1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÂN CẢNG SÀI GÒN

140 492 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 9,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống truyền lực  Ly hợp bị trượt, xuất hiện tiếng gõ  Hộp số khó cài, khi cài có tiếng gõ, chảy nhớt ở trục hộp số, xuất hiện hiện tượng trả số về  Vi sai chảy dầu ở trục chủ độn

Trang 1

PHẦN I : GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÂN CẢNG SÀI GÒN

A) Lịch sử hình thành và phát triển

Để phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam, giữa những năm 60, chính quyền Mỹ-Ngụy cho xây dựng cạnh cầu Sài Gịn một quân cảng với hệ thống cầu tàu dài trên 1.200m, rộng 24m, 1 bến nghiêng rộng 40m, 8 kho hàng trên cầu tàu diện tích 16.800 m2 Vì mục đích trước mắt, Mỹ-Ngụy khơng đầu tư trang bị các phương tiện xếp dỡ hiện đại,

hệ thống kho bãi cũng mang tính chất dã chiến.Quân cảng Sài Gòn có vị trí chiến lược về quân sự – kinh tế hết sức quan trọng đối với địa bàn TP Hồ Chí Minh, khu vực phía

Nam đất nước trong

chiến lược củng cố

quốc phòng-an ninh

và phát triển kinh tế

xã hội; là đầu mối

giao thông thuỷ, bộ

thuận tiện phục vụ cho

nhiệm vụ sẵn sàng

chiến đấu bảo vệ chủ

quyền biển, đảo khu

vực Trường Sa và

vùng biển phía Nam,

một hướng chiến lược

quan trọng trong sự

nghiệp xây dựng và

bảo vệ Tổ quốc Việt

Nam xã hội chủ nghĩa trên bộ và trên biển Xuất phát từ thực tiễn khách quan đó Ngày 15-3-1989 Bộ trưởng Bộ Quốc phịng đã ra quyết định số 41/QP về việc thành lập Quân cảng Sài Gịn thuộc Quân chủng Hải quân và ngày đĩ hàng năm

đã trở thành ngày truyền thống của đơn vị Ban đầu ngồi nhiệm vụ quân sự, Quân cảng Sài Gịn được phép tận dụng cơng suất nhàn rỗi để tiếp nhận các tàu kinh tế Trước sự phát triển của đất nước thời kỳ mở cửa, đặc biệt là sự tăng

Trang 2

trưởng khơng ngừng của hoạt động xuất nhập khẩu, ngày 29-3-1989 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) đã ban hành quyết định số 77/QĐ-HĐBT cơng nhận Quân cảng Sài Gịn là một doanh nghiệp quốc phịng với tên doanh nghiệp là CƠNG TY TÂN CẢNG SÀI GỊN (SAIGON NEWPORT

COMPANY)

Tân Cảng Sài Gòn nằm ở cửa ngõ phía Bắc thành phố Hồ Chí Minh; là đầu mối giao thông thuỷ,bộ nối linề các tỉnh miền Đông Nam Bộ, miền Trung, Tây Nguyên và tam giác kinh tế năng động thành phố Hồ Chí Minh – Bình Dương – Đồng Nai nên rất thuận tiện cho việc tiếp nhận, chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu Vị trí này cho phép Quân Cảng Sài Gòn có khả năng phát triển, cùng lúc thực hiện tốt cả chức năng phục vụ quân sự – quốc phòng và sản xuất kinh doanh, góp phần thực thiết thực vào thực hiện chiến lược củng cố quốc phòng – an ninh, phát triển kinh tế – xã hội của thành phố Hồ Chí Minh và đất nước

B) Cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty xếp dỡ Tân Cảng

Từ năm 1998 – 2003 Cảng đã đầu tư mua sắm, lắp đặt và đưa vào khai thác 157 trang thiết bị kỹ thuật với tổng giá trị bằng 651,546 tỉ đồng từ nguồn vốn tự có của Cảng Đặc biệt đã mạnh dạn, sáng tạo kết hợp vừa mua từ nước ngoài những bộ phận động lực,vừa đặt chế tạo trong nước phần khung sườn với chuyên gia nước ngoài lắp đặt, hướng dẫn cán bộ, công nhân viên của Cảng tự lắp đặt, vận hành 14 cẩu bờ hiện đại vào bậc nhất của Việt Nam nên đã đẩy nhanh tốc độ giải phóng tàu, hàng hoá, nâng cao sản lượng, doanh thu và uy tín – vị thế của Cảng Đặc biệt là trong năm 2003 Cảng đã tạo ra được bước đột phá nhảy vọt về tăng trưởng cả sản lượng hàng hoá qua cảng và doanh thu (so với năm 2000 : teus container tăng gần 27,8%, doanh thu tăng 37,8%)

Sáu năm (1998 – 2003) là giai đoạn tiếp tục nâng cấp và hiện đại hoá cầu tàu, kho, bãi, hệ thống đường giao thông, điện, nước, văn phòng ở Tân Cảng và tích cực, chủ động xây dựng mới cơ sở hạ tầng ở Cát Lái, ICD Sóng Thần

Trang 3

1).Tại Tân Cảng : Chuyển khu hậu cần Lữ đoàn 125 Hải quân sang vị trí

mới , tiếp nhận khu công ty GAET bàn giao cho đơn vị vận chuyển container của lữ đoàn 972 tách biệt giữa khu vực đóng của Quân Cảng Sài Gòn và lữ đoàn 125 Hải Quân đảm bảo thuận lợi cho công tác quản lý; nâng cấp mặt cầu bến 3 dài 171 m, bến 4 dài 533 m bảo đảm an toàn cho việc lắp đặt và hoạt động của 8 cẩu Liebherr cố định và 2 cẩu KE di động; xây dựng trạm kiểm soát hải quan cổng vào, nhà Quân y, 3 cột đèn bãi container, kho vật tư, bãi container trên khu đất 125, kè bảo vệ bãi C9, trạm điện 1000KVA; xây dựng mới 8 lô cốt cố định bằng thép đảm bảo cho các kế hoạch quân sư – quốc phòng

Cùng với việc nâng cấp, hiện đại hoá cơ sở hạ tầng ở Tân Cảng; để mở rộng quy mô, địa bàn hoạt động đón trước xu thế quy hoạch phát triển hệ thống Cảng trong khu vự tp Hồ Chí Minh và tam giác kinh tế thành phố Hồ Chí

Minh – Đồng Nai – Bình Dương; trong 2 năm 1995, 1996 Cảng đã tích cực, chủ động mở rộng địa bàn hoạt động sang phường Cát Lái, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh và xã Bình Hoà, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương

2).Tại Cát Lái : Từ tháng 6 – năm 1995 đến cuối năm 2002 Cảng đã đầu tư

xây dựng mới xong 1 cảng Container chuyên dụng trên diện tích 170.264 m2 , có 2 cầu tàu (cầu 1 dài 152 m – khởi công ngày 06 - 06 -1995, hoàn thành ngày 15 – 04 – 1997; cầu 2 dài 151m (khởi công tháng 10 -2000, hoàn thành tháng 10 - 2002) đảm bảo cho cầu tàu có mớm nước thấp nhất 11m, trọng tải trên 30.000DWT ra vào an toàn; xây dựng mới 96.381m2 bãi hàng, 26.225 m2đường giao thông nội bộ; sửa chữa, nâng cấp 2.492 m2 nhà làm việc Ngoài ra còn thả 3 phao để tiếp nhận tàu hàng rời và xây dựng các công trình bổ trợ khác như như hệ thống điện – nước, cột đèn, trạm cân, … đặc biệt là để hút hàng về Cát Lái, Cảng đã cùng với thành phố Hồ Chí Minh mở mới tuyến đường liên tỉnh lộ 25 từ xa lộ Hà Nội đến phà Cát Lái (cảng đầu tư 55,7 tỉ đồng; trong đó cho thành phố Hồ Chí Minh vay 40 tỉ đồng, trả tiền cảng thuê 21,37 ha đất ở Cát Lái 15,7 tỉ đồng)

Ngày 17-03-1998,tàu Nan Ping Shan của Trung Quốc là tàu đầu tiên đã cập cảng Cát Lái, bốc dỡ 5,218 tấn gạo Ngày 21-10-2002 tàu Kitibhum của hãng tàu RCL là tàu container đầu tiên cập cảng Cát Lái

