Báo cáo Đầu tư Công nghiệp Việt Nam 2011 tham gia cuộc tranh luận chính sách hiện nay ở Việt Nam bằng cách giới thiệu một khung khái niệm giúp hiểu hơn nữa về tác động của hoạt động đầu
Trang 1BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
Báo cáo Đầu tư
Công nghiệp Việt Nam 2011
Tìm hiểu về tác động đầu tư và gợi mở về phát triển công nghiệp
Đại cương và tóm tắt các kết quả chính
Tháng 3, 2012
(Bản dịch tham khảo)
TỔ CHỨC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP LIÊN HIỆP QUỐC
Trang 2Giới thiệu
Tài liệu này tóm tắt khái quát các kết quả chính của Báo cáo Đầu tư Công nghiệp Việt Nam
2011 Tài liệu này nhằm giới thiệu các nội dung chính, kết luận và khuyến nghị trên cơ sở các phân tích trong Dự thảo Báo cáo được đệ trình để tham vấn các nhóm lợi ích vào tháng
3, 2012
Báo cáo Đầu tư Công nghiệp Việt Nam 2011 tham gia thảo luận về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến nền kinh tế Việt Nam và xác nhận những gợi ý phong phú về phát triển công nghiệp rút ra từ cuộc thảo luận 1
Báo cáo Đầu tư Công nghiệp Việt Nam 2011 tham gia cuộc tranh luận chính sách hiện nay ở Việt Nam bằng cách giới thiệu một khung khái niệm giúp hiểu hơn nữa về tác động của hoạt động đầu tư đến nền kinh tế, chủ yếu là đầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FIEs) và giới thiệu khái quát cảm nhận của nhà đầu tư về môi trường kinh doanh và điều kiện địa điểm đầu tư ở Việt Nam Báo cáo cũng nhằm đưa ra một loạt các khuyến nghị chính sách dựa trên việc phân tích dữ liệu thực nghiệm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là định hướng quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế hiện nay ở Việt Nam, là yếu tố không thể thiếu trong quá trình tự do hóa kinh tế nổi bật trong giai đoạn
quá độ chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung được chính sách Đổi mới năm 1986 khởi xướng
Ở một chừng mực nhất định Việt Nam đã tiếp thu đường lối phát triển mang tính phối kết hợp (ví dụ Beresford 1998, Fforde và Vylder 1996) thường được gọi là “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” (Le 2008) mà đặc trưng nổi bật là quá trình tự do hóa thương mại rõ rệt trong những năm gần đây và điểm đích là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 Quá trình cải cách kinh tế và tự do hóa thương mại này đang là vấn đề chính được các cơ quan hoạch định chính sách Việt Nam quan tâm Trên thực tế, đánh giá vai trò của tự do hóa thương mại đối với tái cơ cấu kinh tế hiệu quả
và tác động tổng hợp của chính sách sâu rộng và rất thành công về đầu tư nước ngoài đang
là chủ đề nổi bật trong các cuộc tranh luận chính sách diễn ra gần đây Trong bối cảnh đó, Báo cáo góp phần đánh giá tác động kinh tế vi mô của hoạt động đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp mà trọng tâm là ngành chế biến chế tạo
Báo cáo trình bày những kết quả chính của Khảo sát Đầu tư Công nghệp Việt nam của UNIDO do UNIDO tiến hành trên cơ sở hợp tác với Cục Đầu tư Nước ngoài (FIA), Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), và Tổng Cục Thống kê (GSO) trong khuôn khổ dự án của UNIDO có tên “Hệ Thống Theo dõi Đầu tư và Phát triển nhà Cung cấp tại Việt Nam – Giai đoạn I” 2 Báo cáo được viết dựa trên kết quả và tiếp sau khi thu thập dữ liệu trong hơn bốn tháng từ cuối năm 2010 đến đầu 2011 từ 1.495
1 Báo cáo đã ra đời đúng lúc, ngay sau một ấn phẩm quan trọng khác của UNIDO về Việt Nam là Báo cáo Cạnh tranh Công nghiệp Việt Nam 2011 do Bộ Công Thương công bố tháng 12 năm 2011 Có thể nói Báo cáo Cạnh tranh đã tạo bối cảnh ra đời cho Báo cáo này ở chỗ nó khẳng định lại rằng công nghiệp hóa là cốt lõi của tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong tương lai và điều quan trọng là cần tiếp tục nâng cấp công nghiệp bằng cách xây dựng ngành công nghiệp chế biến chế tạo mang tính cạnh tranh nếu Việt Nam mong muốn đạt đến sự thịnh vượng và tạo nhiều việc làm Tâm điểm của ngành chế biến chế tạo cạnh tranh chính là đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư trong nước
UNESCO là các đối tác Liên Hợp quốc khác của Nhóm Điều Phối Chương trình này (PCG) Nhóm Công tác Quốc gia LIên Hợp quốc (viết tắt là UNCT) nhất trí với Chính phủ rằng năm 2011 sẽ là năm chuyển đổi để có đủ thời gian để gắn kết/liên kết đầy đủ của Kế hoạch Một Liên hợp quốc với Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội 2011-2015 Báo cáo Đầu tư Công nghiệp Việt Nam 2011 của UNIDO
là kết quả hợp tác giữa Cục Đầu tư Nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư và UNIDO trong khuôn khổ Nhóm Điều phối Chương trình về “Thương mại, Việc làm, và Phát triển Doanh nghiệp” thuộc Kế hoạch Một Liên hợp quốc
