Tác phẩm làm dấy lên nhiều khát vọng ở những nhà văn trẻ tuổi, Nguyễn Khải viết: “Đọc rồi cứ bàng hoàng vì chưa thể tin văn chương Việt Nam có thể hay đến thế…Không là người trong cuộc l
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Những đóng góp 5
NỘI DUNG Chương1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Phùng Quán 6
1.1Phùng Quán “Một đời cay cực, một đời lao lực, một đời thơ” 6
1.2.Quá trình sáng tác của Phùng Quán 15
Chương 2 Quan niệm nghệ thuật về con người 23
2.1 Khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người 23
2.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Phùng Quán 26 2.2.1 Con người yêu nước 26
2.2.2 Con người với lý tưởng sống cao đẹp 39
2.2.3 Con người ngay thẳng trung thực 42
2.2.4 Con người gắn bó tha thiết với cuộc đời 50
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện con người trong sáng tác của Phùng Quán 62
3.1 Giọng điệu 62
3.2 Ngôn ngữ 75 KẾT LUẬN
Trang 2MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
1.1 Sự phát triển của văn học nghệ thuật suy cho cùng là sự phát triển của khả năng tự nhận thức, đánh giá, khám phá và biểu hiện mình của con người Quan niệm nghệ thuật về con người của tác phẩm văn học hướng vào chiều sâu trong mỗi cá nhân, là tiêu chuẩn đánh giá giá trị nhân văn của một hiện tượng văn học Người nghệ sĩ luôn trăn trở suy nghĩ vì con người, khám phá những điều mới mẻ vì con người đó là người nghệ sĩ chân chính Bên cạnh đó quan niệm nghệ thuật về con người cho thấy sự lý giải, cắt nghĩa con người có tính phổ quát, trong giới hạn mang tính phổ quát ấy, nhà văn nào thể hiện được sự khác biệt chứng tỏ nhà văn đó có tính sáng tạo Vì thế , tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm cho thấy tài năng và sự sáng tạo của nhà văn
1.2 Phùng Quán là một nhà văn tài năng Ông để lại trong kho tàng văn học dân tộc những tác phẩm ẩn chứa giá trị nhân văn sâu sắc Tác phẩm
đầu tay Vượt Côn Đảo của ông tái bản bốn lần liên tiếp, được giải thưởng
của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1955, nhà xuất bản văn học thiếu nhi Liên
Xô dịch năm 1956, là tác phẩm quen thuộc của cả một thế hệ thanh niên yêu
nước Trường ca Võ Thị Sáu năm 1955, tái bản ba lần, giải nhất cuộc thi
sáng tác hưởng ứng Đại hội liên hoan thanh niên, sinh viên thế giới Vacsava
(Ba Lan) Tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội được tái bản tới năm lần, lần gần đây
nhất là năm 2009 với số lượng hàng nghìn bản Bên cạnh đó, Phùng Quán tỏ
ra rất có duyên với thể ký, tập ký Ba phút sự thật được đón chào nhiệt liệt,
tái bản năm 2010 Điều đó cho thấy các sáng tác của Phùng Quán có sức sống lâu bền và sức hấp dẫn mãnh liệt
Trang 31.3 Khoảng năm 1956-1958, Phùng Quán tham gia nhóm Nhân văn Giai phẩm rồi bị “treo bút” Tên tuổi Phùng Quán dần bị lãng quên trên thi đàn Năm 1988, ông được phục hồi hội tịch Hội nhà văn Việt Nam Từ đó tới nay, tác phẩm của ông có một đới sống mới Đã có nhiều bài báo, bài phê bình văn học về sáng tác của Phùng Quán, nhưng nhìn chung chưa có công trình nào nghiên cứu toàn vẹn và có hệ thống.Chúng tôi muốn đóng góp một cái nhìn tương đối đầy đủ, hệ thống về sáng tác của Phùng Quán góp phần đánh giá thỏa đáng hơn về hiện tượng văn học này Đặc biệt vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Phùng Quán là đề tài còn
bỏ ngỏ
2 Lịch sử vấn đề
Năm 1954, Vượt Côn Đảo được xuất bản đã gây tiếng vang lớn,
làm náo nức cả văn đàn, một năm được tái bản tới bốn lần Tác phẩm làm dấy lên nhiều khát vọng ở những nhà văn trẻ tuổi, Nguyễn Khải viết: “Đọc rồi cứ bàng hoàng vì chưa thể tin văn chương Việt Nam có thể hay đến thế…Không là người trong cuộc làm sao viết được những trang văn rạo rực hơi thở của một thời…Với những cái gì đang có làm sao viết nổi một trang
sách như Vượt Côn Đảo”.[22.272] Văn Tâm nhận xét: “Xuyên suốt tập
truyện là cảm hứng tôn vinh cái cao cả và lòng yêu quê hương đất nước, lòng vị tha, xả thân vì đại nghĩa của những chiến sĩ cộng sản bình dị”[22.8]
Năm 1988, Phùng Quán được phục hồi hội tịch, Tuổi thơ dữ dội
được xuất bản gây xúc động mạnh mẽ với độc giả Nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện nhận xét: “…Với một Gavroche, Victo Huygo đã viết nên những trang bất hủ Trẻ em của chúng ta đã anh dũng, hồn nhiên tham gia cuộc đấu tranh gian khổ, trường kỳ với cha anh không kém gì nhưng Gavroche trên chiến lũy Pháp Thế mà sách vở viết về mặt này còn quá ít Nhà văn Việt
Nam còn mắc nợ các em rất nhiều Với quyển Tuổi thơ dữ dội, Phùng Quán
Trang 4đã bắt đầu trả nợ một cách chính đáng…Tôi chỉ mong làm sao tất cả các
thiếu nhi Việt Nam đều được đọc sách này” Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường cho rằng: “Có một viên ngọc quý thời gian dành riêng ban tặng cho con người là Tuổi Thơ.Viên ngọc màu nhiệm trong sáng nhưng quá mong manh, không thể tìm thấy lần thứ hai trong đời Và có một thế hệ người Việt
Nam chưa cầm viên ngọc trên tay Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán được
viết cho thế hệ đó” Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ bày tỏ: “Tôi đã khóc, đã kiêu
hãnh, tự hào, đau đớn trước Tuổi thơ dữ dội Tuổi thơ với những khuôn mặt
tràn trề sức sống, đáng yêu, bất khuất, quyết liệt”
Các bút ký của Phùng Quán gây chú ý đặc biệt: “Với Phùng
Quán- Ba phút sự thật…chúng ta lại được gặp những trang văn thấm đẫm
nước mắt và nụ cười của ông, những trang viết khiến ta xúc động và day dứt khôn nguôi”( Nguyễn Khắc Phê)[32] Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên đánh giá: “Giá trị của tập sách này trước hết là những sự thật được trả lại, được biết đến, được coi trọng dưới ngòi bút văn của Phùng Quán”[32]
Số bài thơ của Phùng Quán để lại không phải là quá đồ sộ nhưng cũng cho thấy một gương mặt riêng không thể lẫn trong nền văn học nước nhà Hoàng Phủ Ngọc Tường khái quát chính xác: “Tình ca của Phùng Quán bao giờ cũng là tiếng kêu đoạn trường của con người tự cảm thấy mình bị xúc phạm và kêu đòi quyền được sống có nhân phẩm của nó(…) Thơ Phùng Quán là bài ca về rượu và những cơn say, về tình bạn và sự thủy chung, về thú rong chơi và cuộc sống phóng khoáng, hoặc trăm thứ khác của nhân tình thế thái”[19.61] Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo nhận xét: “Thơ Phùng Quán là thơ yêu làng, yêu nước, yêu đồng đội, yêu Nhân dân của mình Giọng điệu hào sảng, đầy lửa, đầy tính chiến đấu, niêm tự hào và lòng biết ơn Nhân dân Điều ấy đúng với con người đầy nhiệt tình cách mạng của Phùng Quán.[19.167] Nhà nghiên cứu Văn Tâm đúc kết: “Cốt cách của một kẻ sĩ
Trang 5“dĩ bất biến ứng vạn biến” Cốt cách ấy, phẩm giá ấy là một bài thơ, bài thơ lớn, thành công lớn, kiệt tác suốt một đời gắn bó với thơ của Phùng Quán”.[19.257]
Những ý kiến quan điểm trên đây được đăng trên các báo, tạp chí chủ yếu để bày tỏ tình cảm với tác giả, tác phẩm mà người viết yêu thích Chưa có đề tài nào nói tới quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Phùng Quán Trên cơ sở đó chúng tôi đi tìm hiểu quan niệm nghệ thuật
về con người trong sáng tác của Phùng Quán vận dụng lý thuyết thi pháp học
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Cho thấy quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Phùng Quán
Giúp người đọc hiểu đúng về con người, sự nghiệp văn học, giá trị văn chương trong sáng tác của Phùng Quán
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
1 Thơ Phùng Quán (NXB Văn Học 2003)
2 Tuổi thơ dữ dội ( Tiểu thuyết- NXB Văn Học 2006)
3 Vượt Côn Đảo (NXB Lao Động 2007)
Trang 6
6 Những đóng góp của đề tài
Với đề tài “ Quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Phùng Quán” luận văn khẳng định giá trị tư tưởng, nhận thức của nhà văn về con người, cho thấy giá trị văn chương trong các sáng tác của Phùng Quán
Trang 7NỘI DUNG
Chương 1 VÀI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA PHÙNG QUÁN 1.1.Phùng Quán “một đời cay cực, một đời lao lực, một đời thơ” Đương thời, Phùng Quán thường tâm sự với bạn bè: “Tôi tưởng như mình không có tuổi thơ và không có tuổi thanh niên Tôi đã già từ khi mới sinh Tuổi thơ tôi là một tuổi thơ nghiệt ngã và tuổi thanh niên càng nghiệt ngã hơn Bảy, tám tuổi đã phải chăn trâu cắt cỏ kiếm cơm, 13 tuổi đã cầm súng ra trận Ở cái tuổi ngây ngô hồn nhiên nhất, đáng lẽ chỉ biết chơi