Đến nay, sau hơn 6 năm hoạt động cảng Cát Lái đã tiếp nhận 980 tàu kinh tế vào cảng làm hàng, trong đó có 497 tàu hàng rời, 483 tàu container; tổng

Trang 4

sản lượng hàng rời qua cảng là 4,29 triệu tấn (bình quân 0,54 triệu tấn/năm), 108,543 teus container, đạt doanh thu 88,379 tỷ đồng

3) Tại khu 21 ha : Từ năm 1998 Cảng đã tích cực, chủ động làm việc với

chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng, nhanh chóng tháo gỡ

vướng mắc và làm thủ tục đền bù, thuê của thành phố 21 ha ( cuối năm 2003 đã hoàn tất thủ tục thuê thêm 20 ha); khuẩn trương và trình duyệt dự án Ngày 25-06-2002, Bộ Quốc Phòng quyết định (số 1278/QĐ-QP) phê chuẩn dự án với số vốn đầu tư trên

533 tỷ đồng xây dựng

hạ tầng và mua sắm

trang thiết bị Ngày

20-08-2003, Bộ Quốc

Phòng quyết định (số

1728/QĐ-QP) bổ sung,

điều chỉnh vốn đầu tư là

580,4 tỷ đồng Theo đó

dự án sẽ được thực hiện

theo 2 giai đoạn 2002 –

2005, 2006 – 2010

4) Tại ICD Sóng

Thần : Được đầu tư xây dựng từ năm 1997 trên diện tích 50 ha do Quân đoàn

4 bàn giao thuộc Khu công nghiệp Sóng Thần (tỉnh Bình Dương) Đến cuối năm 2002 về cơ bản đã xây dựng xong cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh gồm 5 kho hàng tổng diện tích 38.000 m2, 35.900 m2 bãi bê tông, 25.091 m2đường giao thông nội bộ, 800 m2 xưởng sửa chữa và công trình phụ trợ khác như nhà làm việc, nhà hải quan, nhà nghỉ, hệ thống điện – nước…

ICD Sóng Thần được thành lập ngày 21-12-2000 theo quyết định số

5967/QĐ_HQ của Tư Lệnh Hải Quân (trên cơ sở nâng cấp "Kho cảng Sóng Thần tương đương cấp tiểu đoàn" thành lập ngày 25-07-2006 theo quyết định số 2753/QĐ-QL của tư lệnh Hải Quân ICD Sóng Thần được Quân Càng Sài

Trang 5

Gòn chính thức được đưa vào hoạt động từ tháng 2-2001 Đến nay sau hơn 6 năm khai thác dịch vụ kho – bãi, xếp dỡ – vận chuyển container đã xếp dỡ 150.166 teus container(69.768 teus có hàng), xuất nhập 899.789 m2 hàng qua kho đạt doanh thu 49.654 tỷ đồng.

Đồng bộ với việc chỉnh đốn, kiện toàn tổ chức biên chế, xây dựng nguồn nhân lực, đầu tư xây dựng mới,nâng cấp hiện đại hoá cơ sở hạ tầng ở 3 khu vực Tân Cảng – Cát Lái – Sóng Thần và mua sắm, lắp đặt nhiều trang thiết bị chuyên dùng hiện đại; trong giai đoạn này Quân Cảng Sài Gòn đã triển khai đồng bộ, toàn diện nhiều kế hoạch, đề án phát triển quản lý khai thác cảng định kỳ năm, ngắn hạn, trung hạn và dài hạn; nhiều giải pháp, biện pháp quản lý, chỉ huy, điều hành… nên đã đạt được kết quả ngày càng khả quan hơn trong cả thực hiện nhiệm vụ quân sự – quốc phòng, quản lý khai thác cảng và sửa chữa công trình

C).H ệ thống thiết bị kho bãi và cầu tàu

Tân CảngTerminal

Cát LáiTerminal

Sĩng ThầnICD

Nhơn TrạchDepotTổng diện tích

1.428.1 00

704 m

973

Số bến

Trang 6

Bến xà

Tân CảngTerminal

Cát LáiTerminal

Sóng ThầnICD

Nhơn TrạchDepot

Trang 7

Cát LáiTerminal

Sóng ThầnICD

Nhơn TrạchDepot

Cẩu khung chạy

Trang 8

Ổ cắm

Tân CảngTerminal

Cát LáiTerminal

Sĩng ThầnICD

Nhơn TrạchDepot

Xe cẩu bánh lốp

(60T - 100T- 400T)

Xáng cạp (50m3/h)

D) Những nhận xét chung về Tân Cảng khi khai thác hàng container

Quá trình xây dựng, trưởng thành cán bộ, cơng nhân viên, chiến sĩ Cơng ty Tân cảng Sài Gịn luơn quán triệt sâu sắc quan điểm kết hợp kinh tế với

Trang 9

quốc phịng; đồn kết khắc phục khĩ khăn, vượt qua thử thách, hồn thành xuất sắc nhiệm vụ quân sự và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh " Phát biểu trước Quốc hội khi thảo luận về dự án Luật Quốc phịng, Đại tướng Phạm Văn Trà, Ủy viên

Bộ Chính trị, Bộ trường Bộ Quốc phịng đã lấy dẫn chứng về sự hiệu quả trong làm kinh tế kết hợp với quốc phịng của Cơng ty Tân cảng Sài Gịn để khẳng định

vị trí của quân đội trong lĩnh vực sản xuất, làm kinh tế Quả thật, hiếm cĩ một doanh nghiệp Nhà nước nào mới chỉ sau 13 năm mà doanh thu cao gấp gần 110 lần lợi nhuận tăng gấp gần 68 lần và nộp ngân sách Nhà nước tăng gấp 109,43 lần như Cơng ty Tân cảng Sài Gịn" (Đỗ Phú Thọ - Báo QĐND ngày 1-12-2004)

Với thành tích đặc biệt xuất sắc Cơng ty Tân cảng Sài Gịn đã được Chủ tịch nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong danh hiệu Anh hùng lao động (2004); 02 Huân chương chiến cơng hạng Ba (1995, 2000); 01 Huân chương lao động hạng Nhì (1999) và 01 Huân chương lao động hạng Ba (2005); Thủ tướng Chính phủ tặng 01 cờ thưởng thi đua (2003) và nhiều bằng giấy khen của cấp trên

và chính quyền địa phương

Kế thừa và phát huy phẩm chất "Bộ đội cụ Hồ", truyền thống của quân đội, Quân chủng anh hùng, truyền thống đơn vị Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới: "Đồn kết, năng động, sáng tạo, hồn thành xuất sắc nhiệm vụ Quốc phịng - Kinh tế", thời gian tới Cơng ty Tân cảng Sài Gịn quyết tâm hồn thành xuất sắc mọi nhiệm

vụ, xây dựng đơn vị,

Quân chủng, Quân đội

ngày càng chính quy hiện

đại, gĩp phần vào sự

nghiệp cơng nghiệp hĩa,

hiện đại hĩa đất nước,

xứng đáng với niềm tin

yêu của Đảng, Nhà nước,

nhân dân, Quân đội và

Quân chủng Hải quân

Ngày nay Tân Cảng là

một cảng đa năng và xu

hướng này cũng sẽ được

tiếp tục trong những

năm tới Tuy nhiên với

Trang 10

sự phát triển mạnh mẽ của quá trình container hóa đang diễn ra ở Việt Nam , nên trong nhóm hàng cảng phục vụ thì container là loại hàng mà cảng phải quan tâm khi hoạch định chiến lược cho cảng

Tuy tuyến giao thông nội địa bất lợi cho cảng nhưng trang thiết bị xếp dỡ của cảng – 3 cẩu bờ giúp giải phóng tàu nhanh , diện tích bãi lớn , xe nâng trong bãi với tốc độ làm hàng cao và cơ động … - cũng chính là một lợi thế của cảng để thu hút tàu container vào cảng và trong tương lai hy vọng rằng với sự quan tâm của chính phủ để đẩy thúc kinh tế phát triển tuyến giao thông nội địa rồi sẽ được cải thiện

