1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ô nhiễm biển - thực trạng và giải pháp

15 645 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ô nhiễm biển - hiện trạng và giải pháp
Trường học Trường Đại học Bách Khoa
Chuyên ngành Kỹ thuật môi trường
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2005
Thành phố Tp.HCM
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 381 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trình bày về ô nhiễm biển - thực trạng và giải pháp

Trang 1

ĐỀ TÀI:

Ô NHIỄM BIỂN HIỆN TRẠNG & GIẢI PHÁP

TP.HCM, THÁNG 05/2005

Trang 2

OĐ NHIEÊM MOĐI TRÖÔØNG BIEƠN HIEÔN TRÁNG & GIẠI PHAÙP

I – TOƠNG QUAN:

Vieôt Nam ñöôïc bao bóc cạ 3 phía bôûi bieơn Ñođng Dieôn tích cụa bieơn ñát tôùi 3 447 000 km2

ñöùng vaøo haøng thöù 3 tređn theâ giôùi veă dieôn tích Bieơn Vieôt Nam laø 1 vuøng bieơn kín coù dieôn tích lôùn hôn nhieău so vôùi dieôn tích ñaât lieăn Ñöôøng bôø bieđn daøi 3260km Chieâu theo Cođng öôùc Quoâc teâ veă luaôt bieơn (1982-1994) thì Vieôt Nam coù chụ quyeăn tređn moôt dieôn tích khoạng 1 trieôu km2, tính töø ñöôøng cô sôû ra ñeân 200 hại lyù bao goăm 2 vònh lôùn laø vònh Baĩc Boổvònh Thaùi Lan, hai quaăn ñạo Tröôøng Sa, Hoaøng Sa vaø haøng ngaøn hoøn ñạo lôùn nhoû khaùc

1) Ñòa hình:

Yeâu toâ ñòa hình khaù ña dáng vaø coù 2 loái ñaịc tröng: dáng ñòa hình doâc lôùn bao goăn khu vöïc phía baĩc thuoôc tưnh Quạng Ninh khu vöïc keùo daøi töø Quạng Trò ñeân Vuõng Taøu vôùi ñaịc tröng cô bạn cụa dáng ñòa hình naøy laø nuùi cao tređn lúc ñòa keùo daøi saùt bôø bieơn, ñaùy doâc táo thaønh khu vöïc bieơn sađu, bieân ñoông khaù lôùn vaø dáng ñòa hình thoại vôùi ñaịc ñieơm ñòa hình nhoùm naøy laø söï bieân ñoông cụa cao trình khođng lôùn, chuùng táo thaønh caùc daõy ñoăng baỉng roông tren möùc chieău vaø theăm lúc ñòa thoại roông ôû möùc döôùi bieơn Nöôùc maịn theo caùc doøng sođng lách vaøo sađu trong daât lieăn 150-200 km

 Khu vöïc töø Muõi Ngóc ñeân muõi Ñoă Sôn (Hại Phoøng) : khu vöïc naøy coù ñieău kieôn töï nhieđn khaù khaĩc ngieôt vôùi muøa ñođng lánh keùo daøi, nhieôt ñoô thaâp Vuøng bieơn thöôøng coù nuùi ñaù vaø ñoăi thaâp, baõi bieơn thöôøng xuaât hieôn röøng suù vét Ñaịc ñieơm noơi baôt cụa khu vöïc naøy laø ccaùc vònh Há Long, kyø quan kiaân táo noơi tieâng giuùp ñònh höôùng phaùt trieơn kinh teâ ña dáng

 Khu vöïc töø cöûa Ñoă Sôn ñeân cöûa sođng Laùch : ñaịc tröng cao nhaât cụa khu vöïc naøy laø söï hoát ñoông boăi tú cụa heô thoâng sođng Hoăng, sođng Thaùi Bình ñòa hình hoi thoai thoại, theăm lúc ñòa roông vaø nođng, ñaât ñai phì nhieđu Tuy nhieđn, thöôøng bò ạnh höôûng cụa gioù lánh, gioù, baõo Nöôùc lôï vaøo khaù sađu Ñaât coù bò nhieêm maịn, trong vuøng nay