Trang 3doanh nghiệp (gồm doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chế biến chế tạo, xây dựng, và dịch vụ công ích) tại chín Tỉnh/Thành phố chính của Việt Nam3 Báo cáo do cán bộ và Chuyên gia UNIDO soạn thảo trên cơ sở hợp tác với các quan chức cao cấp của Cục Đầu tư Nước ngoài (FIA) và các tư vấn quốc gia
Bối cảnh
Trong bối cảnh mới xuất hiện các tình hình kinh tế quốc tế gần đây, một số vấn đề của nền kinh tế Việt Nam ở tầm vi mô và vĩ mô hiện đang được quan tâm Thắt chặt chính sách tiền
tệ để kiềm chế lạm phát cao dẫn tới sụt giảm tiêu dùng và đầu tư tư nhân và hệ quả là tăng trưởng GDP thực dự kiến sẽ chậm lại trong năm 2011, chỉ đạt mức 6% Dự kiến năm 2012 nền kinh tế toàn cầu tiếp tục suy giảm, tiếp tục tạo sức ép về tăng trưởng kinh tế Năm 2013
dự kiến sẽ có triển vọng xoay chuyển tình thế, mở ra những điều kiện kinh tế quốc tế tươi sáng hơn có thể mở đường cho Việt Nam đạt mức tăng trưởng trung bình 7.5%/năm giai đoạn 2013-164 Tình hình thâm hụt tài khoản thương mại có thể được cải thiện nhờ xu hướng tăng doanh thu xuất khẩu làm đối trọng với xu hướng tăng nhập khẩu nguyên vật liệu
và máy móc
Các cơ quan hoạch định chính sách của Việt Nam đang thận trọng trước một thực tế là đối với nhà đầu tư nước ngoài, quá trình ra chính sách bị nhìn nhận còn mơ hồ, thực tế này đi đôi với lạm phát cao và đồng tiền biến động có thể khiến các nhà đầu tư nước ngoài cảm nhận khác đi Để đảm bảo đầu tư nước ngoài vẫn là định hướng chính cho tăng trưởng kinh
tế, Việt Nam cần đảm bảo các nền tảng kinh tế vĩ mô đi đúng định hướng và nền kinh tế có thể đón nhận các cơ hội khi điều kiện kinh tế toàn cầu cải thiện Việc giới kinh doanh có thể chán nản trước các khó khăn của nền kinh tế Việt Nam hiện nay nói chung, cụ thể là những khó khăn nhiều Doanh nghiệp Nhà nước (SOEs) đang gặp phải đã trở thành bài toán hóc búa cho các cơ quan hoạch định chính sách của Việt Nam Vì vậy nhiệm vụ của cơ quan hoạch định chính sách về ổn định kinh tế ngày càng trở nên khó hơn khi môi trường kinh tế toàn cầu trở nên tồi hơn và niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài suy giảm5 Sức ép tiếp theo đối với các cơ quan hoạch định chính sách là ban hành chính sách tốt nhất và chèo lái nền kinh tế phát triển theo hướng tăng trưởng cao và bền vững Nền kinh tế Việt Nam trên thực tế đang đứng trước một bước ngoặt quyết định Đó là sự cần thiết và quyết tâm tiếp tục duy trì vị trí là quốc gia có thu nhập trung bình bằng cách theo đuổi mục tiêu trở thành quốc gia công nghiệp hóa vào năm 2020 Việt Nam cũng đang vượt ra khỏi tâm lý là nước nhận viện trợ phát triển, dần trở thành nhà đầu tư quan trọng trong khu vực
Tóm lại, những câu hỏi cần chú ý trong cuộc tranh luận chính sách liên quan đến những vấn
đề sau:
i Đâu là cách thức ổn định kinh tế chứ không chỉ tăng trưởng kinh tế đơn thuần trong bối cảnh đang có bất ổn kinh tế xuất phát từ những thay đổi kinh tế bên trong và bên ngoài? Có sự đồng thuận cao và quyết sách về sự cần thiết phải đảm bảo ổn định
tăng trưởng kinh tế (chứ không phải tăng trưởng kinh tế về bản chất) và cải thiện
chất lượng phát triển công nghiệp Cụ thể hơn câu hỏi quan trọng là làm cách nào để xây dựng nền kinh tế và công nghiệp mang tính cạnh tranh hơn nữa? Về câu hỏi này,
Phòng, và thành phố Hồ Chí Minh
đảm bảo cung cấp đủ điện Hơn nữa, thách thức pháp lý quốc tế xung quanh các khoản nợ lớn của Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Vinashin có thể khiến việc bảo toàn môi trường kinh doanh hiện tại khó khăn bội phần
Trang 4cần hiểu rõ hơn đâu là tính cạnh tranh công nghiệp của Việt Nam và triển khai các chính sách hỗ trợ để hỗ trợ nó6;
ii Kế từ khi bắt đầu quá trình cải cách kinh tế, tác động tổng hợp chủ yếu mà tự do hóa mang lại chính là các dòng FDI đổ vào Việt Nam gia tăng7 Từ đây có thể có những
kỳ vọng quan trọng và/hoặc ý kiến mang tính giả định rằng FDI ở Việt Nam là yếu tố quyết định và định hướng cho cạnh tranh công nghiệp Theo đó là yêu cầu liên tục đánh giá các phương cách đảm bảo thu hút mới và mở rộng đầu tư trực tiếp nước
ngoài và nâng cao tác động phát triển trong nền kinh tế
Nói chung ý kiến đồng thuận ở đây là năm 2012 là năm chuyển đổi quan trọng với Việt nam trong quá trình thực hiện kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế Yêu cầu ngày càng cao về đánh giá tác động của FDI với nền kinh tế để hiểu rõ hơn đâu là tính cạnh tranh của công nghiệp Việt Nam, và để có thể ban hành chính sách tốt nhất và triển khai thực hiện các chính sách
