Tức, quan niệm nghệ thuật về con người sẽ đi vàophân tích, mổ xẻ đối tượng con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học của tá
Trang 1QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG THÁNG 8/1945 ĐẾN NAY
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù rất quan trọng, được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong thi pháp học Mặc dù hiện nay, khái niệm này chưa được các nhà nghiên cứu định nghĩa một cách thống nhất và chặt chẽ, nhưng nó đã phần nào gợi mở cho chúng ta hướng đến đối tượng chủ
yếu của văn học Theo đó, “Văn học nghệ thuật là một sự ý thức về đời sống, nên nó mang tính chất quan niệm rất cụ thể” và “Hình tượng nghệ thuật một khi đã hình thành là mang tính chất quan niệm, ngay cả vô thức cũng là quan niệm về cái vô thức Nhà văn không thể miêu tả đối tượng mà không có quan niệm về đối tượng”[4;23] Có thể khẳng định, quan niệm
chính là một phương tiện thiết yếu của sáng tạo nghệ thuật Do vậy, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại nói riêng
và văn học Việt Nam nói chung, chính là bước đi thiết thực để đến với chiều sâu của các tác phẩm, của các giai đoạn văn học
NỘI DUNG
I Quan niệm về con người trong văn học
Macxim Gorki đã từng khẳng định: “Văn học là nhân học” Đó là nghệ
thuật miêu tả, biểu hiện con người Do vậy, con người chính là đối tượng chủ yếu của văn học Dù miêu tả thần linh, ma quỉ, đồ vật, hoặc đơn giản làmiêu tả các nhân vật, văn học đều nhằm mục đích miêu tả và thể
hiện vào con người
Thực tế cho thấy, không có một tác phẩm, một tác giả hay một nền văn học nào lại chỉ đơn thuần nói về thiên nhiên mà không liên quan đến
Trang 2con người Nói cách khác, mục đích miêu tả của nhà văn là nhằm hướng đến thể hiện con người.
Ví dụ: Truyện cổ tích, thần thoại: miêu tả thần linh, ma quỷ, địa ngục,
đồ vật là nói đến cái hiện thực tồn tại trong đầu óc con người, góp phần thể hiện ước mơ, khát vọng con người
Ngay cả những nhân vật không thực, ví như trong Tây Du Ký của
Ngô Thừa Ân Ngoài việc bóc trần hiện thực xã hội Trung Quốc hỗn loạn thời bấy giờ, tác giả còn thể hiện sự khái quát vềtriết lí làm
người Con người muốn đạt được thành công phải có đầy đủ sự kiên định như Đường Tăng, lanh lợi như Ngộ Không, cần cù như Sa Tăng và rất đời như Bát Giới
Hay với những dòng thơ viết về cảnh vật, thiên nhiên Đó không phải là động tác phác thảo vài nét cơ bản vào không gian, mà là sự bộc
lộ những tâm tư, tình cảm của nhân vật trữ tình cũng như chủ thể tác giả
giấu mặt Bởi thế mới Voltaire khẳng định: "Thơ là âm nhạc của tâm hồn”.
Tóm lại, trong văn học, yếu tố con người được nói đến như một điều tất yếu Con người chính là nhân vật trung tâm của văn học
2 Xác định khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người
Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm cơ bản nhằm thể hiện khả năng khám phá, sáng tạo trong lĩnh vực miêu tả, thể hiện con người của nhà văn Có thể nói, nó giống như là một chiếc chìa khóa vàng góp phần gợi mở cho chúng ta tất cả những gì bí ẩn trong sáng tạo nghệ thuật của mỗi người nghệ sĩ nói chung và từng thời đại nói
riêng Tuy nhiên, cho đến nay, mặc dù được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu, song khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người vẫn còn nhiều cách định nghĩa và diễn đạt khác nhau Cụ thể như sau: Giáo
sư Trần Đình Sử cho rằng: "Quan niệm nghệ thuật về con người là một cách cắt nghĩa, lí giải tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn,
Trang 3tầm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của mình”[5;15] Tức, quan niệm nghệ thuật về con người sẽ đi vàophân tích,
mổ xẻ đối tượng con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc,
phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học của tác giả, từ
đó, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó Vì vậy, chúng ta sẽ thấy được giá trị của hình tượng nghệ thuật trong các tác phẩm
Giáo sư Huỳnh Như Phương cũng góp tiếng nói của mình bằng
một cách nhìn khá bao quát: “Quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện tầm nhìn của nhà văn và chiều sâu triết lí của tác phẩm”.