bi, đánh đáo, hái trộm quả nhà chùa…thì tôi đã phải chứng kiến cảnh đầu rơi máu chảy, phải cướp súng giặc, vượt ngục…”
Phùng Quán sinh tháng 1 năm 1932, tại làng Thanh Thủy Thượng, Tổng Dạ Lê, nay là xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên-Huế Nhà nghèo, cha lại mất sớm khi ông mới biết bò.Là con một - “hũ mắm treo đầu giàn” - nhưng từ khi rất nhỏ, ông đã phải lang thang ở với hết chủ này đến chủ khác trong làng để kiếm miếng cơm manh áo Suốt ngày quần quật với việc nấu cơm, giữ em, chăn trâu cắt cỏ nên lúc nào người cũng đen nhẻm, nồng mùi bùn đất.Và cũng chính vì quá nghèo nên Phùng Quán phải bỏ học từ rất sớm
Sinh thời, Phùng Quán là một cậu bé thông minh nhưng nghịch ngợm nên thường xuyên bị đòn quắn đít Mọi người trong làng gọi cậu là thằng Bê Có lần Bê nhảy vào vườn nhà ông thầy bói trong làng định ăn trộm ổi tàu nhưng bị tóm “ Ông thầy bói không đánh Bê, nhưng lại gieo một quẻ bói…tiên tri: Khi lớn lên, thằng này không ăn mày cũng ăn cướp Đêm đó, nằm nghĩ đến việc ăn cướp thì bị bỏ tù, ăn mày thì bị chó đuổi, Bê bật khóc và quyết tâm phải học lấy một nghề để vượt qua lời nguyền số phận Bê tìm gặp chú Coong, một người đàn ông lòng khòng, chuyên rao mõ
Trang 8trong làng để xin học nghề Bê tỏ ra là một học trò có năng khiếu bẩm sinh, chỉ học vài buổi là hôm nào chú Coong mệt, cậu đã có thể đi rao mõ thay Cách mạng tháng Tám 1945 bùng nổ, rồi cuộc kháng chiến trường
kỳ lại tiếp tục khi Bê mới được mười ba tuổi Hàng ngày theo các bạn ra bãi
cỏ ven làng chăn trâu, cậu hăm hở nhìn theo những đoàn tàu chở bộ đội lao
về phương Nam Từ trong các cửa sổ toa tàu vọng ra tiếng hát hùng tráng:
“Đoàn vệ quốc quân một lần ra đi…” làm Bê như bị thôi miên Cách mạng
đối với một chú bé nghèo khổ như Bê lúc đó thật sự là một ngày hội và là niềm mơ ước Đó là những gương mặt sáng ngời, là cơm no, áo mặc, là tiếng hát và tiếng cười… Cậu muốn bỏ làng để đi theo những tiếng hát kia Thế là một buổi chiều, Bê nhảy lên tàu, không cho gia đình biết Đến Lăn
Cô các chú vệ quốc đoàn phát hiện Họ định đuổi xuống nhưng cậu bé năn nỉ: “Cháu đi thế này, trâu chạy mất rồi, đằng nào cháu cũng không thể về nhà được nữa” Cậu còn nói dối là không còn ruột thịt thân thích gì Các chú thấy thế, thương tình nên đã cho Bê ở lại làm liên lạc Kể từ buổi chiều hôm
đó, cậu bé Phùng Quán đi theo cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc Cùng với các cô, các bác, cậu cũng lăn lộn ở chiến trường Thừa Thiên-Huế, làm một chiến sỹ nhỏ của trung đoàn Trần Cao Vân Những ngày tháng anh hùng đó với bao nhiêu chuyện buồn vui, bi tráng về thời kỳ sôi nổi ấy sau
này được Phùng Quán kể lại trong bộ tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội
Nếu như chuyện Phùng Quán trở thành chiến sĩ tự nhiên, thì chuyện ông trở thành nhà văn thật ly kỳ Ông đến với nghề cầm bút không phải từ lý luận, sách vở, từ vốn kiến thức thu nhận qua trường lớp mà từ thực tế cuộc sống của nhân dân lao động và chính bản thân mình, bằng con đường tự học Năm 1954, Hiệp định Giơnevơ ký kết, quân độ ta gấp rút cần một tổ phóng viên vào Sầm Sơn-Thanh Hóa để đưa tin trao đổi tù binh Nhà văn Thanh Tịnh đã tiến cử Phùng Quán (lúc này đi học ở trường Quân chính
Trang 9về) với công việc khá đặc biệt : “ Người ta phát cho ông một cái máy to đùng như tráp thợ cạo, bằng đồng, có cái ống dài như khẩu súng (nhưng là máy… dỏm) với nhiệm vụ: khi phóng viên nước ngoài đến, chúng cứ định chụp ảnh là ông cũng giơ máy, nhảy lên chắn trước mặt không cho chúng chụp” Trong những ngày ở Sầm Sơn, được đón hàng ngàn tù binh từ các trại giam của định trở về (phần lớn là tù Côn Đảo), được nghe họ kể về những ngày tháng sống khổ cực trong tù, bị địch tra tấn, rồi chuyện vượt ngục, chuyện về Võ Thị Sáu lúc bị dẫn ra pháp trường còn hát vang bài ca
cách mạng…, Phùng Quán rất xúc động Ông viết trường ca Tiếng hát trên
địa ngục Côn Đảo gửi về Cục Tuyên huấn Những chuyện khác, ông đem kể
lại cho bộ đội và dân trong vùng đóng quân nghe Mỗi lần lại thêm thắt chút
ít Nghe hấp dẫn, một người bạn đã động viên Phùng Quán nên viết ra Được bạn động viên nhiệt tình, ông tìm một tập giấy để lúc nào rảnh thì ngồi cắm cúi ghi chép Nhiều người thấy thế, hỏi Phùng Quán, ông trả lời: “Em viết quyển tiểu thuyết về những người chiến sỹ cách mạng bị địch cầm tù” trong khi Phùng Quán hầu như chưa hiểu biết gì về lí luận tiểu thuyết Có người bảo rằng Phùng Quán liều, ông cười: “Em là lính, thích thì cứ viết đại,
có mất gì đâu mà sợ” Sách viết xong đưa cho nhà văn Vũ Tú Nam sửa, ông
kêu lên: “Thằng này viết hay lắm, nhưng nhiều lỗi chính tả quá” Phùng
Quán lại cười: “Thì em nhảy thẳng từ trên lưng trâu về trung đoàn mà” Tác
phẩm đầu tay có nhan đề Vượt Côn Đảo, ngay trong năm đầu xuất bản đã
được tái bản tới 4 lần, được đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước say mê
Vượt Côn Đảo đã cùng với những chuyến tàu bí mật chở vũ khí vượt biển
vào chiến trường trong những năm cách mạng miền Nam đen tối nhất
Với bầu nhiệt huyết và với cả cái liều của một chú bé liên lạc không đắn đo lao vào lửa đạn, Phùng Quán cầm súng chiến đấu và cầm bút viết văn như thế
Trang 10Nhưng rồi, cuộc đời không suôn sẻ Tuổi thơ dữ dội qua đi, Phùng
Quán lại bước vào một tuổi trưởng thành đầy gian nan, cực nhọc và đắng cay mà ông tự trào là 30 năm “cá trộm, rượu chịu, văn chui” với một loạt những tác phẩm ký bằng nhiều bút danh khác nhau nhưng tất cả đều xứng đáng với tư cách nhà văn
Quãng đời lận đận sóng gió mấy mươi năm của ông không chỉ luôn túng bấn mà dường như bị gạt ra ngoài lề xã hội, luôn phải “đi bên cạnh
cuộc đời”, nhưng ngay cả trong hoàn cảnh như thế, Phùng Quán vẫn không
ngừng sáng tác Bị tước quyền tác giả thì ông in chui Mượn tên bạn bè thân hữu, ông in khoảng 60 truyện tranh, 10 tác phẩm văn xuôi và cũng bị mất khoảng 10 tác phẩm khi các nhà xuất bản phát hiện ra đó là sáng tác của
ông Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Lênin, ông viết truyện ngắn Như
con cò vàng cổ tích để dự thi Tác phẩm ký bút danh Vũ Quang Khải – em
vợ Phùng Quán ,đã đạt giải Nhất, Liên Xô gửi tặng một chiếc xe đạp – chiếc
xe đã theo Phùng Quán suốt cuộc đời Đặc biệt, Tuổi thơ dữ dội (Tập 1) cũng được viết trong thời gian này, in lần đầu năm 1983 với tiêu đề Buổi
đầu thử thách, ký tên Đào Phương
Suốt 30 năm bị “treo bút” từ sau vụ Nhân văn – Giai phẩm, sống trong khốn khó cả vật chất lẫn tinh thần, những đồng tiền nhuận bút ít ỏi từ những tác phẩm “viết chui” ấy đã đỡ đần ít nhiều cho vợ con ông sống qua ngày
Cuộc sống cứ trầm uất, nặng nhọc như thế, mãi tới thời kỳ đổi mới, Phùng Quán mới được viết văn, làm thơ dưới cái tên đích thực của mình
Cuốn sách đầu tiên mà ông được trả lại tên là Tuổi thơ dữ dội Đó là một
phần đời ông, là “bản di chúc chiến sĩ” của người cộng sản Cũng trong thời gian này, ông được Nhà xuất bản Trẻ in cuốn truyện thiếu nhi dày 200 trang,
nhan đề Dũng sĩ Chép Còm Sách in 40 ngàn bản Tên tuổi ông trở lại văn
Trang 11đàn với sự chào đón nồng nhiệt của người đọc Và chầm chậm, chầm chậm như những linh hồn mệt nhoài sau một ác mộng dằng dặc, gia đình ông ra khỏi sự đày ải về tinh thân vơi rất nhiều tổn thương Nhưng có lẽ điều duy nhất còn giữ được vẹn nguyên ở họ là thiện tâm, lòng yêu văn chương và biết trân trọng lẽ công bằng
Những năm cuối đời, Phùng Quán liên tục bày ra nhiều cuộc chơi mút mùa từ Bắc đến Nam sau mấy chục năm bị treo bút cũng là để giải tỏa những buồn đau ẩn ức của một cuộc đời sóng gió Mặt khác, đấy cũng là một cách để ông hòa mình vào cuộc sống nhân dân, “nạp điện” vào bình ác quy sáng tạo cho riêng mình
Sinh ra trong cảnh ngộ cơ cực, giữa lúc đất nước bị đô hộ, Phùng Quán đã lớn lên trong “ tuổi thơ dữ dội”, lớn lên trong kháng chiến và trưởng thành trong quân đội Ông là người lính kiên cường, dũng cảm trên
cả hai lĩnh vực quân sự và văn học Phùng Quán là hình ảnh của lòng nhân hậu và độ lượng Suốt đời ông nguyện làm một người lính thường, không lụy hư danh, đau cái đau của những người bất hạnh, vui cái vui của những người chiến thắng Vậy mà niềm vui chưa hưởng trọn, ông đã đi xa!