hỗ trợ đồng nghĩa với việc nhất thiết phải có dữ liệu thực chứng kịp thời ở cấp doanh nghiệp, cả đầu tư trong nước cũng như nước ngoài8
Báo cáo Đầu tư Công nghiệp Việt Nam 2011 của UNIDO vì vậy là ấn phẩm được ra đời đúng lúc hướng tới việc cung cấp những bằng chứng, phân tích và đề xuất cần thiết để hỗ trợ các cơ quan hoạch định chính sách trong quá trình cải cách kinh tế đang diễn ra
Khuôn khổ Báo cáo
Chặng đường tăng trưởng kinh tế đầy ấn tượng mà Việt Nam đã thực hiện trong thập kỷ gần đây phần nào là kết quả của hoạt động FDI mạnh mẽ9 Vì thế không có gì ngạc nhiên khi Việt Nam tìm cách tận dụng các đầu vào mạnh mẽ của FDI làm một phần để thúc đẩy phát triển kinh tế và cạnh tranh với các nền kinh tế khác trên con đường thúc đẩy phát triển thông qua FDI Việt Nam cũng như các quốc gia mới nổi đang phát triển khác có những kỳ vọng có tính giả định từ FDI Tích cực xúc tiến các dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài, cụ thể là các dòng từ các quốc gia phát triển đi kèm với công nghệ cao đã được chứng minh là cần thiết Xúc tiến đầu tư nước ngoài tỏ ra hấp dẫn bởi kèm theo các dòng FDI là những lợi ích được
ưa chuộng được dự báo dành cho các doanh nghiệp Việt Nam Những lợi ích được ưa chuộng không chỉ giới hạn trong những mục sau:
Cung cấp nguồn vốn rất cần thiết cho một nền kinh tế như của Việt Nam để có thể tạo bước nhảy vọt, nhanh chóng tiến đến giai đoạn phát triển kế tiếp;
Nâng cấp năng lực công nghiệp và năng lực xuất khẩu;
Tạo công ăn việc làm đi kèm với phát triển nguồn nhân lực;
Những nét đặc trưng nhất định giúp cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư;
Cần tạo ra những mặt ngoài (externalities) tích cực giúp cải thiện nâng cao năng suất lao động trong khu vực kinh tế tư nhân, cải thiện ngân sách nhà nước và cán cân kinh tế vĩ mô
6
Chi tiết thảo luận xem Báo cáo Cạnh tranh Công nghiệp Việt Nam 2011 của UNIDO
7
Nói chung, việc gia nhập WTO hiển nhiên đã luôn thay đổi „quy định của cuộc chơi‟ Kinh tế Việt Nam đã được hưởng lợi từ việc thu hút FDI cũng như đầu tư ra các nước khác như Lào, Campuchia
8
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện Chiến lược Phát triển Kinh
tế Xã hội 2011-2020 và Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội 2011-2015
FDI đến tăng trưởng kinh tế (2006) Nguyễn Phi Lan (2006) nghiên cứu mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam chỉ ra rằng có tồn tại liên kết 2 chiều giữa FDI và tăng trưởng kinh tế và FDI và tăng trưởng kinh tế là 2 yếu tố quyết định quan trọng với nhau Ngoc và Ramstetter (2006) gợi
ý rằng sự hiện diện của các tập đoàn đa quốc gia (MNC) và tăng trưởng theo đầu người có mối quan
hệ tương quan tỉ lệ thuận Sự hiện diện của các tập đoàn đa quốc gia được coi là quyết định tính đồng quy của tăng trưởng theo đầu người tại các Tỉnh
Trang 5Tất cả những lợi ích nói trên là vô cùng quan trọng với Việt Nam vì nó cho phép đánh giá chính sách thu hút FDI đạt được mục tiêu ở mức nào cũng như cố gắng hiểu rõ và dự đoán tác động của FDI với nền kinh tế Việt Nam10 Có thể tạo dựng những mặt ngoài tích cực thông qua nhiều kênh như phổ biến và chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cho các đối tác trong nước (còn gọi là hiệu ứng trình diễn) (tiếng Anh là demonstration effects); liên kết ngược (backward) và xuôi chiều (forward); phổ biến tri thức
và kỹ năng của người lao động và xúc tiến cạnh tranh tại thị trường nội địa về lâu dài
Những lợi ích kỳ vọng của FDI trong nền kinh tế Việt Nam bị hạn chế và giảm trừ còn do những ý kiến cho rằng hoạt động FDI còn nhiều thiếu sót Sự khác biệt giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện/vốn giải ngân dẫn đến những hệ lụy trong nền kinh tế Có ý kiến cho rằng quá trình chuyển giao công nghệ chậm đã không giúp tối đa hóa hiệu ứng lan tỏa (spillover effects) FDI cũng bị phê phán bởi các hoạt động chuyển giá đáng tiếc đã xảy ra Có ý kiến cũng nhấn mạnh rằng nhiều năm qua đã tồn tại một cơ cấu FDI không mong muốn trong đó các lĩnh vực đã được đầu tư quá nhiều lại tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài trong khi các lĩnh vực cần đầu tư thì không nhận được gì (nông nghiệp, hạ tầng và công nghệ cao) Thực tế trong nước cũng đang tồn tại xu hướng cạnh tranh xúc tiến đầu tư rõ ràng giữa 63