ña dang sinh hóc phong phuù

Trang 3

 Khu vực miền trung từ cửa song Lách tới Vũng Tàu : đặc điểm của khu vực này là đìa hình khá dốc, kể cả đáy biển, phù sa rất ít, chủ yếu là các loại cát biển có khinh tế khác nhau Ngoài ra còn có các rạn san hô khá điển hình Khu vực này ngoài việc chịu một phần gió mùa Đông Bắc lạnh, còn chịu sự tác dộng của các cơn bão hình thành từ ngoài biển Đông đổ vào Mức độ tàn phá khá lớn Tuy nhiên đây lại là một vùng xuất phát của nhiều nền văn hóa văn minh khu vực có giá trị Do biển khá sâu việc vận chuyển và khai thác hải sản ven bờ là một thế mạnh Khu vực này còn có nhiều đầm phá, vủng sâu mà các vùng khác không có, như phá Tam Giang… bãi cát vàng, cát trắng giàu Silic Đa dạng sinh học tương đối phong phú

 Khu vực từ Vũng Tàu đến Hà Tiên và mũi Cà Mau : khu vực này có nhiều ưu điểm của tự nhiên, khí hậu ổn định, ít gió bão, không lạnh Địa hình dốc thoai thoải ra biển Đông Mặn có thể thâm nhập rất sâu vào đất liền, đáy biển khá bằng, hơi dốc hằng năm có thể được bồi 1 lượng ohù sa, tiềm năng dầu và khí rất lớn.Nhất là khu vực giáp Vũng Tàu, Côn đảo Đây cũng là vùng có đa dạng sinh học rất lớn so với các vùng khác Đa dạng sinh học rất phong phú

 Khu vực Trường Sa, Hoàng Sa ; là khu vực vùng đảo nằm tập trung phía Đông của Biển Đông Tạo thành một quần thể sinh thái đảo khá đặc biệt Mặc dù diện tích không lớn Khu vực này có một già trị đặc biệt trong mối quan hệ sinh thái vùng

2) Đặc điểm khí hậu & sự vận động của nước biển:

Khí hậu vùng ven biển Việt Nan mang tính chất nhiệt đới ẩm khá điển hình Độ ẩm bình quân năm đạt 80% Nhiệt lượng hàng năm nhận được đạt trên 100Kcal/cm2/năm Nhiệt độ bình quân năm xấp ỉ 25 – 270C , tổng nhiệt hữu hiệu (>100C) đạt 8000C/năm là những yếu tố có lợi cho hệ sinh thái ven biển rất nhiều Tuy nhiên, do nằm kéo dài qua nhiều vĩ độ (8-23024B) nên khí hậu biến động theo mùa và theo khu vực

Khu vực từ Quảng Ninh đến Đà Nẵng là khu vực chịu nhiều ảnh hưởng của giá lạnh phía Bắc nhiệt độ xuống thấp vào các tháng 11, 12, 1, 2 Nhất là khu vực phía Bắc (Hải Phòng, Thanh Hoá, Nam Hà) nhiệt độ nhiều khi xuống thấp dưới 100C Nước biển cũng có biên độ nhiệt khá rộng Điều đó phần nào tạo cho khu vực này có đặc điểm của vùng Á nhiệt đới

Khu vực phía Nam đèo Hải Vân đến mũi Cà Mau khí hậu ít khắc ngiệt hơn, ảnh hưởng của gió rất hạn chế, nhiệt độ thấp nhất cũng trên 180C Nó là một trong những nguyên nhân góp phần phân hoá môi trường ven biển

Về hoạt động của dòng biển trong khu vực Các tài liệu cho thấy, trong nguồn biển Việt nam có 2 dòng chảy khá đặc trưng Có hướng chảy ngược chiều kim đồng hồ Đó là dòng chảy của Biển Đông và dòng chảy của vịnh Thái lan và ngược lại Nhờ 2 dòng chảy này mà quá trình

Trang 4

bồi đắp, sự dịch chuyển của hải sản và sự phát triển của hệ sinh thái ven biển mới trở nên đa dạng và phing phú

