1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Nghiên cứu Các loại rắn độc

40 472 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 3,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khám phá bí ẩn của nọc rắn Khi bị rắn mang bành cắn, chất độc kết hợp với một thụ thể trên cơ của con người và mọi loài động vật có xương sống, ngăn cản các xung thần kinh gây co cơ, dẫn

Trang 1

Các loại rắn độc (phần 1)

Trang 28

This image has been resized Click this bar to view the full image The original image is sized 698x450

Trang 29

This image has been resized Click this bar to view the full image The original image is sized 659x629

Trang 32

Khám phá bí ẩn của nọc rắn

Khi bị rắn mang bành cắn, chất độc kết hợp với một thụ thể trên cơ của con người và mọi loài động vật có xương sống, ngăn cản các xung thần kinh gây co cơ, dẫn tới ngừng thở

và tử vong trong vòng vài phút Tuy nhiên, một bí ẩn vẫn chưa được giới khoa học giải đáp: Tại sao nọc rắn mang bành lại không thể giết những con rắn cùng loại?

Hai họ rắn chính

Con mang bành được sử dụng trong thí nghiệm

Các loại nọc rắn là những sản phẩm sinh học đặc biệt có tầm quan trọng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Việc hiểu

cơ chế tác động của chúng có thể giúp con người bào chế các loại thuốc tốt hơn, cũng như giảm thiểu sự đau đớn và

Rắn độc được chia làm hai họ chính: rắn mang bành - như cạp nong, rắn độc châu Phi, các loài rắn biển, và rắn viper -

Trang 33

như rắn chuông Trong suốt những năm 1970, các nhà khoa học đã phát hiện dòng máu của rắn viper chứa các phân tử trung hoà những thành phần độc trong nọc của chính chúng

Giới khoa học nghi ngờ các loại rắn mang bành lại có cách giải quyết khác biệt so với rắn viper Trong suốt những năm 1990, họ đã bắt tay tiến hành nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân và đến giờ, bí mật này mới được khám phá: Nọc rắn là hỗn hợp phức tạp gồm các peptide, enzyme và những độc tố khác Chúng tấn công dây thần kinh, cơ, tuần hoàn máu và cơ chế đông máu Chìa khoá đối với nghiên cứu trên là tìm ra cách các độc tố phản ứng với những thụ thể cơ

TS Zoltan Takacs, nhà nghiên cứu bò sát và độc tố tự nhiên thuộc ĐH Yale (Mỹ) là một người thích rắn từ nhỏ Lúc còn ở trường phổ thông, Takacs đã tới hơn 100 quốc gia để thu thập các loài rắn độc phục vụ mục đích nghiên cứu Trong phòng thí nghiệm, Takacs đã trích các mẫu mô từ con rắn mang bành Ai Cập để phân tích di truyền Công việc của ông rất nguy hiểm, bởi trước tiên ông phải sang tận châu Phi để bắt rắn Ông phải cực kỳ cẩn thận bởi lúc

đó đang ở xa các bệnh viện Ông nói: ''Trong năm qua, tôi

đã mất 3 người bạn và đồng nghiệp tốt do họ bị rắn cắn''

Ổ khoá và chìa khoá

Trang 34

Rắn chuông

Tiếp đến, ông nhân bản thụ thể acetylcholine của một con mang bành và so sánh nó với các thụ thể acetylcholine từ các loài động vật có xương sống khác Ở cấp phân tử, thụ thể của mang bành trông giống hệt thụ thể của các loài khác, ngoại trừ một amino acid đơn nhất, khác biệt Các thí nghiệm của Takacs cho thấy amino acid đó giúp một phân

tử đường bám vào thụ thể acetylcholine của mang bành Loại đường này che dấu cái gọi là điểm bám trên bề mặt thụ thể, ngăn không cho chất độc thần kinh bám vào

Takacs giải thích: ''Nếu phân tử đường này bị loại bỏ, thụ thể acetylcholine của mang bành sẽ trở nên nhạy cảm với chất độc thần kinh của chính nó, giống như những loài động vật khác'' Để chứng minh lý thuyết của mình, ông và đồng nghiệp đã biến đổi gien một thụ thể cơ của chuột sao cho nó có một phân tử đường bám vào Kết quả cho thấy thụ thể này chống lại được chất độc thần kinh của mang bành Takacs nói: ''Giống như lỗ khoá và chìa khoá, nếu

