt như không biết nói năng gì hết" Thái độ u uất, trầm mặt đó, ông đã mang theo đến cuối cuộc đời "Đến lúc ốm nặng ông không chịu uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân Họ thưa đã lạnh cả rồi, ông nói "Được" rồi mất không hề trối trăn lại điều gì"
chẳng còn nghi ngờ gì nữa, rõ ràng ông có điều gì bất đắc ý, một tâm sự u uất nào đó không thể nói ra trong thời gian làm quan nhà Nguyễn
Cũng trong những ngày sống ở chốn quan trường, Nguyễn Du đã mở rộng tầm nhìn
để nhận thấy hiện thực xấu xa - cái hiện thực giả tạo, cái bản chất nham hiểm, độc ác của
bè lũ sâu dân mọt nước
Trang 26"Anh hùng tâm s ự hoang trì sính
(Xuân tiêu lữ thứ - THTT) (Tâm sự người anh hùng không còn nghĩ đến rong ruổi nữa
Trong trường danh lợi nhiều phen cười và nhăn mày)
(Khổng tước vũ - THTT) (Mã ngoài lộ ra vẻ đẹp
Bên trong giấu chất độc giết người)
Giờ đây, tâm hồn bay bổng của nhà thơ bị trói buộc nên trong ông nảy sinh một tâm
sự thật sâu kín: ông tự thương mình và thương đến tất cả ai "tài hoa bạc mệnh" Ông phát
biểu:
Thiên đại phi sở dung"
(Điệu khuyển - NTTN) (Phàm sinh ra mang khí phách khác thường thì trời đất không có chỗ dung)
Những tâm sự này Nguyễn Du sẽ có dịp nói rõ, cụ thể hơn trong dịp đi sứ Trung
Quốc qua tập thơ "Bắc hành tạp lục" mà chúng tôi sẽ trình bày rõ hơn ở phần sau
1.2.THƠ ĐI SỨ
Mười thế kỷ chống phong kiến phương Bắc đã để lại những trang sử vẻ vang và hào hùng cho dân tộc ta Văn học cũng có phần kế thừa được nét son ấy Đó là mảng thơ chữ
Trang 27Hán của các sứ giả từ thời Trần đến thời Nguyễn Thơ đi sứ đã phản ánh hoạt động quan ữọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dạn tộc
Cũng trong tập thơ, chúng tôi thấy nổi rõ ba nội dung chính sau:
1.2.1 Tình yêu thiên nhiên và tình cảm gắn bó với con người
Có nhiều vần thơ ca ngợi cảnh đẹp, tình người của các sứ giả trong thơ đi sứ Một cành mai đợi tuyết trên núi Cô Sơn, một đàn nhạn trắng vượt dãy Lĩnh Nam, một ánh trăng trên sông Hán, một tiếng chuông khuya trên lầu Hoàng Hạc, đình Tỳ Bà tất cả đã
tạo nên nguồn cảm hứng cho các sứ giả
Nguyễn Đề (anh ruột Nguyễn Du) có bài Tuyết trung hành, được trích trong Hoa trình tiêu khiển tập:
"Phiêu phiêu vũ tuyết sái hoa trình,
Đảo quang, nhân tại kính trung hành
Nham dã diêm đôi hữu thú hình
Dịch thơ:
Tuyết bay phơi phới tưới đường huê,
Giữa thủy tinh dầm mấy cỗ xe
Mai tự trời xanh buông trắng xuống;
Người trong gương bạc ngược hình đi
Ngọc trùm, chim vắng sông hồ nọ;
Trang 28Muối chất, muông in núi nội kia
Hơn nữa nhà ai trong núi thẳm, Bách già, mai trẻ, khó phân chia
(Đào Phương Bình dịch) Người xưa mỗi khi lên lầu Hoàng Hạc nhìn mây trắng, họ chỉ thấy buồn Ngày nay người ta cảm nhận khác, hãy xem tâm sự của Ngô Thì Vị:
Chàng Thôi quê cũ gội chi sầu
Chúng ta chắc ai cũng biết bài thơ Hoàng Hạc nổi tiếng của Thôi Hạo và chuyện Lý
Bạch gác bút than:
(Trước mắt có canh đẹp không tả được
Vì đã có thơ Thôi Hạo đề trên đầu) Bài thơ nổi tiếng đến nỗi mỗi lần đứng trước lầu, nhìn cảnh bãi xa mây trắng, người xưa lại xúc động, và lại cầm bút đề thơ gởi gắm Lầu Hoàng Hạc trở thành nơi gởi mối
sầu kim cổ của biết bao người Nguyễn Du cũng có làm thơ vịnh lầu:
Trang 29H ạc khứ lâu khổng Thôi Hạo thi"
(Nay đến xưa qua, cuộc đời như giấc mộng chàng Lư
Chỉ còn hạc bay lầu vắng trong thơ Thôi Hạo.) Điều thú vị là trong số những bài thơ vịnh lầu, có bài đã toát lên tinh thần yêu nước
và lòng tự hào dân tộc sâu sắc:
Bãi xuân Anh Vũ cỏ vương sầu
Lên đây tuy nhượng người đường trước, Vượt bể ta dành cuộc thắng du."
