Sông Hâu, đoạn chảy qua địa bàn thành phố Cần Thơ khá phong phú về số loài cá và tôm. Theo Lê Như Xuân ctv (1996) đã xác định được 145 loài cá tự nhiên. Phần lớn những giống loài này sống hoàn toàn ở vùng nước ngọt. Trong tổng số 145 loài, tập trung ở 12 bộ, trong đó: bộ cá chép (41 loài chiếm tỷ lệ 28,3%), bộ cá vược (49 loài chiếm tỷ lệ 26,8%), bộ cá trơn (30 loài, chiếm tỷ lệ 20,7%) là những bộ có số lượng loài nhiều nhất. Các loài cá ở thành phố Cần Thơ có thể chia thành các nhóm như sau: Nhóm cá sống thường xuyên ở sông lớn (chủ yếu là sông Hậu): đa số là những loài cá có kích thước lớn, sống ở tầng đáy hoặc tầng giữa như: cá bông lau, cá tra, cá hô, cá chẽm. Nhóm cá sống thường xuyên trên đồng và kinh rạch: các loài này thường có khả năng thích nghi cao với điều kiện môi trường nước không thuận lợi như: cá rô đồng, cá trê, cá lóc, cá sặc .... Nhóm cá sống ven sông nơi các ao hầm, sinh sản và tìm thức ăn trên đồng và vùng thượng nguồn vào mùa nước lụt, rồi trở lại sông khi nước rút. Các loài này thường có kích thước nhỏ, nhưng sản lượng rất lớn như: cá mè vinh, cá linh, mè hôi ... Bên cạnh nhóm cá, thành phần giống loài tôm tự nhiên trên địa bàn Cần Thơ đã xác định được 14 loài nằm trong 3 họ và họ tôm sông Palaemonidae chiếm chủ yếu tới 8 loài, Trong đó loài có giá trị kinh tế cao là Macrobrachium rosenbergiiphân bố ở cácthủy vực như ao, mương vườn, kênh, sông, ruộng. Ngoài ra, Cần Thơ còn có các khu lung bào, đồng trũng có rất nhiều loài thủy đặc sản như rùa, rắn, ếch, lươn, cá bống tượng ... có giá trị kinh tế cao trên thị trường nội địa hay xuất khẩu đang bị khai thác một cách triệt để cần được nghiên cứu để bảo tồn và tái tạo. Việc khai thác, đánh bắt thủy sản của ngư dân với nhiều ngư cụ chưa được quản lý, kiểm soát chặt đã làm ảnh hưởng khá nhiều đến thành phần cá loài cá, tôm trên địa bàn thành phố nói riêng và cả vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Bên cạnh đó, việc nhập khẩu một số loài ngoại lai xâm hại hoặc có nguy cơ xâm hại cũng làm xuất hiện nhiều loài có nguy cơ làm ảnh hưởng đến nhóm các loài cá, tôm bản địa có giá trị kinh tế cao.