Cũng với vấn đề về quan niệm nghệ thuật về con người, Từ điển Thuật ngữ văn học định nghĩa như sau: “Quan niệm nghệ thuật về con người là
hình thức bên trong, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức tác phẩm
Nó gắn với các phạm trù khác như phương pháp sáng tác, phong cách của nhà văn, làm thành thước đo của hình thức văn học và cơ sở của tư duy nghệ thuật.”
Nhìn chung, tuy khác nhau về cách diễn đạt nhưng những khái niệm trên đều nói lên được cái cốt lõi của vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người Từ đó, chúng ta có thể đi đến khái quát cách hiểu quan niệm nghệ thuật về con người như sau:
Quan niệm nghệ thuật về con người được hiểu là cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách cắt nghĩa lí giải về con người của nhà văn Đó là quan niệm mà nhà văn thể hiện trong từng tác phẩm Quan niệm ấy bao giờ cũng gắn liền với cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chủ thể, ngay
cả khi miêu tả con người giống hay không giống so với đối tượng.
Như vậy, vì trung tâm của văn học là con người nên con người cũng chính
là đối tượng thẫm mĩ thể hiện quan niệm của tác giả về cuộc sống Người sángtác sẽ là người vận động, suy nghĩ về con người, cho con người, nêu ra những
tư tưởng mới để hiểu về con người Bởi người ta không thể miêu tả và tạo nên
Trang 4chiều sâu, tính độc đáo của hình tượng con người trong văn học nếu không hiểu biết, cảm nhận và có các phương tiện, biện pháp nhất định.
Từ việc hướng đến xác định khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người, có thể khẳng định rằng: Chúng ta sẽ không thể hiểu một cách đầy đủ những đổi thay trong nội dung phản ánh cũng như nghệ thuật biểu hiện của văn học, nếu không quan tâm tới sự vận động của con người trong văn học, đặc biệt là vấn
đề quan niệm nghệ thuật của các tác giả về con người trong văn học Nói cách khác, nếu bỏ qua quan niệm nghệ thuật về con người sẽ dẫn tới cách hiểu đơn giản về bản chất phản ánh của nghệ thuật, hạ thấp yêu cầu sáng tạo thẩm mĩ của nghệ thuật Cho nên, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người là điều hết sức quan trọng
Cách mạng tháng Tám là biến cố lịch sử to lớn đã làm đổi thay sâu sắc đấtnước và con người Việt Nam Tháng Tám năm 1945 mở ra một thời đạimới trong lịch sử dân tộc ta, chấm dứt hàng ngàn năm chế độ phong kiến
và giật tung xiềng xích hơn tám mươi năm đô hộ của thực dân Pháp để bắtđầu kỉ nguyên độc lập và dân chủ, đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ViệtNam Cách mạng tháng Tám cũng mở đầu một thời đại mới cho văn họcdân tộc mà 30 năm, từ 1945 đến 1975 là giai đoạn đầu tiên Những đổi mớicủa văn hóa Việt Nam giai đoạn này có thể nhận thấy trên rất nhiều bìnhdiện và ở những cấp độ khác nhau Nhưng ở trung tâm và chiều sâu củanhững biến đổi ấy là sự thay đổi trong quan niệm về con người, là sự hìnhthành và vận động của quan niệm nghệ thuật vồn con người
Quan niệm này mang tính thống nhất của cả nền văn học và trong suốtgiai đoạn 1945 - 1975, nhưng cũng mang những nét đặc trưng riêng của từngthời kì nhỏ của sự phát triển văn học trong giai đoạn này, cụ thể là qua bachặng đường: 1945 - 1954; 1954 - 1964 và 1964 - 1975 Sau 1975, quan niệmnghệ thuật về con người có sự đổi mới mạnh mẽ
Trang 5Dưới đây, chúng tôi sẽ lần lượt tìm hiểu quan niệm về con người trongtừng chặng đường ấy và cố gắng chỉ ra những đặc điểm như là những nguyêntắc lớn của sự thể hiện con người trong văn học của từng chặng đường.
II Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học từ 1945
"Chúng ta đã tìm thấy bao trùm trên chúng ta, bao trùm làng xóm, gia đình
chúng ta một cái gì lớn lao chung ấy là dân tộc" (Nhận đường: Tạp chí văn
nghệ số 1/1948) Còn Hoài Thanh thì nhận thấy: Thực đẹp đẽ vô cùng cáiquang cảnh của một dân tộc vươn mình đến ánh sáng, cảnh tưng bừng của cảdân tộc Việt Nam đang trỗi dậy Tôi cảm thấy khắp nơi ở quanh tôi và tronglòng một cuộc tái sinh màu nhiệm: (T/c Tiên Phong số 2/1945)
Văn học Việt Nam trong vài năm đầu sau cách mạng tháng Tám đã kịpghi lại một số hình ảnh của cảnh tượng vĩ đại ấy: Trong thơ đó là Tố Hữu với
Huế tháng tám và Vui bất tuyệt, là Xuân Diệu với Ngọn Quốc kỳ và Hội nghị non sông, Tình sông núi của Trần Mai Ninh v.v… Trong văn xuôi, đó là ở
Trang 6chiến khu và ý nghĩ một sáng mùa thu của Nguyễn Huy Tưởng, là Rãnh cày nổi dậy của Mạnh Phú Tư, Dân khí miền trung của Hoài Thanh, Đường vô Nam của Nam Cao v.v…
Trong sự thức nhận về sức mạnh của "cả một dân tộc vươn mình tới ánh
sáng" phát hiện quan trọng nhất của văn học thời kỳ 1945 - 1975 là về Con người quần chúng Cách mạng và kháng chiến đã đặt nhà văn trước một hiện
thực lớn lao là cuộc đổi đời và sức mạnh vĩ đại của quần chúng nhân dân.quần chúng đã làm nên biến cố cách mạng và gánh vác cả cuộc kháng chiến.Hướng tới đại chúng, phục vụ đại chúng trở thành mục tiêu và phương hướngcủa nền văn nghệ kháng chiến Khám phá và miêu tả những con người tiêubiểu của thời đại mình bao giờ cũng là khát vọng của các nhà văn chân chính
ở mọi thời đại lịch sử văn học các thời đại đều gắn liền với mẫu người tiêubiểu của thời đại ấy Iohan Becher - nhà thơ và nhà hoạt động văn hóa củanước Đức - có nhận xét "Nghệ thuật không phải bắt đầu bằng những hình thứcmới Nền nghệ thuật mới ra đời cùng với con người mới Nhưng để nói chođầy đủ hơn thì ở chiều sâu của sự xuất hiện một kiểu người mới chính là sựhình thành quan niệm mới về con người và điều sau này mới là quyết định
ý thức về nhân vật trung tâm của nền văn học mới nảy nở rất sớm, ngaysau những ngày tưng bừng của cách mạng tháng Tám Đầu năm 1946, khi phêbình vở kịch Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi đã nhận xét:
"Kịch Bắc Sơn đưa lên sân khấu những sự việc mới, những đám đông, nhữngcon người mới của cách mạng: người cán bộ, ông già nông dân khẳng khái,anh du kích, bà cụ có tấm lòng yêu nước trung thực Đây là điều đáng chú ýnhất và cần nhấn mạnh" (T/c Tiên Phong số /1946)
Trần Đăng trong truyện ngắn Một lần tới Thủ đô (1946) đã dứt khoát
lựa chọn đối tượng mới của ngòi bút mình Hình ảnh bốn chiến sĩ đi hàng một
- lối đi của người đi rừng " người đi sau dẫm lên dấu chân của người đi trước"
Trang 7giữa đường phố Hà Nội một chiều tối, đối lập với mọi khng cảnh ồn ã và xahoa của phố phường
Vào cuộc kháng chiến chống Pháp, nhân vật quần chúng được xác định
cụ thể hơn đó là Công nông binh Quần chúng công nông binh là nhân vật