Một buổi chiều tháng Chạp, trời lạnh buốt, vào lúc 16h50 ngày 22 tháng 01 năm 1995 (tức ngày 22 tháng Chạp năm Giáp Tuất), căn bệnh hiểm nghèo xơ gan cổ trướng đã đem ông đi khỏi căn gác lộng gió bên hồ Tây
Thế là Tết không vào nhà tôi – Tết đi qua trước ngõ Phùng Quán đã tự trào
về chuyến tàu cuối cùng đến cõi vĩnh hằng của mình:
Căn hộ mới đáy huyệt Rượu đất tôi uống tràn Cụng ly cùng giòi bọ Mừng trắng nợ trần gian
Trang 12Ông “trắng nợ trần” nhưng bỏ lại biết bao người thương kính ông Cuộc đời, thân thể mất đi nhưng ông vẫn còn tồn tại bằng sự nghiệp, bằng tiếng thơm Ấy là sự tồn tại xưa nay thiên hạ hằng mơ ước – sự tồn tại hoàn
mỹ và vĩnh cửu
Trong điếu văn tiễn đưa Phùng Quán, Phùng Cung đã viết: “Ông ra
đi trong niềm tiếc thương vô hạn để “rồi đây bên Hồ Tây – một thắng cảnh đẹp cổ thành - nơi anh chọn làm chỗ cư trú của tuổi xế chiều – Hồ Tây thấy vắng anh, gia đình vắng anh, bạn hữu thấy vắng anh, đất nước vắng anh, họ Phùng vắng một thi nhân ưu việt Ôi! Những bữa cơm chiều đạm bạc, gia đình hẫng hụt, ngác ngơ Những lúc này bạn bè đến thăm nghẹn ngào thắp nén nhang dâng lên bàn thờ, cầm sao được nước mắt Chúng tôi đứt ruột thương tiếc anh và cũng tự hào vì được cùng anh chia sẻ buồn vui trong cuộc đấu tranh cho độc lập Tổ quốc, cho hạnh phúc nhân dân Trong cuộc đấu tranh lâu dài, anh là một trong những người gan dạ nhất, dũng cảm nhất xông lên hàng đầu Những tác phẩm của anh chắt ra từ mồ hôi, nước mắt, từ xương thịt, từ tâm hồn cao đẹp chẳng đã được thừa nhận là những giá trị
nhân văn đó sao?”
Tiễn đưa ông không chỉ có người thân, bạn hữu, các nhà văn, nhà thơ, mà còn có cả những người bạn câu cá trộm đã cùng ông chia sẻ ngọt bùi trong những năm tháng cơ cực, đắng cay của cuộc đời Tiễn đưa ông còn có cả một đội quân câu cá trộm, người ăn mặc chỉnh tề comlê – cà vạt hẳn hoi, người ăn mặc luộm thuộm tóc tai bù xù như vừa mới chui từ dưới
hồ lên (họ đều mang băng tang ở đầu hoặc tay) Với họ, Phùng Quán thực sự
là người anh em ruột thịt Xong phút mặc niệm nghiêm trang, một người lớn tuổi nhất rút từ trong áo bông ra một mảnh giấy đánh bằng vi tính, lời văn tuy không được suôn sẻ, không hùng hồn những những người đến viếng đang đứng chật quanh linh cữu đều xúc động khi nghe: “Anh Phùng Quán
Trang 13ơi, chúng tôi là những đồng đội của anh… Vĩnh biệt anh, chúng tôi tự hào
về người đồng dội của mình, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng, được toàn dân yêu
mến” Gần hai chục con người đồng loạt đọc thơ Yêu ai cứ bảo là yêu –
Ghét ai cứ bảo là ghét Dứt lời điếu văn độc đáo của những người độc
đáo, từ ông đại tá đến chị hàng cá, hàng gà vịt, hàng bún riêu chợ Châu Long, chợ vỉa hè, các nhà thơ, nhà văn cho đến các em nhỏ, tất cả đều sụt sịt, không ai cầm được nước mắt Lúc đương thời, Phùng Quán rất thích bài
thơ của Maiakovsky khóc Lênin: Em nhỏ nghiêm trang như các cụ già –
Các cụ già khóc như em nhỏ Hôm ấy, chắc linh hồn Phùng Quán đã mỉm
cười vì quanh linh cứu ông, “các cụ già” cũng “khóc như em nhỏ” Cả Hồ Tây cũng dậy sóng : “sóng vỗ bờ nức nở” và núi Ba Vì sừng sững, mờ sương cũng như đang nhỏ lệ thương tiếc một người bạn đồng ẩm
Phùng Quán mất đi nhưng ông đã để lại trong lòng bạn bè biết bao
kỷ niệm đẹp Những người thân, bạn hữu của ông cả trong và ngoài nước, trong hay ngoài giới văn nghệ, những người đã từng đọc và yêu quý ông không khỏi tiếc thương một con người đã chịu nhiều gian khổ, chấp nhận hi sinh để giữ gìn phẩm giá trong sạch của mình
Sống với bạn bè, ông luôn mang lòng mình ra để cư xử Vì thế, dù
đã lên đường đi vào cõi vĩnh hằng, ông vẫn luôn hiện hữu bên họ Đó là hình ảnh một nhà thơ Thanh Tịnh già và một Phùng Quán trẻ từng đi bộ suốt dãy núi Trường Sơn đến chiến khu Việt Bắc đọc thơ và đọc tấu cho bộ đội nghe Đó là hình ảnh Phùng Quán đi đọc thơ khắp nơi để quyên tiền cho bạn gặp khó khăn; hình ảnh Phùng Quán đạp xe hàng trăm cây số trong đêm tối những ngày cuối năm giá rét để về thăm một người bạn nghèo với bữa cơm đạm bạc là mấy viên chả nhái Hình ảnh ông ngồi câu cá dưới chân thác Đămbri, trong quầng bụi nước mờ mờ hư ảo với chiếc áo chàm xanh quen thuộc, râu tóc bạc phơ bay trong gió chiều, tĩnh lặng như một triết nhân bên
Trang 14dòng suối xưa, như thực như mơ, như không như có, như một ảo ảnh Như
ảo ảnh của cả một đời đã từng hạnh phúc và đã từng nếm trải đến tận cùng của cay đắng, khổ đau Ấy là cảm nhận của Nguyễn Đặng: “ phải được nghe Phùng Quán đọc thơ mới thấy thấm, cái giọng nửa Huế, nửa Hà Nội rưng rưng bi hùng, bão táp ấy vẫn còn mê hoặc chúng tôi suốt bao nhiêu ngày sau khi rời xa Hà Nội cho đến tận bây giờ” Và “Hình ảnh Phùng Quán lúc nào cũng đậm trong trí chúng tôi Cái hình ảnh ngang tàng nhưng lại hiền hòa trong chiếc áo chàm, chòm râu bạc bay phất phơ trong gió in hình trên nền trời chiều, bên Hồ Tây mênh mông sóng nước” Hoàng Ngọc Phủ Tường - người bạn thân thiết của ông tâm sự: “Được sống gần Phùng Quán, tôi nhận thấy rằng, Phùng Quán là một con người “nguyên tắc” ít thấy
về tinh thần, hình như từ “nhất ẩm, nhất tác” và tất cả đều làm nên một phong thái ung dung, tự tại” và “Tôi kết bạn với Phùng Quán hơn 20 năm nay, nhìn thấy ở họ Phùng một cốt cách nghĩa khí suốt đời không thay đổi” Phùng Quán ra đi “đã để lại cho tôi dấu ấn của một con người huyền thoại Cuộc đời ông đúng là nửa thực nửa mơ, thoắt ẩn, thoát hiện và luôn bổ sung những ý nghĩa mới hiện hữu mà những người khác đã sống hụt Một người huyền thoại thì luôn sống gần gũi với mọi người nhưng thật ra nó có một phần tràn đầy của cái hiện hữu mà người ta còn thiếu và những phẩm chất tốt đẹp của cuộc sống mà người ta mơ ước…được sống bên cạnh một con người huyền thoại quả là một niềm vui và xã hội có những con người huyền thoại cùng sống là xã hội chứa đựng nhiều tiềm năng để thăng tiến”
Và nữa, việc thơ ông xuất hiện trong những cuốn sổ tay riêng tư, trên những trang ghi của các cháu nhỏ, giữa yêu thương bạn bè lúc tửu hậu, trà dư tự nó đã là một tồn tại, một hiện thực: Phùng Quán sống mãi trong lòng bạn bè, trong lòng bạn đọc mến mộ ông
Trang 15Phùng Quán đã về với đất mẹ, đã đi “một chuyến chơi xa”, căn nhà nhỏ bên Hồ Tây cũng không còn nhưng trong căn hộ mới gia đình, hình ảnh ông vẫn luôn hiện hữu Không còn “Chòi ngắm sóng”, không thấy Hồ Tây mênh mang, không thấy “bác Ba Vì”… Nhưng mới bàn tay khéo léo của người vợ tần tảo, thủy chung, mọi thứ vẫn như xưa Bà Bội Trâm ngày ngày thầm lặng sưu tầm, lưu giữ những di cảo của chồng, những bài viết về ông; xếp sắp gọn gàng ngăn nắp những hiện vật của ông còn lại, như một bảo tàng nhỏ về cuộc đời và sự nghiệp Phùng Quán Trên bức vách bằng gỗ đơn sơ còn ghi lại bút tích của bao danh sĩ khắp ba miền Bắc – Trung – Nam
và cả những kẻ sĩ quốc tế, cả chân dung Phùng Quán do Văn Cao vẽ bằng bột màu Trên tường là những bức phù điêu khắc họa chân dung Phùng Quán và những ký vật bạn bè tặng ông Cạnh bàn thờ ông là một tủ nhỏ trưng bày những ấn phẩm và những vật dụng hàng ngày của ông còn lại: đôi dép bằng lốp ô tô do ông tự làm, cái bị cói, cái nón lá kè, mấy bộ quần áo màu nâu sồng…
Bạn hữu có ý định xin phép bà Bội Trâm đưa ông về Huế, xây cho ông một ngôi mộ bằng đá trắng bên bờ sông, chỗ có ngọn đồi nhỏ um tùm lau lách “để Quán đêm ngày nhìn ngắm dòng sông quê nhà, nơi một thời thơ
ấu chăn trâu cắt cỏ, bắt gặp cách mạng và đã hào hiệp dâng hiến tuổi thơ dữ dội và cả một đời lao lực, một đời cay cực, một đời thơ” Họ mong ông được
về Huế sau những tháng năm dài trầm luân, lưu lạc, ngủ giấc vĩnh hằng dưới bóng thông xanh, với những đêm trăng thanh gió mát bên dòng Hương hiền hòa Tháng 1 năm 2011, di hài của Phùng Quán và vợ được đưa về quê hương ông- Thanh Thủy Thượng theo đúng nguyện vọng lúc ông còn sống Bạn bè làng văn, đông đảo người hâm mộ ông ở trong và ngoài nướcđã góp sức xây mộ cho vợ chồng Phùng Quán
Trang 16Phùng Quán quý chiếc áo có chữ ký của bạn bè (đặc biệt trong đó
có chữ ký của một cô bé 7 tuổi) Tấm áo đã đi với ông đến cuối cuộc đời, trở thành áo liệm, thay bạn bè tiễn ông về thế giới bên kia Kỷ niệm mang theo
về bên ấy, chút tình bằng hữu sẽ sưởi ấm lòng ông trong thế giới lạnh lẽo của những nấm mồ Bạn hữu, những người mến mộ kính phục ông, thấy hiển hiện trược mắt “khí thiêng khi đã về thần” nhưng với Phùng Quán
“Thác là thể phách, còn là tinh anh”
1.2 Quá trình sáng tác của Phùng Quán
Phùng Quán là nhà văn đã để lại nhiều dấu ấn khó quên trong lịch
sử văn học cách mạng Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XX Dù phải vượt qua vô vàn tai ương đau khổ, ông vẫn viết, vẫn sống Ông đã để lại trong lòng bạn
bè, đồng nghiệp một nhân cách cao cả, một tấm lòng tin yêu đồng đội sâu sắc, một tấm gương lao động sáng tạo nghệ thuật hết mình
Ở thời kỳ đầu, các sáng tác của Phùng Quán rất hồn nhiên, tự nhiên với mục đích là muốn bày tỏ lòng mình, thể hiện sự nhiệt tình ca ngợi cuộc sống, ngợi ca quê hương, đất nước
Mười tám tuổi ông bắt đầu làm thơ – những câu thơi sôi sục tinh thần chiến đấu chống ngoại xâm, tràn ngập niềm tự hào về nước cộng hòa trẻ tuổi:
Bạn hãy vượt qua một vạn con sông một vạn trái đồi Thấy một xứ sở giang tay ôm biển lớn
Việt Bắc, Trường Sơn, núi cao, rừng rậm Đồng Tháp Mười mỏi cánh cò bay
Lòng chảo Điện Biên vạn quân thù tan nát ở đây Đồn lũy hôm qua xanh màu ruộng cấy
Nước Việt Nam anh em đây…