Về thuỷ triều, thường tại vủng biển Việt Nam có chế độ bán nhật triều, càng xuống phía Nam chế độ bán nhật triều càng rõ Biên độ triều có nơi lên đến 4m, bình quân là 1,5-2m Chế độ triều xuống phía Nam khá đặc biệt do ảnh hưởng của hai phía ; vịnh Thái Lan và biển Đông, nen có nơi ở sâu trong đất liền nhưng vẫn có nước mặn lưu trữ ( vùng giáp nước) Đặc điểm này góp phần mở rộng diện tích của vùng ven biển Viật nam len rất nhiều

II- TÀI NGUYÊN BIỂN VIỆT NAM & THỰC TRẠNG KHAI

THÁC:

Trong phần này chúng ta xét về tài nguyên biển Việt Nam ở các khía cạnh chính: nguồn lợi thuỷ sản, tài nguyên dầu khí, khoáng sản trong lòng biển, tài nguyên du lịch biển

1) Tài nguyên động thực vật biển:

a) Đánh giá trữ lượng:

Biển Việt nam là một vùng biển ngiệt đới nên có những nét đặc trưng sau: có thành phần

đa dạng loài (hiện nay mới biết được 2038 loài cá biển và khoảng 1800 loài nhuyễn thể), nhưng số lượn cá thể từng loài không lớn Các loài có giá trị kinh tế chiếm một tỷ lệ nhỏ vào khoảng 10% Một số loài cá có giá trị kinh tế cao như cá Nục, cá Hồng, cá Mối, cá Chỉ Vàng, cá Thu Ngừ, cá Mú, các loài cua sò ngao vọp… là đặc sản của vùng bãi triều ven bờ Riêng về tôm đền nay đã biết được 101 loài, thuộc 34 giống, của 11 họ, trong đó tôm He, tôm Hùm có giá trị kinh tế rất cao Mực: có 7 loài mực ống, 8 loài mực nang, 3 loài mực sim, 7 loài bạch tuộc Tảo biển có:

653 loài rong biển, 301 loài rong đỏ, 77 loài rong lam, 124 loài rong nâu, 151 loài rong lục Các loài có giá trị kinh tế cao chiếm 14% Ngoài ra còn có rong mơ, rong câu, rong mức, rong kỳ lân San hô có 298 loài thuộc 76 giống và 16 họ, nhưng hiện nay bị suy thoái do khai thác bùa bãi San hô Seleractinia là loại quan trọng nhất tạo nên các rạn san hô Động vật trên cạn tại các đảo: có

66 loài dã thú, 170 loài chim, 43 loài bò sát, 12 loài quý hiếm, 2 loài đặc hữu (vọc đấu trắng và sóc đen) Trên các đảo biển miền Nam Việt Nam có loài chim yến hàng

Các đàn cá thường có quy mô không lớn lại phân bố một cách rải rác Cơ thể cá thuộc loại nhỏ và trung bình, tuổi thọ thấp nhưng bù lại khả năng tái sinh và phục hồi trữ lượng tương đối nhanh do cá đẻ hầu như quanh năm và thành nhiều đợt, tập trung vào các vụ xuân hè ở các khu vực ven bờ, cửa sông và hải đảo Tính chung có khoảng 12 bãi cá chính ở các khu vực ven bờ và

3 bãi cá tren các khu vực biển ngoài khơi là có giá trị hơn cả, khai thác mỗi năm từ 15-20 ngàn tấn Trữ lượng cá biển Việt Nam vào khoảng 3 triệu tấn/năm trong đó cá nổi chiếm gần 2/3, còn lại là cá đáy

b) Thực trạng khai thác:

Trang 5

Theo số liệu thống kê 1996, tổng sẩn lượng thuỷ san khai thác của nước ta lên tới 1,37 triệu tấn, trong đó 2/3 được khai thác từ biển Tốc độ khai thác thuỷ sản của nước ta trong 10 năm gần đây tăng nhanh, song phương tiện khai thác chủ yếu vẫn còn rất thô sơ, có công suất nhỏ Các phương tiện đánh bắt loại nhỏ hơn 33 sức ngựa, chiếm tới 80% nên chỉ khai thác được các loài thuỷ sản nhỏ, còn non ở ven bờ và các cửa sông, mà không có khả năng đánh bắt xa bờ Nước ta có khoảng trên 420 000 người lao động trong ngành ngư nghiệp, phần lớn được đào tạo theo kiểu cha truyền con nối, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, thiếu trang bị kiến thức khoa học nen thường vi phạm các quy định, gây thiệt hại đến các nguồn lợi và môi trường sốn của các loài thuỷ sản và hải sản