trung tâm, nhân vật chính diện của nền văn học kháng chiến Hơn thế nữaquần chúng trở thành nguyên tắc xây dựng nghệ thuật và chuẩn mực đánh giátác phẩm tác phẩm phải biểu hiện lên được tư tưởng, tình cảm khát vọng củaquần chúng, phải học cách nói, cách thể hiện của quần chúng Sở thích và sựđánh giá của quần chúng là thước đo thành công và giá trị của tác phẩm nghệthuật.Các nhà thơ hóa thân vào các vai quần chúng để bộc lộ tâm trạng, tìnhcảm, ao ước của họ và thay lời quần chúng để bộc lộ tâm trạng, tình cảm, aoước của họ và thay lới quần chúng tự kể về mình Không phải ngẫu nhiên màrất nhiều bài thơ được bắt đầu bằng lối "xưng danh", tự giới thiệu và khẳng
định với tất cả lòng tự hào của quần chúng: "Em là con gái Bắc Giang", "Chúng
ta đoàn áo vải"' "Lũ chúng tôi bọn người tứ xứ" v.v…
Trong truyện và ký những năm đầu kháng chiến cũng diễn ra quá trìnhchuyển biến theo hướng thống nhất giữa quan điểm trần thuật của tác giả vànhân vật quần chúng, giữa hình tượng tác giả - người kể chuyện và hình tượngquần chúng Văn xuôi kháng chiến đã tìm thấy cách trần thuật từ quan điểmcủa chính nhân vật quần chúng Các sáng tác từ khoảng giữa cuộc kháng chiến
đã chuyển hẳn sang lối trần thuật khách quan từ điểm nhìn trần thuật của cácnhân vật quần chúng, hình tượng tác giả - người trần thuật hầu như không tồn
tại nữa, hoặc nếu có còn (chẳng hạn trong tập tùy bút Tình chiến dịch của
Nguyễn Tuân), thì cũng cố gắng nhập vào chỗ đứng và tâm trạng của đámđông nhân vật quần chúng
Cái mới mẻ trong sự thể hiện con người quần chúng của văn học thời kỳnày trước hết là việc đưa vào trung tâm chú ý của văn học con người chính trị,con người công dân Cách mạng và kháng chiến đã thức tỉnh ý thức công dân,
Trang 8tinh thần yêu nước, ý thức giai cấp của quần chúng lôi cuốn, tập hợp đông đảoquần chúng vào trong cái tổ chức chính trị, các đoàn thể quần chúng xungquanh Đảng Con người của gia đình, gia tộc, làng xóm đã thành con ngườicủa dân tộc, giai cấp cả đời sống cộng đồng Từ em nhi đồng, chị phụ nữ, đếncác cụ phụ lão đều được tập trung trong các đoàn thể của mình Việc đưa lênhàng đầu con người chính trị, con người công dân đã khiến cho văn học thời
kỳ này tập trung thể hiện những nét tâm lý chung của quần chúng như lòngyêu nước, căm thù giăc, tình nghĩa đồng bào, tình cảm tiền tuyến hậu phương,
ý thức giai cấp, sự ham thích đời sống tập thể, sinh hoạt chính trị,… Em nhỏ
đi liên lạc thấy " vui lắm chú à, ở đồn Mang cá, thích hơn ở nhà"
(Lượm Tố Hữu) Chị phụ nữ nông dân ý thức về trách nhiệm công dân của mình, hăng hái đi "phá đường" dù việc nhà bộn bề (Phá đường Tố Hữu) Anh
thanh niên làng vác bó tre đi cản giới địch say sưa, đọc thuộc lòng bài "Ba giai
đoạn" kháng chiến "Đôi mắt Nam Cao) Người nông dân phải xa làng đi tản
cư, thấy đau xót, tủi hổ khi nghe tin làng mình lập tế theo giặc và lại vui mừng
phấn khởi tự hào khi được tin làng mình vẫn là làng kháng chiến (Làng - Kim
Lân) Những người trai làng sẵn sàng ra đi cầm súng theo tiếng gọi của Tổquốc "Ruộng nương anh gửi lại bạn thân cày "Gian nhà không mặc kệ gió
lung lay" (Đồng chí Chính Hữu)…
