1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo cáo định hướng phát triển doanh nghiệp 2014

18 173 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 344,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đã dần khôi phục, nhờ đó tỷ lệ người thất nghiệp và thiếu việc làm năm 2012 và 6 tháng năm 2013 đang có xu hướng giảm.. Doanh nghiệp, đ

Trang 1

————— —————————————

BÁO CÁO ĐỊNH HƯỚNG KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP

NĂM 2014

I- Đánh giá chung tình hình hoạt động của doanh nghiệp 6 tháng đầu năm 2013

Trong 6 tháng đầu năm 2013, dưới sự chỉ đạo tập trung, quyết liệt của Chính phủ, sự nỗ lực của các cấp, các ngành trong việc triển khai thực hiện các giải pháp đã đề ra tại Nghị quyết số 01/NQ-CP, số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013

và Nghị quyết các phiên họp thường kỳ của Chính phủ, tình hình kinh tế xã hội

đã có những chuyển biến bước đầu, tích cực và đúng hướng Tăng trưởng của hầu hết các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế đã có cải thiện

Tính chung 6 tháng đầu năm 2013, GDP ước tăng 4,9%, xấp xỉ tốc độ tăng cùng kỳ năm trước (đạt 4,93%) Tính chung 6 tháng đầu năm 2013, chỉ số phát triển công nghiệp IIP ước tăng 5,2%, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục phát triển nhưng tốc độ chậm lại Tổng kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm ước đạt 62,05 tỷ USD, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm 2012 (cùng kỳ tăng 22,2%) Mặc dù khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng chính1, tổng kim ngạch xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp trong nước năm 2013 cũng có dấu hiệu tăng nhẹ, ước đạt 20,9 tỷ USD, chiếm 34% tổng kim ngạch xuất khẩu của

cả nước, tăng 2,2%

Mặc dù có một số dấu hiệu tích cực trên, doanh nghiệp vẫn đang gặp phải rất nhiều khó khăn và tiếp tục cần có các giải pháp tháo gỡ, khắc phục để có thể duy trì và phát triển

1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

1.1 Kết quả hoạt động kinh doanh thông qua các chỉ tiêu lợi nhuận

Theo báo cáo của các địa phương (45/63 địa phương), năm 2012 và 6 tháng đầu năm 2013, tình hình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp đã có dấu hiệu cải thiện, nhưng không đáng kể Ước 6 tháng đầu năm 2013, cả nước có 38,9 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 7,6% so với cùng kỳ (cùng

1

Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) chiếm 66% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả

nước, tăng 24,7% so với cùng kỳ năm 2012;

Trang 2

Tính đến ngày 31/12/2012, Đắk Nông có 1.099 doanh nghiệp đang hoạt động, hầu hết là DNNVV, quy mô sản xuất nhỏ, nguồn vốn hạn chế (chủ yếu là vốn riêng của chủ doanh nghiệp, cổ đông hoặc vốn góp của bạn bè, người thân, họ hàng) Trình độ quản lý, điều hành còn hạn chế nên hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, doanh thu hàng năm có tăng lên (do giá các mặt hàng tăng) nhưng lợi nhuận tăng không đáng kể, thậm chí còn thua lỗ Doanh nghiệp rất khó tiếp cận vốn ngân hàng nên thiếu vốn Máy móc, thiết bị lạc hậu (76% máy móc, dây chuyền công nghệ được sản xuất từ những năm 1950-1960); đa số doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp trong lĩnh vực nông sản, không đủ nguồn nguyên liệu

ổn định

kỳ giảm 12,4%) Số lượng doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động đã quay trở lại hoạt động cũng tăng dần qua các tháng: 4 tháng khoảng 8,3 nghìn; 5 tháng khoảng 8,8 nghìn; 6 tháng khoảng 9,3 nghìn doanh nghiệp Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đã dần khôi phục, nhờ đó tỷ lệ người thất nghiệp và thiếu việc làm năm 2012 và 6 tháng năm 2013 đang có xu hướng giảm