Nguồn lợi thuỷ sản của Việt Nam giảm sút ngiêm trọng trong thời gian gần đây không chỉ

do đánh bắt trực tiếp mà còn do sự biến động về môi trường sống của sinh vật Điển hình là việc phá rừng ngập mặn để nuôi tôm, điều này không chỉ tàn sát quần thể sinh vật dưới rừng ngập mặn, làm mất cân bằng sinh thái mà còn góp phần làm giảm trữ lượng thuỷ sản xa bờ

2) Tài nguyên khoáng sản:

a) Tài nguyên dầu khí:

Vùng biển Việt Nam có diện tích khoảng 1 triệu km2, trong đó vùng có triển vọng dầu khí rộng 500000km2 Thềm lục địa Việt Nam có khoảng 5 bể trấm tích có khả năg chứa dầu khí: bể trầm tích sông Hồng, bể trầm tích Trung bộ, bể trầm tích Cửu Long, bể trầm tích Nam Côn Sơn và bể trầm tích Thổ Chu – Mã Lai Trong đó 2 bể được khai thác nhiều nhất là Nam Côn Sơn và Cửu Long

Vùng vịnh Bắc bộ có những dấu hiệu cho thấy những mạch dầu tập trung với trữ lượng rất đáng kể Ơû vùng thềm lục địa miền Trung và miền Nam đã phát hiện ba khu vực có trữ lượng dầu lớn là Quảng Trị – Thùa thiên, Phú Quốc – Hà Tiên và Tây Nam Côn Đảo Trữ lượng dầu ngoài khơi thềm lục địa Việt nam ước tính 1,7 tỷ thùng, chiếm 25% trữ lượng dầu nằm dưới đáy biển Đông, cho phép khai thác từ 30000-40000 thùng 1 ngày Như vậy, sản lượng dầu thô khai thác hàng năm có thể đạt 20 triệu tấn

Ngoài dầu, vùng thềm lục địa Việt Nam còn có một trữ lượng khí đốt ước tính vào khoảng

3000 tỷ m3 Sản lượng khai thác năm 2000 đạt khoảng 4 triệu m3 Như vậy Trữ lượng dầu khí dự báo của toàn bộ thềm lục địa Việt Nam là khoảng 9 tỷ tấn quy ra dầu, trữ lượng khai thác có thể đạt một nửa

Người ta cho rằng dầu mỏ là một loại vàng đen của tổ quốc do giá trị kinh tế của nó rất cao Tuy nhiên, đã nói đến vàng đen cần phải suy nghĩ đến những hệ luỵ từ việc khai thác và sử dụng nó Trong đó, hai vấn đề đang được quan tâm nhất phải kể đến là nguy cơ cạn kiệt của nguồn tài nguyên dầu hoả và sự huỷ hoại môi trường do sự sử dụng nguyên liệu, chưa kể đến

Trang 6

những thảm hoạ sinh thái cục bộ do sự cố tràn dầu Trầm trọng hơn là sự thăm dò dầu của ngành khai thác dầu khí thềm lục địa và khí tự nhiên đồng hành đang thải tự do trong không khí của các mỏ dầu thềm lục địa Việt Nam

b) Các khoáng sản trong lòng biển:

Vùng biển Việt Nam nằm gọn trong phần phía Tây vành đai quặng thiếc Thái Bình Dương, có trữ lượng lớn với hàm lượng thiếc trong quặng lên tới 70% Các dải đất ven biển còn có thể tìm thấy các sa khoáng, trong đó có giá trị lớn nhất là quặng Titan, quặng Ziricon và cát thạch anh Trong các loại sa khoáng trên thì quăïng Titan đã được khai thác để đáp ứng cho các nhu cầu của nhiều ngành công nghiệp như sản xuất que hàn điện, chế tạo dioxit Titan nhân tạo Tinh quặng ziricon đã được sử dụng trong công nghiệp đồ sứ, gạch men