cơ quan xúc tiến đầu tư khác nhau để cùng thu hút một số nguồn FDI Điều này có lẽ bất lợi nhiều hơn là có lợi cho các mục tiêu kinh tế dài hạn của Việt Nam FDI cũng cần cố gắng bổ sung những thiếu hụt về cơ sở hạ tầng nói chung và hạ tầng môi trường kinh doanh cũng như thiếu hụt nguồn nhân lực Vì vậy điều quan trọng là cần xác định rõ bản chất và mức độ lợi ích kỳ vọng cũng như những yếu kém cảm nhận được Cần toàn tâm toàn ý nỗ lực phân tích khoảng cách giữa vốn FDI đăng ký và vốn FDI thực hiện và tác động của đầu tư trong nền kinh tế của nước nhận đầu tư có chú ý đến sự tương tác giữa các nhà đầu tư tư nhân
và nhà đầu tư nước ngoài Xúc tiến FDI không nên chỉ chú trọng đến khối lượng các dòng vốn vào mà nên mở rộng quan tâm đến những mặt ngoài tích cực tiềm năng cũng như mức
độ Việt Nam có thể tiếp nhận những mặt tích cực đó
Mục đích chính của Báo cáo vì vậy là làm rõ hơn tác động đầu tư của các phạm trù đầu tư khác nhau phân loại theo nhóm đầu tư; đó là nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FIEs), doanh nghiệp nhà nước (SOEs) và doanh nghiệp tư nhân (PEs) và đánh giá ý nghĩa
về phát triển kinh tế được rút ra từ đó Từ việc phân tích dữ liệu Khảo sát Đầu tư, Báo cáo
đã đề cập đến một số quan tâm chính của các nhóm lợi ích quốc gia khi họ cố gắng hiểu hơn về tác động của hoạt động đầu tư chứ không chỉ giới hạn về FDI cũng như phản ánh cảm nhận của nhà đầu tư trong nước và nước ngoài về môi trường kinh doanh và môi trường hoạt động ở Việt Nam theo nghĩa rộng Tác động của đầu tư nước ngoài được phân tích về các khía cạnh như tác động đến việc làm và hình thành kỹ năng, đầu ra công nghiệp, tăng năng suất và hiệu quả kỹ thuật (cũng như tác động thông qua việc hình thành các liên kết ngược và xuôi chiều) và đóng góp vào năng lực thương mại và hội nhập ngoại thương Báo cáo cũng cố gắng đóng góp cho thảo luận hiện nay về đo lường mức độ vốn thực hiện của các dự án FDI tại Việt Nam cũng như làm rõ hơn cấp độ nâng cấp năng lực công nghiệp
và năng lực xuất khẩu, tạo công ăn việc làm có liên quan đến phát triển nguồn nhân lực, và việc xuất hiện những mặt ngoài tích cực và tác động đến năng lực thương mại Báo cáo cũng dường như trở nên quan trọng hơn trước bối cảnh chính sách của Chính phủ liên tục chú trọng đến sự cần thiết phải hiểu rõ hơn tác động của FDI với nền kinh tế và sự cần thiết phải củng cố liên kết với các doanh nghiệp trong nước và thu hút đầu tư trong một số lĩnh vực mục tiêu chọn lọc11
nghiệp trong nước với mạng lưới sản ở xuất khu vực và quốc tế Với các dòng FDI lớn vào Việt Nam
và tiến bộ kinh tế liên quan, Việt Nam đã là một minh chứng lớn để khảo sát về tác động có thể của FDI đến nền kinh tế của nước nhận đầu tư
cải thiện chất lượng và hiệu quả các dự án FDI và ưu tiên các dự án áp dụng các công nghệ thân thiện môi trường và tiên tiến nhất
Trang 6Báo cáo được xây dựng gồm 5 Chương sau
Chương 1 giới thiệu về báo cáo
Chương 2 đưa ra bối cảnh chung mang tính thực chứng của Báo cáo cũng như khái quát về các xu hướng và các nghiên cứu thực chứng về hoạt động FDI ở Việt Nam
Chương 3 là phần cốt lõi của Báo cáo phân tích toàn diện tác động đầu tư Chương này mở đầu với phần khái quát về mẫu Khảo sát, có phân biệt sự khác nhau giữa các phạm trù/nhóm nhà đầu tư và đặc tính của nhóm nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài Tiếp theo là phân tích các khía cạnh tác động chính của đầu tư như việc làm, hình thành kỹ năng, hình thành vốn, xu hướng ngoại thương, năng suất và hiệu quả kỹ thuật, tính/quyền tự chủ của cấp quản lý sở tại trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FIEs) và phân tích hiệu ứng lan tỏa của FDI
Chương 4 phân tích cảm nhận của nhà đầu tư nước ngoài về điều kiện môi trường kinh doanh và các yếu tố về địa điểm đầu tư cũng như phân tích những thay đổi họ đã nhìn nhận, mức độ nhìn nhận về cơ hội đầu tư và đánh giá của họ về quá trình đăng ký đầu tư và dịch
vụ hỗ trợ kinh doanh Chương này cũng phân tích hoạt động đầu tư trong các khu chế xuất
và khu công nghiệp
Phần kết của Báo cáo đưa ra một số kết luận và khuyến nghị chính sách
Phần dưới đây tóm tắt các kết quả chính trong các Chương của Báo cáo Đầu tư Công nghiệp Việt Nam 2011
Các kết quả chính của Báo cáo
Khái quát về mẫu khảo sát
Báo cáo xác nhận một số hiểu biết quan trọng về FDI ở Việt Nam Mặc dù chỉ dựa trên số mẫu 1,495 doanh nghiệp, Báo cáo đã phản ánh bức tranh đầu tư nước ngoài tập trung ở các Tỉnh có đông doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FIEs) nhất ở Việt Nam Tuy số mẫu có thể hạn chế, một số kết quả có thể có giá trị xét trên bình diện toàn bộ doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc Hiển nhiên có sự khác biệt lớn giữa nhóm doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài (FIEs), doanh nghiệp phi nhà nước (NSOEs) và doanh nghiệp nhà nước (SOEs) đang hoạt động trong ngành công nghiệp Việt Nam12
