Các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao bao gồm dầu thô, dệt may, giày dép, sản phẩm gỗ, hàng điện tử…đặc biệt một số mặt hàng mới có tỷ lệ tăng trưởng nhanh như cơ khí chế tạo, dây cáp
Trang 1Vụ KHCNN
BÁO CÁO HIỆN TRẠNG TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ NGÀNH CÔNG NGHIỆP , GIAO THÔNG, XÂY DỰNG
I Hiện trạng trình độ công nghệ ngành công nghiệp
1 Sơ lược chung về hiện trạng của ngành công nghiệp
a) Một số thành quả đạt được:
Trong những năm qua, toàn ngành công nghiệp đã đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần quan trong trong việc duy trì tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước Giai đoạn 2001-2005 tỷ lệ tăng trưởng bình quân đạt trên 17%/năm, giai đoạn 2006-2007 đạt tỷ lệ 16% Nếu như năm 1995 giá trị toàn ngành công nghiệp tạo ra là 103.374 tỷ đồng thì đến năm 2005 con số này đã là 416.612 tỷ đồng tăng gấp hơn 4 lần, năm 2007 đạt 570.770 tỷ đồng tăng 1,37 lần so với năm 2005 Tốc
độ tăng trưởng nhanh góp phần làm cho cơ cấu kinh tế dịch chuyển tích cực, nếu như năm 1995 tỷ trọng công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm 28,7% thì đến năm
2000 con số này đã là 36,7 % và năm 2006 đạt con số 41,5% Tỷ trọng xuất khẩu của ngành công nghiệp ngày càng cao nếu như năm 2005 chiếm 75% thì năm 2007 đạt 79,5%, đến năm 2008 đã chiếm đến 82% Các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao bao gồm dầu thô, dệt may, giày dép, sản phẩm gỗ, hàng điện tử…đặc biệt một số mặt hàng mới có tỷ lệ tăng trưởng nhanh như cơ khí chế tạo, dây cáp điện, sản phẩm nhựa…
Khoa học và công nghệ đã góp phần tạo ra những chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa của ngành công nghiệp góp phần làm cho sản xuất công nghiệp
và toàn bộ nền kinh tế tăng trưởng cao liên tục những năm qua
b) Một số tồn tại:
Theo đánh giá thì chất lượng tăng trưởng công nghiệp chưa cao, thời kỳ
2001-2005 giá trị tăng thêm sản xuất công nghiệp tăng bình quân 10,11%/năm, giai đoạn 2006-2007 đạt 10,27%/năm nhưng năm 2008 chỉ đạt 8,14% và theo số thống kê 8 tháng đầu năm 2009 giảm còn 4,0 % Ngành công nghiệp vẫn chỉ phát triển theo bề rộng, theo hướng gia công, lắp ráp là chủ yếu Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp luôn luôn cao hơn tốc độ tăng giá trị tăng thêm điều này cho thấy hiệu quả còn rất thấp của ngành Hiệu quả đầu tư vào công nghiệp ngày càng giảm sút và vốn đầu tư phát triển của nhà nước vẫn chiếm từ 38-52% cho ngành công nghiệp làm giảm cơ hội đầu tư của khu vực tư nhân vốn là khu vực năng động và hiệu quả Công nghiệp phụ trợ kém phát triển, sức cạnh tranh của sản phẩm hỗ trợ còn rất thấp do năng suất thấp, giá thành cao chất lượng không ổn định, không đáp ứng được yêu cầu phát triển của nền kinh tế Thiếu các cơ sở sản xuất vật liệu cơ bản như sắt, thép,nguyên liệu nhựa, cao su, hóa chất cơ bản, bông, sợi, da… các khâu tạo phôi, rèn, nhiệt luyện, sản xuất khuôn mẫu còn yếu, tình trạng ô nhiễm môi trường nước thải ngày càng nghiêm trọng vượt giới hạn cho phép
Trang 2Khả năng cạnh tranh tổng thể của ngành công nghiệp còn yếu so với các nước trong khu vực, những lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng cao đều là những ngành được nhà nước bảo hộ Lợi thế cạnh tranh của công nghiệp Việt Nam cho đến nay vẫn dựa trên nguồn lao động giá rẻ và tài nguyên sẵn có mà những lợi thế này đang có
xu thế giảm rất nhanh
2 Hiện trạng công nghệ của các ngành công nghiệp
2.1 Hiện trạng công nghệ của ngành cơ khí
Ngành cơ khí là ngành công nghiệp nền tảng, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo độc lập tự chủ về kinh tế, củng cố an ninh, quốc phòng Năm 2007 toàn ngành có 7.225 doanh nghiệp và có 668.720 người, chiếm 4,29% so với tổng số lao động trong các doanh nghiệp của cả nước Giá trị sản xuất toàn ngành cơ khí năm 2007 đã tăng gấp 7,92 lần so với năm 1995
