1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vấn đề điện nước đô thị

12 441 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 35,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VẤN ĐỀ CUNG CẤP ĐIỆN 1.1 Hệ thống các công trình cấp điện đô thị 1.1.1 Quy định chung - Hệ thống cung cấp điện phải đáp ứng đầy đủ nhu cầu năng lượng điện của đô thị cho thời gian hiện tại và tương lai 10 năm sau, bao gồm: + Điện dân dụng cho các hộ gia đình + Điện cho các công trình công cộng + Điện cho các cơ sở sản xuất + Điện cho các cơ sở dịch vụ thương mại + Điện chiếu sáng cho các giao thong công cộng, quảng trường, công viên, các nơi vui chơi giải trí công cộng + Các nhu cầu khác - Hệ thống cung cấp điện đô thị phải đảm bảo độ tin cậy cung cấp điện phù hợp với 3 loại hộ dung điện: hộ loại 1, loại 2 và loại 3 - Hệ thống cung cấp điện đô thị được nối voiwsheej thống điện quốc giavaf chịu sự điều phới của trung tâm điều độ quốc gia 1.1.2 Độ tin cậy cung cấp điện a. Hộ loại 1 Các hộ dung điện nếu mất điện sẽ gây ra sự cố chết người, hư hỏng nặng thiết bị máy móc, có ảnh hưởng lớn đến chính trị kinh tế và an ninh quốc gia, gồm các công trình quan trọng như trụ sở Quốc hội, Chính phủ, hủ tịch nước, phòng cấp cứu, phòng mổ, phát thanh, truyền hình, thông tin lien lạc. Phải đảm bảo lien tục cung cấp điện và được cung cấp từ 2 nguồn điện độc lập trở lên. b. Hộ loại 2 Các hộ dung điện nếu mất điện sẽ gây hư hỏng thiết bị máy móc, ngừng sản xuất gây ra tổn thất lớn về kinh tế hoặc ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của nhiều người ( các Bảng 1: chỉ tiêu cung cấp điện sinh hoạt 1.2 Hiện trạng cung cấp điện tại các đô thị 12.1 Hiện trạng cung cấp điện trên thế giới Nhiều chuyên gia cho rằng, nạn thiếu điện ở các đô thị lớn trên thế giới xuất phát từ tốc 1.2.2 Hiện trạng cung cấp điện tại Việt Nam 1.3 Đề xuất các giải pháp tiết kiệm điện năng - Tiết kiệm điện trong sản xuất kinh doanh điện năng - Từ cơ quan EVN đến các nhà máy điện, Công ty truyền tải, Công ty Điện lực, Điện lực và Chi nhánh điện phải thực hiện nghiêm các biện pháp tiết kiệm trong sử dụng điện theo văn bản số 4144/CV-EVN-KD&ĐNT, ngày 15/8/2005 của EVN chỉ đạo các đơn vị trực thuộc. - Nâng cao hiệu suất chiếu sáng bằng cách tăng cường sử dụng các loại đèn chiếu sáng có hiệu suất cao, tiêu thụ năng lượng ít - Tiết kiệm điện trong chiếu sáng đường phố - Thực hành sử dụng điện hợp lý và tiết kiệm ở cơ quan và nơi công cộng, tích cực chống sử dụng điện lãng phí - Tiết kiệm điện trong các hộ gia đình - Bố trí thời gian sử dụng điện trong ngày một cách hợp lý đối với các hộ sử dụng điện sản xuất và kinh doanh dịch vụ - Phát triển hoạt động kiểm toán năng lượng, đánh giá tiềm năng tiết kiệm điện và đề xuất các biện pháp giảm suất tiêu hao điện năng. Hiện nay, Bộ Công thương đang triển khai chương trình kiểm toán năng lượng cho các cơ quan, trụ sở, khách sạn... Chương trình này nhằm giúp khách hàng sử dụng điện tìm ra những khâu sử dụng điện chưa hợp lý, lãng phí và hỗ trợ đầu tư thay đổi dây truyền công nghệ theo các kiến nghị sau khi kiểm toán, giúp khách hàng tiết kiệm điện. II. VẤN ĐỀ CUNG CẤP NƯỚC 2.1 Hệ thống cấp thoát nước đô thị Hệ thống cấp nước đô thị bao gồm nhiều công trình với các chức năng làm việc khác nhau, được bố trí theo các công đoạn liên hoàn. Một hệ thống cấp nước bao gồm: Công 2.2 Thực trạng cấp thoát nước đô thị 2.2.1 Thực trạng cấp nước ngành quan tâm thích đáng. 5. Cơ chế chính sách ngành nước còn nhiều bất cập, đặc biệt là cơ chế tài chính (giá nước) chưa phù hợp với tinh thần Chỉ thị số 40/1998/CT-TTg về việc tăng cường công tác quản lý và phát triển cấp nước đô thị. Hiện nay giá nước sinh hoạt tại các địa phương còn nhiêù bất cập, thiếu hợp lý, không công bằng giữa người dân ở các đô thị lớn và nông thôn. Nguyên