Tuy nhiên, đánh giá chung khu vực doanh nghiệp, bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ngoài quốc doanh cho thấy tình hình sản xuất, kinh doanh còn rất nhiều khó khăn Tại hầu hết các địa phương, tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh có lãi, có đóng góp cho ngân sách địa phương chiếm chưa đầy 50% trong tổng số doanh nghiệp còn hoạt động Tại một số địa phương, tỷ lệ doanh nghiệp thua lỗ lên cao ở mức báo động

Năm 2012, theo báo cáo của các địa phương, trong số các doanh nghiệp hoạt động có khoảng 49% doanh nghiệp kinh doanh có lãi và 39% doanh nghiệp thua lỗ Mặc dù tỷ lệ này có cải thiện so với mức 43,2% doanh nghiệp có lãi và 52,4% doanh nghiệp thua lỗ của năm 2011, mức độ cải thiện là rất nhỏ Ước 6 tháng đầu năm 2013, tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh có lãi trong số các doanh nghiệp đang hoạt động giảm xuống còn 44% Đặc biệt, tại một số địa phương, tỷ

lệ doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ ở mức rất cao, gây thất thu ngân sách địa phương (Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh) Báo cáo của thành phố Đà Nẵng cho biết, năm 2012, trong tổng số hơn 10.200 doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động chỉ có khoảng 3.400 doanh hoạt động có lãi (chiếm 33,5%) trong khi có tới hơn 6.800 hoạt động thua lỗ (chiếm 66,5%), ước 6 tháng đầu 2013 có 7.164 doanh nghiệp thua lỗ so với 3.119 doanh nghiệp có lãi Tại Bắc Ninh, tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh có lãi giảm đáng kể từ 70% năm 2011 (khoảng 2.700 DN) xuống còn 19% năm 2012 (850 DN) Tại Đắk Nông, chỉ có 342 doanh nghiệp kinh doanh có lãi so với 1.354 doanh nghiệp thua lỗ (80% doanh nghiệp

lỗ, 20% doanh nghiệp lãi, trong khi năm 2011 tỷ lệ này là 86,7% lãi, 12,3% lỗ)

Trang 3

Lợi nhuận trước thuế của khu vực doanh nghiệp tư nhân có xu hướng giảm

đáng kể, từ 115,6 nghìn tỷ đồng năm 2010 xuống còn 87 nghìn tỷ đồng năm

2011

Năm 2012, tuy chưa thống kê được cả nước nhưng báo cáo của một số địa

phương cho thấy lợi nhuận của doanh nghiệp có xu hướng giảm so với 2011

như: Cà Mau (giảm từ 2.492 tỷ năm 2011 xuống 610,46 tỷ đồng năm 2012),

Đồng Tháp (giảm từ 1.661 tỷ đồng năm 2011 xuống 570,32 tỷ đồng năm 2012),

Tiền Giang (giảm từ 3.112 tỷ đồng năm 2011 xuống còn 1.614 tỷ đồng năm

2012) Đây là dấu hiệu cho thấy năm 2012, tình hình khó khăn của doanh nghiệp

chưa được cải thiện và xu hướng này vẫn tiếp diễn trong năm 2013

1.2 Doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV thiếu vốn lưu động, tồn kho cao

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo các tháng đầu năm

2013 tuy có tăng so với cùng kỳ năm 2012 nhưng mức tăng đang giảm dần, cụ

thể như sau:

Thời điểm Chỉ số tồn kho công nghiệp chế biến, chế

tạo (so với cùng kỳ năm ngoái)

Mặc dù chỉ số tồn kho đang được cải

thiện, nhưng thực tế các doanh nghiệp đang

thiếu vốn lưu động do hàng hóa tồn kho còn

nhiều, có một số loại sản phẩm tồn kho

được tiêu thụ với giá rẻ, doanh nghiệp chấp

nhận lợi nhuận thấp, thậm chí lỗ để giải phóng

hàng tồn kho, thu hồi vốn đầu tư sang lĩnh

vực khác

Một số sản phẩm có mức tiêu thụ giảm đáng kể so với năm 2011 như: mặt

hàng thép xây dựng giảm 8,19%, doanh nghiệp ngành rượu đối mặt với mức

tăng trưởng âm, tốc độ tiêu thụ chậm

1.3 Tình hình xuất khẩu và tiêu thụ trong nước

Theo báo cáo của thành phố Hà Nội, tình trạng thiếu vốn lưu động đang rất khó khăn do hàng hóa tồn kho nhiều, nhiều doanh nghiệp lượng tồn kho tăng 50-60% so với cùng kỳ, tập trung ở nhóm vật liệu xây dựng và sản phẩm điện máy