Trang 17Năm 22 tuổi, Phùng Quán đã nổi danh với cuốn tiểu thuyết đầu
tay Vượt Côn Đảo (1954) Cả một thế hệ thanh niên lúc đó đã từng coi đây
là cuốn sách gối đầu giường “Thời ấy lũ học sinh – sinh viên mười chín đôi
mươi chúng tôi đọc say mê, có đoạn vừa đọc vừa khóc” Vượt Côn Đảo đã
được tái bản 5 lần, đoạt giải thưởng của hội văn học Việt Nam năm 1955 và được nhà xuất bản Văn học thiếu nhi Liên Xô dịch năm 1956 Nhà thơ Tố Hữu nhận xét: “Quán không được học hành đến nơi đến chốn nhưng có tài
Chỉ gặp các tù binh chính trị ở Côn Đảo mà viết được Vượt Côn Đảo như
thế là giỏi lắm”
Những bài thơ của ông hồi ấy như: Tiếng hát trên địa ngục Côn
Đảo (1954) Tôi tự hào chế độ nước tôi (1955) Tôi muốn mời đến Tổ quốc tôi (1955) đều tràn đầy nhiệt huyết với đất nước, với nhân dân nhưng cũng đầy
chất tấu Trong đó, Chống tham ô lãng phí (1956) là bài thơ bộc lộ rõ nhất
tính cách và nhân cách Phùng Quán Ông không viết bằng mực nữa mà viết
bằng máu của mình Đất nước sau chiến tranh thiếu thốn trăm bề với Những
bà mẹ cuốn giẻ rách – Da đen như củi cháy giữa rừng, với Hai mùa lúa không có một bông – Phân người toàn vỏ khoai tím đỏ, với Những em thơ còm cõi…Cơm thòm thèm độn cám và rau, với Chị em công nhân đổ thùng – Run lẩy bẩy hầm xí tối…Thế mà:
Về Nam Định mà xem Đài xem lễ họ cao hứng dựng lên Nửa chừng bỏ dở
Mười một triệu đồng dầm mưa dãi gió
Mồ hôi máu đỏ mốc rêu
Trong lúc dân nghèo đói lầm than, người ta đổ đi không tiếc mười một triệu đồng mồ hôi nước mắt của nhân dân Bài thơ đã cảnh báo một tai họa của đất nước Vậy mà chính bài thơ ấy lại mang họa cho ông với “hai
Trang 18suất Kiều” để đến tận hôm nay đầu thế kỷ XXI, chúng ta lại ráo riết kêu gọi:
“Chống tham nhũng, lãng phí”
Vẫn khẩu khí “yêu ghét ra mặt” ấy, năm 1957, bài thơ Lời mẹ dặn
được in Cái lõi ý tưởng của bài thơ là:
Tôi muốn làm nhà văn chân thật Chân thật chọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Để dẫn đến diều ấy, Phùng Quán phải hư cấu ra việc một lần ông nói dối mẹ suýt bị ăn đòn, mẹ khuyên ông làm người chân thật, ông chưa hiểu được, mẹ giải thích:
Con ơi một người chân thật…
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu…
Bài thơ được xếp lớp lang, là loại thơ “luận đề” với chất ồn ào của Phùng Quán Những lời mẹ dặn ông muôn thưở vẫn là bài học vỡ lòng
về cách sống làm người mà ở xã hội nào, con người nào cũng cần phải có Người ta phê phán bài thơ vì khó chịu với cạc nói vỗ mặt, quyết liệt, châm chọc của ông chăng?
Hai tác phẩm thơ Chống tham ô lãng phí và Lời mẹ dặn đã dẫn tới
bước ngoặt trong cuộc đời Phùng Quán, ông bị quy kết là Nhân văn – Giai phẩm, là làm phản Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của ông rẽ sang một bước ngoặt mới
Trang 19Sau vụ Nhân văn – Giai phẩm, Phùng Quán rời tạp chí Văn nghệ Quân đội, được hội nhà văn trợ cấp 27 đồng một tháng và phải đi lao động cải tạo tại các nông trường, công trường ở Thái Bình, Thanh Hóa, Việt Trì, Thái Nguyên… Bước vào tuổi 30, ông bị tước Hội tịch, bị mất quyền xuất bản tác phẩm Nhưng trong suốt 30 năm bị “treo bút”, không ngày nào ông không sáng tác Bị tước quyền tác giả thì ông mượn tên bạn hữu để xuất bản Trong thời gian này, Phùng Quán còn viết cả chuyện tranh Đó hầu hết
là những câu chuyện có thật Chẳng hạn, Người phụ nữ Tày dũng cảm - truyện về một người phụ nữ có thật được đăng thành tích trên báo Tay không
bắt giặc… Truyện tranh của Phùng Quán mang nhiều chất anh hùng ca và
giàu chất thơ Phùng Quán là người viết truyện rất đa năng, ông viết khoảng
60 truyện tranh cho thiếu nhi ở tất cả các đề tài Đề tài chiến đấu ở biên giới
có Vàng A Sìn kể chuyện đánh giặc, Tên thám báo và hai em bé Đề tài chống Pháp có Thiên tình sử Điện Biên, Tiếng đàn trong đêm khuya, Dòng
sông mất tích Đề tài về tình hữu nghị Việt Lào có Hạt muối đỏ, Thần nỏ Chăm pa Đề tài Tây nguyên có Truyện Tây Nguyên bên bờ Đanuýp xanh,
Từ cõi chết trở về Đề tài lịch sử có Tiếng chuông Thiên mụ, Người cầm cờ lệnh vua Quang Trung Truyện cổ tích bằng thơ có Chàng Ná, Bốn anh em tài giỏi… Nhiều tác phẩm của ông được dịch tại Nga, Trung Quốc… Ngoài
ra, ông còn có nhiều tác phẩm khác viết về nghệ thuật sáng tác và diễn tấu, nhiều bài báo cảm động in trên các báo Văn Nghệ, Người Hà Nội, Tiền Phong… Một số truyện ngắn của ông, dù dưới nhiều bút danh khác nhau, cũng được nhận nhiều giải thưởng trong và ngoài nước Những tác phẩm
tiêu biểu như: Như con cò vàng trong cổ tích, Cuộc đời một đôi dép cao su,
Thạch Sanh cháu Bác Hồ, Dũng sỹ Chép Còm, Người du kích hói đầu, Tiếng đàn trong rừng thẳm, Đôi bạn tật nguyền kỳ lạ…
Trang 20Ròng rã suốt 30 năm sống trong khốn khó cả vật chất lẫn tinh thần, Phùng Quán vẫn viết với niềm đam mê, nhưng còn mục đích “cao cả” hơn
cả kiếm cơm để nuôi bản thân và gia đình Ông đã hoàn thành xuất sắc
“nhiệm vụ cao cả” đó mà vẫn giữ được tấm lòng trong sạch của một nhà văn
chân chính Và ngay cả vì mục đích kiếm cơm thì sáng tác của ông vẫn đạt được những giá trị đích thực vì đó là những sáng tác của một người nghệ sỹ đích thực
Sau khi được phục hồi Hội tịch, Phùng Quán viết để xả bớt nỗi đau, viết để tuôn ra những điều bấy lâu bị kiềm chế, viết để “để lại bản di chúc cuộc đời” mình
Thơ Phùng Quán ở giai đoạn cuối này là chuỗi tình ca lớn về cuộc đời “Dù chỉ là hình bóng thoáng qua hoặc chỉ cho mà không nhận, tất
cả trong thơ Phùng Quán đều là hình ảnh của cuộc đời úp mặt và tất cả cũng
là trái tim tươi đỏ của ông trước một kiếp người bị đời phụ Tình ca của Phùng Quán là tiếng kêu đoạn trường của một con người tự cảm thấy bị xúc phạm và kêu đòi quyền được sống có nhân phẩm của nó”( Hoàng Phủ Ngọc
Tường) Tiêu biểu cho loại tình ca này là tiểu thuyết tình 13 chương Trăng
Hoàng Cung – tập thơ van xuôi hay nhất và kỳ lạ nhất của Phùng Quán Ông
thuật lại một bi kịch tình yêu và đinh ninh nhắc lại rằng, xưa ông là một người lính xạ thủ của trung đoàn và lời tỏ tình của ông bây giờ cũng phải thật giống cái ông đã bắn Ở tập thơ này, ông kết hợp văn xuôi với thơ Văn xuôi vừa như lời dẫn dụ vào thơ, nhưng đồng thời lại cũng chính là thơ với nhiều chi tiết, tâm trạng quan niệm được chắt lọc từ cuộc đời từng trải và
đầy cay đắng của ông Tác giả Trăng Hoàng Cung tuyên bố, tác phẩm này
“có tính thơ văn xôi đỗ: Nó xuất xứ từ những bài thơ tình tôi viết tặng mối tình si mê, mộng tưởng và trong cơn say bất tận Đến khi tỉnh mộng, tỉnh mê… và đã cách xa nàng ngàn dặm, tôi đọc lại, thêm vào những lời chú
Trang 21giải… và thế là tự nhiên, không khiến cuốn tiểu thuyết hình thành” Có nhà nghiên cứu cho rằng Trăng Hoàng Cung là “thơ văn xuôi”, “thơ tự do” Thể
tài thì “kỳ cục” nhưng hình thái “kỳ cục” ấy lại có khả năng chứa đựng một nội dung thơ kỳ diệu không chỉ trong những bài thơ tình xen kẽ mà tồn tại
cả ở những trang viết có cấu trúc ngôn ngữ hoàn toàn văn xuôi chan chứa ý
vị thơ Ví dụ: Chương 1: Tôi chỉ viết trên giấy có kẻ dòng; Chương 4: Chán
chộ; Chương 5: Mưa Huế; Chương 7: Trăng Hoàng Cung…
Văn xuôi Phùng Quán là những trang văn được chắt ra từ mồ hôi, nước mắt, từ sự trải nghiệm của bản thân và được viết bằng cả tấm lòng thiết tha, bằng sự say mê và tâm huyết của ông với cuộc đời, với con người Bị tước Hội tịch, Phùng Quán đã quyết tâm phải in bằng được một tác phẩm
mà tác phẩm này phải nói lên được một điều: “Tôi là Vệ quốc đoàn, tôi chưa bao giờ là tên phản động” Đây là động lực thúc đẩy Phùng Quán quyết tâm
viết cho kì được Tuổi thơ dữ dội, bởi đó là tác phẩm thanh minh cho sự
trong sạch của ông Dự định đó được thực hiện trong những khó khăn về cả vật chất lẫn tinh thần, nhưng nó đã được viết trong sự quyết tâm cao, trong niềm tin và nước mắt… Sau này, khi được hỏi về kỷ niệm của một thời quân ngũ, Phùng Quán nói: “Đối với tôi, những năm mặc áo lính luôn luôn là một thời đáng nhớ nhất, sôi động cực nhọc mà hào sảng mê say Nhờ trời, tôi có trí nhớ khá tốt, những gì khó quên nhất của cái thủa cầm súng ấy tôi đã viết
lại trong Tuổi thơ dữ dội” Đó chính là nguồn cảm hứng, là động lực thúc
đẩy Phùng Quán viết cuốn tiểu thuyết để đời
Tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội đã được ấn hành và tái bản nhiều lần
với hàng chục ngàn bản sách, được đông đảo bạn đọc yêu thích Đây là một trong những tác phẩm tiêu biểu viết về đề tài kháng chiến Tác phẩm được chắt ra từ mồ hôi, nước mắt, từ xương thịt, từ tâm hồn cao đẹp và từ tất cả
sự say mê, tâm huyết của nhà văn Chính trong tác phẩm này, Phùng Quán
Trang 22đã nói được điều mà suốt đời ông tâm niệm: “Tôi là Vệ quốc đoàn, tôi chưa bao giờ là tên phản động” Tác phẩm được viết bằng toàn bộ ký ức tuổi thơ
dữ dội của nhà văn với một văn phong độc đáo, tạo nên dấu ấn riêng cho tác giả Đây cũng là tác phẩm văn xuôi thành công nhất của Phùng Quán, thể hiện rõ nhất con người và năng lực văn chương của ông Tác phẩm là kết quả của gần 20 năm lao đông miệt mài từ khi khởi thao bên bờ Hồ Tây năm
1968 đến lúc hoàn thành trong lều cỏ giữa hồ Tịnh Tâm năm 1986 Nhân vật Mừng - nhân vật chính của tác phẩm – đã được Phùng Quán gửi gắm rất nhiều tâm sự Mừng một Vệ quốc đoàn 13 tuổi, bị tình nghi là gián điệp - Việt gian Chính mẹ em, khi trút hơi thở cuối cùng, cũng tưởng em là Việt gian, Mừng muốn thanh minh với mẹ nhưng không kịp Em vừa khóc vừa
kêu la tuyện vọng, lặp đi lặp lại một câu: “Con không phải là Việt gian! Con
là Vệ quốc đoàn!”