Trang 35

bạn thay đổi lỗ khoá, chìa khoá sẽ không lọt vừa nó Đó là

Các loại thuốc giải

Các loại thuốc chống nọc rắn lần đầu tiên được đưa vào cách đây hơn 1 thế kỷ Albert Calmette chỉ ra rằng chúng

có thể giúp động vật miễn dịch đối với vết cắn của rắn bằng

Trang 36

cách tiêm cho động vật đó một liều lượng nọc cực nhỏ và tăng dần Một động vật thứ hai có thể được cứu sống sau khi bị rắn cắn nếu được tiếp huyết thanh của sinh vật miễn dịch Phát hiện này vẫn là cơ sở của quá trình sản xuất các loại thuốc chống nọc rắn hiện đại

Lấy nọc rắn

Quy trình sản xuất thuốc chống nọc có thay đổi ít nhiều, chẳng hạn như trung hoà nọc rắn bằng formaldehyde trước khi sử dụng trên động vật Điều này giúp giảm đau rất nhiều cho động vật

Động vật được giới khoa học chọn lựa là ngựa Họ tiêm nọc rắn cho chúng với liều lượng ngày càng tăng cho tới khi ngựa siêu miễn dịch đối với nọc Sau đó, họ rút máu ngựa để lấy huyết thanh Phần máu còn lại được truyền trở lại cho ngựa

Huyết thanh trải qua nhiều giai đoạn tinh chế trước khi được sử dụng cho người Các loại thuốc chống nọc rất an toàn mặc dù chúng là một dẫn suất protein từ động vật và gây phản ứng nguy hiểm cho một số ít người - phản ứng

Trang 37

siêu dị ứng dẫn tới sốc phản vệ, có thể dẫn tới tử vong Để tránh phản ứng nguy hiểm trên, bác sĩ thường thử phản ứng trước khi tiêm một liều hoàn chỉnh cho bệnh nhân

Huyết thanh từ một loại nọc rắn đơn nhất được gọi là thuốc chống nọc ''một hoá trị'' và chỉ có hiệu quả đối với loại rắn

Khi một hỗn hợp nọc rắn được tiêm vào ngựa, huyết thanh được tạo ra là thuốc chống nọc ''nhiều hoá trị'' và có hiệu quả chống lại nhiều loại nọc độc Tuy nhiên, hỗn hợp càng nhiều nọc rắn, hiệu quả và sức mạnh của huyết thanh càng giảm

Do vậy, khi tới một khu vực nào đó, nên tìm mua thuốc chống nọc ở khu vực đó

Rắn độc chữa bệnh

Theo Đông y, thịt rắn làm thông kinh mạch bị bế tắc và trừ phong hàn nên được dùng để trị các chứng phong thấp Nó

Trang 38

cũng có khả năng chữa trị chứng tê ngoài da, ngứa, nhất là ngứa kinh niên do chàm (eczema)

Rắn có thể có nọc độc hoặc không Ở rắn độc, hai răng ở hàm trên phát triển thành nanh, chứa chất độc Rắn có một khả năng đặc biệt là thay da mà chúng ta thường gọi là “lột da”, mỗi năm rắn có thể thay da vài lần Da rắn sau khi lột

là một vị thuốc quý trong Đông y

Nhóm rắn không độc gồm rắn vòng cổ; rắn đuôi nhọn; rắn nước (dài khoảng 50cm-2m, chạy rất nhanh, đầu không ngóc cao khỏi đất), ô sao xà Nhóm rắn độc gồm rắn lục, rắn chuông, rắn hổ và bạch hoa xà Rắn biển (còn gọi là Đẻn) đa số tương đối hiền, chỉ vài loài hung dữ, nhưng đặc biệt nọc rắn biển rất độc (gấp 50 lần nọc rắn hổ)

Như mọi động vật khác, rắn là nguồn cung cấp chất đạm rất tốt, thịt rắn tương đối nạc, ít mỡ do vận động nhiều Nó cũng có nhiều vitamin và khoáng chất quý như kali, canxi, sắt, kẽm, vitamin A, D, B1, B2, B6, B9

Đông y dùng rắn dưới nhiều dạng, từ ngâm rượu, nấu cháo đến uống rượu pha máu rắn, ăn mật rắn Y thư cổ truyền Trung Quốc có kê những toa thuốc lấy từ 2 loại rắn: một từ rắn độc Bạch hoa xà (chỉ chung 2 loài hổ và cạp nong) và một từ rắn nước gọi là Ô sao xà