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng một cách nhanh chóng Tỷ lệ GDP của nền kinh tế quốc doanh ngày càng cao Tốc độ phát triển đô thị ngày càng nhanh, song cơ sở hạ tầng các đô thị còn yếu kém nhất là giao thông, cung cấp điện, cấp thoát nước và vệ sinh môi trường, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của các đô thị trong giai đoạn hiện nay

Trang 2

VẤN ĐỀ CUNG CẤP ĐIỆN

1.1 Hệ thống các công trình cấp điện đô thị

1.1.1 Quy định chung

- Hệ thống cung cấp điện phải đáp ứng đầy đủ nhu cầu năng lượng điện của đô thị cho thời gian hiện tại và tương lai 10 năm sau, bao gồm:

+ Điện dân dụng cho các hộ gia đình

+ Điện cho các công trình công cộng

+ Điện cho các cơ sở sản xuất

+ Điện cho các cơ sở dịch vụ thương mại

+ Điện chiếu sáng cho các giao thong công cộng, quảng trường, công viên, các

nơi vui chơi giải trí công cộng + Các nhu cầu khác

- Hệ thống cung cấp điện đô thị phải đảm bảo độ tin cậy cung cấp điện phù hợp với 3 loại hộ dung điện: hộ loại 1, loại 2 và loại 3

- Hệ thống cung cấp điện đô thị được nối voiwsheej thống điện quốc giavaf chịu sự điều phới của trung tâm điều độ quốc gia

1.1.2 Độ tin cậy cung cấp điện

a Hộ loại 1

Các hộ dung điện nếu mất điện sẽ gây ra sự cố chết người, hư hỏng nặng thiết bị máy móc, có ảnh hưởng lớn đến chính trị kinh tế và an ninh quốc gia, gồm các công trình quan trọng như trụ sở Quốc hội, Chính phủ, hủ tịch nước, phòng cấp cứu, phòng mổ, phát thanh, truyền hình, thông tin lien lạc

Phải đảm bảo lien tục cung cấp điện và được cung cấp từ 2 nguồn điện độc lập trở lên

b Hộ loại 2

Các hộ dung điện nếu mất điện sẽ gây hư hỏng thiết bị máy móc, ngừng sản xuất gây ra tổn thất lớn về kinh tế hoặc ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của nhiều người ( các

Trang 3

công trình công cộng của đô thị, khu nhà ở trên 5 tầng, nhà máy nước, công trình làm

sạch chất thải và các hộ tiêu thụ điệntập trung có công suất từ 4000 kW trở lên)

Đảm bảo liên tục cung cấp điện( mưc độ ưu tiên thấp hơn hộ loại 1) Được cung cấp từ 2 nguồn điện độc lập trở lên

c Hộ loại 3

Các hộ dùng điện còn lại ngoài 2 loại hộ dùng điện nêu trên, cho phép ngừng cung cấp điện để bảo dưỡng, sữa chữa, khắc phục sự cố trong khoảng thời gian không quá 12 giờ Được cung cấp từ một nguồn điện, không yêu cầu có nguồn điện dự phòng

Bảng 1: chỉ tiêu cung cấp điện sinh hoạt

Chỉ tiêu cung cấp

điện

Giai đoạn hiện tại Giai đoạn phát triển

( sau 10 năm)

Đô thị đăc biệt

Đô thị loại I

Đô thị loại

II, III

Đô thị loại IV,V

Đô thị dặc biệt

Đô thị loại I Đô thị loại

II,III

Đô thị loại IV,V

Điện năng

KWh/người năm

Số giờ sử dụng công

suất lớn nhất, h/năm 2800 2500 2500 2000 3000 3000 3000 3000

Phụ tải điện

kW/1000 người

Bảng 2 : Chỉ tiêu cung cấp điện công trình công cộng

biệt Đô thị loại I Đô thị loại

II-III

Đô thị loại IV-V

Điện công trình công cộng dịch vụ,

thương mại, chiếu sang công

cộng( tính bằng % phụ tải điện sinh

hoạt)