Đó là niềm tự hào, kiêu hãnh của người sứ giả khi chinh phục Đẩu, Ngưu Bài thơ
có tứ lạ, bay bổng thể hiện tài cao, chí lớn của người sứ giả Việt Nam
Trong thờ đi sứ có nhiều bài thơ ca ngợi quê hương, đất nước bạn Một mặt tình
cảm ấy được xuất phát tự đáy lòng, mặt khác vì là đi sứ nên điều đó có lợi cho mục đích
của mình
Phạm Chi Hương trong lần đi sứ đã đỗ thuyền trên sông Ninh Minh Vị sứ giả của triều Nguyễn này đã không cầm lòng trước vẻ đẹp diệu kỳ, lung linh, huyền ảo của đêm trăng trẽn sông Anh trăng như nhô lên từ màu biếc của núi, trải dài khắp bốn phương
trời Cũng trong khung cảnh gió mát trăng thanh đó, đoàn thuyền thôi cuộc ngược dòng, cùng ghé lại nơi râm mát, cùng khách nâng chén để thưởng ngoạn đêm trăng Khung
cảnh thiên nhiên thanh bình, yên ả như báo hiệu điềm tốt lành trong suốt chuyên lộ tành
Trang 30Bài thơ đẹp dịu dàng như một thiếu nữ đương xuân, đắm say nô nức chuẩn bị cho mình
một vận hội mới:
Trăng soi dải núi biếc lung linh
Mày râu đi sứ, người như cũ;
Sương giá quay về, bước chuyển nhanh
Hoa đèn báo hỉ suốt năm canh "
(Nhạc Dương lâu - Hoa Bằng dịch) Trung Hoa giàu đẹp với vô vàn danh lam thắng cảnh, hoa thơm cỏ lạ, là nơi phồn hoa đô hội đã in đậm vào tâm hồn của người yêu thơ Giờ đây, đứng trước mặt họ là khung cảnh hữu tình với " nước hồ như mở ra tấm gương tròn sáng trắng, núi điểm màu
một con ốc xanh " ơ trên kia, lầu cao ngất gối đầu vào thành Nhạc Dương, dưới thành là
một chiếc thuyền con trôi lơ lửng trên hồ Động Đình
Bá đồ rộng lớn chia Ngô Sở,
Sao được cành Nam giành thuận lợi,
Trang 31(Nhạc Dương lâu - Nguyễn Trung Ngạn)
Tất cả trời cao, đất thấp, nước trong, mây trắng, núi xanh như được điểm xuyết trong ánh trăng tròn trong vắt, Bài thơ thể hiện niềm xúc động của thi nhân trước một vẻ đẹp huyền ảo của không gian, của đất trời
Lòng yếu cái đẹp của thiên nhiên, đất nước dường như đã trở thành một nét thẩm
mỹ trong tình cảm của con người Việt Nam Quả thật như vậy, mỗi lần đi qua một địa danh, phong cảnh nào, cảm hứng trong lòng tác giả đều bừng dậy Phan Huy Chú có hai bài tứ tuyệt viết về Tương Âm:
Con chèo vượt sóng tới bờ Tương Ấm Thuyền dừng, thành vắng mưa dầm,
(Nghỉ lại ở Tương Âm I)
"Mưa xa khói sớm tan rồi,
(Nghỉ lại ở Tương Âm II)
Cả hai bài thơ đẹp như một bức tranh lụa có sắc núi lờ mờ, có một mái chèo trong khói sóng, có mưa tạnh trên bãi cát, có dòng sông xanh ngắt, nước tiếp giáp với trời Tứ thơ bay bổng lãng mạn thể hiện tình yêu, niềm sảng khoái, cảm giác lâng lâng trước thiên nhiên tươi đẹp Một tình yêu thuần khiết, thắm nồng, không có sự phân biệt, rẽ chia của ranh giới, của sự hẹp hòi, ích kỷ, kỳ thị nước ta, xứ người Điều đó rõ ràng được bắt nguồn từ một nhận thức ương sáng, một tư tưởng nhân văn đậm đà về mối quan hệ tương
Trang 32thân, tương ái giữa các dân tộc Thế mới biết ông cha ta xưa kia đã có tấm lòng, đáng để trân trọng và gìn giữ biết bao!