Trang 4

Tổng kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm của cả nước ước đạt 62,05 tỷ USD, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm 2012 Xuất khẩu tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng cao là nhờ đóng góp chủ yếu của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài Hoạt động thương mại, xuất khẩu của khối các doanh nghiệp trong nước tăng không đáng kể khoảng 2,2% so với cùng kỳ năm 2012 (cùng kỳ năm 2011 tăng 1%) Dù mức tăng so với cùng kỳ không cao nhưng cũng là dấu hiệu cho thấy sản xuất của các doanh nghiệp trong nước đã khôi phục hơn

Về tiêu thụ trong nước, theo Tổng cục thống kê, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2013 ước đạt 1.275.414 tỷ đồng, tăng 11,9% (thấp hơn mức tăng cùng kỳ năm 2012 là 19,7%) Nếu loại trừ yếu tố giá thì tốc độ tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng

6 tháng tăng 4,9% thấp hơn mức tăng cùng kỳ năm 2012 (6,7%) Theo báo cáo một số tỉnh, hoạt động đưa hàng Việt về nông thôn, vận động Người Việt Nam

ưu tiên dùng hàng Việt Nam đã có nhiều dấu hiệu tích cực, góp phần nâng cao tổng mức lưu chuyển hàng hóa của các doanh nghiệp Các hoạt động nhằm ổn định thị trường như bình ổn giá và chống buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng; phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý vi phạm trong kinh doanh của Chính phủ cũng đang góp phần cải thiện thị trường trong nước để thúc đẩy sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp2

Mặc dù vậy, các doanh nghiệp vẫn đang gặp khó khăn để tìm kiếm khách hàng trong nước, một số doanh nghiệp chấp nhận giảm giá, lợi nhuận thấp hoặc

lỗ tạm thời để giảm hàng tồn kho, duy trì vốn lưu động cho sản xuất kinh doanh

1.4 Thất nghiệp, thiếu việc làm tuy có giảm nhưng tình trạng nợ đọng bảo hiểm xã hội tăng cao, gây ảnh hưởng đến đời sống người lao động

Tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm trong các tháng gần đây giảm dần

so với các năm trước Theo Báo cáo điều tra lao động của Tổng cục thống kê quý 4 năm 2012, tỷ lệ thiếu việc làm và thất nghiệp trong độ tuổi lao động giai đoạn 2009-2012 như sau (đơn vị tính: %):

2 Theo báo cáo tình hình sản xuất công nghiệp và hoạt động thương mại 6 tháng đầu năm 2013 của Bộ Công thương, trong 6 tháng đầu năm 2013, lực lượng Quản lý thị trường kiểm tra 67.850 vụ, xử lý 37.383 vụ vi phạm (trong đó 5.728 vụ buôn bán hàng lậu, hàng cấm; 5.303 vụ hàng giả, hàng kém chất lượng; 18.166 vụ kinh doanh trái phép và 8.636 vụ vi phạm trong lĩnh vực giá) với tổng số thu 130,49 tỷ đồng (trong đó phạt vi phạm hành chính 82,7 tỷ; tiền bán hàng tịch thu là 46,59 tỷ và truy thu thuế là 1,2 tỷ đồng)

Trang 5

Số người đăng ký thất nghiệp giảm: Tính đến ngày 20/5/2013, cả nước có 182.263 người lao động đăng ký thất nghiệp, bằng 85,56% so với cùng kỳ năm ngoái (cùng kỳ năm ngoái là 212.966 người)

-

Tuy nhiên, do khó khăn sản xuất kinh doanh vẫn diễn ra phổ biến, các doanh nghiệp có xu hướng cắt giảm lao động, giảm lương, trì hoãn đóng bảo hiểm cho người lao động Theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam3