Trang 4

Bảng 3: Chỉ tiêu cấp điện cho sản xuất công nghiệp kho tàng

1 Công nghiệp nặng ( luyện gang thép, sản xuất ô tô,

công nghiêp hóa dầu hóa chất sản xuất phân bón), sản

xuất xi măng

350

2 Công nghiệp vật liệu xây dựng khác, cơ khí 250

3 Công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, điện tử,

vi tính, dệt

200

1.2 Hiện trạng cung cấp điện tại các đô thị

12.1 Hiện trạng cung cấp điện trên thế giới

Nhiều chuyên gia cho rằng, nạn thiếu điện ở các đô thị lớn trên thế giới xuất phát từ tốc

độ phát triển nhanh của nền kinh tế các nước này, đặc biệt là các ngành công nghiệp

"ngốn" nhiều điện Một nguyên nhân nữa là cơ cấu năng lượng bất cân đối của các nước hiện nay

- Trung Quốc đã rót nhiều tỷ USD vào viêc mở rộng và tăng năng lực sản xuất điện trong nước Tuy nhiên hệ thống điện quốc gia được dự đoán là sẽ rất chật vật mới

có thể đáp ứng được nhu cầu Tại Trung Quốc, điện thiếu nghiêm trọng, hầu hết các tỉnh, thành phố lớn ở Trung Quốc đều phải tiết giảm điện, như: TP Bắc kinh

có 5.000 xí nghiệp đã phải nghỉ luân phiên do cắt điện

- Năm 2008, Nam Phi cũng đã rơi vào tình trạng thiếu điện tương tự gây thiệt hại kinh tế ước tính hàng tỷ USD Nam Phi phải đối mặt với tình trạng thiếu điện trầm trọng do không hạ tầng ngành điện yếu kém.Chính phủ đã buộc phải áp dụng lịch cắt điện luân phiên trên toàn quốc

- Tại Thái Lan, Thủ tướng kêu gọi sự hợp tác của người dân trong chiến dịch tắt bớt đèn không cần thiết trong vòng 5 phút từ 20h45’ mỗi ngày, ngoài ra người dân nên tắt máy điều hòa nhiệt độ 1 giờ/ngày trong giờ ăn trưa và các hộ dân tắt một bóng đèn trong 1giờ/ngày, Thái Lan sẽ tiết kiệm được 620 triệu bath/năm (tương đương

246 tỷ đồng Việt Nam)

Trang 5

- Tại thủ đô Jakarta (Indonesia), Công ty Điện lực quốc gia cũng đang kêu gọi người dân tắt bớt ít nhất 2 bóng đèn trong giờ cao điểm từ 17giờ - 22giờ

- Nhật Bản phát động chương trình tiết kiệm đó là nhân viên ăn mặc “mát mẻ hơn khi đi làm” để hạn chế bật điều hòa

- Ở một quốc gia Châu Á khác, tháng trước, mất điện trên một nửa diện tích cả nước

đã khiến cho trên 600 triệu người Ấn Độ ở trong tình trạng thiếu các nhu yếu phẩm vì cung không đủ cầu Theo báo cáo năm ngoái của Liên hợp quốc, hiện nay, chỉ có 30% dân cư ở nước này sống ở khu vực thành thị, thấp hơn Trung Quốc (50,6%) và các nước phát triển (70 – 80%)

- Ở các đô thị đông dân tại các nước đang phát triển, thông thường hệ thống dẫn điện ở đây thường chằn chịt, cũ kĩ, lạc hâu không đảm bảo truyền tải điện

- Hiện nay, các đô thị lớn ở Châu Âu, Mỹ đang áp dụng hệ thống lưới điện thông minh là dạng lưới điện mà mục tiêu đặt ra là tiên đoán và phản ứng một cách thông minh với cách ứng xử và hành động của tất cả các đơn vị được kết nối điện với lưới điện, bao gồm các đơn vị cung cấp điện, các hộ tiêu thụ điện và các đơn

vị đồng thời cung cấp và tiêu thụ điện, nhằm cung cấp một cách hiệu quả các dịch

vụ điện tin cậy, kinh tế và bền vững

1.2.2 Hiện trạng cung cấp điện tại Việt Nam

Những năm qua, chương trình tiết kiệm năng lượng nói chung và tiết kiệm điện nói riêng