Một kết quả cũng nhất quán với lý thuyết về tầm quan trọng của FDI trong phát triển công nghiệp ở quốc gia tiếp nhận đầu tư là nếu tính bình quân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FIEs) đầu tư nhiều và đóng góp đáng kể hơn vào ngân sách nhà nước Việt Nam so với doanh nghiệp phi nhà nước (NSOEs) Cũng tính bình quân thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tạo nhiều việc làm hơn, tăng trưởng cao hơn, hoạt động với tỉ lệ khai thác năng lực sản xuất và lợi nhuận cao hơn Giả sử các yếu tố khác không đổi thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp nhiều hơn cho việc hình thành vốn, nộp thuế và tạo nhiều việc làm hơn so với doanh nghiệp nhà nước (SOEs) và doanh nghiệp phi nhà nước (NSOEs)
Dữ liệu chỉ ra những đặc điểm gì của một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (tính bình quân) tại Việt Nam? Một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (tính bình quân) trong mẫu khảo sát là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 100%, đầu tư theo hình thức đầu tư mới 100%, động cơ chính là tiếp cận thị trường Việt Nam hoặc để tăng hiệu quả hoạt động của
100% và dựa trên định nghĩa của Tổng Cục Thống kê của Việt Nam
Trang 7doanh nghiệp Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường là lớn, đã hoạt động từ
6 đến 20 năm và hướng đến thị trường toàn cầu, tức là thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp này đã ra khỏi phạm vi các quốc gia ASEAN Với định hướng thị trường khu vực và toàn cầu, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác biệt rõ ràng so với doanh nghiệp phi nhà nước (NSOEs) và doanh nghiệp nhà nước (SOEs) khi những doanh nghiệp này chủ yếu chỉ hướng vào thị trường nội địa trong nước Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong các ngành công nghệ cao (như máy vi tính, điện tử và quang học) cũng như các ngành công nghệ thấp (như chế biến da giày) Nhà đầu tư thường là công ty con của Công ty Xuyên Quốc gia (TNC) có nguồn gốc từ một quốc gia công nghiệp hóa13 Trong mẫu Khảo sát, nhà đầu tư lớn nhất là đại diện đến từ Hàn Quốc, Đài Loan Trung Quốc và Nhật Bản và kết quả này phản ánh đúng bức tranh chung của ngành công nghiệp Kết quả này chỉ
ra một số đặc điểm dễ thấy của nhóm các nhà đầu tư nước ngoài được thu hút đầu tư vào Việt Nam Phân tích dữ liệu Khảo sát chỉ ra các ý kiến khác nhau về những khó khăn trong hoạt động kinh doanh giữa nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam và nhóm doanh nghiệp phi nhà nước (PEs) và doanh nghiệp nhà nước (SOEs) Trong số các doanh nghiệp không khai thác hết năng lực sản xuất, phần lớn doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài chỉ ra 2 lý do quan trọng nhất là thiếu nhân lực có tay nghề và cung cấp điện không ổn định, và đây có thể cũng là 2 yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này Kết quả quan trọng này phần nào cho thấy việc sửa đổi Luật Đầu tư Nước ngoài trước đây để tạo ra môi trường đầu tư thân thiện và bình đẳng hơn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước có lẽ cần được tiếp tực sửa đổi và cập nhật Các khó khăn mà doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cảm nhận không chỉ khiến mức độ sẵn sàng đến Việt Nam của họ giảm đi mà còn quyết định độ dài và sự gắn bó của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại quốc gia nhận đầu tư Điều này có thể ảnh hưởng đến tác động phát triển lâu dài của FDI Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với năng lực sản xuất chưa được khai thác tối đa có thể tăng trưởng chậm hơn, lợi nhuận ít hơn, đầu tư ít hơn, tuyển dụng ít hơn và không tham gia vào các chiến lược mua nội địa Tựu trung thì thậm chí họ có thể buộc phải rút khỏi thị trường và đầu tư ở nước khác
Trả lời trong Khảo sát cũng chỉ ra rằng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam chắc hẳn có yêu cầu không giống nhau ít nhất là về mục tiêu cụ thể để thúc đẩy đầu tư Thứ nhất, FDI bắt nguồn từ các nước công nghiệp dường như bị chi phối bởi các động cơ tìm kiếm hiệu quả khi đầu tư Tăng hiệu quả có thể đạt được chủ yếu là bằng cách tiếp cận các chi phí sản xuất thấp, tiếp theo là tiếp cận các nguồn lực tự nhiên và các đầu vào FDI từ các nước đang phát triển dường như bị chi phối bởi các động cơ tìm kiếm thị trường, đặc biệt là tiếp cận thị trường Việt Nam Tương tự, giữa các loại nhà đầu tư cũng có sự khác nhau về động cơ đầu tư Phần lớn các công ty con (TNC subsidiaries) của các Công ty Xuyên Quốc gia trong mẫu Khảo sát đầu tư vào Việt Nam để tăng hiệu quả trong khi các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư đơn lẻ (stand alone foreign enterprises, viết tắt là FEs) đầu