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN KHOA KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
HIỆN TRẠNG CÁC LOÀI CÁ, TÔM TRÊN TUYẾN SÔNG HẬU, ĐOẠN CHẢY QUA ĐỊA PHẬN TP CẦN THƠ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO: ĐẠI HỌC GVHD:
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014
Trang 2MỤC LỤC
Trang
1 Mở đầu 2
2 Thành phần và cấu trúc các loài cá, tôm 3
2.1 Các loài cá trên địa bàn thành phố Cần Thơ 3
2.2 Các loài tôm trên địa bàn thành phố Cần Thơ 12
Đánh giá chung 14
Trang 31 MỞ ĐẦU
Sông Hâu, đoạn chảy qua địa bàn thành phố Cần Thơ khá phong phú về số loài cá và tôm Theo Lê Như Xuân & ctv (1996) đã xác định được 145 loài cá tự nhiên Phần lớn những giống loài này sống hoàn toàn ở vùng nước ngọt Trong tổng số 145 loài, tập trung ở 12 bộ, trong đó: bộ cá chép (41 loài chiếm tỷ lệ 28,3%), bộ cá vược (49 loài chiếm tỷ lệ 26,8%), bộ cá trơn (30 loài, chiếm tỷ lệ 20,7%) là những bộ có số lượng loài nhiều nhất
Các loài cá ở thành phố Cần Thơ có thể chia thành các nhóm như sau:
- Nhóm cá sống thường xuyên ở sông lớn (chủ yếu là sông Hậu): đa số là những loài cá có kích thước lớn, sống ở tầng đáy hoặc tầng giữa như: cá bông lau,
cá tra, cá hô, cá chẽm
- Nhóm cá sống thường xuyên trên đồng và kinh rạch: các loài này thường
có khả năng thích nghi cao với điều kiện môi trường nước không thuận lợi như: cá
rô đồng, cá trê, cá lóc, cá sặc
- Nhóm cá sống ven sông nơi các ao hầm, sinh sản và tìm thức ăn trên đồng
và vùng thượng nguồn vào mùa nước lụt, rồi trở lại sông khi nước rút Các loài này thường có kích thước nhỏ, nhưng sản lượng rất lớn như: cá mè vinh, cá linh, mè hôi
Bên cạnh nhóm cá, thành phần giống loài tôm tự nhiên trên địa bàn Cần Thơ đã xác định được 14 loài nằm trong 3 họ và họ tôm sông Palaemonidae chiếm chủ yếu tới 8 loài, Trong đó loài có giá trị kinh tế cao là Macrobrachium rosenbergiiphân bố ở cácthủy vực như ao, mương vườn, kênh, sông, ruộng
Ngoài ra, Cần Thơ còn có các khu lung bào, đồng trũng có rất nhiều loài thủy đặc sản như rùa, rắn, ếch, lươn, cá bống tượng có giá trị kinh tế cao trên thị trường nội địa hay xuất khẩu đang bị khai thác một cách triệt để cần được nghiên cứu để bảo tồn và tái tạo
Việc khai thác, đánh bắt thủy sản của ngư dân với nhiều ngư cụ chưa được quản lý, kiểm soát chặt đã làm ảnh hưởng khá nhiều đến thành phần cá loài cá, tôm trên địa bàn thành phố nói riêng và cả vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung Bên cạnh đó, việc nhập khẩu một số loài ngoại lai xâm hại hoặc có nguy cơ xâm hại cũng làm xuất hiện nhiều loài có nguy cơ làm ảnh hưởng đến nhóm các loài cá, tôm bản địa có giá trị kinh tế cao
Trang 42 THÀNH PHẦN VÀ CẤU TRÚC CÁC LOÀI CÁ, TÔM
2.1 Các loài cá trên địa bàn thành phố Cần Thơ
2.1.1 Cấu trúc thành phần các loài cá
Thành phần loài cá phân bố trên địa bàn thành phố Cần Thơ ghi nhận được 120 loài cá thuộc 11 Bộ, 33 Họ và 72 Giống, cụ thể như sau:
˗ Bộ cá Chép (Cypriniformes) có số lượng loài nhiều nhất với 39 loài (chiếm
tỷ lệ 32,50%)
˗ Bộ cá Vược (Perciformes) với 29 loài (chiếm tỷ lệ 24,17%)
˗ Bộ cá Nheo (Siluriformes) có 25 loài (chiếm tỷ lệ 20,83%)
˗ Bộ cá Bơn (Pleuronectiformes) có 11 loài (chiếm tỷ lệ 9,17%)
˗ Bộ cá Trích (Clupeiformes) và Bộ cá mang liền (Synbranchiformes) mỗi bộ
có 5 loài (chiểm tỷ lệ 4,17%)
˗ Bộ cá Kìm (Beloniformes) có 2 loài (chiếm tỷ lệ 1,67%)
˗ Bộ cá Thát Lát (Osteoglossiformes), Bộ cá Chình (Anguilliformes), Bộ cá Characiformes và Bộ cá Nóc (Tetraodontiformes) mỗi bộ có 1 loài (chiếm tỷ
lệ 0,83%)
Cấu trúc thành phần các loài cá trên địa bàn thành phố Cần Thơ được tổng hợp theo bảng dưới đây:
Bảng 1: Cấu trúc thành phần loài cá phân bố trên địa bàn Tp Cần Thơ
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Trang 5SStt Bộ Họ Giống Loài
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Một số giống loài trước đây có phân bố ở Cần Thơ nhưng hiện nay không bắt gặp được như: cá Hô (Catlocarpiosiamensis), cá Mây (Gyrinocheilus aymonieri), cá Tra nghệ (Pangasius sp.1), cá Vồ cờ (Pangasius sanitwongsei), cá Chốt Trâu (Bagroides macracanthus), cá Úc nghệ (Tachysurus cealatus), cá Úc sào (Tachysurus truncatus), cá Chành dục (Channa gachua), cá Nóc (Tetraodon cutcutia), cá Nóc vàng (Chonerhinusmodestus), cá Bạc đầu (Aplocheilus panchax), cá Lia thia (Betta taeniata), cá Thia thia (Betta splendens), cá Bống mắt tre (Brachygobius doriae) Đồng thời có một số loài cá không thấy hiện diện trước đây như cá tai tượng (Osphronemus goramy), cá trê lai (Clarias sp), cá rô phi (Oreochromis niloticus), cá chim trắng (Piaractusbrachypomus), vì đây là những loài được nhập nội và lai tạo để nuôi, nên chưa phát hiện được trong những thập niên trước đây Đặc biệt là loài cá Lau kiếng (Pterygoplichthys disjunctivus) trước đây không thấy nhưng hiện nay chúng hiện diện rất nhiều ở các thủy vực sông, kênh, rạch ở thành phố Cần Thơ
Bảng 2: Thành phần các loài cá trên địa bàn thành phố Cần Thơ
I Bộ Osteoglossiformes
(1) Họ Notopteridae
1 Notopterus notopterus Cá thát lát
II Bộ Anguilliformes
(2) Họ Ophichthidae
III Clupeiformes
(3) Clupeidae
3 Clupeichthys goniognathus Cá cơm sông
4 Clupeoides borneensis Cá cơm trích
Trang 6Stt Tên khoa học Tên Việt Nam (4) Engraulidae
IV Cypriniformes
(5) Cyprinidae
9 Barbonymus gonionotus Cá mè vinh
10 Barbonymus schwanenfeldii Cá he đỏ
11 Cirrhinus caudimaculatus Cá linh gió
13 Cirrhinus molitorella Cá trôi trắng
14 Cyclocheilichthys enoplus Cá cóc
15 Cyclocheilichthys repasson Cá ba kỳ trắng
18 Esomus metallicus Cá lòng tong bay
19 Hampala macrolepidota Cá ngựa sông
20 Hypophthalmichthys molitrix Cá mè trắng
21 Hypophthamichthys nobilis Cá mè hoa
23 Hypsibarbus malcolmi Cá he vàng
24 Labeo chrysophekadion Cá ét mọi
26 Labiobarbus leptocheilus Cá linh rìa sọc
27 Labiobarbus siamensis Cá linh rìa xiêm
28 Osteochilus hasseltii Cá mè lúi
29 Osteochilus melanopleura Cá mè hôi
Trang 7Stt Tên khoa học Tên Việt Nam