ở các đô thị lớn nước ta mới chỉ bước đầu được nghiên cứu, triển khai Mức tiêu hao nhiên liệu và tỷ lệ điện dùng cho sản xuất điện (còn gọi là điện tự dùng) luôn thấp hơn chỉ tiêu kế hoạch nhà nước giao Tỷ lệ điện dùng để truyền tải và phân phối điện (tổn thất điện năng) liên tục thực hiện thấp hơn chỉ tiêu kế hoạch nhà nước giao và đã có mức giảm đáng kể

Tuy nhiên, thực trạng ở các đô thị lớn nước ta vẫn còn hiện tượng sử dụng điện khá lãng phí nhất là ở khu vực công cộng, trụ sở cơ quan, chiếu sáng quảng cáo, chiếu sáng bán hàng; nhiều đường phố, điện chiếu sáng suốt đêm với độ sáng quá mức cần thiết; nhiều phòng làm việc buông rèm và bật đèn, không tận dụng ánh sáng tự nhiên; đèn quảng cáo

bố trí quá nhiều và phần lớn dùng bóng đèn tròn sợi đốt Ở nhiều thành phố lớn, đèn trang trí được treo trên cây, số lượng đèn nhiều làm sáng rực cả khoảng không gian Nhiều nơi mắc đèn ngõ xóm bằng bóng dây tóc nóng sáng 100-300W, hiệu suất chiếu sáng của bóng đèn kém, ánh sáng không đều, chỗ sáng chỗ tối, gây lãng phí điện

Những năm qua, để đáp ứng nhu cầu sử dụng điện của nhân dân thủ đô, thành phố Hà Nội chủ yếu nhận nguồn điện từ các nhiều nhà máy như Hòa Bình, Tuyên Quang, Nhiệt điện Phả Lại và từ hệ thống 500 kV thông qua 06 trạm biến áp 220 kV và 05 trạm biến áp

110 kV, một số công trình 220 kV cấp điện cho địa bàn Hà Nội triển khai xây dựng

Trang 6

chậm, hoặc không hoàn thành do nhiều lí do, nên việc quản lý, vận hành lưới điện 110

kV gặp rất nhiều khó khăn, chất lượng điện thấp, đấy là chưa kể ý thức bảo vệ an toàn hành lang lưới điện của một bộ phận dân cư chưa cao cũng gây nên tình trạng mất an toàn và tỷ lệ tổn thất chưa đạt như mong muốn

Trong tháng 5/2005, miền Bắc thiếu điện nghiêm trọng, bệnh viện, trường học bị cắt điện, một số nhà máy không có điện sản xuất, công nhân xây dựng điện đã làm việc thâu đêm để đường dây 500kV kịp đóng điện tăng thêm công suất chi viện cho miền Bắc Trong khi đó nhiều cơ quan, nhà hàng, khách sạn dùng điện trang trí, quảng cáo mới 5 giờ chiều đã bật đèn quảng cáo sáng cả khoảng trời, nhiều hộ gia đình dùng điện quá lớn, tiền điện thanh toán từ 5-12 triệu đồng/tháng Các cơ quan đài báo đã kịp thời phản ảnh những bài viết, những đoạn phim trong chương trình thời sự về sự lãng phí điện

Một số nguồn điện và cung cấp khí không đáp ứng tiến độ, dẫn đến phân bố công suất nguồn điện không đồng đều giữa các vùng; phát triển lưới điện truyền tải 220 kV đạt thấp, dẫn đến một số thành phố lớn, khu vực trung tâm phụ tải bị quá tải, ảnh hưởng đến đến độ tin cậy cung cấp điện và chất lượng điện năng; việc sử dụng điện của nền kinh tế nói chung còn chưa hiệu quả, tiết kiệm, năng suất lao động ngành còn thấp

1.3 Đề xuất các giải pháp tiết kiệm điện năng

- Tiết kiệm điện trong sản xuất kinh doanh điện năng

- Từ cơ quan EVN đến các nhà máy điện, Công ty truyền tải, Công ty Điện lực, Điện lực và Chi nhánh điện phải thực hiện nghiêm các biện pháp tiết kiệm trong sử dụng điện theo văn bản số 4144/CV-EVN-KD&ĐNT, ngày 15/8/2005 của EVN chỉ đạo các đơn vị trực thuộc