tư nhằm tiếp cận thị trường Việt Nam Phần lớn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FIEs) là theo hình thức đầu tư mới So với các Công ty Xuyên Quốc gia, số doanh nghiệp đầu tư đơn lẻ đầu tư theo hình thức Liên doanh có tỉ lệ cao hơn nhiều Kết quả này quan trọng ở chỗ nó báo hiệu rằng để tiếp cận thị trường Việt Nam, liên doanh với một đối tác trong nước là chiến lược khá phổ biến Một doanh nghiệp liên doanh (tính bình quân) vào Việt Nam để tìm kiếm thị trường nhưng về định hướng doanh thu thì lại hướng vào thị trường nội địa Mặt khác, một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 100% lại gia nhập thị trường để tìm kiếm hiệu quả và xây dựng định hướng thị trường toàn cầu Một kết quả tương đối ngạc nhiên là phần lớn liên doanh khi đầu tư vào Việt Nam là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 100% nhưng sau đó lại thành lập liên doanh Hiện tượng này thú vị ở chỗ nó phần nào báo hiệu điều kiện thị trường nội địa thuận lợi và đang được cải thiện trong một số lĩnh vực/ngành sản xuất cụ thể thể hiện ở các xu hướng tiêu dùng tư nhân cao
phẩm Thống kê Công nghiệp của UNIDO (các số khác nhau)
Trang 8Tạo công ăn việc làm và hình thành kỹ năng
Trong mẫu Khảo sát, các xu hướng tạo công ăn việc làm và hình thành kỹ năng tương đối nhất quán với nhìn nhận khái quát về tình hình công ăn việc làm trong lĩnh vực chế biến chế tạo của Việt Nam Kết luận trong Báo cáo một lần nữa khẳng định một quan điểm đã được thừa nhận đó là đa số doanh nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam sử dụng nhiều lao động và FDI có tác động tích cực đến tạo công ăn việc làm Đa số cơ hội việc làm trong lĩnh vực này thu hút lao động tham gia sản xuất trực tiếp mà đáng kể là lao động nữ Kết quả này cũng nhất quán với hiểu biết chung và nhấn mạnh yêu cầu cần nghiên cứu ý nghĩa kinh tế và xã hội của thực trạng lao động nữ tham gia rộng rãi trong các ngành công nghiệp cụ thể của Việt Nam, đáng chú ý như trong ngành dệt may
Một kết quả quan trọng của Báo cáo là phần lớn doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phụ thuộc nhiều vào vốn và đầu vào nhập khẩu đồng thời cũng tham gia sản xuất sản phẩm
có giá trị gia tăng thấp chủ yếu thích hợp với các thị trường xuất khẩu Các xu hướng này khẳng định năng suất trên một lao động tương đối thấp nếu đo lường bằng giá trị gia tăng trung vị (median) tính trên một lao động Trên thực tế thiếu lao động có tay nghề cũng như giá lao động gia tăng là hai hạn chủ yếu đối với các doanh nghiệp tham gia khảo sát, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp xuất khẩu ra thị trường toàn cầu Vì tỉ lệ lao động có tay nghề trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là thấp nhất nên các doanh nghiệp này dường như có xu hướng rút ngắn khoảng cách
về tay nghề bằng cách tăng chi phí đào tạo nội bộ doanh nghiệp và đào tạo bên ngoài Trên thực tế chi phí đào tạo nội bộ và bên ngoài của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cao hơn nhiều so với doanh nghiệp trong nước, điều này rõ ràng nói lên rằng nâng cao tay nghề là ưu tiên của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Hiện tượng này có thể góp phần tích cực giúp cải thiện chất lượng và kỹ năng của lao động nội địa Tuy nhiên, tác động gián tiếp của FDI trong việc cải thiện tay nghề/kỹ năng lao động còn thấp do liên kết dọc giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước theo nhìn nhận của các doanh nghiệp khảo sát là còn yếu
Việc hình thành vốn
Báo cáo có nhiệm vụ phân tích ý kiến cho rằng có sự khác biệt lớn và tiếp tục gia tăng theo thời gian giữa vốn FDI đăng ký và và vốn FDI thực hiện Phân tích kỹ hơn ở mức vĩ mô gợi
ra rằng dù sự khác biệt giữa 2 loại vốn này đang tồn tại, vốn thực hiện tính trên 1 dự án FDI
ít biến động hơn và thậm chí còn có xu hướng gia tăng xét về tương đối kể từ năm 2006 Điều này nói lên rằng sự khác biệt giữa vốn thực hiện và vốn đăng ký thực ra có lẽ đang giảm theo thời gian Báo cáo gợi ý rằng tác động hình thành vốn của FDI trong ngành công nghiệp Việt Nam đang phản ánh đúng các xu hướng nói trên của giá trị vốn FDI thực hiện
Kể từ năm 2008, giá trị đầu tư (giá cố định/đã điều chỉnh theo lạm phát) của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã vượt hơn giá trị đầu tư của khu vực doanh nghiệp phi nhà nước Mặc