Trong thơ đi sứ, nhiều vấn đề xã hội được các nhà thơ đề cập tới: vấn đề mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn nội bộ giai cấp thống trị Những vấn đề này được nêu lên dưới những
dạng cụ thể : vấn đề tô thuế, cuộc sống hiện tại đau khổ của nhân dân, cuộc sống xa xỉ hoang dâm của giai cấp thống trị, vấn đề chiến tranh đều được các nhà thơ mô tả Đó là
lời thơ cảm thông với những người dân đói bán con bên bờ sông Hoàng Hà của Bùi Dị
Đó là tiếng nói mỉa mai, oán giận, phê phán trong thơ Ngô Thì Vị, Ngô Nhân Tĩnh, Hà Tông Quyền Họ đã dũng cảm tố cáo những bất công đau đớn của xã hội qua những bài thơ "Nhân việc mà tỏ ý"
Điều rất lạ là dân tộc Việt Nam, bao năm sống trong kiếp lầm than, bị thống trị, bị đọa đày thế mà họ chẳng có một lời thơ nào tỏ ra kỳ thị "nước ta, xứ người" Như Lý Thường Kiệt ngày xưa đã nói "Chỉ phân biệt quốc thổ, không phân biệt chúng dân" Điều này thật mới Nó bắt nguồn từ một nhận thức trong sáng, đấy ắp tấm lòng nhân hậu, bao dung Nguyễn Trung Ngạn đã từng nói rằng các dân tộc tuy cách xa nhau về địa lý, nhưng đều là anh em
"Nước nón dẫu vạch bờ Nam, Bắc
Và chẳng ai trong họ thích chiến tranh, ly loạn Mong mỏi ngàn đời của nhân dân
vẫn là sống thái bình và làm ăn thịnh vượng
Man, súc mong đâu nỗi chiến trường
Lòng yêu mến, cảm thông với những người dân nghèo Bắc quốc cũng được các nhà thơ đi sứ cảm nhận Đi đến đâu, nơi nào các sứ giả cũng thấy những cảnh cơ cực, nghèo
Trang 33đói, dân phải ăn xin, phải bán con Bài hành kể việc dân đói bán con tại vùng sông Hoàng
Hà của Bùi Dị làm người đọc liên tưởng đến những cảnh khổ của người nông dân nước ta:
Nhưng nhà nghèo, cha con khó mà đoàn tụ cùng nhau
Bán con cho người khác, tuy có đau xót vì biệt ly, Song còn hơn trông nhau mà chết đói."