và chiếm khoảng 19,22% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước, đáp ứng được khoảng 31,1% nhu cầu thị trường trong nước Tốc độ tăng trưởng chung về giá trị sản xuất công nghiệp của toàn ngành cơ khí trong 6 năm 1995 - 2000 là 40,74%/năm, trong giai đoạn 2000-2007 là 18,4%, cao hơn mức tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp Sản phẩm của ngành đã tham gia xuất khẩu, năm 2006 đạt 1,9 tỷ USD, năm 2007 đạt 2,3 tỷ USD, năm 2008 đạt 3,0 tỷ USD có thể khẳng định đây là những bước tiến vượt bậc của ngành
Trong những năm gần đây, trình độ công nghệ của ngành cơ khí đã không ngừng được nâng cao đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành Về thiết kế và tư vấn thiết kế: đã tiếp cận và có khả năng khai thác được các phần mềm trợ giúp thiết kế hiện đại phục vụ thiết kế các loại tàu thủy tàu chở hàng đến 54.000 tấn, tàu chở dầu thô đến 100.000T, thiết bị cơ khí thủy công, dây chuyền sản xuất bê tông, chế biến thức ăn gia súc, chế biến tinh bột sắn, sản xuất gạo xuất khẩu, chế biến hạt điều, thiết kế chi tiết các thiết bị của dây chuyền sản xuất xi măng công suất đến 1,4 triệu tấn/năm… Theo đánh giá trình độ thiết kế của việt Nam ở mức tiên tiến so với các nước trong khu vực và ở mức trung bình so với các nước tiên tiến trên thế giới Về công nghệ tạo phôi, cho đến nay hết các công nghệ đúc hiện đại như đúc furan, đúc litâm, đúc áp lực, đúc mẫu tự thiêu…đã được ứng dụng, nhiều cơ sở đã đầu tư các thiết bị hiện đại nhờ đó chất lượng sản phẩm đúc được nâng cao và ổn định Mặc
dù nhiều nơi còn đầu tư thiếu hoàn chỉnh tuy nhiên so với khu vực công nghệ đúc của Việt Nam vẫn được đánh giá ở mức tiên tiến Các Công ty như Bơm Hải Dương, Công ty Cơ khí Hà Nội, Xí nghiệp cơ khí Quang Trung Ninh Bình đã đầu
tư dây chuyền đúc hiện đại, trong đó Công ty Bơm Hải Dương được đánh giá ở tốp đầu trong khu vực về công nghệ đúc phục vụ sản xuất bơm (Công ty đang cấp sản phẩm cho Hãng bơm EBARA của Nhật Bản) Về công nghệ hàn trong nước đã có
sự đầu tư và đổi mới rất mạnh về thiết bị và công nghệ Một số ngành như sản xuất ôtô, xe máy đã sử dụng rô bốt hàn, một số công nghệ hàn đặc biệt như hàn điện xỉ, hàn bán tự động dây lõi thuốc có khí bảo vệ đã được một số công ty nhận chuyển giao công nghệ Điều đặc biệt là các nhà khoa học trong nước đã nghiên cứu làm
Trang 3chủ được các công nghệ hàn nối các trục lớn, các tấm dầy đảm bảo chất lượng tốtđã chủ động sản xuất một số chủng loại và thiết bị hàn Đánh giá chung trình độ công nghệ hàn đạt mức tiên tiến trong khu vực Đáng lưu ý là công nghệ gò, rèn còn rất lạc hậu so với khu vực hầu như chưa có thay đổi, công nghệ gia công không phoi hầu như chưa phát triển do chi phí đầu tư thiết bị lớn, công nghệ gia công có phoi đã có nhiều tiến bộ do được đầu tư các máy CNC, NC, tuy vậy hiện vẫn còn đến 70% máy công cụ vẫn là máy vạn năng, nhiều máy có tuổi đời 25-30 năm khó đảm bảo độ chính xác khi gia công Xí nghiệp Cơ khí Quang Trung Ninh Bình hiện
có các Trung tâm gia công hiện đại vào loại bậc nhất trong khu vực tuy vậy mức độ khai thác tính năng còn hạn chế Đánh giá chung về trình độ công nghệ gia công các thiết bị tĩnh (thùng, tháp, kết cấu thép…) hiện đạt mức độ tiên tiến trong khu vực, công nghệ chế tạo máy gia công, máy công cụ hiện ở mức yếu so với khu vực Công nghệ xử lý bề mặt (nhiệt luyện, phun phủ, mạ…) hầu như không được đầu tư mới do vậy hiện ở mức lạc hậu so với khu vực đây cũng là một trong nguyên nhân dẫn đến chất lượng sản phẩm cơ khí không ổn định và khó cạnh tranh được với hàng ngoại nhập Công nghệ kiểm tra, lắp ráp, hiệu chỉnh sản phẩm còn rất lạc hậu, hầu hết vẫn thực hiện thủ công, dựa vào công nhân có trình độ cao ít được đổi mới thiết bị