dù có đóng góp to lớn cho việc hình thành vốn cố định tính gộp, tác động của hiệu ứng đầu
tư cùng chiều (crowding in) của đầu tư nước ngoài còn tương đối yếu Thêm nữa, kết quả Khảo sát cũng gợi ý rằng tác động tăng trưởng của FDI còn chưa tích cực vì hiệu quả hoạt động còn khiêm tốn của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng như những rắc rối về chuyển giá đã xảy ra
Trang 9Thương mại và tính cạnh tranh quốc tế
Hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp tham gia Khảo sát phản ánh tình hình chung về hội nhập thương mại của ngành công nghiệp Việt Nam cũng như tính cạnh tranh công nghiệp nổi trội Gia nhập WTO được coi là có tác động quan trọng nhất đến các xu hướng thương mại quốc tế của các doanh nghiệp, cụ thể là về đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu và
mở rộng thị trường xuất khẩu Kết quả Khảo sát cho thấy trong khi các doanh nghiệp xuất khẩu xuất khẩu toàn cầu (tức là mở rộng thị trường ra ngoài khu vực ASEAN) phần lớn các hoạt động nhập khẩu lại tập trung trong vực tức là xảy ra thâm hụt cán cân thương mại cấp khu vực Tăng trưởng xuất khẩu dường như có xu hướng suy giảm trong một số ngành xuất khẩu chủ chốt ví dụ sản xuất công nghiệp nhẹ và hàng thủ công Kết quả này có thể lý giải cho việc doanh thu xuất khẩu thấp đi là hệ quả chủ yếu của việc các thị trường quốc tế cạnh tranh mạnh mẽ sau đó mới là vì khối lượng thấp hơn Hoạt động xuất khẩu nói chung chịu
sự định hướng và dựa trên nền tảng là khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhưng đồng thời tập trung trong nhiều ngành chế biến chế tạo sử dụng nhiều lao động Việc
đa số doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, phụ thuộc nhiều vào các đầu vào nhập khẩu phần nào đang chỉ ra vấn đề thiếu các nhà cung cấp đầu vào có thể đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp Trên thực tế các khó khăn chủ yếu mà doanh nghiệp xuất khẩu gặp phải cũng là thách thức chung của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam Trước quan điểm cho rằng FDI có tác động đến năng suất lao động của các doanh nghiệp nói chung, phân tích tiếp dường như lại chỉ ra rằng doanh nghiệp định hướng xuất khẩu có năng suất lao động thấp Kết quả này đặt ra thách thức chính đối với một nền kinh tế mở cửa đang trong thời kỳ quá độ như Việt Nam Trong khi sức ép tăng trưởng xuất khẩu luôn lớn thì xuất khẩu rõ ràng vẫn theo hướng giá trị gia tăng thấp và dựa trên hoạt động chế biến chế tạo sử dụng nhiều lao động
Năng suất và hiệu quả kỹ thuật
Báo cáo cũng bắt đầu phân tích năng suất và hiệu quả hoạt động tương đối theo các nhóm doanh nghiệp, khu vực/ngành và tỉnh ở Việt Nam với mục đích xác định các xu hướng năng suất và hiệu quả hoạt động tương đối Việc này là quan trọng trong bối cảnh các chính sách xúc tiến đầu tư và cung cấp dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp đang được xây dựng hướng đến mục đích nâng cao hơn nữa tác động tích cực của FDI đối với nền kinh tế Việt Nam
Kết quả khảo sát gợi ý rằng ở cấp Tỉnh và cấp khu vực/ngành, có sự khác biệt rất lớn về hiệu quả hoạt động bình quân giữa các doanh nghiệp Tỉnh Vĩnh Phúc và thành phố Hồ Chí Minh được xác định là nơi có nhiều doanh nghiệp đứng đầu về hiệu quả hoạt động trong khi thành phố Đà Nẵng và tỉnh Bắc Ninh có nhiều doanh nghiệp đứng cuối về hiệu quả hoạt động14 Ở Vĩnh Phúc, tỉnh dẫn đầu về hiệu quả hoạt động, có nhiều doanh nghiệp trong mẫu Khảo sát là doanh nghiệp nước ngoài có hiệu quả hoạt động cao và phần lớn hoạt động trong các khu công nghiệp Về nguyên tắc, phân tích đi theo quan điểm là doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp công nghệ trung và cao chắn hẳn là hướng đến mục tiêu năng suất và hiệu quả kỹ thuật Tuy nhiên kết quả phân tích cũng cho thấy rõ là các ngành/lĩnh vực công nghệ cao điển hình thường dựa vào các lĩnh vực sản xuất lắp ráp sử dụng nhiều lao động (như chế tạo máy vi tính, điện tử, sản phẩm quan học và chế tạo thiết
bị điện) lại có hiệu quả hoạt động kém nhất xét trên phương diện năng suất và hiệu quả kỹ thuật Kết quả này có lẽ nói lên một điều rằng không phải tất cả các doanh nghiệp trong các ngành công nghệ trung và cao đều là các doanh nghiệp đứng đầu về hiệu quả hoạt động và biến số quyết định trong kết quả này chính là yếu tố lao động
14
Điểm cần thận trọng trong phân tích này là tính phù hợp Số mẫu quan sát làm cơ sở cho phân tích
này biến đổi khá lớn giữa các tỉnh và phân tích đã không tính đến sự khác biệt, ví dụ về loại hình sở hữu, khu vực/ngành, địa điểm
Trang 10