Trong các năm qua sản lượng container qua cảng càng phát triển mạnh mẽ , vấn đề đặt ra là phải đầu tư trang thiết bị cho cảng sao cho vừa giải quyết được lượng hàng qua cảng vừa phù hợp với tiêu chí kinh tế kỷ thuật của cảng Cùng với sự phát triển kinh tế hàng hóa, kinh tế vận tải biển không ngừng phát triển Nó đóng vai trò như một ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân Và trong ngành kinh tế vận tải chúng ta không thể thiếu được nhân tố quan trọng đi cùng là phương tiện vận tải hàng hóa bằng thiết bị vận chuyển chuyên dùng cho cảng

Ngày nay do nhận thức được vai trò quan trọng của thiết bị đối với việc vận chuyển hàng hóa Nên chính phủ luôn quan tâm đầu tư, nghiên cứu đào tạo các cán bộ kỹ thuật và số lượng lớn thợ máy lành nghề để phục vụ cho nhu cầu sửa chữa thiết bị nhằm khắc phục kịp thời những hỏng hóc trong các tổ hợp máy và hệ thống của thiết bị,để loại trừ những nguyên nhân có thể gây ra sự cố dẫn đến tai nạn giao thông, làm giảm năng suất sản xuất và năng suất lao động

Trang 11

tàu trên 6.000 TEU Giai đoạn 1 với 300m cầu tàu và 20ha bãi sẽ hoạt động vào năm 2008.

Trang 12

Do vậy phần thuyết minh của thực tập tốt nghiệp này cũng nhằm phục vụ nhu cầu sửa chữa thiết bị xe đầu kéo chuyên dùng và nó chỉ góp một phần nhỏ kiến thức cơ bản về kỹ thuật sửa chữa thiết bị xe đầu kéo chuyên dùng đang hoạt động ngày càng nhiều trên đất nước Việt Nam của chúng ta hiện nay.

Để thực hiện được luận án tốt nghiệp này em kính chân thành cảm ơn Thầy TRẦN VĂN TRUNG

Anh LÊ ANH NGỌC

Chú NGUYỄN THẾ HÙNG

Cùng với những sự giúp đở của quý Thấy Cô khác ở trong Khoa Cơ Khí cũng như các anh ở xưởng sửa chữa và bảo dưỡng ICD Sóng Thần – Thuận An

Một lần nữa em xin chân thành cám ơn

Thuộc Công Ty Tân Cảng

Trang 13

PHẦN II : GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐẦU KÉO SISU CHUYÊN

DÙNG ĐỂ CHỞ CONTAINER TRONG CẢNG

1) Hiện trạng chung về đầu kéo sử dụng trong cảng

Những năm gần đây, khi kinh tế thị trường Vệt Nam ngày một càng phát triển,

và nhất là Việt Nam đã trở thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới lớn nhất hành tinh này (gọi tắt là WTO – World Trade Organization) Thì việc phát triển cảng biển là một vấn đề rất đáng quan tâm của các nuớc cĩ cảng biển lớn và dài như nước Việt Nam ta hiện nay

Mà để cho cảng biển ngày một phát triển thì tuyến hậu phương đĩng vai trị rất quan trọng trong việc giải phĩng hàng hố,chính vì thế các mà các thiết bị xếp dỡ cũng như là thiết bị vận tải cĩ tầm quan trọng rất lớn trong việc giải phĩng hàng hố

Đầu kéo chuyên dùng trong cảng là một thiết bị cơ động và linh hoạt trong việc giải phĩng hàng hố,sức kéo lớn tầm hoạt động rất rộng và khả năng bảo dưỡng rất đơn giản

Chính vì thế mà đầu kéo là một loại phương tiện xếp dỡ rất được nhiều cảng sử dụng.Tân Cảng là một cảng năng động về hoạt động giải phĩng tàu nhanh và đầu kéo chính là một trong những phương tiện đã giúp cho cảng hồn thành tốt nhiệm

vụ ấy

Trang 14

SISU SISU

2) Đặc điểm và cấu tạo của đầu kéo Sisu

300 R1566R1980

Trang 15

Hình 1.1 Cấu tạo chung của đầu kéo

Gồm các bộ phận chính sau :

1 : Cabin 7 : Ống khói

2 : Xilanh đỡ mâm kéo 8 : Gương chiếu hậu

3 : Mâm kéo 9 : Đèn

4 : Xilanh nâng mâm kéo 10 : Cầu lái

5 : Đèn tín hiệu

6 : Thùng dầu

3) Các thông số kỹ thuật cơ bản của xe

 Chiều dài tổng thể của đầu kéo : 4970 mm

 Chiều cao tổng thể của đầu kéo : 2950 mm

 Chiều rộng tổng thể của đầu kéo : 2500 mm

 Sức chở (kéo) : 32000 kg

 Khối lượng toàn bộ của đầu kéo : 8650 kgs

 Tốc độ lớn nhất của ô tô : 40 km/h

 Kiểu động cơ : Động cơ diesel

 Kí hiệu động cơ : Sisu TR-181

 Số lượng và cách : 6

 Bố trí xi lanh : 1 hàng thẳng

 Tổng dung tích công tác : 115 dm3

 Aùp suất : 220 bars

 Công suất có ít của động cơ : 179 kw (240 sức ngựa) ở 2800 v/p

 Thứ tự làm việc của các xi lanh : 1-3-5-4-2-6

 Đường kính xi lanh : 120 mm

 Khoảng chạy của piston : 120 mm

Trang 16

 Khe hở giữa thân xupap và mỏ của đòn bẩy xupap :

 Bảo dưỡng hàng ngày

 Bảo dưỡng cấp 1 (sau 85h hay một tuần)

 Bảo dưỡng cấp 2 (sau 170h hay 12 tháng)

 Bảo dưỡng cấp 3 (sau 340h hay 1 tháng)

 Bảo dưỡng cấp 4 (sau 1000h hay 6 tháng)

 Sửa chữa vừa hay trung tu (sau 5000h hay 3 năm)

 Đại tu (sau 9000h hay 5 năm)

Về những hư hỏng và sự cố trong khi hoạt động ta có thể liệt kê tình trạng kỹ thậut hiện tại của xe như sau :

4.1) Hư hỏng của động cơ :

Sau một khoảng thởi gian làm việc của xe có những dấu hiệu xuống cấp của động cơ biểu hiện như sau :

 Ra khói đen nhiều

 Tiêu hao nhiên liệu

 Công suất động cơ giảm

 Khó khởi động

 Sức ép kém

 Xuất hiện tiếng gõ máy : đục trầm

 Aùp suất dầu bôi trơn giảm

 Két nước bị rò nước

 Động cơ nóng quá mức

4.2) Hệ thống thuỷ lực

 Aùp lực bơm chính giảm

 Xylanh – pistông nâng mâm kéo chảy dầu giữa nắp và thân xilanh

 Chuyển động của pistông nâng mâm kéo không êm

 Pistông của xilanh – pistông bị xước

 Van phân phối (tiết lưu) giảm lưu lượng dầu qua van, chảy dầu ở phía dưới vành chia độ ( chỗ lắp tay gạt của van)

Trang 17

 Van giảm áp : áp suất trong hệ thống thuỷ lực không ổn định, trị số áp suất thấp

 Dầu trong hệ thống thuỷ lực quá nóng

4.3) Hệ thống phanh

 Aùp lực bơm chính giảm

 Đường ống dẫn hơi bị xì hoặc bị thủng

 Các van phân phối của hệ thống hơi không còn tốt

 Bình nén khí bị xì hơi

 Aùp lực bơm phụ yếu

4.4) Hệ thống truyền lực

 Ly hợp bị trượt, xuất hiện tiếng gõ

 Hộp số khó cài, khi cài có tiếng gõ, chảy nhớt ở trục hộp số, xuất hiện hiện tượng trả số về

 Vi sai chảy dầu ở trục chủ động

 Trục cácđăng gõ khi tăng tốc, giảm tốc

 Truyền lực bánh xe : bánh bị rơ

Sau một thời gian sử dụng, xe đưa vào đại tu chủ yếu là phục hồi sửa chữa các cơ cấu sau:

 Sửa chữa phuc hồi động cơ

 Sửa chữa phục hồi hệ thống truyền lực

 Sửa chữa phục hồi hệ thống phanh

 Sửa chữa phục hồi hệ thống thuỷ lực nâng mâm kéo

PHẦN III : QUI TRÌNH CÔNG NGHỆ SỬA CHỮA LỚN ĐẦU KÉO SISU CHUYÊN DÙNG ĐỂ CHỞ CONTAINER

TRONG CẢNG

CHƯƠNG 1 : CHỌN PHƯƠNG ÁN SỬA CHỮA

1.1) Các phương án

Theo qui định của nhà chế tạo sau thời gian phục vụ khoảng 9000 giờ (5 năm) thì ta phải tiến hành sửa chữa lớn xe đầu kéo để phục hồi toàn bộ khả năng làm việc của xe

Trang 18

Quá trình sửa chữa lớn xe đầu kéo phải đảm bảo sao cho thời hạn phục vụ của xe sau khi sửa chữa tương ứng với chu kỳ sửa chữa đã được qui định trước trong điều kiện khai thác bình thường Do vậy việc kế hoạch hóa công tác sửa chữa lớn phải được tương ứng với chu kỳ đó Trong quá trình lắp ráp các cụm máy theo nguyên tắc là phải phục hồi lại tất cả chế độ lắp ráp ban đầu của các mối ghép, chỉ trừ những trường hợp được qui dịnh ngoại lệ theo các tài liệu

kĩ thuật cho việc sửa chữa

Phụ thuộc vào kết cấu của máy và cách tổ chức sử dụng khai thác máy cũng như trình độ và khả năng thợ,tính chất chuyên môn hoá của thợ mà việc tổ chức sửa chữa máy xếp dỡ được tiến hành theo các phương pháp sửa chữa sau đây:

1.1.1 Phương pháp sửa chữa cụm – tổng thành:

Khi áp dụng phương pháp sửa chữa này, tất cả các cụm máy và bộ phận riêng biệt được tháo ra khỏi máy, thay vào đó là các cụm máy đã được sửa chữa hoàn chỉnh từ trước hoặc các cụm máy mới Phương pháp này được áp dụng cho những máy có kết cấu dễ tháo rời ra thành cụm, thành bộ phận

Chọn phương pháp sửa chữa theo hình thức này cho xe đầu kéo Sisu đòi hỏi các phân xưởng phải có sẵn các cụm máy mới hoặc máy đã được sửa chữa hoàn chỉnh như:

− Động cơ Cummings

− Hộp số Clark

− Các xy lanh thủy lực

− Các hệ thống hơi

− Các loại bơm, motor…

Ưu điểm:

 Giảm thời gian máy nằm chờ sửa chữa

 Nâng cao hệ số sẵn sàng kĩ thuật của trạm máy

 Cường độ hoạt động của các xưởng trong xí nghiệp được phân bố đều

 Tăng khả năng sử dụng mặt bằng của chúng

 Có khả năng chuyên môn hóa công nhân sửa chữa theo từng bộ phận máy hoặc theo từng công việc sửa chữa

 Tăng năng suất lao động và giảm giá thành sửa chữa

 Nhược điểm:

Trang 19

 Cần phải có vốn luân chuyển của các cụm tổng thành và các chi tiết máy.

 Các loại xe đưa vào sửa chữa phải có ít chủng loại và có số lượng lớn

1.1.2 Phương pháp sửa chữa cum – nối tiếp:

Bản chất của phương pháp này là các cụm máy cần sửa chữa được thay thế không phải trong quá trình sửa chữa máy tại xưởng sửa chữa, mà là thay thế từng cụm một theo mức độ mòn của chúng Việc thay thế này tiến hành tại nơi máy làm việc Để thay thế các cụm máy, chỉ cần dừng máy với một thời gian ngắn đủ để tháo và lắp các cụm máy có cùng thời hạn phục vụ (cùng tuổi thọ) Như vậy, khả năng làm việc của máy trong quá trình khai thác được đảm bảo không phải do sửa chữa nhỏ hay sửa chữa lớn định kỳ mà là bằng sự thay thế nối tiếp các cụm máy bị mòn với một khoảng thời gian ngắn Còn những cụm chi tiết máy được tháo ra từ những máy sửa chữa thì được đưa về xưởng sửa chữa

Phương pháp này cũng đòi hỏi phải có sẵn các cụm máy mới hoặc máy đã sửa chữa hoàn chỉnh Khi một bộ phận nào đó của xe bị hỏng, chỉ cần

ngừng hoạt động của xe trong một thời gian ngắn đủ để thay thế xong bộ phận

 Giảm một cách đáng kể chi phí vận chuyển do việc không cần chở máy đến các nhà máy sửa chữa mà chỉ cần chở các cụm máy hoặc các tổng thành tới chổ thay thế

Nhược điểm:

 Phương pháp này cần phải đầu tư các cụm tổng thành với giá cao

 Chỉ dùng để sửa chữa những cụm dễ tháo ráp

1.1.3 Phương pháp sửa chữa theo hình thức đơn chiếc:

Trang 20

Đối với hình thức này tất cả các cụm, các chi tiết máy sau khi sửa chữa phải được lắp vào chính chiếc máy mà lúc đầu chúng được tháo ra Và hình thức này được áp dụng cho trường hợp máy đưa vào sửa chữa có số lượng ít.

 Cần mặt bằng xưởng lớn

 Huy động nhiều phương tiện hỗ trợ

 Ảnh hưởng đến quá trình sản xuất của cảng trong thời gian dài

1.1.4 phương pháp tổ chức chuyên môn hoá

- Tất cả các công nhân của xưởng được phân thành tổ chuyên môn hoá, ví

dụ :

Tổ 1 : sửa chữa thường xuyên (chỉ có trong xí nghiệp vận tải)Tổ 2 : sửa chữa gầm

Tổ 3 : sửa chữa động cơ …

- Các công nhân có tay nghề khác nhau

- Năng suất cao, định mức thời gian lao động dễ

- Thiếu trách nhiệm với hoạt động của xe trên tuyến

- Kết quả lao động chỉ được đánh giá bằng số lượng xe qua bảo dưỡng Chỉ cần thực hiện phần việc của mình, không có sự liên hệ của tổ khác Không phân tích đánh giá được nguyên nhân các tổng thành bị loại

- Không thực hiện khi giải quyết công việc với nhiều loại xe khác nhau (kiểm tra công việc khó)

1.1.5 Phương pháp tổ chức riêng xe

Công nhân trong xưởng thuộc các tổ tổng hợp, thành phần gồm công nhân có tay nghề trong nhiều công việc Thực chất công việc là : bảo dưỡng sửa chữa vặn ghép lại

Ưu điểm : đã qui định được mức độ trách nhiệm

Nhược điểm : do phải phân chia dụng cụ thiết bị, vì vậy sử dụng không hiệu quả và không áp dụng dây chuyền được, khó khăn trong việc sử dụng các phụ tùng thay thế

Trang 21

1.1.6 Phương pháp tổ chức đoạn tổng thành

Đây là phương pháp tiên tiến Khi chuẩn bị kế hoạch người ta tách đoạn sản xuất chuyên môn hoá Mỗi đoạn sản xuất thực hiện các công việc bảo dưỡng, sửa chữa các cụm tổng thành, cơ cấu đã định cho đoạn ấy Số lượng đoạn sản xuất tùy thuộc vào qui mơ của của xí nghiệp, chủng loại xe và tình trạng đối tượng đưa vào Thường phân thành 6 đoạn chính và 2 đoạn phụ:

Sơ đồ tổ chức đoạn tổng thành

Sáu đoạn chính:

1 Bảo dưỡng và sửa chữa động cơ

2 Bảo dưỡng và sửa chữa hệ thống truyền lực

3 Bảo dưỡng và sửa chữa cầu trước, cầu sau, phanh, lái, treo

4 Bảo dưỡng và sửa chữa điện, nhiên liệu

5 Bảo dưỡng và sửa chữa khung bệ, cabin, sat xi, vỏ xe

6 Bảo dưỡng và sửa chữa lốp

Hai đoạn phụ:

7 Sửa chữa cơ nguội

8 Rửa, lau chùi, sơn

Khi tổ chức theo phương pháp này phải thống kê tồn bộ các chi tiết trong tổng thành, xét khối lượng cơng việc, sắp xếp cơng nhân cho mỗi cơng đoạn (cũng cĩ thể ghép các cơng đoạn 1-2, 3-4, 5-6 để giảm bớt cơ cấu tổ chức) Sử dụng các phương pháp tổ chức này cho phép chuyên mơn hĩa tự động hĩa

