1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT số vấn đề cơ bản về nợ nước NGOÀI

2 203 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 2
Dung lượng 28,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến năm 2000, tại khu vực Đông Nam Á nhiều quốc gia cũng đang sống dở chết dở vì nợ nước ngoài.. Bước sang những năm đầu tiên của thiên niên kỉ thứ 3, nợ nước ngoài của Indonexia đã đạt

Trang 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỢ NƯỚC NGOÀI

Trong 20 năm từ 1970 đến 1989 , nợ nước ngoài của các nước đang phát triển tang 1,846 % ( từ 68,4 tỉ USD đến 1.263 tỉ USD ) nhất là giai đoạn từ những năm 1970 đến 1980 với tốc độ rất nhanh, gần 1.000% chỉ trong 10 năm Các chỉ tiêu tỉ lệ nợ xuất khẩu, tỉ lệ trả nợ xuất khẩu, tỉ lệ nợ GDP cũng tang lên nhanh chóng qua các năm và đạt đỉnh điểm vào giữa những năm 1980 Trong đó đa phần nợ tập trung vào 4 nước thuộc khu vực châu mỹ la tinh gồm Brazin ( 114 tỉ USD ), Mehico (105 tỉ USD ), Achentina ( 49,4 tỉ USD ) và Ve-ne-zue-la ( 33,9 tỉ USD) trong tổng số nợ là 485 tỉ USD của 17 nước nợ nhiều nhất thế giới Bốn nước này chiếm 62,43 % tổng số nợ Cụ thể những năm đầu thập kỉ 70 nợ nước ngoài của Brazil là 4 tỉ đô la, đến cuối thập kỉ 70 con số này đã lên đến 50 tỉ đola và đến năm 1989 thì nhảy vọt lên 121 tỉ

Đến năm 2000, tại khu vực Đông Nam Á nhiều quốc gia cũng đang sống dở chết

dở vì nợ nước ngoài Bước sang những năm đầu tiên của thiên niên kỉ thứ 3, nợ nước ngoài của Indonexia đã đạt con số 150 tỉ và nước này trở thành 1 trong 4 con nợ lớn nhất thế giới, sau Mehico Brazil và Achentina Năm 1989, Indonexia phải dung đến hơn 50% thu nhập từ xuất khẩu để trả lãi và khấu hao nợ hang năm Philippin ngay từ tháng 10 năm 1983 tuyên bố là không thể tiếp tục trả lãi xuất và khấu hao nợ hàng năm của món

nợ nước ngoài hàng năm là 24 tỉ đôla nhằm tìm kiếm 1 sự thỏa hiệp từ các ngân hàng phương tây

Từ năm 2000 đến 2009 các chỉ số nợ nước ngoài ( gồm tỉ lệ Nợ/ Xuất khẩu, Nợ GNI và trả nợ/ Xuất khẩu được cải thiện đáng kể từ đầu thập kỉ đến 2008 Từ 2000 đến

2008, tỉ lệ Nợ/ Xuất khẩu giảm hơn một nửa, từ 124,8% xuống còn 58,4% và tỉ lệ nợ GNI giảm từ 37,8 % xuống còn 20,6 % T uy nhiên xu hướng này bất gnowf thay đổi vào năm

02009 khi tốc độ tăng trưởng giảm và thu nhập từ xuất khẩu giảm mạnh trong hầu hết các nước đang phát triển do sự ảnh hưởng của nền kinh tế toàn cầu và khủng hoảng tài chính

Khu vực

Trong cuốn Thống kê nợ nước ngoài: Hướng dẫn tập hợp và sử dụng do nhóm

công tác liên ngành của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thì khái niệm nợ nước ngoài được

hiểu như sau: “Tổng nợ nước ngoài tại bất kỳ thời điểm nào là số dư nợ của các công

nợ thường xuyên thực tế, không phải công nợ bất thường, đòi hỏi bên nợ phải thanh toán gốc và/hoặc lãi tại một (số) thời điểm trong tương lai, do đối tượng cư trú tại một nền kinh tế nợ đối tượng không cư trú

Theo định nghĩa được quốc tế thừa nhận rộng rãi này, nợ nước ngoài của một nước

là tất cả các khoản nợ của nước đó với nước ngoài, bất kể người đi vay là

Chính phủ, các Tổ chức của Chính phủ hay các doanh nghiệp tư nhân; các chủ nợ có thể

là các Tổ chức quốc tế, Chính phủ, các Tổ chức thuộc Chính phủ hoặc các doanh nghiệp

tư nhân nước ngoài

Tại Việt Nam, theo khoản 8 điều 2 quy chế vay và trả nợ nước ngoài (ban hành kèm theo Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 1 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ)

thì: “Nợ nước ngoài của quốc gia là số dư của mọi nghĩa vụ hiện hành (không bao gồm nghĩa vụ nợ dự phòng) về trả nợ gốc và lãi tại một thời điểm của các khoản vay nước ngoài tại Việt Nam Nợ nước ngoài của quốc gia bao gồm nợ nước ngoài của khu vực công và nợ nước ngoài của khu vực tư nhân” Như vậy, theo cách hiểu này nợ nước

ngoài là tất cả các khoản vay mượn của tất cả các pháp nhân Việt Nam đối với nước

Nguồn gốc hình thành nợ nước ngoài:

Trang 2

Đông Á và Thái Bình Dương 29,6 12,9 13,2 78,1 30,9 39,0

Mỹ La tinh và Caribbean 38,3 21,5 23,7 169,6 85,2 111,4

1.3.2 Nguyên nhân khủng hoảng nợ nước ngoài

- Sự gia tăng nợ nước ngoài, đặc biệt các ngân hàng thương mại đã cho vay quá mức, các chính sách “đảo nợ” hay “giãn nợ” làm tăng quy mô nợ

- Những cú sốc về giá dầu đối với các nước vay nợ

- Chính sách tài trợ thâm hụt và các chính sách kinh tế khác của các nước vay nợ

- Ảnh hưởng bên ngoài: Suy thoái kinh tế và chính sách của các nước phát triển

- Các nguyên nhân khác: Chiến tranh, nội chiến, thảm hoạ tự nhiên và khủng hoảng tài chính

1.3.4 Giải pháp giải quyết vấn đề nợ nước ngoài

- Các con nợ đứng trước 2 lựa chọn : cắt giảm nhập khẩu và áp dụng các biện pháp thắt chặt tài khóa và tiền tệ

- Tiến hành đàm phán với các quốc gia cho vay về

+ hạ mức lãi xuất đối với các khoản cho vay cũ và các khoản nợ mới trong tương lai

+ Kéo dài thời hạn hoàn trả vốn

+ Nới lỏng giới hạn tối đa cho việc sử dụng bao nhiêu phần trăm thu nhập từ xuất khẩu để trả lãi cho nợ nước ngoài

- Cầu cứu đến thiết chế tài chính như Ngân hàng thế giới ( WB ), quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)

- Tuyên bố vỡ nợ

1.3.5 Hậu quả từ khủng hoảng nợ nước ngoài

- Lệ thuộc về kinh tế và chính trị ở các quốc gia chủ nợ

Ngày đăng: 23/11/2015, 00:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w