Như vậy, Tuổi thơ dữ dội ra đời là một trong ba dự định lớn nhất
trong suốt cuộc đời vất vả, khó nhọc của Phùng Quán Tác phẩm ra đờii là một trong những thành công lớn nhất của ông và cũng là một trong những tác phẩm văn học tiểu biểu viết cho thiếu nhi về đề tài kháng chiến trong
thời kỳ đổi mới Tuổi thơ dữ dội là cuốn sách đầu tiên Phùng Quán in công
khai bằng tên của mình sau 30 năm viết chui Đó là một phần máu thịt của
đời ông, ông gọi đó là “bản di chúc chiến sĩ của tôi” Từ Vượt Côn Đảo khi mới chập chững vào nghề đến Tuổi thơ dữ dội lúc gần cuối đời, Phùng Quán viết như tâm nguyện: Một niềm yêu tôi không đổi thay - Một niềm tin tôi
không thay đổi để nghiến răng gìn giữ đến cùng Trái tim thơ trong sạch và gương mặt thơ bi thiết của mình
Phùng Quán đã để lại một tấm gương lao động sáng tạo nghệ thuật hết mình Biết bị mắc phải chứng bệnh hiểm nghèo “xơ gan cổ trướng”, nhưng ông vẫn viết trên giường bệnh, viết cho đến hơi thở cuối cùng Giống
Trang 23như một chiến sĩ nghĩa khí cao cả nơi chiến địa, dẫu tử thương vẫn nẵm chắc
vũ khí, không xa rời vị trí chiến đấu Trên giường bệnh nan y, Phùng Quán tiếp tục viết kịch bản phim cho đạo diễn điện ảnh tài năng Huy Thành:
Chiếc cối giã trầu bằng thép; kể chuyện mẹ Hồ Thị Vang, người Vân Kiều
ở Thừa Thiên có thành tích đặc biệt trong công tác đặc biệt trong công tác nuôi dưỡng hàng binh lê dương Âu Phi, cuối cùng, bà mẹ bị giặc sát hại một cách thảm hại (thiêu sống) Phùng Quán hoàn thành phần một kịch bản và trao cho đạo diễn Huy Thành Do bụng bị trướng to, ngồi vướng víu khó làm việc, nhà văn phải nằm để viết: dùng bút chì tỳ lên một tờ giấy kê trên (thực
ra là đặt ở phía dưới) một tấm ván gỗ treo nghiêng nghiêng như mặt bàn đặt
úp phía trước mặt Phùng Quán nằm sáng tác như thế kéo dài được khoảng hai tháng Căn bệnh hiểm nghèo đã đưa ông đi khỏi “quán trọ hành tinh” này để bước sang một thế giới khác
Có lẽ, nếu Phùng Quán không đau đời, thì rất có thể ông không thể có những trang văn và những câu thơ thấm thía, sâu sắc đến thế Trời thật công bằng Số mệnh Phùng Quán vất vả cay đắng bao nhiêu thì trời trả lại cho ông những trang viết tuyệt diệu bấy nhiêu Từ những sáng tác văn xuôi đến những sáng tác thơ, Phùng Quán đều nhất quán trong quan điểm: viết một cách trung thực, thành thật với cuộc đời và với chính bản thân mình
Trang 24Chương 2
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI
2.1 Khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người
“Văn học là nhân học” ( M.Gorki) Quan niệm nghệ thuật về con người được định nghĩa: “Là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành những nguyên tắc, phương tiện, biện pháp hình thức thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nghệ thuật trong đó”[28.43]
Quan niệm con người cung cấp mặt bằng để trên đó diễn ra sự lựa chọn, khái quát, tạo ra hình tượng nghệ thuật Hình tượng nghệ thuật về con người trong tác phẩm là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, gắn với quan niệm phong cách nghệ thuật nhưng cũng là con đẻ của thời đại “ Mỗi thời đại văn học, do yếu tố chính trị, xã hội do cả tầm vóc và nhận thức của chính nó cũng đưa ra một quan niệm, một kiểu tư duy nghệ thuật về hiện thực và con người nhằm chiếm lĩnh thực tại một cách hiệu quả”[1.17] Thời đại văn học mới bao giờ cũng ra đời những con người mới và miêu tả những con người
ấy làm văn học đổi mới Do đó, sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người là cơ sở quan trọng của sự vận động văn học Quan niệm nghệ thuật về con người không chỉ cung cấp một điểm xuất phát để tìm hiểu nội dung của một tác phẩm văn học cụ thể mà còn là cơ sở để nghiên cứu sự phát triển, tiến hóa của văn học
Hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc đã tập hợp, gắn kết mỗi cá nhân trong cộng đồng hòa mình vào cuộc sống chung hào hùng của đất nước, đồng thời thức tỉnh ý thức công dân, tinh thần dân tộc trong mỗi người Văn học 1945- 1975 được xây dựng, phát triển trên nền tảng tư tưởng
ấy Nó thể hiện con người công dân, con người sử thi tập thể, con người được đánh giá ở phương diện giai cấp, xã hội hơn là phương diện đời tư, cá
Trang 25nhân Các hướng chủ đạo của văn học tập trung vào việc đề cao độc lập dân tộc, phản ánh toàn diện cuộc chiến tranh giữ nước Tư tưởng nhà văn nhất quán với nhiệm vụ chung của dân tộc
Có thể nhận thấy, quan niệm nghệ thuật về con người của văn học thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp chủ yếu là con người quần chúng Với phương châm của cuộc kháng chiến là “toàn dân, toàn diện” nên đã biến họ thành đoàn quân thống nhất Vì văn học phục vụ kháng chiến nên con người với tư cách công dân hoạt động trong cộng đồng là đặc điểm quan trọng của thời kỳ này.Con người thường mang những tình cảm lớn, tình yêu nước, tình đồng chí, tình quân dân… những khía cạnh riêng tư trong đời sống ít được
đề cập tới Văn học thời kỳ này “quan niệm vẻ đẹp của con người gắn với
“tinh thần và lực lượng kháng chiến”, với “sự nghiệp kháng chiến kiến quốc”, với ý chí và nguyện vọng của nhân dân đang kháng chiến, với “sinh hoạt kháng chiến của dân tộc”[10.32,33]
Văn học giai đoạn này dù ở thể loại nào, thơ hay văn xuôi đều tập trung biểu hiện những tình cảm cộng đồng và tinh thần công dân mà bao trùm là tình yêu nước với những biểu hiện phong phú, thấm sâu vào mọi mặt trong đời sống của con người kháng chiến
Sang thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, trước những thử thách cam
go, trước vận mệnh sống còn của dân tộc, văn học góp phần khích lệ, động viên chiến thắng nên cảm hứng ngợi ca và quan niệm về con người anh hùng phát triển Ở thể loại thơ, thơ ca tập trung thể hiện niềm vui và niềm tự hào lớn lao về chiến thắng và hòa bình Bên cạnh việc tái hiện những kỷ niệm tươi nguyên của kháng chiến, hình ảnh, những con người kháng chiến cao đẹp, nhiều tác giả hướng tới những bài thơ có tính khái quát rộng Tố Hữu
với Ta đi tới và Việt Bắc, Nguyễn Đình thi hoàn thành Đất Nước, Trần Dần
có bài thơ dài Cách mạng tháng Tám…Xét riêng thể loại văn xuôi, cuộc
Trang 26kháng chiến chống thực dân Pháp vẫn là đề tài thu hút được nhiều cây bút và
có những thành công như Vượt Côn Đảo của Phùng Quán, Một chuyện chép
ở bệnh viện của Bùi Đức Ái, Sống mãi với Thủ đô của Nguyễn Huy
Tưởng… những tác phẩm ở thời kỳ này làm sống lại hình ảnh của cuộc kháng chiến trường kỳ và anh dũng của toàn dân ở nhiều địa phương, trên nhiều mặt trận, những chiến công to lớn và cả những hy sinh thầm lặng Nhiều tác phẩm đã gây dựng được những hình tượng đẹp, điển hình về nhiều tầng lớp, nhiều thế hệ con người Việt Nam trong kháng chiến Nhân vật trung tâm của thời kỳ này là con người sử thi tiêu biểu cho ý chí chiến
đấu và quyết thắng của cả dân tộc, tiêu biểu là nhân vật Núp trong Đất nước
đứng lên, chị Tư Hậu trong Một chuyện chép ở bệnh viện
Sau 1975, văn học nói chung có những bước chuyển mình Con người được đặt trong môi trường đa dạng, nhiều chiều của thời bình Con người được quan tâm đến như một số phận, một cá nhân riêng biệt “Khi những biến đổi xã hội luôn tác động đến cuộc sống, số phận của con người đổi thay, những vấn đề thế sự nhân sinh luôn đặt ra những câu hỏi và dày vò lương tâm mỗi con người thì người viết cũng phải có thái độ và suy nghĩ thích hợp”[12.43] Con người được khám phá về mọi mặt số phận, nhân cách, khát vọng, cả hạnh phúc và bi kịch
Những sáng tác của Phùng Quán nằm trong giai đoạn từ 1954 cho tới sau 1980 Vì thế mà quan niệm nghệ thuật về con người biểu hiện rất phong phú và đa dạng, từ con người của cái ta chung ,con người anh hùng cách mạng cho tới con người cá nhân trong thời bình
Trang 272.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Phùng Quán
2.2.1 Con người yêu nước
Con người yêu nước là hình tượng quen thuộc trong văn chương
Đó là những con người có lòng tự hào dân tộc, yêu tha thiết quê hương xứ
sở, sẵn sàng hy sinh anh dũng vì đất nước Bên cạnh cách nhìn nhận và biểu hiện quen thuộc, Phùng Quán cho thấy nhiều nét độc đáo trong quan niệm nghệ thuật về con người yêu nước
Nói tới con người yêu nước trước hết là con người chiến đấu, hy sinh anh dũng cho đất nước Trong sáng tác của Phùng Quán sự chiến đấu,
hy sinh nào cũng đượm màu huyền thoại
Xuất phát từ lòng yêu tổ quốc, đồng bào:
Yêu tổ quốc tha thiết Yêu Bác, yêu nhân dân Sáu không thể ngồi không Đợi ngày đưa đi bắn ( Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo)[31.49]
chị Sáu đã “làm cách mạng, đến chết vẫn không thôi” Người con gái anh hùng gan dạ đến lạ lùng, ung dung trước cái chết:
Phủ trùm lên đôi mắt lóng lánh đen Sáu hất đầu tóc lõa xõa bay lên
Và giận giữ quất vào mặt chúng nó:
- Bắn tao đi! Tao không bao giờ sợ
Tao mở mắt to để nhìn luồng đạn chúng mày Bắn tao đi! Mắt tao, ngực tao đây!