1.2) Lựa chọn phương án sửa chữa

Xe đầu kéo Sisu là loại xe có kết cấu tương đối phức tạp và có tính hiện đại cao Các bộ phận của xe đều phải nhập từ nước ngoài và nếu đầu tư các bộ phận dự phòng như: động cơ, hộp số, motor, bơm thủy lực, hệ thống phanh… cần phải tốn một nguồn vốn lớn, không phù hợp với tình hình hiện tại

ở các cảng của nước ta

Trang 22

Qua thực tế tại các xưởng sửa chữa và điều kiện kinh tế của các cảng ở nước ta hiện nay, việc lựa chọn theo phương án 1 & 2 là không thích hợp Phương án 1 & 2 đòi hỏi phải đầu tư nhiều vào các cụm máy, khả năng

chuyên môn hóa cao và giá thành phục vụ cho công việc sửa chữa lớn Mặt khác, khả năng chuyên môn hóa của các xưởng, xí nghiệp sửa chữa ở nước ta chưa cao nên sẽ làm giảm tính năng của các phương pháp trên

Vì vậy, trong các phương án trên thì phương án sửa chữa theo hình thức đơn chiếc sẽ phù hợp với điều kiện sửa chữa của các cảng ở nước ta hiện nay hơn

CHƯƠNG 2 : CÔNG TÁC CHUẨN BỊ SỬA CHỮA

2.1) Sơ đồ qui trình công nghệ sửa chữa

Các sơ đồ qui trình sửa chữa:

Rửa bộ phận và chi tiết

Kiểm tra và phân loại chi tiết Lập bảng kê khai khuyết tật

Chi tiết loại bỏ Sửa chữa và phục hồi

Hệ thống điện truyền lực

Hệ thống công tác

Thiết bị thủy lực

Hệ thống đốt trong

Động cơ Chi tiết còn dùng được

Kiểm tra chất lượng Chi tiết mới Lắp bộ phận

Thử bộ phận Lắp chung toàn máy Chạy rà và thử máy Sơn máy Giao máy đã sửa chữa cho nơi sử dụng

Trang 24

Sơ đồ qui trình công nghệ sửa chữa lớn

Trang 25

Sơ đồ phương pháp sửa chữa riêng xe

a Sửa chữa riêng xe

Định nghĩa: là phương pháp sửa chữa mà chi tiết của xe nào sau khi sửa chữa thì hồn tồn lắp vào xe đĩ

Đặc điểm: cĩ tính chất tự phát trong điều kiện chủng loại xe nhiều, nhưng số lượng mỗi loại ít Các đơn vị quản lý xe cĩ thể tự đứng ra sửa chữa riêng xe cho mình

Là phương pháp lạc hậu vì khơng cho phép thay chi tiết nên thời gian sửa chữa

xe hồn tồn phụ thuộc vào thời gian sửa chữa các chi tiết trong cụm và các cụm trong xe, thời gian xe nằm chờ lâu

Số chi tiết phục hồi sửa chữa sẽ rất nhiều gây phức tạp cho quản lý, kế hoạch hĩa sửa chữa Khơng thể áp dụng chuyên mơn hĩa sửa chữa và hiện đại hĩa thiết bị Năng suất lao động thấp, chất lượng sửa chữa khơng cao

Thích hợp với phương thức tổ chức sửa chữa theo vị trí cố định với tổ chức laođộng theo kiểu sửa chữa tổng hợp (một nhĩm cơng nhân phụ trách sửa chữa)

Điều kiện áp dụng:

- Chủng loại xe nhiều, số lượng từng loại ít

- Quản lý xe phân tán khơng hợp lý

- Khi chưa cĩ hệ thống sửa chữa trên qui mơ lớn để sửa chữa tồn bộ xe hỏng hàng năm

- Chế độ quản lý, đăng ký xe cịn khắt khe

Trang 26

Sơ đồ qui trình công nghệ sửa chữa theo phương pháp đối lẫn

b Phương pháp sửa chữa đổi lẫn

Là phương pháp mà các cụm, các chi tiết của xe cùng loại cĩ thể đổi lẫn cho

nhau

Điều kiện đổi lẫn:

- Đổi lẫn các chi tiết hay cụm cùng cốt sửa chữa

- Khơng đổi lẫn các chi tiết trong cặp chế tạo đồng bộ như:

+ Trục khuỷu - bánh đà

+ Thân máy - nắp máy

+ Nắp hộp số - vỏ hộp số

+ Vỏ cầu - vỏ hộp vi sai

+ Nắp đầu to - thân thanh truyền

Khơng cho phép đổi lẫn các chi tiết cơ bản như thân máy, vỏ hộp số, vỏ cầu, khung xe

Hai hình thức đổi lẫn:

- Đổi lẫn cụm: các cụm cùng loại (cùng cốt sửa chữa) cĩ thể đổi lẫn nhau

- Đổi lẫn chi tiết, các chi tiết trong cụm (cùng cốt sửa chữa) cĩ thể đổi lẫn nhau Thực tế thường phối hợp đổi lẫn chi tiết với cụm

Đặc điểm: là phương pháp tiên tiến

- Rút ngắn thời gian sửa chữa cụm máy hay xe Thời gian sửa chữa xe phụ

thuộc chủ yếu vào thời gian sửa chữa chi tiết cơ bản, khung xe

- Cĩ thể dễ dàng tổ chức sửa chữa theo dây chuyền và chuyên mơn hĩa thiết bịlao động Do đĩ giảm bớt chi phí sản xuất, hạ giá thành

Điều kiện thực hiện phương pháp sửa chữa đổi lẫn:

- Số lượng xe, cụm máy cùng loại nhiều;

- Phải dự trữ một lượng nhất định cụm máy, chi tiết tùy theo:

Trang 27

+ Sản lượng sửa chữa hàng năm;

+ Thời gian sửa chữa phục hồi;

+ Tốc độ sửa chữa cụm, xe

- Hệ thống các nhà máy sửa chữa đủ khả năng đáp ứng nhu cầu sửa chữa, đặc biệt thích hợp với quan hệ nhà máy sửa chữa bán xe đã sửa chữa và mua xe hỏng cùng loại với chủ phương tiện

Sơ đồ tổ chức sửa chữa theo vị trí cố định

Tồn bộ cơng việc sửa chữa được thực hiện ở một vị trí cố định

- Sử dụng cơng nhân vạn năng, tay nghề cao;

- Tiêu hao nhiên vật liệu phụ tăng, do phải trang bị, cung cấp nguyên - nhiên vật liệu như nhau cho nhiều vị trí sửa chữa;

- Thiết bị, đồ nghề vạn năng, khĩ áp dụng thiết bị chuyên dùng hiện đại

- Năng suất lao động thấp, giá thành cao, chất lượng khĩ ổn định

T

ổ chức s ửa c hữa theo d â y ch u y ề n

Cơng việc sửa chữa được tiến hành liên tục ở một số vị trí sản xuất hay một sốdây chuyền sản xuất

Đặc điểm: cĩ liên quan chặt chẽ giữa các khâu

- Thích hợp với phương pháp sửa chữa đổi lẫn trong qui mơ xưởng lớn;

- Sử dụng lao động chuyên mơn hĩa nên giảm được bậc thợ và nâng cao chất lượng từng cơng việc;

- Giảm tiêu hao nguyên vật liệu phụ;

- Thiết bị tập trung và cĩ điều kiện sử dụng thiết bị chuyên dùng hiện đại Năng suất cao, giá thành hạ

Trang 28

Sơ đồ phương thức sửa chữa theo dây chuyền

2.2) Qui trình công nghệ sửa chữa máy

2.2.1) Nhận máy vào sửa chữa, vệ sinh tổng thể:

2.2.1.1) Nhận máy vào sửa chữa:

Nhận máy vào sửa chữa tuy không phải là một công đoạn công nghệ thuần túy nhưng nó có vai trò rất quan trọng trong quá trình sản xuất thuộc lĩnh vực sửa chữa máy

Khi đưa máy vào sửa chữa cần có những hồ sơ sau:

 Biên bản xem xét kĩ thuật định kì

 Biên bản nhận máy từ các lần sửa chữa trước

 Lý lịch máy

 Biên bản sửa chữa đột xuất và thay thế các cụm máytrong quá trình vận hành

Trang 29

Trong tất cả các biên bản kể trên đều phải ghi đầy đủ tình trạng kĩ thuật của các cụm và bộ phận máy Người nhận máy là người phụ trách kĩ thuật ở xưởng cần xem xét sơ bộ bên ngoài máy, nhận các hồ sơ liên quan từ người giao máy (chủ xe hoặc lái xe) Bằng việc xem xét bên ngoài, người ta có thể đánh giá sơ bộ chất lượng và trạng thái của máy đưa vào sửa chữa.