Có thể khẳng định trình độ công nghệ của 08 nhóm chuyên ngành là thiết bị toàn bộ; máy động lực; cơ khí phục vụ nông-lâm-ngư nghiệp và công nghiệp chế biến; máy công cụ; cơ khí xây dựng; cơ khí đóng tàu thủy; thiết bị kỹ thuật điện -điện tử; cơ khí ô tô - cơ khí GTVT đều đã có những tiến bộ vượt bậc: Ngành đóng tàu năm 1996 về công nghệ còn xếp ở bậc thứ 1, lạc hậu so với thế giới khoảng 70 -100 năm thì sau 15 năm hiện đang được xếp ở bậc thứ 3, một phần ở bậc 4 đã rút ngắn khoảng cách lạc hậu còn 20 - 30 năm, nay được đánh giá xếp thứ 5 thế giới
về năng lực đóng mới Việc làm chủ được thiết kế và công nghệ chế tạo cơ khí thủy công đã đem lại doanh thu hàng ngàn tỷ đồng và việc làm cho hàng ngàn lao động của ngành Về thiết bị điện đã có khả năng thiết kế và chế tạo máy biến áp công suất đến 220 kV-250 MVA đạt tiêu chuẩn Châu Âu Ngành cơ khí đã đủ khả năng thiết kế chi tiết và chế tạo thiết bị của các nhà máy xi măng công suất trên 1,4 triệu tấn/ năm với tỷ lệ nội địa hóa đạt trên 70 %, hầu hết các phụ tùng cung cấp cho nhà máy xi măng chúng ta đã chủ động được thông qua các công nghệ nghiên cứu trong nước Xí nghiệp cơ khí Quang Trung Ninh Bình đã có khả năng thiết kế và chế tạo các thiết bị nâng hạ cỡ lớn như cổng trục đến 750 tấn, cầu trục gian máy đến 1200 tấn… với tỷ lệ nội địa hóa đạt 90% giá thành chỉ bằng 70% so với nhập khẩu Đối với ôtô tải, xe chuyên dụng đã đạt tỷ lệ nội địa hóa trên 50%, thời điểm hai tháng gần đây Công ty ôtô Trường Hải đã vượt qua Công ty Toyota về doanh thu bán hàng là một sự kiện chưa từng sảy ra ở thị trường Việt Nam Việc các Tập đoàn cơ khí lớn đã có khả năng làm tổng thầu EPC đối với một số các dây chuyền nhiệt điện, xi măng, hóa chất đã cho thấy năng lực của đội ngũ ngành cơ khí đã được nâng cao dần đủ sức cạnh tranh với các nước trong khu vực
Trang 4Mục tiêu giai đoạn tới là tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong công nghiệp cơ khí-chế tạo máy, phát triển ngành cơ khí-chế tạo máy đủ sức trang bị một số thiết bị, máy móc đáp ứng nhu cầu trong nước, tiến tới xuất khẩu Tiếp tục nghiên cứu nâng cao khả năng khai thác tính năng các phần mềm tiên tiến để làm chủ hoàn toàn thiết kế kỹ thuật, thiết kế công nghệ các sản phẩm của ngành cơ khí thông qua các dự án đầu tư của ngành công nghiệp như hóa chất, nhiệt điện, khai khoáng…đây là cách làm đem lại hiệu quả rõ rệt nhất Thực hiện phổ biến và nhân rộng công nghệ đúc tiên tiến, tăng cường cơ giới hóa, tự động hóa, đầu tư thiết bị nấu luyện và thiết bị phân tích kiểm tra nhanh Tập trung nghiên cứu nâng cao trình độ công nghệ rèn khuôn dập, cán tạo phôi, ép chảy, ép
và dập sau thiêu kết để tạo sự đồng bộ trong quá trình tạo phôi, đây vẫn là một trong các khâu được đánh giá là yếu nhất hiện nay của ngành cơ khí Nghiên cứu ứng dụng công nghệ hàn điện hồ quang tự động hoặc bán tự động và một số công nghệ như hàn plasma, hàn chùm tia điện tử v.v phát triển ứng dụng công nghệ hàn điện xỉ cho việc tạo phôi, các chi tiết có chiều dày lớn và kích thước lớn (các trục lớn có bậc cho ngành năng lượng, ngành công nghiệp tàu thủy…) Quan tâm nghiên cứu sản xuất thiết bị và vật liệu hàn chất lượng cao, trong đó tự chế tạo que hàn thép không gỉ, que hàn gang và các loại que hàn cường độ cao… Tiếp tục đổi mới các máy cắt gọt thế hệ cũ có tuổi đời đến 30 - 40 năm sang các máy cắt gọt thế
hệ mới có điều khiển NC, CNC các trung tâm gia công Cùng với việc nâng cấp, hiện đại hóa thiết bị, máy móc hiện có, cần áp dụng rộng rãi công nghệ CAD/CAM/CNC tại các trung tâm gia công nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm
và tính linh hoạt thay đổi mẫu sản phẩm; kết hợp cơ khí - điện tử phục vụ tự động hóa thiết kế và các quá trình điều khiển, kiểm tra, đo lường nâng cao chất lượng sản phẩm Tập trung đầu tư vào các khâu nhiệt luyện, sơn mạ, phun phủ, thấm tôi liên hoàn tăng bền bề mặt đạt trình độ tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm cơ khí
2.2 Hiện trạng công nghệ ngành hóa chất