Theo Đông y, rắn (không kể phủ tạng), có tính ấm, vị ngọt, tác động vào Can kinh và Tỳ kinh Cả hai loại trên có tác dụng như nhau, nhưng rắn nước thì yếu hơn Thịt rắn được dùng để trị các chứng phong thấp, tê ngoài da, ngứa, nhất là

Trang 39

ngứa kinh niên do chàm Da rắn sau khi lột (Xà thuế) tính bình, vị ngọt mặn, có tác dụng khu phong, chống co giật nên được dùng trị bệnh phong ngứa ngoài da, và kinhgiật ở trẻ em

Các bộ phận khác của rắn còn được sử dụng theo nhiều phương thức khác nhau Huyết rắn làm tăng sinh lực, bổ thận; có thể dùng chung với mật rắn để tạo thành “Huyết xà đởm” Mật rắn vị đắng, tính hàn, có thể làm hạ hỏa và tiêu đờm do nhiệt gây ra Mật rắn cũng giúp tan máu bầm nên được ngâm rượu để chữa chứng nhức xương, phong thấp

Rượu rắn được xem là một loại thuốc bổ dưỡng Rượu ngâm với rắn khô hoặc tươi đều được nhưng phải bỏ đầu, đuôi và tạng phủ (chỉ giữ lại mật) Nếu ngâm tươi phải đủ

100 ngày, nhưng nếu rắn đã sấy hoặc phơi khô thì chỉ cần

30 ngày

Các loại rượu rắn: Tam xà tinh ngâm 3 loại rắn hổ mang, cạp nong và hổ lửa; ngũ xà tinh thêm hổ trâu và hổ hành; lục vị xà tửu gồm rắn ngâm với 6 vị thuốc; bát vị xà tửu ngâm với 8 vị thuốc Thuốc được ngâm chung với rắn thường là những vị bổ như sinh địa, thục địa, nhân sâm, hà thủ ô, đỗ trọng hoặc thêm xuyên khung, bạch chỉ, hoàng kỳ

để trị phong thấp; có thể thêm câu kỷ tử, ngũ vị tử, phúc bồn tử để giúp tráng dương, bổ thận

Thuốc đặc chế đông dược: Xà đởm xuyên bối tán gồm 2 thứ là mật rắn và xuyên bối mẫu, dùng để trị ho và tiêu đờm Xà đởm trần bì tán được dùng để trị phong nhiệt gây

ho đờm, hen, tức ngực, viêm họng và trị chứng kinh phong

Trang 40

Tam xà đởm xuyên bối cao là thuốc bào chế dưới dạng siro dùng trị ho cho trẻ em

Nếu như Đông y sử dụng hầu hết các bộ phận của rắn thì Tây y chỉ chú trọng nghiên cứu độc tính và tác dụng của nọc rắn nhằm chế tạo các loại huyết thanh kháng độc khi bị rắn cắn Các nhà khoa học nhận thấy dù cùng một nhóm thì mỗi loài rắn vẫn sở hữu một loại nọc đặc thù Có thể chia các độc tố thành: Độc tố tác động vào máu (gây đông máu hoặc chống đông máu), độc tố tác động vào hệ thần kinh (gây kích thích thần kinh, tê liệt cơ, co giật, ức chế thần kinh làm suy hô hấp, suy tim) và độc tố gây dị ứng (nổi mề đay, lở loét da, sưng phù toàn thân)

Ngoài huyết thanh kháng nọc, y học đã chế được thuốc từ nọc rắn Một loại thuốc chống đông máu đã được bào chế bằng độc chất chiết xuất từ nọc loài rắn chuông ở Mỹ, được đặt tên là Barbouri Một loại thuốc kháng mang tên Integrilin (được chế tạo theo công thức của Barbourin, chỉ thay thế vài vị trí của các acid amin) cũng đang được thử nghiệm trong điều trị cơn đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim

Nghiên cứu về nọc độc của rắn lục Bothrops jararaca, các nhà khoa học đã phát hiện ra một loại Peptid có khả năng làm hạ huyết áp Từ đó, họ đã phát minh ra loại thuốc ức chế men chuyển đầu tiên: thuốc Captopril (Capoten) để điều trị bệnh cao huyết áp

Ngày đăng: 21/11/2015, 08:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w