Bọn giặc rùng mình run tay súng ( Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo) [31.55]
Trang 28Những người tù trong Vượt Côn Đảo đan thuyền, đào hầm giấu
thuyền “ đêm nào cũng đào từ bảy giờ tối đến mười hai giờ đêm… ban ngày làm việc khổ sai quần quật, ban đêm đào hầm, ăn lưng lẽo nửa bụng nhưng tất cả đều vui vẻ phấn khởi hơn bao giờ hết…Qua gần năm tháng đã làm xong chiếc thuyền Hai chiếc đã cạp xong nằm yên trí dưới hầm giải phóng,
ba chiếc năm trên đủ khung, sạp, lạt, mây khi nào đi chỉ cần hai tiếng đồng
hồ là cạp xong” Trong điều kiện vô cùng thiếu thốn, nhưng người tù đã mưu trí khắc phục khó khăn Sức mạnh tinh thần đã cho họ quyết tâm, niềm hăng say làm việc, chiến đấu “ Chúng ta có chí căm thù như lửa cháy đã nung đốt đầu óc suốt một năm nay, các đồng chí ở lao cấm cố, tử hình, 9000 đồng chí đã bị giặc giết ở đảo, tất cả người sống, người chết đều trông cậy vào ta”
Trong chuyến vượt ngục, nhiều chiến sĩ tự nguyện nhảy xuống biển hy sinh để nhường lại cơ hội sống cho đồng đội như anh Chức, anh
Bằng, lão Học… “ cách hai mươi thước, chiếc thuyền gủi lại bể một đồng chí, thành đội hình hàng dọc” Những người cuối cùng trốn được lên hòn Bà cũng bị bắt Có chiến sĩ “ lao đầu xuống vực, xác nát vụn, máu đỏ hòa vào lòng vực” để phản đối đòi giặc không được đánh đập anh em Chuyến vượt biển không thành, nhiều chiến sĩ hy sinh anh dũng Nhưng tất cả để lại một câu chuyện làm xúc động biết bao thế hệ về những người chiến sĩ cách mạng luôn tranh đấu không mệt mỏi với một tinh thần bất khuất và sức
mạnh phi thường
Trong Tuổi thơ dữ dội, những thiếu niên vô cùng quả cảm và anh
dũng, hy sinh cả tuổi thơ hồn nhiên, vô tư cho đất nước Con đường đến với cách mạng mỗi nhân vật là một câu chuyện khác nhau Trước khi vào Vệ Quốc Đoàn, Hòa đen làm nghề đậu phụ nóng rang ròn Bồng ban bánh mì từ năm mười tuổi Một hôm, thừa lúc tên lính Tàu say rượu, Bồng nẫng luôn
Trang 29khẩu “tôm-sơn” tuồn vào bị bánh mì rồi đi thẳng đến đơn vị Vệ Quốc Đoàn đóng ở cung An Định nộp súng và xin tham gia cách mạng vì “em chán cái kiếp đi ở cho người ta lắm rồi”[33.60] Tư dát, cái miệng liến láu suốt ngày, hay làm trò hề chọc vui cả đội đã làm một việc liều lĩnh nhất đời Trên đường đi học về, cậu ghé vào Ga Lớn xem tàu, vào đúng hôm đoàn tàu chở
Vệ Quốc Quân Nam tiến Trên các toa tàu căng đầy khẩu hiệu, biểu ngữ
“Nam bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam”, “ thà chết không quay lại đời nô lệ” từ các toa tàu vang lên tiếng hát “Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu…Xếp bút nghiên coi thường công danh…” Cậu liền ném cặp sách xuống sông nhảy theo tàu Vệ đi diễn trong một gánh xiếc rong, nhà trọ của chủ em bị trúng đạn giặc, em được Vệ Quốc quân cứu Chỉ huy đơn vị nhận Vệ làm liên lạc Kể từ đó, em tham gia kháng chiến, sau được chuyển về đội thiếu niên trinh sát
Vịnh sưa mồ côi cha từ nhỏ, mẹ đi lấy chồng, cậu ở với bác ruột, nhưng thường xuyên bị đánh đập như người ở Mới lên chín, lên mười mà cậu phải làm việc quần quật từ sáng đến tối Bác trai cậu xin cho làm ở nhà máy điện Huế Một đơn vị vệ quốc đoàn đóng quân ở khu vực nhà máy, lúc rảnh Vịnh thường giúp các anh việc vặt, đúng lúc đơn vị đang thiếu một chân chạy giấy tờ, chính trị viên ngỏ ý muốn tuyển cậu Vịnh không ngờ hạnh phúc ấy lại đến với mình
Hoàn cảnh gia nhập Vệ Quốc Đoàn của Mừng lại rất trẻ con Muốn tham gia kháng chiến, nhân lúc các đội viên mải chơi đùa không để ý, Mừng chui bừa vào đứng giữa hàng Khi bị phát hiện, cậu xin nhảy cầu với một điều kiện “ Em mà nhảy được, anh cho em vào đội với anh hỉ”[33.17] Mừng nhảy cầu giỏi lại nói rằng mình không còn ai thân thích Thương cảm trước hoàn cảnh của em các chỉ huy cho mình ở lại đội
Trang 30Quỳnh tham gia Vệ Quốc đoàn vì những bài hát cách mạng Nghe
âm thanh vang rộn của những bài hát, em muốn đi theo cách mạng Thế là
em trốn nhà, đi thẳng đến đơn vị Vệ Quốc đoàn, gặp chỉ huy, xin gia nhập đội Quỳnh được nhân vào đội làm liên lạc và dạy hát cho các anh
Hoàn cảnh ra nhập Vệ Quốc đoàn mỗi em mỗi khác nhưng đều cùng mục đích là làm cách mạng, cùng chiến đấu và lí tưởng sống, hòa mình vào không khí chung của dân tộc Song mỗi em đều có những tâm sự riêng
về gia cảnh, về người thân Mừng yêu mẹ vô cùng, hàng ngày cậu vẫn đi tìm
lá cây thuốc trên những ngọn cây bút bút cao nhất thành phố, hy vọng sẽ chữa khỏi bệnh hen cho mẹ Vì nhỏ quá mà Vệ không nhớ được quê quán của mình ở đâu và không nhớ cả mặt cha nhưng “cái mùi vôi nồng nặc trên quần áo cha sau mỗi chiều đi làm về thì cho tới bây giờ nó vẫn còn ngửi thấy”[33.46] Lượm luôn tự hào về người cha thân yêu đã bỏ nghề dạy học
để hoạt động chính trị cộng sản Bị bắt, tra tấn dã man nhưng ông không xưng khai, rồi bị bắn chết ở Côn Lôn, khi đó cậu mới hai tuổi
Như vậy, từ con đường đến với cách mạng của các nhân vật cho thấy, ở thời điểm lịch sử này, ngay cả trẻ nhỏ cũng mang sứ mệnh cao cả cùng người lớn chiến đấu bảo vệ tổ quốc
Một thế hệ đã hy sinh tuổi thơ để đất nước đứng lên Cậu bé Vịnh
bị lạc, rơi vào sào huyệt của địch, cậu ra một quyết định táo bạo “trèo lên nóc lầu, dùng cờ tín hiệu báo cho đài quan sát bí mật của cậu Hiền biết về kho xăng đạn núp kín dưới chân ngôi lầu này…Nếu đài quan sát nhận được tin mình đánh về, chắc chắn ban chỉ huy mặt trận phải cho ca nông mooc-chê rót vô đây, hoặc cho Quyết tử quân mang bom vô đánh Một cái kho xăng dạn to ra ri, đánh trúng thì tha hồ mà cháy, mà nổ! Cả ba đời dòng họ tụi Tây kéo đến đây dập cũng đừng hòng mà tắt”[33.117] Vịnh trèo lên nóc ngôi lầu, buộc chặt mình vào cột thu lôi, rút hai cờ tín hiệu cầm tay Cậu đưa
Trang 31hai lá cờ lên, hướng về đài quan sát bí mật, đánh bức điện mà mình đã tính toán sao cho rõ, ngắn và thật chính xác: “Một kho xăng, đạn lớn ngay phía sau ngôi lầu tôi đứng Yêu cầu bắn”[33.120] Vịnh đang đưa cao hai lá cờ bắt chéo trước ngực ra hiệu dứt câu, bỗng đột ngột buông thõng hai tay xuống như bị chém xả hai vai Từ phía quan địch tiếng súng rộ lên từng tràng kéo dài tưởng chừng không bao giờ dứt Người chiến sĩ thiếu niên hy sinh, đứng cao lồng lộng giữa bầu trời Huế Bức điện đánh đổi cả cuộc đời của người thiếu niên anh dũng Tối hôm đó, cả mặt trận thành Huế rung lên trong tiếng gầm nổ dữ dội của súng đạn cầu vồng, kho xăng, vũ khí của địch