, tính đến ngày 31/3/2013, số nợ bảo hiểm xã hội (BHXH) và bảo hiểm y tế (BHYT) trong đó chiếm tỷ lệ lớn của các doanh nghiệp là 9.189,1 tỷ đồng, tăng 1.173,1

tỷ đồng (14,6%) so với cùng kỳ năm 2012 Nhiều doanh nghiệp phá sản, giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động không có khả năng đóng BHXH làm cho số nợ tăng nhanh Xu hướng này tiếp tục tiếp diễn kéo theo các hệ quả về mặt xã hội, ảnh hưởng đến đời sống người lao động

2 Đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tại một

số ngành

Theo phản ánh của nhiều địa phương, các doanh nghiệp trong một số ngành gặp rất nhiều khó khăn, cụ thể:

a Sản xuất, chế biến lương thực

3

Theo thông báo Số: 1360/TB-BHXH ngày 12/4/2013 Kết luận của Tổng giám đốc tại cuộc họp giao ban tháng 4 năm 2013 của Bảo hiểm

xã hội Việt Nam

%

Theo báo cáo tình hình Kinh tế xã hội thành phố Hồ Chí Minh, số người lao động đăng ký thất nghiệp 6 tháng đầu năm 2013 là 49.973 người, giảm 22,5% so với cùng kỳ Trong đó

có 43.526 người nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 4% so với cùng kỳ Theo nhận định của thành phố, nguyên nhân chính số người đăng ký thất nghiệp giảm là do các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động đã ổn định sản xuất so với năm trước

Trang 6

Hiện nay, vấn đề khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp ngành sản xuất, chế biến lương thực là giá các nguyên liệu đầu vào liên tục biến động, các doanh nghiệp thiếu vốn trong việc đầu tư nâng cấp và thay đổi thiết bị công nghệ sản xuất tiên tiến Nhiều doanh nghiệp chế biến lương thực ở tỉnh Bạc Liêu bị mất một số thị trường tiêu thụ truyền thống như Philipin, Malaysia, Indonesia do không trúng thầu cung cấp, lượng hàng tồn kho lớn, hao hụt lưu kho nhiều

Báo cáo của tỉnh Bình Phước cho biết hơn 80% doanh nghiệp kinh doanh hạt điều, cao su gặp khó khăn do rớt giá, khó khăn trong tìm kiếm thị trường

b Nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản

Sản xuất thủy sản tiếp tục gặp nhiều khó khăn, giá trị sản xuất chỉ tăng 2,5%, thấp hơn so với cùng kỳ năm trước Sản xuất thủy sản, đặc biệt là lĩnh vực nuôi trồng như cá ba sa, cá tra gặp nhiều khó khăn do tiêu thụ chậm, thiếu vốn sản xuất, giá đầu vào cao (giá thức ăn, thuốc thú y, vật tư nông nghiệp,…), giá bán thấp, các rào cản kỹ thuật,… Bên cạnh đó, tình hình phức tạp trên Biển Đông cũng ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động khai thác thủy sản Do đó, xuất khẩu mặt hàng thủy sản 6 tháng đầu năm 2013 chỉ tăng 0,3% so với cùng kỳ năm 2012

c Lĩnh vực công nghiệp

c Ngành công nghiệp

Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp đã ổn định hơn khi một số khó khăn được tháo gỡ như lãi suất vay ngắn hạn giảm, các

hỗ trợ về thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế đất của Chính phủ đã phát huy tác dụng

Nhiều doanh nghiệp trong một số lĩnh vực công nghiệp đã quay trở lại sản xuất kinh doanh, đạt tốc độ tăng cao so với cùng kỳ năm trước, như: sản