Việc nhận máy vào xưởng cũng phải được lập biên bản nhận máy, trong biên bản cần ghi cụ thể những hiện tượng phát hiện được trên máy như gãy, nứt hoặc thiếu các chi tiết phụ tùng…

2.2.1.2) Vệ sinh tổng thể:

Máy trước khi được đưa vào sửa chữa phải được làm sạch sơ bộ bùn, đất

bám ngoài máy nhằm khử các chất bẩn bám vào xe, tạo điều kiện dể dàng cho việc tháo xe thành bộ phận, tránh gây bẩn cho khu vực tháo xe

Nếu trường hợp máy còn tự di chuyển được đến xưởng sửa chữa, thì để làm sạch dầu bôi trơn ta rót một ít dầu nhiên liệu diesel vào trong cácte và cho máy chạy trong 5 ÷ 10 phút, sau đó xả nhiên liệu ra khỏi cácte

Công việc tiếp theo là xả hết nước làm mát, nhiên liệu và dầu bôi trơn

ra khỏi động cơ và các bộ phận của máy Dùng dung dịch chuyên dùng để rửa

sơ bộ các bộ phận đó (hệ thống làm mát, hệ thống nhiên liệu, hệ thống truyền động và hệ thống bôi trơn động cơ) Sau khi xả hết dầu ta vặn các nút về vị trí cũ để tránh mất mát và dễ cho việc lắp ráp sau này

Để rửa các bộ phận trên ta có thể sử dụng các phương pháp rửa sau:

 Phương pháp thủ công

 Phương pháp cơ giới

Với tình trạng kinh tế và kĩ thuật nước ta hiện nay thì phương pháp rửa thủ công được dùng phổ biến

2.2.2) Tháo tách các cụm:

Tháo máy là một công đoạn rất nặng nhọc nhưng không thể bỏ qua được trong quá trình sửa chữa lớn xe đầu kéo Sisu

Công tác tháo máy nếu được tổ chức tốt và có chất lượng thì sẽ tạo điều kiện cho công tác sửa chữa sau này, đồng thời nâng cao năng suất và chất lượng sửa chữa máy

Công tác tháo các cụm ra khỏi xe có thể tiến hành theo 2 hình thức:

 Tháo xe và các cụm tại chỗ

 Tháo xe và các cụm theo dây chuyền

Trang 30

− Tháo cụm tại chỗ là do một nhóm công nhân đảm nhiệm, thực hiện tại một vị trí nhất định.

− Tháo dây chuyền là mỗi công nhân tháo trải dài theo một tuyến từ khâu tháo đầu tiên cho đến khâu kết thúc, mỗi phần việc tháo là một vị trí chuyên môn hóa Phương pháp này sử dụng nhiều ở các nước công nghiệp tiên tiến, được cơ giới hóa tự động hóa quá trình công nghệ, giảm sức lao động, giảm giờ công tháo lắp

Điều kiện thực tế các xưởng sửa chữa ở nước ta chỉ cho phép sử dụng hình thức tháo xe và các cụm tại chỗ

2.2.2.1) Qui trình tháo máy thành cụm:

Quá trình tháo máy phải được thực hiện theo một trình tự khắt khe tuân thủ theo qui trình công nghệ

Trước khi đưa xe vào tháo dỡ để sửa chữa lớn ta cần phải tháo dầu, nước làm mát, dầu thủy lực… ra khỏi các bộ phận và hệ thống như đã nêu ở phần rửa ngoài

Tuỳ thuộc vào phương tiện vận tải hay phương tiện cơ giới mà ta tuân thủ theo qui trình công nghệ tháo máy,Ví dụ như: Đối với cần đầu kéo Sisu khi tháo máy ta nên tháo thành các cụm như sau:

 Động cơ

 Hộp số

 Ly hợp

 Hệ thống di chuyển

Các thiết bị phục vụ cho công tác tháo máy thành cụm ngoài các dụng cụ tháo lắp còn phải huy động cổng trục và cầu trục sức nâng phù hợp dể phục vụ tốt cho công việc

2.2.2.2) Rửa bộ phận và rửa chi tiết:

Rửa chi tiết là một công đoạn rất quan trọng trong qui trình sửa chữa máy chất lượng sửa chữa chi tiết phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của công đoạn này (đặc biệt là đối với công đoạn kiểm tra chi tiết) Ngoài ra mức độ sạch sẽ và mức độ văn hóa kĩ thuật của xưởng sửa chữa cũng phụ thuộc không

ít vào kết quả của công việc rửa và làm sạch chi tiết

2.2.2.3) Kiểm tra và phân loại chi tiết:

Sau khi rửa chi tiết, người ta tiến hành kiểm tra và phân loại để tiến hành xác định tình trạng kĩ thuật của chúng, tức là phải làm rõ khả năng của chi tiết đó có còn sử dụng được nữa hay không, hay là phải sửa chữa hoặc thay thế

Trang 31

Cơ sở để kiểm tra và phân loại chi tiết là phải dựa vào điều kiện kĩ thuật được qui định sẵn trong hồ sơ tài liệu cho từng loại chi tiết, đồng thời dựa vào tính năng và điều kiện làm việc của từng chi tiết Sau khi kiểm tra và phân loại chi tiết xong chúng ta tiến hành sửa chữa theo từng bộ phận và từng loại chi tiết đó.

Trang 32

CHƯƠNG 3 : CÔNG NGHỆ PHỤC HỒI-SỬA CHỮA HỆ THỐNG

TRUYỀN ĐỘNG

Hệ thống truyền động của se Sisu chuyên dùng : Hộp số, ly hợp, truyền động cácđăng, cầu chủ động,

3.1) Phục hồi sửa chữa hộp số

Hộp số của xe Sisu chuyên dùng có cấu tạo như sau :

Hình : Mặt cắt hộp số

B A

F C

E D

SỐ 4.

SỐ LÙI SỐ 2. SỐ 1.

SỐ TỚI. SỐ 3.

4

8 9

Trang 33

1 Bánh đà 2 Ly hợp thuỷ lực

9 Bánh răng dẫn động hộp số

 Những hư hòng thường gặp

* Mất số hoặc có số nhưng không đủ lực kéo

* Mòn gối đỡ ổ lăn và các truc dẫn động

* Vỏ hộp số bị nứt và bị thủng

* Ổ bi bị mòn

* Bánh răng bị mòn, nứt, rạn, sứt mẻ và bị tróc làm xuất hiện tiếng kêu trong hộp số

* Các trục ổ then hoa bị mòn

Từ những hư hỏng đó làm xuất hiện các tiếng động không bình thường và

va đập trong hộp số khi chuyển động máy và gài số, nung nóng các chi tiết làm chảy dầu mỡ, tự động ngừng truyền lực và đồng thời cùng lúc

 Phát hiện khuyết tật

* Vỏ hộp bị nứt, thủng thường được phát hiện bằng dùng dầu hoả bôi vào chỗ cần kiểm tra, sau đó lau khô rắc một ít bột trắng, dùng búa con gõ nhẹ, nếu thấy có màu vàng rõ rệt thì ở đó có vết nứt

* Ổ bi mòn có thể kiểm tra bằng mắt để phát hiện các vết nứt, rơ, dường chạy của các vòng bi, các dấu hiệu mài mòn hoặc bị tán dập

* Để phát hiện các khuyết tật của các bánh răng như bị mòn, sứt mẻ, tróc thì có thể quan sát bằng mắt thường Trong trường hợp bánh răng bị nứt hoặc rạn thì ta có thể dùng dầu hoả và bột trắng như trường hợp vỏ hộp số bị nứt

* Để phát hiện các cổ trục và then hoa bị mòn ta dùng thước Panme để đo kích thước cổ trục và thước đo răng để đo độ dày của then hoa