Cao Bá Quát nhìn cảnh phân biệt đối xử cảnh áp bức của người đa trắng đối với người da đen đã không dấu nổi sự căm giận:
(Hạ Châu tạp thi của Cao Bá Quát) Còn Nguyễn Du, ở đâu, Nguyễn Du cũng bắt gặp hình ảnh của nhân dân, của quê hương với những tiếng kêu đau đến xé ruột, những gương mặt đói rau, thiếu thuốc xanh
lè đang chờ chết
" M ầu tử bất túc tuất
(Sở Kiến Hành)
Trang 34(M ẹ chết không đáng tiếc
Trong lòng đau xót lạ lùng
Trong bài Thái Bình mại ca giả, Nguyễn Du kể về chuyện một ông già mù đàn hát rong Đó là một đêm sáng trăng, thuyền Nguyễn Du đỗ lại ở một bến sông vắng, bên cạnh chiếc thuyền có ông già mù múa hát Nguyễn Du đã miêu tả lại những điều trông thấy:
Và cuối bài thơ là lời lạy tạ:
"Đứa bé đã dẫn ông già ra khỏi thuyền,
Tấm lòng cảm thông yêu thương chân thành của Nguyễn Du đến nay vẫn còn làm chúng ta xúc động Phải đặt vào tâm thế của Nguyễn Du lúc bây giờ, một ông chánh sứ được nghênh đón, được cung phụng, mới thấy hết được cả tấm lòng " nghĩ suốt nghìn đời", như lời đánh giá của Mộng Liên Đường xưa kia
Các nhà thơ đi sứ cùng viết về một đối tượng nhưng cảm xúc thì mỗi người mỗi vẻ Trước và sau Nguyễn Du có nhiều người làm thơ vịnh Đương Phi, nhưng đã có ai
hiểu nàng như ông:
(Chỉ vì cả triều đình như phỗng đứng
Mà nghìn năm cứ đổ tội oan cho sắc đẹp nghiêng thành)
(Dương Phi cố lý)
Trang 35Khi đi ngang qua đền thờ ở huyện Chiếu Bình, Quảng Châu, Nguyễn Tông Khuê đã nghe câu chuyện về ba liệt nữ nhà họ Lưu; hai vợ và một con gái của quan Thông Phán Lưu Thời Cử đời Minh đi đường bị cướp, không chịu ô nhục, đều gieo mình xuống sông
tự tử Cảm khái trước nhân cách cao quí đó, Nguyễn Tông Khuê đã làm thơ ca ngợi họ :
Ai chăng ngâm ngợi tấc lòng son ? "
(Miếu tam liệt nữ ) Nguyễn Tông Khuê đã ban tặng họ ba chữ vàng Liệu trong nhân gian được mấy? Nguyễn Du khác Ông nhìn ba tấm gương liệt nữ kia và liên tưởng đến thời bình, bao nhiêu kẻ vểnh râu lên như mác, bàn chuyện hiếu trung ai cũng cho mình là nhất:
(Thời bình bao xiết phường râu vểnh Nói hiếu bàn trung những tự kiêu) Trong dịp đi sứ sang Trung Quốc, thuyền của Nguyễn Du cùng nghỉ chân tại sông Ninh Minh Tâm hồn thư thái, Nguyễn Du nhìn thấy ánh trăng trong vắt nhô lên từ sắc màu biếc xanh của núi như trong mắt Phạm Chi Hương chăng? không phải thế Ông thấy nước từ trên trời cao đổ xuống Trên ghềnh nước chảy mạnh, hung hãn như những con ứng long nổi giận, ầm ầm như sống động Còn dưới ghềnh nước chảy ào ạt như tên bay,
nỏ bắn khiến người kinh hồn bạt vía Thấp thoáng ẩn hiện trong mắt nhà thơ là những con thuồng luồng, long li hung ác ở vực sâu sẩn sàng nhe nanh ra để nuốt chửng con người Sóng không dịu đàng, êm ái, hiền lành như trong mắt của Phạm Chi Hương mà gào thét
dữ dội, vỗ tung bọt ầm ầm cả ngày lẫn đêm
Thông thường vào mùa hạ nước cạn, nhưng trước mắt Nguyễn Du là cả một bờ sông nước dâng cao, ngập đầy có thể nuốt chửng con người bất cứ lúc nào Thuyền không ghé lại cùng khách nâng chén thù tạc như Phạm Chi Hương mà lòng thuyền đầy
Trang 36những lo âu, thắc thỏm Lo gì ? Lo bị nước cuốn, lo bị thuồng luồng vồ, lo bị chìm sâu
mà không biết đâu là đáy! thật là kinh sợ Trong tâm trạng bất an như thế, Nguyễn Du đã
thốt lên :
Nguy vong khuynh phúc giai thiên ý !"
(Đi thuyền trên sông Ninh Minh) (Đường sâu thẳm quanh co như lòng người
Nguy hiểm nghiêng đổ đều là ý trời.)