Cà Mau: “Số lượng nhà máy chế biến thủy sản theo các dự án được phê duyệt tiếp tục tăng lên nhanh chóng dẫn đến nguyên liệu bị thiếu hụt, tình trạng bơm chích tạp chất vẫn diễn biến phức tạp, kiểm soát không kết quả; sự bất ổn trong xuất khẩu thủy sản đã ảnh hưởng không tốt đến ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, một số doanh nghiệp đứng trên

bờ vực phá sản, số còn lại chỉ hoạt động cầm chừng, kéo theo đó việc cắt giảm giờ làm công và lao động, dẫn đến một bộ phận lao động gặp nhiều khó khăn Nguyên nhân không chỉ xuất phát từ thiếu vốn và lãi suất ngân hàng cao, mà còn có nguyên nhân từ việc thiếu hụt từ nguồn nguyên liệu (sạch) trầm trọng do tình hình nuôi trồng, khai thác đánh bắt thủy sản những tháng đầu năm gặp nhiều khó khăn, diễn biến phức tạp do tình hình thiên tai, dịch bệnh Thị trường xuất khẩu biến động liên tục, khó lường do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu Ngoài ra các doanh nghiệp còn gặp khó khăn lớn về rào cản kỹ thuật, tình trạng chống bán phá giá và sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường.”

Trang 7

xuất hàng may sẵn (trừ trang phục) tăng 38,5%, sản xuất pin và ác quy tăng 26,3%, sản xuất các sản phẩm khác từ giấy và bìa tăng 23,4%, sản xuất da, giày dép tăng 16,8%, sản xuất mô tô, xe máy tăng 18%, sản xuất các sản phẩm khác bằng kim loại tăng 15,9%

Tuy nhiên, một số ngành tăng trưởng thấp, thậm chí giảm, doanh nghiệp sản xuất cầm chừng, chấp nhận lãi thấp hoặc lỗ nhằm duy trì hoạt động, giữ chân người lao động Một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất tiếp tục giảm

so với cùng kỳ năm trước như: khai thác và thu gom than cứng, than non, khai thác đá, cát, sỏi, đất sét, sản xuất vải dệt thoi, sản xuất kim loại, sắt, thép, gang, sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng, sản xuất mô tơ, máy phát, biến thế điện, đóng tàu

3 Một số nguyên nhân chủ yếu

3.1 Nguyên nhân khách quan

- Nhìn chung, những khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh 2012

và 6 tháng đầu năm 2013 của doanh nghiệp do sự tích tụ, hệ quả của tình hình khó khăn, thách thức trong nước kéo dài quá lâu Nhiều doanh nghiệp không thể vượt qua và lâm vào tình trạnh giải thể, ngưng hoạt động

- Sự khó khăn trong thời gian dài của một số ngành trọng yếu đã tác động tiêu cực đến các ngành còn lại, ví dụ như thị trường bất động sản khó khăn đã

Theo báo cáo của Hiệp hội Công nghệ kỹ thuật điện Việt Nam, gần 50% doanh nghiệp thuộc Hiệp hội giữ vững sản xuất (trừ các đơn vị thuộc lĩnh vực cung cấp, truyền tải, quản lý và vận hành điện);

Theo Hiệp hội Bia, Rượu, Nước giải khát, năm 2012, toàn ngành bia đạt sản luwongj 2,8 tỷ lít (tăng 8,02% so với năm 2011), 4,2 tỷ lít giải khát (tăng 9,1% so với 2011) nhưng tốc độ tiêu thụ chậm và phải chịu sự cạnh tranh không bình đẳng, hiện tượng chuyển giá, chuyển thuế của Cocacola, Pepsi Sức tiêu thụ sản phẩm trong dịp Tết Quý tỵ (quý I/2013) thấp hơn nhiều so với dịp Tết âm lịch năm 2012

Theo Hiệp hội Cao su Việt Nam, đa số doanh nghiệp hội viên thuộc lĩnh vực sản xuất cao su thiên nhiên thuộc Hiệp hội đều hoàn thành vượt mức kế hoạch về sản lượng thu hoạch, chế biến và tiêu thụ cao su Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam được Chính phủ phê duyệt cơ chế đặc thù, giải quyết được tình trạng khó khăn về nguồn vốn đầu tư năm 2012, nhưng nhìn chung toàn ngành thì hoạt động của các doanh nghiệp không mấy thuận lợi do các nước tiêu thụ nhiều cao su như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ giảm nhu cầu sử dụng

Trang 8

ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành như xây dựng, sản xuất nguyên vật liệu sắt thép, xi măng …