Ngành hoá chất nước ta được hình thành và phát triển từ những năm 1960 với 09 chuyên ngành cơ bản là: phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, hoá chất vô cơ cơ bản, sản phẩm từ cao su, chất tẩy rửa, sản phẩm điện hoá (pin, ắc quy), sơn và nguyên liệu mỏ hoá chất và đã và đang hình thành thêm hai ngành công nghiệp hoá dầu và hoá dược
Hiện nay một số sản phẩm sản xuất đáp ứng cơ bản nhu cầu tiêu dùng trong nước như các sản phẩm: phân lân chế biến, phân NPK, thuốc bảo vệ thực vật, chất tẩy rửa, các mặt hàng chế biến từ cao su (săm lốp xe đạp, săm lốp xe máy, săm lốp
ô tô ), pin đèn, ắc quy chì axit các loại, một số hoá chất cơ bản và tham gia vào thị trường xuất khẩu tuy số lượng chưa lớn như săm lốp xe đạp, các sản phẩm điện hoá, săm lốp xe đẩy, chất tẩy rửa, clo lỏng, phân lân nung chảy… Chiến lược phát triển ngành với mục tiêu phát triển đến năm 2010 đạt tốc độ phát triển 16-17%/năm Tỷ trọng của công nghiệp hóa chất trong cơ cấu công nghiệp toàn
quốc đạt 10-11% vào năm 2010 và 13-14% vào năm 2020 Sản lượng một số sản
Trang 5phẩm chủ yếu dự kiến cho giai đoạn 2006-2010 gồm Phân supe lân 4,8 triệu tấn;
phân lân nung chảy 2,6 triệu tấn; phân đạm urê khoảng gần 5 triệu tấn; lốp ô tô 10 triệu bộ; nhựa PVC 600.000 tấn; axit sunphuric 3,5 triệu tấn,…… Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2009 của Tổng công ty Hoá chất Việt Nam năm 2009 dự kiến
260 triệu đô, kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2010 dự kiến gần 330 triệu USD
Trình độ công nghệ trong ngành Hoá chất không đồng đều, nếu xét theo từng nhóm sản phẩm Điều này thể hiện một đặc trưng dễ thấy, ngành hoá chất nước ta được đầu tư khá sớm trên các công nghệ nhập khẩu của các nước xã hội chủ nghĩa, chủ yếu công nghệ từ Liên Xô, Trung Quốc và một số nước XHCN (cũ) khác Về Sản xuất phân bón do sản xuất nhiều chủng loại nên trình độ công nghệ rất khác khác nhau, hầu hết công nghệ nhập nhà máy sản xuất urea từ khí tại Phú Mỹ sử dụng công nghệ hiện đại, nhà máy đạm tại Bắc Giang sử dụng công nghệ cũ, các nhà máy sản xuất phân lân kể cả supe lân và lân nung chảy vẫn sử dụng công nghệ
cũ, mức độ tự động hoá thấp, chi phí sản xuất còn cao và tiêu hao năng lượng
nhiều Nhà máy DAP tại Hải Phòng sử dụng công nghệ tương đối tiên tiến Sản
xuất hoá chất bảo vệ thực vật vẫn chủ yếu là gia công, phối trộn, đóng gói, ngoại trừ hai liên doanh Kosvida và Viguato có sản xuất hoạt chất gốc Ngành hoá chất
cơ bản qui mô sản xuất mức độ nhỏ bé, phân tán, công suất thấp trình độ công nghệ rất lạc hậu Ngành hoá chất hữu cơ cơ bản ở nước ta hầu như không phát triển, ngoại trừ một số dự án sản xuất formalin Trình độ công nghệ sản xuất các sản phẩm cao sư đã có bước đột phá, một vài doanh nghiệp đã sản xuất lốp ô to radial, lốp đặc chủng với công nghệ khác tiên tiến Công nghệ sản xuất các sản phẩm như pin, ắc qui thông dụng có tốc độ tăng trưởng lớn và đạt trình độ khá cả về công
nghệ, thiết bị và chất lượng sản phẩm Công nghệ sản xuất sản phẩm sơn, chất dẻo
ở mức trung bình khá, tuy nhiên một số loại sơn đặc chủng trong nước chưa sản xuất được như sơn bền hoá chất, sơn tĩnh điện Công nghệ sản xuất sản phẩm hóa dầu chủ yếu là các liên doanh với các nước trong khu vực do đó công nghệ ở mức trung bình khá
Nhìn chung, so với các nước trong khu vực ngành hoá chất Việt Nam còn thua kém về qui mô, trình độ công nghệ, năng suất, chất lượng Cho đến nay hầu hết các công nghệ đều phải dựa vào nhập khẩu, phần chủ động nghiên cứu tạo ra trong nước còn rất hạn chế Đối với sản phẩm phân bón cần phải cải tiến trong việc