Việc tập trung thể hiện con người công dân cũng gắn liền với việc mô tảcon người chủ yếu trong các biến cố lịch sử, trong các hoạt động rộng lớn củacách mạng và kháng chiến hơn là những quan hệ và biến cố đời tư Văn họcthời kỳ 1945 - 1954 đã mở ra những không gian rộng rãi mang tính xã hội chonhân vật hoạt động Không gian ấy mang tính lưu chuyển, vận động và khôngđóng kín Không gian mở rộng ấy có thể là tiền tuyến với một chiến dịch, mộttrận đánh, một cuộc hành quân ở vùng núi hay đồng bằng có thể là một xómlàng ở hậu phương trong vùng giặc chiếm Nhưng dù giới hạn địa lý của cáckhông gian cụ thể trong một bộ phận có thể không rộng lớn, thì nó vẫn khácvới môi trường mang tính phong bế và tĩnh tai như trong nhiều tác phẩm hiện
Trang 9thực phê phán viết về nông thôn trước 1945 Trong văn học kháng chiến, dùtác phẩm chỉ mô tả cuộc sống ở một xóm nhỏ, một làng quê hay một xóm núiheo hút "thâm sơn cùng cốc", thì nó vẫn gắn liền với toàn cuộc kháng chiến, làmột bộ phận trong cái toàn cảnh rộng lớn của cả đất nước Việt Nam khángchiến Mặt khác văn học thời kỳ này cũng đưa ra những không gian đặc trưng
cho cuộc sống kháng chiến như Con đường (Đường vui của Nguyễn Tuân, Con đường trong thơ Tố Hữu: Cá nước, Phá đường Lên Tây bắc, Ta đi tới, Việt Bắc,… ),
Văn học 1945-1954 chưa xem xét con người như một cá nhân, nó khám
phá và thể hiện con người tập thể Nếu như phát hiện quan trọng nhất đưa đế
sự cách tân văn học Việt Nam những năm từ đầu thế kỷ XX đến 1945 có thể
nói đó là sự phát hiện con người - cá nhân - cá thể, thì sự biến đổi quan trọng
nhất ở chiều sâu quan niệm trong văn học sau 1945 chính là ở cái nhìn con người tập thể này Đây không phải là sự trở lại với con người loại hình trong
văn học dân gian hay con người siêu cá thể trong văn học thời trung đại Quanniệm con người tập thể của văn học 1945 - 1954 mang tính đặc thù của mộtthời đại khi con người được thức tỉnh về sức mạnh của cộng đồng và khi quầnchúng nhân dân đông đảo được tập hợp vào trong các tổ chức của mình
Quan niệm con người tập thể luôn đặt nhân vật trong một đám đông,một tập thể hoạt động Cách mạng đã tập hợp quần chúng vào các tổ chức, conngười riêng biệt và con người của gia đình, họ tộc bây giờ đã thành con ngườicủa cả dân tộc, của các đoàn thể Quần chúng tham dự vào các biến cố lịch sử,gánh vác cuộc kháng chiến là qua các tổ chức, các đoàn thể của mình Cácnhân vật quần chúng đã được hiện ra với vẻ đẹp và sức mạnh ở trong nhữngtập thể ấy Thơ trữ tình thì thể hiện những nét tâm lý và tình cảm chung củamột tầng lớp, một thế hệ, một tập thể Có khi trực tiếp là tiếng nói của "chúng
tôi", "chúng ta" Lũ chúng tôi bọn người tứ xứ) - Hồng Nguyên; "Chúng ta đoàn áo vải" - Hoàng Trung Thông; "Lòng vui rung rung câu hát của chúng ta
Trang 10làm ca ngợi chúng ta" - Chính Hữu) Còn trong văn xuôi, người ta chú ý xây
dựng các tính cách Chưa mấy nhân vật có thể xem là một tính cách Các nhân
vật đều được trình bày, mô tả trong một nhóm, một tập thể của họ Trong các
tiểu thuyết Xung kích, Vùng mỏ, cũng chưa có nhân vật nào được tập trung xây
dựng thành một tính cách riêng đậm nét mà họ thường là các nhóm nhân vật.Trong nhiều tác phẩm thẩy nổi bật hình tượng đám đông, hình tượng tập thể
quần chúng Như các đám đông dân công và bộ đội trong Xung kích, đám đông công nhân trong Vùng mỏ của Võ Huy Tâm v.v…) Nhiều khi, nhà văn
đối lập hình tượng đám đông quần chúng với hình ảnh cá nhân để làm nổi bật
vẻ đẹp và sức mạnh của tập thể
Một đặc điểm của con người quần chúng trong văn học kháng chiến là