- Về vấn đề tài chính, tuy lãi suất thời gian gần đây có giảm nhưng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng vẫn là khó khăn của doanh nghiệp, đặc biệt các doanh nghiệp nhỏ và vừa Nhiều DNNVV tuy trước đây hoạt động ổn định nhưng do khó khăn liên tiếp kéo dài từ năm 2011 đến nay, không đảm bảo được các yêu cầu và chuẩn mực rủi ro của ngân hàng, do đó nhiều tổ chức tín dụng thừa vốn nhưng vẫn không thể cho vay, khiến tình trạng càng trở nên khó khăn

- Sức tiêu thụ trong nước giảm mạnh trong khi xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước cũng gặp trở ngại do khủng hoảng nợ công Châu Âu, hàng hóa sản xuất ra tiêu thụ rất chậm, hàng tồn kho tăng cao, làm chậm luân chuyển một lượng vốn lớn, thiếu hụt tiền để thanh toán cho các khoản nợ đến hạn tại ngân hàng

- Sự biến động về lao động tại một số DNNVV do người lao động nghỉ việc để hưởng trợ cấp thất nghiệp, làm cho lực lượng lao động bị xáo trộn, chuyển từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác, gây lãng phí về đào tạo tay nghề và giảm sút năng suất lao động

3.2 Nguyên nhân nội tại trong doanh nghiệp

- Chất lượng nhân lực thấp bao gồm cả nhân lực quản lý và người lao động, thiếu hụt lực lượng lao động có tay nghề Chất lượng quản trị điều hành doanh nghiệp nhìn chung vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập Theo đánh giá, phần nhiều giám đốc và chủ doanh nghiệp chưa được đào tạo bài bản về quản lý và kinh doanh

- Bản thân nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa thường đầu tư dàn trải, kinh doanh đa ngành nghề dẫn đến không kiểm soát được dòng vốn, không định hướng rõ được chiến lược kinh doanh nên dễ gặp rủi ro trong điều kiện nhiều biến động, thách thức, khó khăn của thị trường

- Doanh nghiệp áp dụng công nghệ lạc hậu dẫn đến năng suất thấp, giá thành cao dẫn đến sức cạnh tranh kém

II Đánh giá kết quả công tác sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV):

Trang 9

1 Công tác sắp xếp, tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước:

1.1 Đánh giá chung

- Về tái cơ cấu DNNN: Thực hiện Quyết định số 929/QĐ-TTg phê duyệt

Đề án “Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011-2015”, tính đến hết tháng 7 năm 2013 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt 17 đề án tái cơ cấu của các tập đoàn, tổng công

ty Tính đến cuối tháng 7/2013, các Bộ quản lý ngành đã phê duyệt được 31 đề

án tái cơ cấu của tổng công ty trực thuộc Bộ

Theo báo cáo của một số Bộ ngành, 7 tháng đầu năm 2013, hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNN gặp nhiều khó khăn, kém khởi sắc Tình trạng hàng tồn kho lớn vẫn rất phổ biến tại hầu hết các doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, vì vậy phần nào ảnh hưởng đến kết quả tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước

- Việc xây dựng Điều lệ tổ chức và hoạt động của các tập đoàn, tổng công

ty nhà nước: hiện đã có 08/15 dự thảo nghị định về điều lệ tổ chức và hoạt động của tập đoàn, tổng công ty đã hoàn thành, trình Thủ tướng Chính phủ

- Về phương án sắp xếp, đổi mới DNNN: tính đến hết tháng 7/2013, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt 100/101 phương án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp của các Bộ, ngành, địa phương giai đoạn 2011-2015 Chỉ còn 01 đơn vị chưa phê duyệt là Bộ Thông tin và Truyền thông

- Kết quả sắp xếp, đổi mới DNNN: Các Bộ, ngành địa phương đang triển khai thực hiện phương án đã được phê duyệt, tuy nhiên tốc độ còn chậm Kết quả sắp xếp doanh nghiệp nhà nước còn thấp Năm 2012 cả nước sắp xếp được

22 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hóa 13 doanh nghiệp, sáp nhập 05 doanh nghiệp, chuyển thành TNHHMTV 03 doanh nghiệp, thành lập mới 01 doanh nghiệp Tương tự tính đến 31/7/2013, cả nước sắp xếp được 25 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hóa 18 doanh nghiệp, sáp nhập 4 doanh nghiệp, hợp nhất 2 doanh nghiệp, chuyển thành TNHHMTV 1 doanh nghiệp