áp dụng tự động hoá vào quá trình sản xuất, giảm tiêu hao năng lượng trong quá trình sản xuất, tăng tỷ trọng của các loại phân NPK hàm lượng dinh dưỡng cao, giảm tỷ lệ phân trộn cơ học đơn thuần, tăng cường sản xuất phân giàu lân Tập trung nghiên cứu tăng cường sản xuất hoạt chất gốc hoặc các loại thuốc BVTV thân thiện với môi trường đối với nhóm sản phẩm hóa chất bảo vệ thực vật Đối với các sản phẩm hóa chất cơ bản cần có sự đầu tư thay thế các công nghệ cũ bằng công nghệ tiên tiếnmới có khả năng cạnh tranh với sản phẩm ngoại nhập Nhóm sản phẩm hóa dược nên tập trung vào một số sản phẩm chính thiết yếu thông qua công nghệ của nước ngoài Tiếp tục Cải tiến công nghệ sản xuất sản phẩm cao su
để đạt mức hiện đại hơn, đồng thời đầu tư sản xuất một số loại nguyên liệu phụ liệu
Trang 6khác hiện nay đang phải nhập khẩu, nhập khẩu công nghệ sản xuât các sản phẩm cao su kỹ thuật
Tuy đã đạt được những bước phát triển và thành tựu đáng kể, nhưng ngành công nghiệp hoá chất còn một số mặt tồn tại Năng lực sản xuất của toàn ngành còn nhỏ bé, chỉ chiếm 9,4% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước Qui mô các doanh nghiệp (trừ các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Hoá chất Việt Nam, thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và một số liên doanh) còn nhỏ, có tới 56,6% số doanh nghiệp có qui mô vốn dưới 10 tỉ đồng Chủng loại sản phẩm của ngành hoá chất còn nghèo nàn, cơ cấu sản phẩm chưa hợp lý, còn thiếu hẳn những ngành quan trọng như hữu cơ cơ bản, hoá dầu, hoá dược, Công tác đầu tư trong mấy thập kỷ vừa qua chưa tạo được cho ngành có cơ cấu đồng bộ, hiện đại và cân đối
2.3 Hiện trạng công nghệ ngành luyện kim
Ngành công nghiệp thép Việt Nam được bắt đầu từ năm 1959 với sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, Đức… Năm 2007 chúng ta đã sản xuất được khoảng 260.000 tấn gang, 2.000.000 tấn phôi thép và 5.112.000 tấn thép bao gồm thép thanh, thép dây, thép hình nhỏ, thép tấm lá cán nguội, thép ống hàn
và thép tấm mạ các loại, đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu thép của đất nước Năm 2008 ngành thép sản xuất được 2.400.000 tấn thép phôi, 5.253.000 tấn thép thành phẩm, tổng lượng thép tiêu thụ trong nước đạt khoảng 9.000.000 tấn
Trình độ công nghệ ngành luyện kim mặc dù đã có những thay đổi cơ bản do
có sự tham gia của đầy đủ các thành phần kinh tế, tuy nhiên đối với các nhà máy cũ
và khối tư nhân công nghệ vẫn rất lạc hậu, đối với các cơ sở liên doanh do mới đầu
tư nên công nghệ có trình độ vào loại khá so với các nước trong khu vực, cụ thể như sau: Dẫn đầu trong nhóm này là khu Nhà máy Gang Thép Thái nguyên mặc dù
đã được đầu tư nâng cấp song công nghệ sản xuất gang vẫn ở mức độ lạc hậu so với thế giới, các chỉ tiêu tiêu hao sản xuất đều cao khó có khả năng cạnh tranh Đối với các lò cao cực nhỏ khác, tình hình còn tồi tệ hơn nhiều, công nghệ rất lạc hậu Trình độ công nghệ sản xuất gang nước ta chỉ tương đương những năm 1960 của thế giới, nguyên nhân chủ yếu là quy mô của các lò cao quá nhỏ, khâu chuẩn bị liệu chưa tốt; nhiệt độ gió thấp; chưa làm giầu ô xy cho gió để cường hoá quá trình luyện gang; chưa áp dụng công nghệ phun than cám để giảm suất tiêu hao than cốc… Về công nghệ sản xuất phôi thép, hiện nay ngành thép đang sử dụng 100% công nghệ lò điện hồ quang, phần lớn lò điện sản xuất thép của ta đều rất nhỏ, nhập công nghệ và thiết bị của Trung Quốc nên công nghệ ở mức trung bình Gần đây một số cơ sở tư nhân đang xây dựng nhà máy sản xuất sắt hoàn nguyên, công nghệ MIREX với quy mô từ 50.000 đến 200.000 tấn/năm đây sẽ là những công nghệ hiện đại So sánh các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật của các nhà máy luyện thép nước ta với các nước trên thế giới còn lạc hậu cả về quy mô lẫn chất lượng Công nghệ cán
Trang 7thép trình độ công nghệ của các cơ sở rất khác nhau Công nghệ cán thép hiện đại bao gồm khối các nhà máy liên doanh hoặc nhà máy mới được xây dựng đây là những nhà máy sử dụng công nghệ của Italia, Nhật Bản Công nghệ trung bình gồm các nhà máy sử dụng công nghệ của Trung Quốc và công nghệ lạc hậu gồm các nhà máy công suất nhỏ với thiết bị tự chế trong nước chủ yếu của các cơ sở tư nhân