bị phá “một cột lửa đỏ khé vụt dựng lên chính giữa trung tâm khu vực Pháp đóng” [33.129]
Sự hy sinh của Vịnh làm ta khâm phục, còn với Mừng cậu ngã xuống làm người đọc nghẹn ngào Kháng chiến đang đến hồi ác liệt, tin của các chiến sĩ trinh sát từ tiền chiến khu đưa về cho biết bọn giặc đang sửa soạn một trận tấn công quyết định vào các Xê ca Ban chỉ huy trung đoàn quyết định tổ chức một trận phục kích bằng địa lôi lớn nhất và dữ dội nhất
từ trước tới nay vào bãi trống trên đường vào Xê ca Bảy, ở đó có đài quan sát cây Quao Trong lúc nước sôi lửa bỏng này, Mừng đang bị mọi người hiểu nhầm là Việt gian Cậu vô cùng đau khổ Sau cái chết của mẹ, Mừng như mất hồn, chạy lại chỗ chôn cất người mẹ tội nghiệp và qua đài quan sát Cậu chứng kiến cái chết đau đớn của những người bạn bị đạn pháo của giặc bắn, hất tung từ đài quan sát xuống Lúc này chỉ có người đội trưởng còn sống, đang bị thương nặng, anh giao nhiệm vụ cho cậu trèo lên đài quan sát tiếp tục báo tình hình địch Tiếng máy bay, tiếng đại bác, tiếng đạn gầm rú, xác đồng đội nằm ngổn ngang, tiếng chuông điện thoại dồn dập “đã làm cho khí phách chiến sĩ lúc xung trận của em sống dậy” Mừng thoăn thoắt trèo lên điểm cao Dù bị thương ở hông, ở chân nhưng cậu vẫn cố hết sức quan
Trang 32sát và báo cáo chính xác tình hình cho chỉ huy Khi địch đã tới điểm phục kích, trung đoàn trưởng ra lệnh nổ mìn, tiếng nổ rung chuyển trời đất, trận địa mìn đã làm tanh bành hơn hai đại đội của giặc Đó cũng là lúc tiếng người chiến sĩ trinh sát thiếu niên vang lên trong ống nghe yếu ớt nhưng rành rọt: “Anh ơi, anh đừng nghi em là Việt gian nữa anh hí!” Đến phút cuối Mừng muốn được minh oan mình trung thành không phản lại cách mạng
Cái chết của cậu bé Quỳnh gây chấn động sâu sắc, dữ dội trong lòng các đội viên thiếu niên trinh sát Quỳnh từ chối tiếp tế và lời thuyết phục trở về cuộc sống sung túc của gia đình Những giây phút cuối đời em
là một bài ca bất tử Trong lúc cúi gập người để chống chọi với cơn sốt rét đang tràn ngập cơ thể, như có một sức mạnh ghê gớm từ bên trong thúc đẩy, Quỳnh vụt ngồi thẳng dậy, rướn người lên hết sức như sợi dây đàn Hết sức bất ngờ em cất cao tiếng hát, chính bài hát của em “ Sông Ô Lâu kháng chiến” “Cặp mắt em mở to, sáng long lanh như có lửa cháy bên trong…khi hát đến câu cuối cùng…toàn thân em run bắn, cặp măt em mở to bỗng dại
đi Ánh lửa cảm hứng trong đáy mắt em vụt tắt ngấm như một ánh chớp Và
em ngã nhào từ trên sạp nằm xuống đất…Một dòng máu đỏ ngắt từ trong miệng trào ra, giàn giụa trên vành môi mở he hé của em” Một cơn xốc tình cảm quá căng thẳng, quá mãnh liệt làm vỡ tim em
Con người yêu nước trong sáng tác của Phùng Quán là những con người bình thường nhưng hành động dũng cảm lạ thường bởi trong mỗi con người ấy có lòng yêu nước mãnh liệt, trong sáng Con người yêu nước có mọi lứa tuổi, nhưng đặc biệt hơn cả là những chiến sĩ nhỏ tuổi như những
chiến sĩ trinh sát trong Tuổi thơ dữ dội Phùng Quán không chỉ ngợi ca
những thiếu niên anh dũng mà còn cho thấy bộ mặt thật của chiến tranh, tội
Trang 33ác của những kẻ xâm lược khiến trẻ thơ “buộc trở thành người lớn” trong suy nghĩ, hành động
Tuy nhiên không phải sự hy sinh, cống hiến nào cũng được ghi
nhận, có khi bị hoài nghi và lãng quên Trong bút ký Bản anh hùng ca bị
mối xông và mười bảy bộ hài cốt, nhân vật Tôi- một chiến sĩ trinh sát nhỏ
tuổi, sau ba mươi năm kể về trung đội cảm tử của trung đoàn Trần Cao Vân Năm đó trung đội “siêu cảm tử” của trung đoàn được giao nhiệm vụ đánh chiếm nhà hàng Sáp-phăng-giông vào ban đêm Địch quá mạnh, toàn mặt trận phải rút ra ngoài Trên đường rút lui trung đội của anh Ngọc bị địch bao vây Cả mặt trận hy vọng các anh có thể cầm cự đến tối để các đơn vị cứu viện Nhưng bọn giặc dã man đã tưới xăng ướt sũng ngôi nhà và kêu gọi các anh đâu hàng, nếu không hàng sẽ bị thiêu ra tro “Chịu chết hay ném súng ra hàng ?” cả mặt trận đang chờ câu trả lời của các anh Đúng lúc ngọn lửa vụt lên từ trong lầu tiếng súng, tiếng lựu đạn nổ vang, ngôi lầu bỗng nhiên đổ sụp xuống trong tiếng nổ rung chuyển Mọi người lúc đó đều phỏng đoán trung đội cảm tử đã hy sinh anh dũng
Nhưng sự thật cụ thể ra sao thì không ai biết “nó đã cùng thân xác các anh cháy thành tro bụi” Ba mươi năm sau, nhân vật tôi trở thành nhà văn viết lại những sự thật anh được chứng kiến về trung đội cảm tử Anh mời bạn bè tới để góp ý thẳng thắn, “không nể nang” cho tác phẩm mà anh
đã “vật lộn với nó đến gần kiệt sức” và anh được góp ý thành thật như mong muốn, nói đúng hơn là anh đã bị họ “phang” tới nơi tới chốn rằng:
- “Anh khẳng định câu chuyện anh kể là người thật việc thật thì tôi không tin Một cá nhân anh hùng, không hạ vũ khí hàng giặc, điều đó có thể xảy ra Nhưng cả mấy chục con người cũng quyết định như vậy, là bịa đặt!”
Trang 34- “Các anh hư cấu các nhân vật tích cực, chính diện, tô vẽ nhằm mục đích nêu gương.”
- “Nhưng bọn giặc chỉ đốt ngôi lầu khi cả trung đội đã ra hàng Chúng đốt để bịt mắt các anh, bảo vệ những người ra hàng chúng… tưởng lầm rằng đồng đội của mình đã chết bất khuất, anh hùng… Trong khi đó, chúng bí mật đưa họ vào vị trí, cho ăn uống, băng bó các vết thương, khai thác tài liệu(…), cho ăn chơi xả láng”
Nhân vật Tôi khao khát chứng minh đội “siêu cảm tử” các anh đã
“sống hào kiệt và chết anh hùng” Nhưng đâu đó có tiếng vọng gay gắt
“Chứng minh để làm gì? Và tại sao cần phải chứng minh? Khi chúng tôi quyết định thà bị cháy trong lửa xăng nhưng quyết không hạ vũ khí… Chúng tôi đâu có ý định làm anh hùng lưu danh muôn thủa! Chúng tôi quyết định như vậy vì Tổ Quốc kêu gọi, vì chúng tôi muốn con, cháu, chút, chít chúng tôi được sống trong danh dự!”.Câu chuyện sau ba mươi năm, không
ai tin đó là sự thật, thậm chí có người còn nghĩ xấu, nghi ngờ vễ những cái chết quả cảm Nhưng rồi mười bảy bộ hài cốt được tìm thấy, gửi lại hậu thế bức thông điệp: “Những chiến sĩ quyết tử cho tổ quốc quyết sinh Chúng tôi khi cần phải chết, chúng tôi đã chết đĩnh đạc, đàng hoàng, chết trong danh
dự, với đội hình chiến đấu” [32.233] Những con người hy sinh anh dũng không phải để lưu danh thật đáng khâm phục biết bao!