Từ hiện thực tự nhiên đang diễn ra trước mắt, ông chạnh lòng nghĩ đến thế thái nhân tình Làm sao dẹp được hết cả những cơn sóng to gió lớn Con người ta dù có lòng trung tín đến đâu nhưng nếu gặp nguy thì vẫn không đủ tự tin vào chính mình Huống chi sống
giữa cuộc đời mà mọi hiểm nguy đang chờ chực, rình rập, bước ra khỏi nhà thì gặp ngay
mọi sự hiểm nguy, tai biến trắc trở Thế mới biết làm người trong những cơn sóng to gió
lớn của cuộc đời thật khó vậy thay!
Xem thơ của Nguyễn Du trong Thanh Hiên và Nam Trung không có những hiện tượng thiên nhiên kỳ vĩ, đáng sợ đến như vậy Có thể dẫn ra đây không phải chỉ bài "Đi thuyền trên sông Ninh Minh"
(Hoàng Hà trở lạo) (Nước tràn trăm dặm dòng sông loạn
Sóng cuộn từng cơn bãi cát dày) Trong cả hai bài thơ, những con sông của Nguyễn Du thật hung ác và dữ tợn Nước
từ trên trời trút xuống Nước đẩy đằng sau, cản đằng trước, cuộn xoáy bên mạn thuyền như muốn cuốn phăng đi hết thảy, như muốn nuốt chửng lấy con người Chính những
Trang 37biến động ghê gớm của lịch sử cùng với hiện thực chốn quan trường đã làm ông phải dè
chừng, phải cảnh giác mà dò thấu lòng người bởi cuộc đời này đang đổi thay, suy thoái Trong đời gặp cảnh ngộ đau thương mà khổ tâm là lẽ tự nhiên, ai cũng vậy, chẳng nói làm gì, cũng như đứng trước cảnh đẹp mà vui thì không có gì lạ Nghệ sĩ khác đời là
ở chỗ người ta khổ một, anh ta khổ hai, người ta vui ít anh ta vui nhiều và thậm chí buồn trong cả khi vui Nghệ sĩ ấy là Nguyễn Du Với ông, bất cứ ở đâu, khi nào, đi qua địa danh nào, đứng trước một cảnh đẹp nào lòng ông đều chùng lại trong cảm giác miên man
về nó, tim ông rung lên những nốt nhạc giao hòa Đến Tương Âm, lòng Nguyễn Du đượm buồn và da diết nhớ đến Khuất Nguyên Ông thương Khuất Nguyên đã bị bọn gian
thần hãm hại Một "Tướng Âm dạ" dường như chưa đủ để nói hết tấm lòng yêu mến và khâm phục Khuất Nguyên Nguyễn Du có đến sáu bài viếng Khuất Nguyên Ông thương
mến và kính Khuất Nguyên, một người lắm tài nhưng không được trọng dụng Luôn luôn trong Nguyễn Du là sự tự vấn về lẽ đời, về những người lắm tài nhưng bị ruồng bỏ, biếm trích Cuộc đời và nhân phẩm sáng ngời của Khuất Nguyên đã làm cho mạch cảm hứng trong Nguyễn Du tràn ra, tuôn chảy Càng yêu thương Khuất Nguyên, ông càng căm ghét
bọn gian nịnh, những kẻ đã dèm pha vua ruồng rẫy và bạc đãi Khuất Nguyên
Cùng viết về Nhạc Phi, tức Vũ Mục Vương, một anh hùng dân tộc, trung thần của nhà Tống Nhưtig tấm lòng của Phạm Chi Hương và Nguyễn Du không giống nhau Với
Phạm Chi Hương thì Nhạc Phi là một anh hùng, xứng đáng được người đời tiếc thương, yêu quí
"Sơn hà công sứ ban sư lệ !
Cơ vĩ khống huyền báo quốc tâm!"