Tóm lại, trình độ công nghệ của ngành thép nói chung ở mức độ trung bình
và thấp Mặt khác trình độ công nghệ cũng không đồng đều ở các khâu trong chu trình sản xuất luyện kim Khâu luyện gang đang ở mức độ lạc hậu; Khâu luyện thép có khá hơn nhưng không đồng đều Khâu cán thì đã xuất hiện một số nhà máy đạt mức độ hiện đại, nhưng đại đa số các nhà máy còn lại ở loại trung bình và lạc hậu
Một số hướng công nghệ cần tập trung nghiên cứu đổi mới cho giai đoạn tới đối với ngành luyện kim là công nghệ sản xuất gang, cần tập trung nghiên cứu cải tiến hiện đại hóa các khâu như chuẩn bị nguyên liệu, công nghệ làm giàu ô xy cho quá trình cường hoá quá trình luyện gang, nghiên cứu áp dụng công nghệ phun than cám để giảm suất tiêu hao than cốc và nghiên cứu tự động hóa điều khiển các quá trình công nghệ bằng các hệ thống điều khiển tự động Đối với công nghệ luyện thép triển khai ứng dụng công nghệ lò điện hồ quang kiểu DANARC 70 tấn/
mẻ và lò điện hồ quang kiểu CONSTEEL 40 tấn/mẻ, áp dụng một số tiến bộ kỹ thuật như phun ô xy và than vào tạo xỉ bọt, dùng biến thế siêu cao công suất, sử dụng các loại vật liệu chịu lửa siêu bền, ra thép đáy lệch tâm, tận dụng nhiết của khí thải để sấy thép phế trước khi nạp vào lò …Ứng dụng công nghệ sản xuất thép
lò điện từ sản phẩm hoàn nguyên trực tiếp (công nghệ MIDREX hay HYL sử dụng khí thiên nhiên) Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sản xuất thép tấm lá cán nguội, công nghệ luyện cán thép hình lớn và thép ống không hàn với công nghệ tiên tiến, quy mô công suất khoảng 1 triệu tấn thép thành phẩm/năm phục vụ các ngành đóng tầu, dầu khí, cơ khí chế tạo thiết bị siêu trường siêu trọng công nghệ thép đặc biệt quy mô công suất khoảng 0,3 – 0,5 triệu tấn/năm phục vụ ngành chế tạo máy và công nghiệp quốc phòng Các nhà máy cán tấm nóng, cán tấm nguội công suất lớn
từ 2,0 triệu tấn đến 3,0 triệu tấn/năm và đặc biệt các nhà máy cán của nhà máy luyện kim liên hợp được xây dựng sẽ cải thiện trình độ công nghệ của ngành sản xuất cán nước ta
2.4 Hiện trạng công nghệ ngành khai khoáng
2.4.1 Hiện trạng ngành khai thác than
Tổng trữ lượng các loại than trên toàn quốc đã tìm kiếm thăm dò còn lại đến 01/01/2006 là 6.164.848 ngàn tấn Trữ lượng triển vọng than ở các vùng còn rất
Trang 8lớn, riêng bể than Quảng Ninh mức dưới - 300m dự báo có khoảng 7 tỷ tấn Bể than Đồng Bằng Sông Hồng có khoảng 210 tỷ tấn, các bể than thềm lục địa Việt Nam có khỏang 4.700 tỷ tấn, than bùn có hơn 7 tỷ m3 Sản lượng than khai thác trong toàn ngành tăng trưởng đạt trung bình 14% năm Số liệu thống kê về sản lượng than nguyên khai trong các năm gần đây như sau: 27,324 triệu tấn năm 2004; 34,3 triệu tấn năm 2005; 40,7 triệu tấn năm 2006; 45,5 triệu tấn năm 2007; 42,9 triệu tấn năm 2008
Thời gian qua, ngành than đã đẩy mạnh việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất do đó trình độ công nghệ sản xuất của ngành than đã có nhiều thay đổi, sản lượng than tăng trưởng với nhịp độ cao Công nghệ khai thác than bao gồm công nghệ khai thác mỏ lộ thiên và công nghệ khai thác hầm lò Công nghệ khai thác của các mỏ lộ thiên đạt ở mức trung bình tiên tiến trên thế giới, hiện đã phổ biến sử dụng công nghệ: khoan - nổ mìn - bóc đất đá (đổ thải) - bốc xúc than – sàng tuyển sơ bộ tại mỏ - vận chuyển tới nhà sàng (hoặc bãi tập kết) với trang thiết
bị khá hiện đại, tuy vậy các thiết bị sử dụng hầu hết có công suất nhỏ và trung bình, không đồng bộ Đối với công nghệ khai thác hầm lò đang phổ biến sử dụng vì chống thuỷ lực (cột thuỷ lực đơn và giá thuỷ lực di động) và áp dụng cơ giới hoá công tác khấu than lò chợ bằng máy combai kết hợp với giá thuỷ lực di động và máy combai kết hợp với dàn chống tự hành tuy vậy công nghệ khai thác than hầm