* Kiểm tra độ kín của các phớt làm kín bằng cách quan sát xem có sự rò rỉ dầu hay không

* Kiểm tra độ dày của các bố bằng thước Panme

Trang 34

Phục hồi sửa chữa hộp số

Sửa chữa vỏ hộp số

* Khi hộp số hay vỏ hộp số bị nứt hoặc thủng thì ta sửa chữa bằng phương pháp hàn điện hay cấy đinh nếu nó không trùm lên quá nửa lỗ lắp bulông và đồng thời dùng dầu hoả để thử, trong 5 phút không được thấm dầu

* Ren bị cháy trong lỗ bắt chặt cơ cấu gài số, phục hồi bằng phương pháp hàn hoặc lắp ống lót phụ có ren

* Các lỗ đặt bi bị mòn sẽ làm các trục không song song với nhau, vì vậy các bánh răng sẽ bị mòn nhanh, dễ bị bật số, có tiếng kêu, trục bị xê dịch về phía trước hay phía sau … trường hợp này cần dùng phương pháp ép bạc hoặc dùng tia lửa điện để phục hồi theo kích thước tiêu chuẩn hoặc kích thước sửa chữa

* Nếu mặt lắp ghép của nắp và cắcte bị vênh thì dễ bị rò rỉ dầu, do đó nếu bề mặt lắp ghép bị cong, vênh thì ta có thể sửa chữa bằng gia công cơ hoặc dùng dũa giũa cho bằng Độ phẳng định danh của nắp phải bằng 0,1mm trên chiều dài 100mm phải doa lại chỗ xước và rìa xởm ở chỗ lắp cần số

Sửa chữa then hoa:

Khi then hoa bị mòn hoặc hư hỏng thì ta có thể phục hồi tuỳ theo trường hợp:

• Trường hợp rãnh then bị mòn chưa nghiêm trọng thì dùng giũa để sửa chữa, nếu bị mòn nhiều thì cho phép giũa rộng ra, lớn hơn ban đầu 10% - 15%, rồi chế tạo then mới có kích thước lớn hơn hoặc thay bằng then bặc thang

• Đối với rãnh của chi tiết bằng thép thì có thể dùng phương pháp hàn điện hoặc hàn hơi đắp kín toàn bộ rãnh cũ

Hình a Cách liên kết trục và chi tiết bằng then bậc thang.Hình b Sửa chữa then bằng phương pháp nong

Trang 35

• Then hoa thường bị mòn ở một bên, trường hợp này thường được sữa chữa bằng phương pháp nong Đối với trục then hoa đã qua nhiệt luyện thì phải tiến hành ủ rồi dùng chạm cùn mở một cái rãnh ở trên then hoa(nằm về phía bị mòn) như vậy chiều rộng then hoa có thể nong ra 0,5 – 1mm sau đó dùng phương pháp hàn điện để vá lại Cũng có thể dùng phương pháp hàn đắp ở một bên then hoa,rồi sửa chữa gia công cơ.

Sửa chữa bánh răng:

• Sự mài mòn cho phép của các băng theo chiều dày không vượt quá 1 – 1,2mm sự mài mòn cụt các răng so với chiều dày bình thường cho phép đến 15% - 20%

• Răng bị nứt, vỡ là do khoảng cách giữa 2 tâm bánh răng khi ăn khớp với nhau quá lớn hoặc quá bé, do bánh răng bị các vật khác rơi vào hoặc bị quá tải và do thao tác không chình xác khiến truyền động quá mạnh gây nên Có thể phục hồi sửa chữa theo phương pháp sau:

* Dùng đá mài để sửa : khi bề mặt làm việc bị tróc nhẹ(diện tích bị tróc không vượt quá 25% mặt răng), bị sứt và bị hỏng không quá 1/3 chiều cao và 1/5 chiều dài răng, với số lượng không quá 3 răng và các răng đó không nằm kề thì có thể dùng đá mài dầu để mài cùn các răng nhọn để tiếp tục sửa dụng

* Hàn đắp : khi mặt làm việc của các bánh răng hoặc mặt đầu của răng bị mòn nặng, bị nứt hoặc bị gãy thì có thể hàn đắp bằng phương pháp hàn điện hoặc hàn hơi, sau đó gia công theo hình dạng tiêu chuẩn

Hình Bánh răng bị hỏng

Trang 36

* Lắp ngược lại để dùng : Cách này dùng cho các bánh răng thẳng hoặc răng nghiêng chỉ bị mòn 1 bên Có một số bánh răng khi lắp ngược lại 1800 cũng không hảnh hưởng đến kết cấu của nó, nhưng phần lớn các bánh răng phải gia công mới lắp ngược lại được

* Thay đổi một phần : các bánh răng 2 tầng hoặc làm từ vật liệu quý thì có thể tiện vành răng bị hỏng và làm vành răng mới, rồi dùng phương pháp ép nóng để lắp vào bánh răng Để tránh cho vành răng

bị quay tròn thường phải hàn ở chỗ kết hợp, cuối cùng dùng phương pháp gia công cơ để làm răng mới

* Thay bánh răng: Khi cần thay bánh răng, cần phải thay cả đôi Nếu phải thay một bánh răng thôi thì nên thay bằng một bánh răng cũ còn dùng được Nếu không thì càng chóng mòn và sự ăn khớp của răng cũng không được tốt

* Sau khi sửa chữa và phục hồi thì cần phải làm sạch ở chỗ hàn, không bị rỗ bề mặt,hàn chưa thấu,… trên mặt làm việc của bánh răng không cho phép có 2 chỗ có lỗ rỗ đường kính không quá 1mm, sâu dưới 0,5mm và cách nhau 10mm trở lên Hình dạng đường viền ở chỗ hàn cũng phải giống như hình dạng của răng, phải dùng tấm dưỡng bao gồm hai răng trở lên đễ kiểm tra hình dạng của răng và bước răng, chiều dày lớp hàn đắp không được nhỏ hơn 1 – 1,5mm Sau khi hàn, vết lõm do bị nóng chảy tạo nên trên bề mặt của răng không được quá 0,25mm

Sửa chữa ổ bi:

Ổ bi dùng lâu ngày thì các viên bi và đường bi lăn của chúng sẽ bị mòn làm cho khe hở hướng kính và hướng trục tăng lên, bề mặt viên bi bị tróc, rỗ,bị lõm, hoặc bị nứt, viên bi bị cháy hoặc bị ủ, vòng ngăn bị mòn hoặc

bị nứt… Để phục hồi và sửa chữa ổ bi ta thường có các phương pháp sau :

• Trường hợp khe bị hở của ổ bi quá lớn : dùng phương pháp tháo các ổ bi cùng loại ra rồi chọn các viên bi, vành trong và vành ngoài thích hợp rồi cho lên máy mài lại đường lăn của vành trong và vành ngoài, còn các viên bi thì chọn theo cấp Sau đó lắp lại để dùng

• Trường hợp vành trong và vành ngoài bị quá lớn : dùng phương pháp ép thêm bạc, để đề phòng bạc bị lay động, ở mỗi đầu của bạc người ta làm một cái gờ và khoan lỗ vào đó, rồi dùng đinh ốc

Trang 37

vặn chặt lại Đối với những ổ phụ tải nhỏ, có thể dùng hàn vẩy hàn một lớp kim loại ở vành ngoài rồi ép vào.