30 Osteochilus schlegelii Cá mè hương
31 Parachela siamensis Cá lành canh
33 Puntioplites falcifer Cá dảnh
34 Puntioplites proctozystron Cá dảnh trắng
35 Puntius aurotaeniatus Cá đong chấm
39 Rasbora aurotaenia Cá lòng tong đá
40 Thynnichthys thynnoides Cá linh cám
(6) Cobitidae
41 Syncrossus helodes Cá heo
42 Yasuhikotakia sidthimunki Cá heo
43 Yasuhikotakia eos Cá heo
44 Yasuhikotakia hymenophysa Cá heo
45 Yasuhikotakia lecontei Cá heo
46 Yasuhikotakia modesta Cá heo vạch
V Characiformes
(7) Characidae
47 Piaractus brachypomus Cá chim trắng
VI Siluriformes
(8) Bagridae
48 Bagrichthys obscurus Cá lăng tối
49 Hemibagrus spilopterus Cá lăng
51 Mystus atrifasciatus Cá chốt sọc
Trang 8Stt Tên khoa học Tên Việt Nam
52 Mystus albalineatus Cá chốt giấy
54 Pseudomystus siamensis Cá chốt bông
(9) Sisoridae
56 Kryptopterus bleekeri Cá kết
57 Kryptopterus cryptopterus Cá trèn ống
58 Kryptopterus chevegi Cá trèn mỡ
59 Kryptopterus schilbeides Cá trèn
61 Helicophagus leptorhynchus Cá tra chuột
62 Pangasianodon hypophthamus Cá tra nuôi
66 Pangasius macronema Cá xác sọc
(11) Clariidae
67 Clarias batrachus Cá trê trắng
68 Clarias macrocephalus Cá trê vàng
(12) Ariidae
(13) Plotosidae
(14) Loricariidae
72 Pterygoplichthys disjunctivus Cá lau kiếng
VII Beloniformes
Trang 9Stt Tên khoa học Tên Việt Nam (15) Hemiramphidae
73 Hyporhamphus limbatus Cá nhái
74 Zenarchopterus ectuntio Cá lìm kìm
VIII Synbranchiformes
(16) Synbranchidae
(17) Mastacembelidae
76 Macrognathus circumcinctus Cá chạch bông
77 Macrognathus semiocellatus Cá chạch rằn
78 Macrognathus siamensis Cá chạch cơm
79 Mastacembelus armatus Cá chạch lấu
IX Perciformes
(18) Ambassidae
81 Parambassis siamensis Cá sơn xiêm
(19) Lobotidae
(20) Họ Sciaenidae
83 Boesemaria microlepis Cá sữu
(21) Họ Polynemidae
84 Polynemus aquilonaris Cá phèn trắng
85 Polynemus melanochir Cá phèn vàng
(22) Họ Toxotidae
(23) Nandidae
87 Pristolepis fasciatus Cá rô biển
(24) Họ Cichlidae
Trang 10Stt Tên khoa học Tên Việt Nam
88 Oreochromis mossambiucus Cá rô phi thường
89 Oreochromis niloticus Cá rô phi vằn
(25) Họ Eleotridae
91 Eleotris melanosoma Cá bống trứng
92 Oxyeleotris marmorata Cá bống tượng
93 Oxyeleotris urophthalmus Cá bống dừa
(26) Họ Gobiidae
94 Caragobius urolepis Cá bống thụt dài
95 Eugnathogobius microps Cá bống
96 Glossogobius giuris Cá bống cát
97 Oxyurichthys mekongensis Cá bống xệ vảy nhỏ
98 Oxyurichthys ophthalmonema Cá bống xệ vảy to
99 Parapocryptes serperaster Cá bống kèo vảy to
(27) Họ Anabantidae
100 Anabas testudineus Cá rô đồng
(28) Họ Helostomatidae
101 Helostoma temminckii Cá hường
(29) Họ Osphronemidae
102 Osphronemus goramy Cá tai tượng
103 Trichogastertrichoterus Cá sặc bướm
104 Trichogastermicrolepis Cá sặc điệp
105 Trichogasterpectoralis Cá sặc rằn
106 Trichopsis vittata Cá bãy trầu
(30) Họ Channidae
107 Channa micropeltes Cá lóc bông
Trang 11Stt Tên khoa học Tên Việt Nam
X Bộ Pleuronectiformes
(31) Họ Soleidae
109 Achiroides leucorhynchos Cá bơn