- Nâng cao hiệu suất chiếu sáng bằng cách tăng cường sử dụng các loại đèn chiếu sáng có hiệu suất cao, tiêu thụ năng lượng ít

- Tiết kiệm điện trong chiếu sáng đường phố

- Thực hành sử dụng điện hợp lý và tiết kiệm ở cơ quan và nơi công cộng, tích cực chống sử dụng điện lãng phí

- Tiết kiệm điện trong các hộ gia đình

- Bố trí thời gian sử dụng điện trong ngày một cách hợp lý đối với các hộ sử dụng điện sản xuất và kinh doanh dịch vụ

Trang 7

- Phát triển hoạt động kiểm toán năng lượng, đánh giá tiềm năng tiết kiệm điện và đề xuất các biện pháp giảm suất tiêu hao điện năng Hiện nay, Bộ Công thương đang triển khai chương trình kiểm toán năng lượng cho các cơ quan, trụ sở, khách sạn Chương trình này nhằm giúp khách hàng sử dụng điện tìm ra những khâu sử dụng điện chưa hợp lý, lãng phí và hỗ trợ đầu tư thay đổi dây truyền công nghệ theo các kiến nghị sau khi kiểm toán, giúp khách hàng tiết kiệm điện

II VẤN ĐỀ CUNG CẤP NƯỚC

2.1 Hệ thống cấp thoát nước đô thị

Hệ thống cấp nước đô thị bao gồm nhiều công trình với các chức năng làm việc khác nhau, được bố trí theo các công đoạn liên hoàn Một hệ thống cấp nước bao gồm: Công trình thu nước, trạm bơm cấp nước, các công trình làm sạch hoặc xử lý nước, các công trình điều hòa và dự trữ nước, mạng lưới đường ống

Hệ thống thoát nước là các công trình, thiết bị và các giải pháp kỹ thuật được tổ chức để thực hiện nhiệm vụ chuyển nuocs thải ra khỏi khu vực

2.2 Thực trạng cấp thoát nước đô thị

Trong những năm qua, Ðảng và Nhà nước hết sức quan tâm đến công tác cấp nước đô thị, nhiều dự án cấp nước đã được ưu tiên đầu tư, nhờ vậy tình hình cấp nước các đô thị

đã được cải thiện một cách đáng kể, công suất các nhà máy được tăng cao, gắn với việc nâng cao chất lượng nước, ứng dụng khoa học công nghệ tiến tiến vào sản xuất và quản

lý, tăng tỷ lệ người dân dùng nước sạch ở các đô thị

Tuy nhiên, tình hình cấp nước các đô thị vẫn còn yếu kém, các hệ thống cấp nước xây dựng không đồng bộ, công nghệ còn lạc hậu, phạm vi cấp nước còn hạn chế, tiêu chuẩn cấp nước và chất lượng nước còn thấp, tỷ lệ dân số các đô thị được cấp nước chưa cao

2.2.1 Thực trạng cấp nước

Trong thời gian qua, hệ thống cấp nước các đô thị Việt Nam đã được Đảng, Chính phủ quan tâm ưu tiên đầu tư cải tạo và xây dựng, nhờ vậy tình hình cấp nước đã được cải thiện một cách đáng kể Tuy nhiên tình hình cấp nước đô thị còn nhiều bất cập:

1 Tỷ lệ cấp nước còn rất thấp: trung bình đạt 45% tổng dân số đô thị được cấp nước

Trang 8

2 Công suất thiết kế của một số nơi chưa phù hợp với thực tế: Nhiều nơi thiếu nước, nhưng cũng có đô thị thừa nước, không khai thác hết công suất

3 Tỷ lệ thất thoát thất thu nước còn cao: tại nhiều đô thị tỷ lệ thất thoát thất thu còn cao như Thái Nguyên, Hà Nội, Nam Định, Hà Tĩnh, Vinh…

4 Chất lượng nước: tại nhiều nhà máy chưa đạt tiêu chuẩn quy định, tình trạng nguồn nước ngầm, nước mặt bị ô nhiễm nặng nề ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhân dân Việc chất lượng nguồn nước bị ô nhiễm do nhiều nguyên nhân gây ra:

- Tình hình khí tượng thuỷ văn trong những năm gần đây có nhiều biến động phức tạp, tình hình, hạn hán, lũ lụt ngày càng nghiêm trọng do hậu quả của hiện tượng phá rừng kết hợp với ENNINO

- Công tác khảo sát nguồn nước chưa sát với tình hình thực tế, chưa dự báo được những biến động về mặt trữ lượng cũng như về mặt thuỷ địa hoá

- Công nghệ xử lý nước tại một số nhà máy nước chưa đồng bộ và hoàn chỉnh

- Tình hình xả nước thải không qua xử lý ra sông hồ, hàng vạn lỗ khoan mạch nông đang

là nguồn gây ô nhiễm cho tầng chứa nước đang khai thác

- Công tác quản lý khai thác nguồn nước mặt và nước ngầm chưa được các cấp, các ngành quan tâm thích đáng

5 Cơ chế chính sách ngành nước còn nhiều bất cập, đặc biệt là cơ chế tài chính (giá nước) chưa phù hợp với tinh thần Chỉ thị số 40/1998/CT-TTg về việc tăng cường công tác quản lý và phát triển cấp nước đô thị Hiện nay giá nước sinh hoạt tại các địa phương còn nhiêù bất cập, thiếu hợp lý, không công bằng giữa người dân ở các đô thị lớn và nông thôn Nguyên nhân của tình trạng trên là do:

- Nhận thức của Lãnh đạo địa phương còn hạn chế

- Cơ chế, chính sách tài chính trong cấp nước đô thị vẫn còn thiếu hoàn chỉnh và không đồng bộ

- Nhiều dự án vay của nước ngoài phải trả nợ theo lộ trình tăng giá nước nhưng điều kiện trả nợ lại không khả thi và khó thực hiện

6 Mô hình tổ chức, quản lý vận hành, đào tạo, nâng cao năng lực ngành nước cũng còn nhiều vấn đề cần phải giải quyết Nhằm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 và Quyết định số 58/2002 ngày 26/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ các Công ty cấp nước sẽ

Trang 9

chuyển sang hoạt động kinh doanh Tháng 11 năm 2004 Bộ Xây dựng đã trình Thủ tướng Chính phủ Đề án cải tiến mô hình tổ chức Ngành nước Việt Nam

2.2.2 Thực trạng thoát nước ở các đô thị

Hiện nay, hệ thống thoát nước phổ biến nhất ở các đô thị của Việt Nam là hệ thống thoát nước chung Phần lớn những hệ thống này được xây dựng cách đây khoảng 100 năm, chủ yếu để thoát nước mưa, ít khi được sửa chữa, duy tu, bảo dưỡng nên đã xuống cấp nhiều; việc xây dựng bổ sung được thực hiện một cách chắp vá, không theo quy hoạch lâu dài, không đáp ứng được yêu cầu phát triển đô thị Các dự án thoát nước đô thị sử dụng vốn ODA (cho khoảng 10 đô thị) đã và đang được triển khai thực hiện thường áp dụng kiểu

hệ thống chung trên cơ sở cải tạo nâng cấp hệ thống hiện có Tuy nhiên, cá biệt như thành phố Huế áp dụng hệ thống thoát nước riêng hoàn toàn.Hệ thống thoát nước các đô thị Việt Nam chủ yếu là hệ thống thoát nước chung phát triển trên cơ sở cống thoát nước mưa hình thành từ trước, kích thước và độ dốc cống nhỏ, mật độ tính theo chiều dài trên đầu người thấp, bị xuống cấp nghiêm trọng, không còn đủ khả năng phục vụ tiêu thoát nước hiện tại cho các đô thị

Qua đánh giá hiện trạng có thể thấy việc qui hoạch, xây dựng hệ thống thoát nước là chưa hợp lý, việc quản lý phối hợp giữa các ngành giao thông công chính và các ngành khác chưa chặt chẽ, đã gây ra không ít những khó khăn và phức tạp trong quản lý thoát nước hiện nay

Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải ở Việt Nam cần được tiến hành qui hoạch và xây dựng cải tạo đầy đủ và đồng thời với qui hoạch phát triển đô thị

Việc xử lý nước thải chưa đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường nguồn tiếp nhận, cần được nghiên cứu và tăng cường về đầu tư xây dựng