Các nhân vật thường được đặt trong những hoàn cảnh, thử thách cam go, những tình huống căng thẳng nghiệt ngã trong chiến tranh để bộc lộ
vẻ đẹp và phẩm chất cao cả của họ Vịnh sưa (Tuổi thơ dữ dội) vô tình lọt
vào căn cứ của địch, phát hiện ở đó là kho xăng, kho vũ khí Làm cách nào
để báo cho ban chỉ huy mặt trận biết? Cậu đã không đắn đo dũng cảm trèo lên điểm cao làm tín hiệu mặc dù biết chắc mình sẽ hy sinh Trường hợp của Mừng, trèo lên đài quan sát thông báo tình hình trong cơn mưa bom đạn
Trang 35là cách duy nhất để chứng minh mình trong sạch, không phải Việt gian Không giống Vịnh và Mừng, câu bé Quỳnh không đối mặt với bom đạn, hiểm nguy Hoàn cảnh đặt cậu trước hai lựa chọn, một là cuộc sống đầy đủ sung túc cùng với người thân, hai là ở lại chiến khu theo cách mạng, thiếu thốn trăm bề trong lúc cậu đang mang trọng bệnh Quỳnh đã chọn ở lại cùng đồng đội nơi có “đứa bạn trèo hết ngọn cây cao thành phố tìm thuốc lá chữa bệnh cho mạ”, nơi có sông Ô Lâu- nguồn cảm hứng âm nhạc bất tận Đội
quân cảm tử (Bản anh hùng ca bị mối xông và mười bảy bộ hài cốt) buộc
phải lựa chọn giữa một bên là sự sống còn, một bên là cái chết trong danh
dự
Phùng Quán miêu tả những con người anh hùng cho nên những hành động của nhân vật bao giờ cũng dũng cảm, mưu trí, quyết liệt Sau khi
vượt ngục thành công, Lượm (Tuổi thơ dữ dội) cùng bạn tù tên Thúi nhanh
chóng trốn thoát Nhưng trên đường trốn chạy, bất thình lình cậu bị Nguyễn Trì một tên chỉ điểm khét tiếng bắt gặp Lượm chĩa súng vào ngực hắn nhưng đạn không nổ Nguyễn Trì lập tức rút súng uy hiếp Lượm Thúi bất ngờ chạy tới lấy hết sức kéo tay cầm súng của tên Việt gian rồi cắn vào tay hắn đến ngập thịt Trong lúc đó Lượm nhanh như cắt lao tới chộp lấy khẩu súng của mình “giật mạnh cơ bẩm cho viên đạn thối văng ra khỏi nòng Nó chĩa súng lên trời bắn một phát thử súng Đoàng! Nó nhảy lên bắn liền ba phát vào giữa ngực Nguyễn Trì Thân hình lực lưỡng của hắn đổ nhào xuống, nằm vắt ngang lên chiếc xe đạp… Với tất cả căm giận dồn nén bấy lâu, Lượm gần như dí sát nòng súng vào mặt tên phản bội, bắn liên tiếp hết
Trang 36phải đi qua khoảng đất trống, không may máy bay địch phát hiện và bắt đầu truy kích ba người Vệ quan sát thấy đường màu đen ngựa cũng màu đen nên cậu cho ngựa nằm ẹp xuống mặt đường Còn chỉ huy trưởng nấp ở bụi cây gần đó Nhưng nơi ẩn nấp của vị chỉ huy bị địch phát hiện và bắt đầu bắn phá bởi con ngựa trắng cao lớn quá hoảng vì tiếng gầm rít của máy bay
đã không chạy mà rúc đầu vào bụi cây đó “cái thân hình trắng toát của con ngựa chuyển động liên tiếp trên nền xanh của lùm cây, đứng xa hàng cây số cũng nhìn thấy” “Không đuổi ngay con ngựa trắng đi thì chỉ huy trưởng nguy mất Ba chiếc máy bay sau cũng đang hằm hè sửa soạn lao xuống” Ý nghĩ đó làm Vệ to đầu quên cả sợ hãi, hiểm nguy Em đứng bật ngay dậy…
Em kẹp chặt đùi vào hông ngựa, nhoài người túm lấy dây cương con ngựa trắng, nghiến răng thật mạnh rồi lôi đầu nó ra khỏi lùm cây Con ngựa hý vang, cất cao cổ, dẫm bốn vó như muốn cưỡng lại Nó tức giận vung báng súng cạc bin quật mạnh vào hông con ngựa, rồi thúc gót con ngựa đen phi ra thẳng đồng tráng, lôi theo cả con ngựa trắng…Vệ vừa phi ngựa vừa ngoái lại nhìn chiếc máy bay Nó cố phi sao cho thật lộ, hút cả lũ máy bay về phía mình…Em càng lúc càng vui vẻ hẳn lên khi thấy mình đã đánh lừa được tụi máy bay giặc…Chờ chiếc máy bay bổ nhào lao thẳng về phía em, em mới nhún mạnh hai bàn đạp, quăng mình như bay từ trên lưng ngựa xuống cái rãnh giữa hai vồng khoai”.[33.161]
Viết về những con người yêu nước đấu tranh và hy sinh anh dũng, cảm hứng của Phùng Quán chủ yếu là ngợi ca con người thời đại Vì thế hình ảnh của những anh hùng, dũng sĩ bao giờ cũng đẹp, sống chiến đấu đẹp
Trang 37Bọn lính giặc như mê Trợn mắt nhìn cô gái Sắp chết mặt vẫn tươi rói Môi không tắt nụ cười ( Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo)[31.46]
“ Hái bông hoa ven rừng…cài lên mái tóc” là hình ảnh điển hình
về người con gái Đất Đỏ do Phùng Quán sáng tạo nên
Cái chết của Vịnh: “Thân hình trần trụi, nhỏ bé mà lẫm liệt của người chiến sĩ thiếu niên đứng chon von trên đầu bọn giặc nước cùng với cây cột thu lôi mỗi lúc càng thêm lộ rực rỡ trên cái nền đỏ chói chang dữ dội
ấy, tưởng như chính lửa đã tạc nên…”[33.129]
Vệ to đầu đi trên dây điện để cắm cờ: “…chênh vênh lơ lửng giữa những vì sao và ánh chớp đạn đầy trời Em tiến thẳng tới đích trong tiếng súng, tiếng lựu đạn, tiếng bom mìn, tiếng hô thét xung phong của cả mặt trận”.[33.134]
Trong giai đoạn kháng chiến bi tráng, quyết liệt nhất, Quỳnh là hiện thân của ý chí, hoài bão của những người cách mạng Em quyết tâm sáng tác
vở nhạc kịch kể chuyện Mừng đi tìm thuốc chữa bệnh cho mẹ Không dậy được “ em nằm tùm hum trên sạp nứa, người đắp cái bao tai đen thui như giẻ chùi chân, ghé sát mặt bên khuôn sổ nhỏ xíu, cắm cúi viết nhạc lên lá cây, đôi môi nhỏ như còn thoảng mùi sữa mẹ, tái nhợt vì thiếu máu, thiếu dinh dưỡng , đang mấp máy khe khẽ một điều gì đó”[33.590]
“Buổi sáng trước lúc rời doanh trại ra mặt trận, cả khu lầu bỗng chốc tràn ngập tiếng hát tươi non mà không kém phần hùng tráng của đoàn quân tí hon Các em hát say sưa, hào hứng và tưởng như những lời hát sục sôi nghĩa khi, hào hùng, quyết liệt đó đang nói về các em: “… lạnh lùng vung gươm ra sa trường… quân xung phong nước non đang chờ…là trang
Trang 38nam nhi…quyết chiến sa trường…sống thác coi thường…”[33.77] Khắp
chiến khu đều rộn vang tiếng hát
Trong trạm quân y, tiếng hát của Quỳnh vẫn ngân vang, quyến rũ
Âm nhạc cách mạng sục sôi nghĩa khí cuốn hút các anh thương binh, các chị
y tá, hộ lý, đến bác sĩ khắp trạm quân y Họ đến vây quanh em và cùng cất
vang tiếng hát hòa theo Anh thương binh bị thương rất nặng, đang hấp hối
tự nhiên tỉnh táo hẳn lại: “…Ánh mắt anh như ánh lửa xao xuyến, rung rinh
sắp lụi tắt, trân trân theo dõi bàn tay con nít trắng xanh của chú bé chiến sĩ
múa lượn trên dãy bàn phím trắng, đen lấp lóa Miệng anh he hé như muốn
uống cạn tiếng đàn …”[33.150]
Khắc họa hình tượng con người hy sinh vì đất nước, Phùng Quán
cho ta thấy vẻ đẹp và phẩm chất cao cả của con người Việt Nam Bên cạnh con người sẵn sàng chiến đâu hy sinh vì đất nước, ca ngợi
tổ quốc, tự hào dân tộc là đặc điểm nổi bật của con người yêu nước trong
sáng tác của Phùng Quán sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi Nhân vật
trữ tình say sưa ca ngợi đất nước:
Bạn hãy đi qua một vạn con sông, một vạn trái đồi Thấy một Tổ quốc giang tay ôm biển lớn
Việt Bắc, Trường Sơn núi cao, rừng rậm Đồng Tháp Mười thẳng cánh cò bay…
Các chị các anh thân mến ơi Tôi muốn mời đến tổ quốc tôi (Tôi muốn mời đến Tổ quốc tôi)[33.74]
Lòng yêu nước còn được thể hiện ở lòng tự hào đất nước, dân tộc
gắn với tinh thần làm chủ.Hình ảnh đất nước như thế ta cũng bắt gặp trong
Đất nước của Nguyễn Đình Thi: “Trời xanh đây là của chúng ta/ Núi rừng
Trang 39đây là của chúng ta”, hay trong thơ Tố Hữu: “Của ta trời đất đêm ngày/ Núi kia, đồi nọ, sông này của ta”, “Mây của ta, trời thắm của ta”
Độc đáo và đặc biệt hơn cả là nhân vật trữ tình tụng ca cỏ cây đã
làm nên và bảo vệ đất nước, trong Trường ca cây cà:
Trong trái cà lao lực khiêm nhường
Ẩn giấu tiềm tàng Cái bền gan của Đất Trí khôn của Nước Cái ngoan cường không khuất của Cây Sức mạnh của những gì rất thật
Tấm lòng thơm thảo của Dân ( Trường ca cây cà) [31.184]
Cây cà từ câu chuyện Thánh Gióng đã cho thấy sức mạnh của dân tộc Việt Nam: “Ăn hết bẩy nong cơm/ Ba nong cà/ Chú bé không cha làng Phù Đổng/ Đứng dậy vươn vai/ Thành Thánh Gióng/ Người cứu nước khổng lồ”, đến cây cà xứ Nghệ: “Người Nghệ ưa vắn tắt/ Đánh Pháp hết chín vại cà/ Đánh Mỹ hơn hai chục vại/ Bù đi bù lại/ Đánh bại hai đế quốc to/ Hết ba chục vại cà!” [31.185]
Hay cây cỏ rười anh hùng gắn bó thân thuộc và che chở người dân miền biển:
Cây cỏ rười chỉ mọc trên cát mặn Nhà ngư dân lợp cỏ thay tranh Bếp ngư dân cỏ cho lửa ấm
… Không có cỏ rười không xây nổi hầm trong cát Vách công sự, cỏ ngăn cát lấp
Hầm du kích cỏ trải chiếu nằm
Trang 40Bom nghìn bảng Anh bê tông vỡ dập Hầm cát cỏ rười không chuyển rung…
… Tôi ví người tận trung với nước
Là cây cỏ rười!
(Cỏ rười) [31.125,126]
Niềm tự hào của con người với cả cỏ cây, chúng bé nhỏ mà làm nên chiến tích lớn lao, qua đó còn cho ta thấy sự gắn bó mật thiết giữa con người và thiên nhiên
Nhân vật trữ tình trong thơ cũng có khi là hiện thân của tác giả Con người ca ngợi tổ quốc trong thơ Phùng Quán cho thấy một tấm lòng tha thiết yêu quê hương đất nước của chính nhà thơ, niềm tự hào dân tộc của người nghệ sĩ được đứng trong hàng ngũ của người chiến sĩ chiến đấu bảo
vệ tổ quốc như Thu Bồn đã khẳng định: “Thơ Phùng Quán từ khi anh có mặt trong hàng ngũ những nhà thơ lớn chưa có nửa chữ nào phản lại nhân dân” [22.133]
2.2.2 Con người với lí tưởng sống cao đẹp
Con người đúng nghĩa luôn sống có lí tưởng, nó gắn với mục đích sống đẹp và cao cả Sẽ không có một xã hội phát triển nếu con người sống không mục đích và cũng không có một cuộc sống tốt đẹp nếu con người sống không có lí tưởng Con người ở mỗi thời điểm lịch sử có lí tưởng sống
khác nhau Từ ấy của Tố Hữu , xuất hiện con người lần đầu tiên bắt gặp lí
tưởng cách mạng, ở đó người thanh niên trẻ tuổi nguyện gắn bó, trở thành ruột thịt với mọi người, nhất là những người nghèo khổ, phôi pha: “Tôi muốn là con của vạn nhà/ Là em của vạn kiếp phôi pha/ Là anh của vạn đầu