con người được thể hiện chủ yếu trong hành động, trong các quan hệ hướng
ngoại Thế giới nội tâm tuy không phải là bị bỏ qua nhưng không được chú ýkhai thác và đời sống nội tâm cũng hầu như không có, những diễn biến phứctạp, những quá trình tâm lý riêng biệt Các tác phẩm thường chỉ thể hiệnnhững nét tâm lý tiêu biểu của quần chúng, của tập thể hơn là đi vào nhữngbiểu hiện riêng biệt của mỗi cá nhân Các quá trình tâm lý nếu có được miêu tảthì cũng không được quy vào một số típ đặc trưng như từ ngộ nhận đến thứctỉnh, từ căm thù đến hành động, từ giác ngộ thấp đến giác ngộ cao hơn v.v…
Vợ chồng A Phủ là một trường hợp hiếm hoi mà các quá trình tâm lý của nhânvật đã được tập trung soi rọi nhưng cũng không ra ngoài các mô típ tiêu biểunhư trên và sự miêu tả quá trình tâm lý của nhân vật chủ yếu chưa nhằm khắchọa cá tính mà là bộc lộ quy luật chung của sự phản kháng và sức sống tiềmtàng của quần chúng lao động bị áp bức
Nhìn chung, con người trong văn học kháng chiến ít có những dằn vặt,suy tư, giằng xé nội tậm Họ thường là những con người trong sáng dứt khoát,toàn tâm vì sự nghiệp chung, hòa mình trong tập thể ở các nhân vật chínhdiện của văn học thời kỳ này, mối quan hệ riêng - chung thường rất dễ dàng
Trang 11được giải quyết theo hướng gác tình riêng vì sự nghiệp chung và hòa nhập
những tình cảm riêng trong những tình nghĩa chung như Thăm lúa của Trần Hữu Thung, Cá nước, Bầm ơi của Tố Hữu
Nhìn chung, trong văn học 1945 - 1954 hầu như chưa có những nhânvật được xây dựng với cá tính rõ nét, với quá trình tâm lý cụ thể riêng biệt.Nhưng như thế hoàn toàn không có nghĩa là văn học thời kỳ này đã không thể
hiện được con người của thời đại ấy Với sự phát hiện con người quần chúng, con người tập thể, với sự chú trọng làm nổi bật con người công dân và con người hành động, văn học Việt Nam 1945-1954 đã đem lại một kiểu người
mới mẻ chưa từng có trước đó, phản ánh khá chân thực con người Việt Namcủa thời đại vươn mình, giải phóng, hồi sinh dưới ánh sáng của cách mạng vàtrong ngọn lửa của cuộc kháng chiến chóng Pháp Quan niệm con người củacho thời kỳ ấy tuy chưa đạt đến sự phong phú và những chiều sâu mới, nhưngvẫn là một phát hiện mới mẻ, tạo ra bước đổi mới quan trọng của cho dân tộc.Con người quần chúng của văn học thời kỳ này tuy chưa có được những tínhcách riêng nổi bật, chưa có cá tính sắc nét, chưa được khám phá ở phươngdiện đời tư, nhưng lại mang được những nét nổi đậm của tâm lý và tính cáchdân tộc, tích cách quần chúng và dấu ấn của thời đại Văn học thời này đã đểlại được những hình tượng tập thể khá sinh động, chân thực
2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học mười năm sau cuộc kháng chiến chống Pháp (1954 -1964)
Văn học Việt Nam trong khoảng mười năm từ sau cuộc kháng chiếnchống Pháp - những năm tạm thời có hòa bình ở miền Bắc từ 1955 đến 1964
đã có bước phát triển mới cả về bề rộng và chiều sâu Sau cuộc kháng chiếnthắng lợi, nửa nước được giải phóng, nhân dân ta đã bắt vào khôi phục đấtnước phục đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề và từ nền kinh tế còn rấtkém phát triển, lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Văn học đứngtrước những yêu cầu của xã hội: một mặt là những nhu cầu tất yếu của con