110 Achiroides melanorhynchus Cá bơn lưỡi bò nâu
111 Brachirus elobgatus Cá bơn vây đen
112 Brachirus orientalis Cá bơn sọc
113 Brachirus panoides Cá bơn lá mít
(32) Cynoglossidae
115 Cynoglossus arel Cá bơn cát vảy to
116 Cynoglossus cynoglosus Cá lưỡi hùm
117 Cynoglossus lingua Cá lưỡi trâu
118 Cynoglossus microlepis Cá lưỡi trâu vảy nhỏ
119 Cynoglossus punticeps Cá bơn vằn
XI Bộ Tetraodontiformes
(33) Tetraodontidae
120 Tetraodon nigroviridis Cá nóc
2.1.2 Các loài cá có giá trị kinh tế
Trong tổng số 120 loài cá phát hiện trên địa bàn thành phố Cần Thơ gồm có
50 loài có giá trị kinh tế, trong đó có 21 loài là đối tượng đang nuôi được tổng hợp trong bảng dưới đây:
Bảng 3: Các loài cá có giá trị kinh tế trên địa bàn thành phố Cần Thơ
Trang 12Stt Tên khoa học Tên tiếng Việt Kinh tế Đối tượng nuôi
11 Puntioplites proctozystron Cá dảnh trắng x
19 Pseudomystus siamensis Cá chốt bông x
Trang 13Stt Tên khoa học Tên tiếng Việt Kinh tế Đối tượng nuôi
31 Macrognathus semiocellatus Cá chạch rằn x
32 Macrognathus siamensis Cá chạch cơm x
37 Oreochromis niloticus Cá rô phi vằn x
39 Oxyeleotris marmorata Cá bống tượng x
2.2 Thành phần các loài tôm trên địa bàn thành phố Cần Thơ
Cấu trúc thành phần loài tôm phân bố ở Tp Cần Thơ đã phát hiện được 08 loài tôm, thuộc 02 giống, 02 họ, 01 bộ Trong tổng số 08 loài tôm phát hiện được
có 04 loài là đối tượng khai thác quan trọng, có giá trị xuất khẩu và tiêu dùng nội địa như: Macrobrachium equidens (Dana, 1852), Macrobrachium mirabile (Kemp,1917), Macrobrachium rosenbergii (De Man, 1879) và Metapenaeus lysianassa (De Man, 1888) Các loài còn lại có kích thước nhỏ, sản lượng ít, giá trị kinh tế thấp, là nguồn thực phẩm quan trọng ở địa phương
Trang 14Stt Tên khoa học Tên Việt Nam
I DECAPODA (Bộ mười chân)
(1) PALAEMONIDAE (Họ tôm gai)
1 Macrobrachium equidens (Dana, 1852) (**) Tép Trứng
2 Macrobrachium mirabile (Kemp, 1917) (**) Tép Mồng Sen
3 Macrobrachium esculentum (Thallwitz,1891) Tép Ma
4 Macrobrachium rosenbergii (De Man, 1879) (**)(*) Tôm Càng Xanh
5 Macrobrachium mammillodactylus (Thallwitz,1892) Tép Bầu
6 Macrobrachium lanchesteri(De Man, 1911) Tép rong
7 Macrobrachium sintangense(De Man, 1898) Tép Thợ Rèn
(2) PENAEIDAE (Họ tôm he)
8 Metapenaeus lysianassa(De Man, 1888) (**) Tép Bạc
Ghi chú:
(**): Loài kinh tế
(*): Loài đang nuôi.
Trang 15KẾT LUẬN
Qua kết quả, khảo sát và thu thập thông tin đã ghi nhận được 120 loài cá (trong đó có 50 loài cá có giá trị kinh tế) và 8 loài tôm (trong đó có 4 loài có giá trị kinh tế)
Thành phần loài các nuôi chủ yếu là những loài được nuôi phổ biến ở vùng
đồng bằng sông Cửu Long như: cá tra (Pangasianodon hypophthalmus), cá trê vàng (Clarias ocephalus), cá rô đồng (Anabas testudines)
Các loài cá nhập nội như: cá chép (Cyprinus carpio), cá trê lai (Clarias
gariepinus), cá rô phi thường (Oreochromis mossambicus), cá lao kiếng (cá tỳ bà) Pterygoplichthys disjunctivus, cá chim nước ngọt Piaractus brachypomus.