lò còn đang ở mức độ thấp so với các nước trên thế giới Điều đáng lưu ý là thông qua các nhiệm vụ nghiên cứu hiện nay ngành than đã chủ động được sản xuất cột chống thủy lực, đang nghiên cứu áp dụng giá chống thủy lực và giàn chống thủy lực Đánh giá chung trình độ công nghệ khai thác than hầm lò của Việt Nam còn đang ở mức độ thấp so với các nước trên thế giới Công nghệ sàng tuyển than tại các nhà máy tuyển trung tâm có công nghệ tương đối hiện đại ở mức thế giới (nhập công nghệ từ Úc) đáp ứng được yêu cầu của các hộ tiêu thụ trong ngoài nước về chủng loại và chất lượng than Hệ thống trang thiết bị điện, hệ thống truyền động,
hệ thống điều độ điều khiển sản xuất, hệ thống bảo vệ và sự đồng bộ của chúng trong dây chuyền sản xuất còn ở mức thấp
2.4.2 Hiện trạng công nghệ khai thác các khoáng sản khác
Hiện nay quy mô khai thác khoáng sản khác phần lớn là nhỏ bé, công nghệ lạc hậu và thủ công là chính Tình hình khai thác khoáng sản tràn lan đã gây tổn thất lớn cho trữ lượng tài nguyên khoáng sản, làm suy thoái cảnh quan môi trường, thường xảy ra tai nạn lao động, làm chết nhiều người.Mức độ chế biến khoáng sản
là thấp, phổ biến là không chế biến hoặc chỉ sơ chế Trong số hơn 45 loại khoáng sản được khai thác, mới chỉ có chưa đến 10 loại (chủ yếu là kim loại màu) sử dụng công nghệ tuyển khoáng để chế biến làm giàu Công nghệ khai thác, chế biến thiếc-vônfram: sản lượng thiếc hiện nay vào khoảng vài ngàn tấn/năm với công nghệ điện phân là công nghệ cũ truyền thống chỉ có duy nhất là thiếc thỏi chưa có thương hiện trên thế giới các công nghệ tiên tiến như luyện vùng, luyện bốc hơi chân không hầu như chưa áp dụng Công nghệ khai thác và tuyển thô hiện chỉ ở quy mô bán cơ giới nhỏ hoặc thủ công còn rất lạc hậu Ngành khai thác, chế biến
Trang 9khoáng sản Antimon của Việt Nam hiện nay gần như không đáng kể, hiện chỉ còn
có tỉnh Hà Giang đang khai thác quặng antimon nghèo ở mỏ Mậu Duệ (liên doanh giữa Việt Nam và Trung Quốc), sản lượng khoảng 500 tấn/năm, toàn bộ công nghệ
là của Trung Quốc ở mức trung bình Đối với khai thác, chế biến chì kẽm hiện nay khai thác bằng cả 2 phương pháp: lộ thiên và hầm lò Công nghệ khai thác được cơ giới hoá với mức độ rất thấp, chủ yếu là bán cơ giới và thủ công Đối với công nghệ khai thác và chế biến đồng tại mỏ đồng Sin Quyền Lao Cai là có khai thác và chế biến ở quy mô công nghiệp công nghệ Trung Quốc.Công nghệ khai thác, chế biến vàng: Hiện có 02 cơ sở sản xuất chính là Công ty TNHH Khai thác vàng Phước Sơn liên doanh của Công ty Công nghiệp miền Trung với Công ty New Vietnam Mining và Công ty Cổ phần Đá quí và Vàng Lâm Đồng đang khai thác và chế biến vàng tại vùng mỏ vàng Trà Năng - Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng Cả hai Công ty này khai thác quặng vàng gốc và thu hồi bằng công nghệ hoá chất xyanua
có giải pháp hiện đại xử lý môi trường đạt tiêu chuẩn Quốc tế Các mỏ đá quý ở Việt Nam được khai thác theo phương pháp lộ thiên và sử dụng Công nghệ khai thác bằng sức nước và công nghệ khai thác bằng ôtô + máy xúc Công nghệ tuyển
sử dụng phương pháp tuyển trọng lực
2.4.3 Định hướng đổi mới công nghệ
Tình trạng chung về trang bị trong ngành than hầu hết đều được đầu tư đã khá lâu, giá trị còn lại của các chủng loại thiết bị đang sử dụng đều chỉ nằm trong khoảng từ 4060% Nguồn nhân lực ngành than đánh giá ở nức trung bình, số cán
bộ công nhân ngành than có thâm niên công tác trên 12 năm có tỷ lệ khá cao (42,44% đối với công nhân và 28,56% đối với cán bộ kỹ thuật và quản lý) Theo kết quả đánh giá của Bộ Công Thương về trình độ thành phần công nghệ Kỹ thuật của các mỏ than lộ thiên (0,694) và các nhà máy sàng tuyển (0,751) được đánh giá
là cao hơn so với các mỏ than hầm lò (0,473) Kết quả đánh giá này cũng cho thấy
để đẩy mạnh sản xuất, gia tăng sản lượng trong tương lai ngành than cần chú trọng xem xét đầu tư vào khâu công nghệ kỹ thuật trong các mỏ than hầm lò Để đạt được mục tiêu đặt ra là đưa ngành than trở thành một ngành có trình độ công nghệ đạt ngang tầm trình độ khu vực và tiếp cận trình độ thế giới cần tập trung đổi mới