Báo cáo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hướng tới đối tượng và/hoặc hỗ trợ các doanh nghiệp sử dụng nhiều vốn và lao động Nguồn vốn lớn đặc biệt quan trọng với các doanh nghiệp đang tìm cách rút ngắn khoảng cách với các doanh nghiệp dẫn đầu về năng suất lao động Hơn nữa việc kết hợp các yếu tố sở hữu nước ngoài và vốn lớn thường được coi là mang lại cho các doanh nghiệp nước ngoài lợi thế cạnh tranh về năng suất và hiệu quả kỹ thuật Tầm quan trọng của việc đầu tư cho nguồn nhân lực trở nên rất rõ ràng khi lý giải năng suất và hiệu quả hoạt động tương đối của các doanh nghiệp bằng cách sử dụng phương pháp phân tích hồi quy Trong số các biến được sử dụng trong các mô hình, biến về mức độ nguồn nhân lực của các doanh nghiệp được phát hiện là có liên quan nhiều nhất đến hiệu quả hoạt động15
Trước nhất, kết luận chính sách chung rút ra từ đây là doanh nghiệp trong nước cần đầu tư chủ yếu vào nguồn nhân lực để cố gắng thu hẹp khoảng cách
về năng suất và hiệu quả kỹ thuật với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Đầu tư vào nguồn nhân lực luôn giúp tạo ra lợi thế dù cho các khu vực/ngành, các tỉnh, số vốn có thể khác nhau
Một kết quả Khảo sát quan trọng chỉ ra sự khác nhau không đáng kể về hiệu quả hoạt động giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp phi nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Sử dụng một số công cụ/biến về hiệu quả hoạt động, phân tích cho thấy, trái ngược với những ý kiến trước đây, doanh nghiệp nhà nước tỏ ra là nhóm có năng suất
và hiệu quả kỹ thuật tương đối cao nhất16 Phân tích hồi quy cho thấy điều này đã giải thích
vì sao sự khác biệt về hiệu quả hoạt động của các nhóm/loại hình sở hữu khác nhau là nhỏ
và nằm ngoài dự đoán Khi chỉ xét đến quan hệ giữa yếu tố sở hữu và hiệu quả hoạt động
và cô lập những yếu tố khác có thể có ảnh hưởng đồng thời đến hai yếu tố trên, kết quả phân tích cho thấy doanh nghiệp có vốn nước ngoài hoạt động kinh doanh tốt hơn đáng kể
so với hai nhóm còn lại là doanh nghiệp phi nhà nước và doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt
là về năng suất lao động tương đối và Năng suất Yếu tố Tổng hợp (viết tắt là TFP) Hơn nữa, hiệu quả hoạt động tương đối của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ tiếp tục được nâng lên nếu doanh nghiệp có lao động dồi dào và nhiều vốn hơn Ở đây việc một nhà đầu tư là Công ty Xuyên Quốc gia (TNC) hay nhà đầu tư đơn lẻ (FE) hay nguồn gốc đầu
tư từ quốc gia trong nhóm Bắc hay Nam nào dường như không còn mang tính quyết định Dựa trên kết quả này có thể nói một chính sách khích lệ tăng số doanh nghiệp nước ngoài
sử dụng nhiều vốn với mức độ nguồn nhân lực và nguồn lực vật chất dồi dào có thể làm thay đổi thành phần doanh nghiệp tại Việt Nam theo hướng thuận lợi cho các doanh nghiệp với năng suất và hiệu quả kỹ thuật cao hơn17
Một yếu tố khác cũng quan trọng đối với năng suất và hiệu quả kỹ thuật đó là doanh nghiệp
có phải là liên doanh hay là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 100% Phân tích tác động của hình thức sở hữu liên doanh đến hiệu quả hoạt động cho thấy các doanh nghiệp nước ngoài đã quyết định liên doanh với doanh nghiệp Việt Nam có Năng suất Yếu tố Tổng hợp (TFP) và hiệu quả kỹ thuật cao hơn so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 100% Vì vậy điều quan trọng là kịch bản về công nghiệp Việt Nam không chỉ gồm có doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 100% mà còn có hình thức sở hữu liên doanh cũng là một hình thức cơ bản để gia nhập thị trường Kết quả phân tích cho thấy các liên doanh với
16
Điểm hạn chế của phương pháp phân tích hồi quy là mối quan hệ giữa 2 biến có thể là do biến thứ
3, 4, hoặc 5 và một biến sau này có liên quan tới cả 2 biến đầu và tạo ra quan hệ ảo giữa 2 biến đầu
chỉ là tác động cơ cấu/thành phần của FDI, ví dụ, đâu là tác động trực tiếp đến năng suất và hiệu quả
kỹ thuật tương đối khi cơ cấu/thành phần các doanh nghiệp ở Việt Nam thay đổi theo hướng thuận lợi cho các doanh nghiệp đã được xác định? Ở đây việc các doanh nghiệp này gia nhập thị trường có tác động như thế nào đến năng suất và hiệu quả kỹ thuật tương đối của các doanh nghiệp phi nhà nước
đã có mặt trên thị trường đã được bỏ qua Cái gọi là hiệu ứng lan tỏa có thể là tích cực hoặc tiêu cực
và điều này cần được tìm hiểu thêm để có thể đánh giá tác động thuần của FDI Ví dụ, Báo cáo Đầu
tư Châu Phi của UNIDO có phân tích về tác động lan tỏa, trong đó đã tìm ra tác động lan tỏa tỉ lệ thuận rõ rệt giữa các ngành/khu vực và tác động lan tỏa tỉ lệ nghịch trong một ngành/lĩnh vực