(Đề miếu Vũ Mục Vương) (Rút quân lệ nhớ đau sông núi,
Báo quốc lòng thơ, uổng vĩ ky) Còn Nguyễn Du khi đến thăm mộ Nhạc Phi đã xót xa đến rơi lệ Không chỉ có thế,
ảm thấy bi quan trước sự thật đang phơi bày Bài thơ "Yến Thành Nhạc Vũ
Trang 38Mục ban sư xứ" tuyệt nhiên chẳng có lời lẽ cảm thương nào nhưng ẩn sâu trong từng câu
từng chữ là sự tự vấn, tự ngạc nhiên đến nghẹt thở của ông về lẽ công bằng, về chân lý
của cuộc đời Ông đau lòng cho Nhạc Phi đã hoài công ôm cái nhục của nước nhà Huyết chiến mười năm có được gì ? Thật là phí vì cuối cùng cũng bị giết Đứng trước mộ, Nguyễn Du bàng hoàng trước cảnh vắng vẻ, xơ xác ở nơi này Sông núi vẫn còn, cây tùng cây bách vẫn lao xao, ngạo nghễ trước ngọn gió bấc lạnh lùng Không gian, thời gian vẫn lưu chuyển và vô tình lạnh lẽo đi ngang trước nỗi đau và sự mất mát của con người Duy chỉ có Nguyễn Du, người đã đến với ông bằng tấm lòng, bằng sự đồng cảm
gần gũi nhất:
"Tướng phủ dĩ thành tam tự ngục Quân môn do tích thập niên công"
(Mộ Nhạc Vũ Mục) (Ở tướng phủ đã khép thành tôi "ba chữ"
Nơi quân còn tiếc công của ông trong mười năm trời)
Viết nên những vần thơ ấy, Nguyễn Du thấy xót xa cho những bậc hiền thần Mâu thuẫn Nhưng mâu thuẫn vốn làm nên cuộc sống, làm nên những vần thơ
1.2.2.Khí phách và trách nhi ệm của công dân Đại Việt ở Bắc Quốc
Như đã nói, những người được cử đi sứ không chỉ có tài năng mà còn có tấm lòng, không chỉ có lương tâm mà còn có cả khí phách Bởi họ phải luôn đương đầu với sự đe
dọa, bức bách thậm chí đến cả sự dụ dỗ, mua chuộc của đối phương Trong những tình
thế ấy, nếu không tỉnh táo thì sẽ rất nguy hiểm cho sự tồn vong của dân tộc Nguyễn Trung Ngạn là người rất hiểu điều đó:
Đất Bắc quan sơn vượt mây trùng
Trang 39C ờ Hán bay pha vùng cỏ lách,
Đường đời gian hiểm ta từng biết,
(Sơ phát Vĩnh Bình trại) Sau Nguyễn Trung Ngạn hơn ba mươi năm, Phạm Sư Mạnh trong một chuyến đi làm nhiệm vụ tranh cãi về cột đồng mà thực chất là vấn đề biên giới cũng vẫn giữ thái độ đường hoàng tự tin như vậy:
"Trước đài Hạng Vương mặt trời lặn đỏ rực,
(Ngô Linh Ngọc dịch)
Phạm Sư Mạnh viết bài thơ này để đưa cho quan Thị Giảng nhà Nguyên là Dư Gia Tân xem Đây là bài thơ ca ngợi khung cảnh tươi đẹp của thiên nhiên Tuy vậy, ở từng
chữ, từng lời, tác giả bài thơ tỏ ra rất sắc sảo và tinh tế Điều này thể hiện được bản lĩnh
vững vàng của sứ giả Đại Việt khi đứng trước cái hùng vĩ, bề thế của miền Hoa hạ
Nét đẹp thơ bang giao còn được thể hiện ở thơ vua, thơ tướng Dù là thơ tiếp sứ hay
tiễn sứ, bài nào cũng hay, cũng đẹp Có thể kể đến bài Tống Sài Nghiêm Khanh (Tiễn Sài Nghiêm Khanh) của Trần Quang Khải:
Trang 40T ống Sài Nghiêm Khanh Dịch:
(Tiễn Sài Nghiêm Khanh)
Đầu ngựa xăm xăm hướng về quê hương nhà vua
Mùi đạo chư khách tràn đầy chén biệt ly
Chưa biết ngày nào lại cùng gặp mặt,
Để ân cần cầm tay kể chuyện hàn huyên!"
Đến một nhà sư vô danh nào đó trong ngôi chùa hẻo lánh đã nhường nửa giường cho Nguyễn Trung Ngạn ngủ qua đêm:
T ặng thi tăng Nghiêu Sơn
Ở đây không nghe nói tới hai chữ vinh, nhục
Tay áo thơ phẩy động trăng sông Tương Đôi hài thiền đạp tan mây núi Sở
Chén trà, trướng giấy bao lần mộng thây người"
(Ngô Linh Ngọc dịch)