cơ giới hoá các công đoạn, giảm tối đa lao động thủ công đối với các mỏ lộ thiên Áp dụng cơ giới hóa đồng bộ ở các mỏ có điều kiện thuận lợi và cơ giới hóa ở mức cao nhất trong điều kiện cho phép ở các mỏ có điều kiện không thuận lợi, chấm dứt hoạt động khai thác thủ công đối với khai thác hầm lò Áp dụng các công nghệ tiên tiến của thế giới ở các nhà máy tuyển lớn; cơ giới hóa trong điều kiện cho phép, tiến tới xoá bỏ lao động thủ công ở các ở các xưởng tuyển quy mô nhỏ; thu hồi tối đa các khoáng vật
có ích, giảm mất mát tài nguyên; hạn chế sử dụng các loại thuốc tuyển độc hại, gây ô nhiễm môi trường
Trang 102.5 Hiện trạng ngành năng lượng (điện)
Nhu cầu điện cho phát triển kinh tế xã hội liên tục tăng trong những năm gần đây, mặc dù sản lượng sản xuất của ngành cũng liên tục tăng Hàng năm để cân đối đủ lượng điện tiêu thụ ngành điện vẫn phải mua điện của nước ngoài Sản lượng điện sản xuất và mua ngoài năm 2007 ước đạt 67,121 tỷ kWh, tăng 13,7% so với năm 2006, trong đó điện cung cấp cho công nghiệp tăng 17,5% Năm 2008 đạt 74,175 tỷ kWh, tăng 11,09% so với 2007, trong đó điện cung cấp cho công nghiệp tăng 13,14% Năm 2009 là năm sản xuất bị xuy giảm do khủng hoảng kinh tế tuy nhiên sản lượng điện 8 tháng ước đạt 52,21 tỷ kWh, tăng 10,5% so với cùng kỳ, trong đó điện dùng cho công nghiệp và xây dựng tăng 6,63% và chiếm tỷ trọng 49,1%
Trong thời gian vừa qua ngành điện đã không ngừng đầu tư phát triển nguồn điện, lưới điện hàng chục các nhà máy nhiệt điện, thủy điện đã hoàn thành và đang trong quá trình thi công để đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng Do đặc thù là hầu hết các công nghệ nhập do đó trình độ công nghệ của ngành điện cũng rất khác nhau số các nhà máy cũ có công nghệ lạc hậu, số các nhà máy mới công nghệ vào loại tiên tiên của thế giới Về công nghệ sản xuất điện năng bao gồm nhiệt điện và thủy điện, đối với công nghệ nhiệt điện chủ yếu là công nghệ đốt than phun và tuốc bin khí Công nghệ đốt than phun là công nghệ cũ, truyền thống, hiệu suất thấp, không đảm bảo vệ sinh môi trường bao gồm các nhà máy nhiệt điện cũ như Phả Lại, Uông Bí, Ninh Bình…Công nghệ tuốc bin khí là công nghệ mới, hiện đại đảm bảo được hiệu suất cao và đảm bảo vệ sinh môi trường bao gồm các nhà máy nhiệt điện mới do Tập đoàn dầu khí Việt Nam đầu tư Đối với Thủy điện hầu hết các thiết bị chính trong các nhà máy thuỷ điện đa số là công nghệ mới, điều này phản ánh thực tế trong những năm qua số lượng các nhà máy thuỷ điện mới được đưa vào nhiều Tuy nhiên, các thiết bị thuộc công nghệ cũ vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể: 21% đối với các tua bin thuỷ lực, 23% đối với các máy phát, và 19 % đối với các máy biến áp chính Đối với công nghệ năng lượng tái tạo gồm năng lượng gió, năng lượng khí sinh học, năng lượng địa nhiệt và năng lượng đồng phát sử dụng sinh khối, trong đó mới chỉ có năng lượng mặt trời là đang được ứng dụng ở quy
mô nhỏ mảng pin mặt trời chủ yếu nhập khẩu, bộ điều khiển chủ yếu do trong nước
tự chế tạo Bộ biến đổi điện DC/AC: chất lượng bộ đổi điện trong nước chế tạo chưa thích hợp khí hậu biển, hiệu suất thấp chỉ đạt khoảng 70% Nhìn chung Việt Nam chưa khai thác được các nguồn năng lượng tái tạo Công nghệ truyền tải và phân phối điện năng hiện nay hệ thống thiết bị 500kV được đánh giá là hiện đại vào bậc nhất trong lưới điện truyền tải và bảo đảm được vận hành bình thường của mạch truyền tải xương sống Bắc Nam, tuy vậy độ tin cậy của thiết bị 500kV chưa thực sự cao , đến nay ngành điện đã ứng dụng công nghệ tiên tiến đối với hệ thống điều độ và thiết bị điều khiển gồm hệ thống SCADA tại TT điều độ quốc gia (A0)
và các điều độ miền, nâng cấp đường trục viễn thông, nâng cao tốc độ truyền dẫn cáp quang Tín hiệu SCADA/EMS tại A0 bao gồm các tín hiệu đo lường của đường