Nhìn chung, công tác sắp xếp, tái cơ cấu DNNN đã đạt được một số kết quả nhất định Tuy nhiên, tốc độ sắp xếp DNNN đang chững lại một cách đáng

kể, chủ yếu do những nguyên nhân:

+ Các Đề án tái cơ cấu phần lớn được trình để phê duyệt vào cuối năm

2012 và trong năm 2013, nhiều Bộ, địa phương quản lý nhiều DNNN có thời gian phê duyệt Đề án rất muộn, làm ảnh hưởng đến tiến độ triển khai thực hiện

Về cơ bản, các Đề án xây dựng chưa đưa ra các lộ trình và giải pháp cụ thể, chưa đi vào bản chất vấn đề là cần xác định lại vị trí, vai trò, nhiệm vụ của

Trang 10

doanh nghiệp đối với quá trình xây dựng và phát triển của địa phương hoặc của ngành Các nội dung về tái cơ cấu tài chính, tái cơ cấu đầu tư chưa thực sự được chú trọng; ngành lĩnh vực kinh doanh vẫn chưa thực sự được thu hẹp và giảm bớt đáng kể, các tập đoàn, tổng công ty nhình chung vẫn xác định đa ngành, đa lĩnh vực

+ Một số Bộ, địa phương chưa quyết liệt trong việc xác định hình thức sắp xếp và đẩy mạnh công tác chuyển đổi, cổ phần hóa DNNN do mình quản lý, thể hiện ở việc thực hiện phân loại doanh nghiệp không theo đúng quy định tại Quyết định số 14/2011/QĐ-TTg về tiêu chí, danh mục phân loại DNNN hoặc tìm cách lùi, giãn tiến độ cổ phần hóa đến giai đoạn sau 2015;

+ Về cơ chế, chính sách: Trong thời gian qua, các văn bản về cổ phần hóa

đã được ban hành đầy đủ nhưng chưa kịp thời xử lý hết các vướng mắc, chủ yếu tập trung vào các vấn đề về cổ phần hóa các chi nhánh, đơn vị hạch toán phụ thuộc Tổng công ty nhà nước; về đấu thầu lựa chọn tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp; về đối chiếu, xác nhận toàn bộ các khoản nợ phải trả trước khi xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa

+ Về cơ chế thoái vốn: Trong bối cảnh nền kinh tế bị suy thoái, thị trường tài chính, bất động sản và chứng khoán khó khăn đã ảnh hưởng đến tiến độ thoái vốn và giá trị chuyển nhượng cổ phần của các doanh nghiệp Một số doanh nghiệp không chuyển nhượng được do không có nhà đầu tư nào đăng ký mua, hoặc đề nghị giá chuyển nhượng thấp hơn mệnh giá gốc Thủ tục chuyển nhượng qua nhiều công đoạn nên đã làm chậm kết hoạch thực hiện thoái vốn so với dự kiến

+ Việc giám sát, đánh giá thường xuyên kết quả thực hiện sắp xếp, tái cơ cấu DNNN vẫ chưa được thực hiện đúng mức, chưa có chế tài phù hợp để xử lý các trường hợp không tuẩn thủ theo Quyết định số 14/2011/QĐ-TTg hoặc thực hiện không đúng Phương án sắp xếp đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

1.2 Một số hạn chế, bất cập trong công tác tái cấu trúc DNNN:

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động DNNN trong thời gian qua còn tồn tại một số bất cập:

Một là, hiệu quả và sức cạnh tranh của DNNN còn thấp Tuy có nhiều

đóng góp cho nền kinh tế quốc dân nhưng tập đoàn, tổng công ty nhà nước nhìn chung chưa phát huy được lợi thế của doanh nghiệp có quy mô lớn Hiệu quả và sức cạnh tranh của các Tập đoàn và Tổng công ty trong thời gian qua vẫn chưa tương xứng với sự quan tâm, đầu tư của Chính phủ

Ngày đăng: 01/12/2015, 09:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w