• Trường hợp thay ổ bi : trường hợp vật liệu có khó khăn, có thể thay bằng ổ bi khác kiểu, nhưng phụ tải của nó về cơ bản phải phù hợp với phụ tải ổ cũ Nếu kích thước khác nhau thì có thể dùng phương pháp khoét rộng đặt ổ bi, mài bớt vành trong và vành ngoài ép bạc và tăng vòng đệm v.v… có trường hợp dùng hai

ổ bi đặt kề nhau khi không có được ổ bi như cũ

• Nên thay thế các ổ lăn trong thời gian sửa chữa lớn khi khe hở xuyên tâm lớn hơn 0,1mm

Các trục thứ cấp bị loại bỏ khi mài mòn các răng của bánh răng đến

chiều dày xác định, các vết nứt thông suốt trên các răng, gãy răng, sứt mẻ răng của ba răng không lân cận lớn hơn 1/3 chiều dài của chúng, vết nứt trục và uốn cong sự cố

Các trục đặt trên thân hộp số phải quay tự do Khi gày số các bánh răng phải ăn khớp hoàn toàn theo chiều dài của răng

Hình : Các loại dụng cụ đo khe hở hướng kính (a); khe hở chiều trục (b) và

cách kiểm tra khe hở không cần chiều trục (c)

Sửa chữa đĩa bố và phớp làm kín

* Khi các bố bị mòn quá giới hạn cho phép thì phải thay bố mới để đảm bảo sự hoạt động của hộp số

* Khi các phớt làm kín bị hỏng sẽ làm cho áp lực nén lên các đĩa bố

bị giảm, do đó hộp số hoạt động yếu

Trang 38

Lắp ráp và điều chình hộp số

* Trước khi lắp ráp phải lau chùi sạch sẽ các chi tiết Đường kính ngoài của ổ bi và lỗ ổ bi, đường kính trong của ổ bi và cổ trục đều phải lắp ghép chặt

* Mặt đầu của các trục phải chìm vào vòng trong của ổ bi (thấp hơn vòng bệ 0,5mm) Sau khi lắp xong phải bôi mỡ vào ổ bi

* Khi lắp đệm lót thì phải bôi mỡ vào hai mặt của đệm

* Tránh lắp ngược hoặc lắp nhầm các bánh răng Các bánh răng mới thay cần kiểm tra vết ăn khớp của chúng

* Sau khi lắp xong các trục, chúng phải quay êm và nhẹ nhàng, không có hiện tượng bị kẹt

* Hộp số đã lắp phải chạy thử nghiệm, được chạy rà có tải và không tải phù hợp với 60% - 70% Mômen quay lớn nhất khi vận hành máy

3.2) Phục hồi sửa chữa truyền động cácđăng

Các công tác chuẩn bị

Để sửa chữa những hư hỏng của cacđăng phải tháo rời từng chi tiết trên bàng thử Trước khi tháo rời nên đánh dấu các chi tiết khi láp ráp, đặt chúng vào đúng vị trí ban đầu

Những hư hỏng chính thường gặp của các chi tiết truyền động cacđăng

là:

Hình Cacđăng

• Trục cacđăng bị rung do mất cân bằng

Trang 39

• Trục cacđăng có tiếng kêu do mòn ở các cổ trục, các vòng bi kim và đệm khít của trục chữ thập, lổ trong của trục, mòn rãnh then hoa trên trục và chạc, trục bị cong và xoắn, mòn vòng bi của trục trung gian, bulông bắt mặt bích bị lỏng.

 Phương pháp Phục Hồi- Sửa Chửa

* Trục cacđăng bị mất cân bằng do khi lắp trục cacđăng không

đúng Do đó khi lắp phải chú ý theo dấu vạch, nếu không thì có thể làm trục cacđăng quay không đều và rung động mạnh

* Cổ trục chữ thập bị mòn, phục hồi bằng cách mạ crôm hay bằng cách lắp một ống lắp phụ đã nhiệt luyện, rồi mài mòn cổ theo kích thước định danh

* Các ống cacđăng (chac di trượt) có rãnh then hoa bị mòn, do đó khi gia tăng tốc độ của ôtô tăng lên đột ngột thì sẽ phát ra tiếng gõ Độ mòn của các khớp cacđăng và mối ghép then hoa thường được kiểm tra bằng tay theo độ rơ

Trang 40

Kiểm tra trục cacđăng.

* Ống cacđăng có rãnh then bị mòn theo đường kình ngoài và chiều dày thì phục hồi bằng cách hàn đắp, cùng dòng điện có cực tính ngược Sau khi hàn đắp, phài thường hóa ở nhiệt độ nung nóng là

8600C, rồi gia công cơ khí ( tiện và phay rãnh then hoa), tôi ram và mài theo đường kính ngoài Các ống cacđăng phải trược thật dễ

dàng, không bị kẹt dọc theo phần trục cacđăng có rãnh then hoa, ống cacđăng không được có độ rơ hướng tâm mà ta có thể thấy được

* Việc kiểm tra độ đảm bào của trục cacđăng tiến hành bằng đồng hồ sao, trục đặt trên các khối lăng trụ, trên sàn thử Ơû bất cứ điểm nào trên chiều dài của ống, độ đảm bảo không được vượt quá thông số tối đa qui định (khoảng 0,2mm)

* Trục bị xoắn, mòn và các rãnh then hoa bị xước thì phải thay mới Khi lắp ráp truyền động cacđăng nhớ bảo đảm cho các chạc của khớp cacđăng nằm trên cùng một mặt phẳng Trục cacđăng cầu dẫn động trước và trục trung gian phải được cân bằng động trên sàn thử Độ cân bằng không được vượt quá qui định trong điều kiện kĩ thuật

3.3) Phục hồi sửa chữa cầu chủ động

Nhiệm vụ và cấu tạo truyền lực chính là làm tăng mômen và biến chuyển động quay dọc của động cơ thành chuyển động quay ngang của hai bánh trục Các loại truyền lực chính :

Ngày đăng: 01/12/2015, 16:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ qui trình công nghệ sửa chữa lớn - GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÂN CẢNG SÀI GÒN
Sơ đồ qui trình công nghệ sửa chữa lớn (Trang 24)
Sơ đồ qui trình công nghệ sửa chữa theo phương pháp đối lẫn - GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÂN CẢNG SÀI GÒN
Sơ đồ qui trình công nghệ sửa chữa theo phương pháp đối lẫn (Trang 26)
Sơ đồ tổ chức sửa chữa theo vị trí cố định - GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÂN CẢNG SÀI GÒN
Sơ đồ t ổ chức sửa chữa theo vị trí cố định (Trang 27)
Sơ đồ phương thức sửa chữa theo dây chuyền - GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÂN CẢNG SÀI GÒN
Sơ đồ ph ương thức sửa chữa theo dây chuyền (Trang 28)
Hình : Mặt cắt hộp số - GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÂN CẢNG SÀI GÒN
nh Mặt cắt hộp số (Trang 32)
Hình : Các loại dụng cụ đo khe hở hướng kính (a); khe hở chiều trục (b) và - GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÂN CẢNG SÀI GÒN
nh Các loại dụng cụ đo khe hở hướng kính (a); khe hở chiều trục (b) và (Trang 37)
Sơ đồ ly hợp : - GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÂN CẢNG SÀI GÒN
Sơ đồ ly hợp : (Trang 47)
Hình : Gá lắp để tháo dỡ và lắp các tổ hợp máy và cơ cấu của ô tô. - GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÂN CẢNG SÀI GÒN
nh Gá lắp để tháo dỡ và lắp các tổ hợp máy và cơ cấu của ô tô (Trang 54)
Hình :  Các loại tuavít, kềm và chìa khoá - GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÂN CẢNG SÀI GÒN
nh Các loại tuavít, kềm và chìa khoá (Trang 55)
Hình  4.6.3.a): máy cọ rửa các tổ hợp máy kiểu dây chuyền, một buồng. - GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÂN CẢNG SÀI GÒN
nh 4.6.3.a): máy cọ rửa các tổ hợp máy kiểu dây chuyền, một buồng (Trang 66)
Hình 4.6.3.b): Sơ đồ buồng rửa kiểu thông qua có băng chuyền treo dịch chuyển - GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÂN CẢNG SÀI GÒN
Hình 4.6.3.b : Sơ đồ buồng rửa kiểu thông qua có băng chuyền treo dịch chuyển (Trang 67)
Hình 4.8.1.a: Bàn thử kiểm tra thân - GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÂN CẢNG SÀI GÒN
Hình 4.8.1.a Bàn thử kiểm tra thân (Trang 71)
Hình 3.14 Gá lắp để kiểm tra xupap - GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÂN CẢNG SÀI GÒN
Hình 3.14 Gá lắp để kiểm tra xupap (Trang 98)
Hình : Làm sạch vòi kim phun. - GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÂN CẢNG SÀI GÒN
nh Làm sạch vòi kim phun (Trang 108)
Hình : Bàn thử bơm chuyên dùng. - GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÂN CẢNG SÀI GÒN
nh Bàn thử bơm chuyên dùng (Trang 110)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w