Những năm gần đây, việc đầu tư vào hệ thống thoát nước đô thị được cải thiện đáng kể Một số dự án đã và đang được triển khai bằng nguồn vốn vay ODA tại các thành phố như

Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Vinh, Nguồn vốn đầu tư này tuy đã lên tới tỉ USD, tuy nhiên nó cũng chỉ đáp ứng tỷ lệ nhỏ (khoảng 1/6) so với yêu cầu hiện nay Hầu hết các đô thị đã có qui hoạch phát triển tổng thể đến năm 2020, nhưng quy hoạch chuyên ngành, hạ tầng cơ sở chưa được thực thi đầy đủ, đồng bộ nhất là đối với ngành cấp thoát nước đô thị

Tuy nhiên, theo đánh giá của các công ty thoát nước, công ty môi trường đô thị tại các địa phương và các công ty tư vấn, thì còn có nhiều tuyến cống đã bị hư hỏng nghiêm

Trang 10

trọng cần phải sửa chữa, 30% các tuyến cống đã xuống cấp, chỉ khoảng 20% vừa được xây dựng là còn tốt

2.3 Định hướng phát triển cấp, thoát nước đô thị và KCN Việt Nam đến năm 2025

và tầm nhìn đến năm 2050

Hệ thống cấp, thoát nước đô thị có vai trò quan trọng đối với đời sống và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của đô thị Những mô hình quản lý và chính sách hiện hành liên quan đến vấn đề thu phí, quyền sở hữu, những phát sinh trong quá trình cổ phần hóa, tính

tự chủ và trách nhiệm của các công ty cấp, thoát nước cần phải thay đổi theo hướng cập nhật nhất quán nhằm khuyến khích, động viên các công ty cung cấp dịch vụ một cách hiệu quả

Về cơ chế, chính sách cho lĩnh vực cấp nước, sẽ huy động các nguồn vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước Dự án đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước được hưởng các ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước theo quy định của pháp luật Thành lập Quỹ quay vòng cấp nước tạo nguồn tài chính hỗ trợ, đầu tư các dự

án phát triển cấp nước tại các khu đô thị; ưu tiên đầu tư xây dựng các công trình cấp nước vùng Kiểm tra, đánh giá chất lượng hoạt động, cải tạo và đầu tư mở rộng mạng lưới đường ống cấp nước nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước, phát huy hết công suất thiết kế

và giảm tỷ lệ thất thoát nước

Dịch vụ thoát nước và vệ sinh môi trường tiếp tục là vấn đề nóng bỏng và cực kỳ bức xúc trong phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam Nó đang đặt ra nhiều thách thức cho Chính phủ và toàn ngành nước Do hệ thống thoát nước ở hầu hết các đô thị chung cho cả thoát nước thải và nước mưa, vì vậy việc thu gom nước thải để xử lý hầu như chưa làm được Thể chế và tài chính của các công ty thoát nước hoặc công ty môi trường đô thị không mạnh bằng các công ty cấp nước Đây chính là một thách thức lớn về năng lực trong việc giải quyết những vấn đề của vệ sinh đô thị Việc thiết lập cơ chế hoạch toán lỗ lãi để cung cấp các dịch vụ tới khách hàng và dựa trên doanh thu là cần thiết và có thể thuê khối tư nhân thực hiện một số công việc lựa chọn

Từ thực trạng trên, vấn đề đầu tư phát triển hệ thống cấp thoát nước, đặc biệt là công tác thu gom nước thải và xử lý đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, trước khi thải vào hệ thống chung, tiếp tục là thách thức, là đòi hỏi của toàn xã hội Trước tình hình này, việc ra đời một định hướng phát triển cấp, thoát nước đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm

2025 và tầm nhìn đến năm 2050 là hết sức cần thiết

Ngày đăng: 23/11/2015, 00:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2 : Chỉ tiêu cung cấp điện công trình công cộng - vấn đề điện nước đô thị
Bảng 2 Chỉ tiêu cung cấp điện công trình công cộng (Trang 3)
Bảng 1:  chỉ tiêu cung cấp điện sinh hoạt - vấn đề điện nước đô thị
Bảng 1 chỉ tiêu cung cấp điện sinh hoạt (Trang 3)
Bảng 3: Chỉ tiêu cấp điện cho sản xuất công nghiệp kho tàng - vấn đề điện nước đô thị
Bảng 3 Chỉ tiêu cấp điện cho sản xuất công nghiệp kho tàng (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w