Đáy biển Việt Nam có nhiều loại đất hiếm giá trị, là nguyên liệu cho các ngành chế tạo hợp kim, vật liệu cao cấp với các đặc tính bền, siêu nhiệt,…

Khoáng sản quan trọng nhất ở đáy biển là các khối quặng kết thạch rộng đến hàng ngàn cây số vuông, trong đó có chứa nhiều kim loại với hàm lượng khoảng 20-25% mangan, 14% sắt, 2% niken, 0.5% đồng, 0.5% côban và nhiều nguyên tố phóng xạ, đất hiến khác…

3) Tài nguyên du lịch biển:

Với 3260 km đường bờ biển với nhiều bãi cát trắng, đẹp, đầy nắng, nhiều danh lam thắng cảnh và hải sản phong phú, đa dạng Biển Việt Nam đang là nơi thu hút du khách trong và ngoài nước Nhiều trung tâm du lịch ven biển nổi tiếng từ Trà Cổ ở Đông Bắc đến Vũng Tàu – Hà Tiên ở miền Tây Nam đã đón mời được hàng chục vạn du khách đến nghỉ ngơi, thăm quan hàng năm Tiềm năng du lịch biển còn rất lớn Trong tương lai nếu được đầu tư cơ sở hạ tầng và đội ngũ làm

du lịch, chắc chắn du lịch biển sẽ trở thành một ngành quanb trọng và có hiệu quả kinh tế rất lớn

ở nước ta.

Những rặng san hô của miền Trung có thể trở thành khu du lịch gọi là “công viên ven biển” cùng với nó là viện Hải Dương có bề dày nghiên cứu trên 100 năm, đủ làm say mê các nhà du lịch

và các nhà nghiên cứu.

Miền Tây Nam Bộ Việt Nam có du lịch làng vườn với phương tiện di chuyển êm đềm là xuồng nhỏ và với các vườn trái cây phong phú, sạch và đẹp là điểm không phải nơi nào trên thế

giới cũng đều có – là một lợi điểm của du lịch sinh thái lý tưởng.

Rừng đước Cà Mau với tốc độ lấn biển xấp xỉ 100m/năm có nhiều hệ tầng khác nhau là một điều hấp dẫn, đặc biệt tại Việt Nam còn có các sân chim với hàng trăm loài sinh sống tập trung

cũng là một động lực thu hút khách thăm quan.

Riêng về bãi tắm Việt Nam có các bãi biển nổi tiếng từ lâu đời như Trà Cổ, Sầm Sơn, Đồ Sơn, Cửa Tùng, Sơn Trà, Nha Trang, Quy Nhơn, Vũng Tàu và đặc biệt là bãi biển Hà Tiên là sự kết hợp giữa biển đồi núi và đảo tạo thành một quần thể tự nhiên phong phú và đa dạng Bĩa biển

Trang 7

Việt Nam luon có hình thế bằng thoải ít sóng, luôn nắng ấm và ít nguy hiểm là một thế mạnh cho

du lịch.

Bên cạnh đó dọc ven biển Việt Nam có các di tích khảo cổ và văn hoá lâu đời của các nền văn minh xa xưa của các dân tôïc tạo nên sự đa dạng cho hoạt động du lịch, đó là du tích Bạch Đằng của Hải Phòng, phố Hiến của Hải Hưng, nhà thờ đá Phát Diện,Thành Nhà Hồ của Thanh Hoá, cầu Hiền Lương và thị xã Đông Hà của Quảng Trị thành phố Huế, bán đảo Sơn Trà, các hệ thống tháp Chàm, thành cổ Đồ Bàn, thành phố Nha Trang… luôn là những điểm thu hút đặc biệt với du khách Kết hợp giữa tự nhiên và truyền thống văn hoá của dân tộc là một thế mạnh ít nơi có

của du lịch ven biển Việt Nam.

Công tác du lịch chưa có quản lý, dẫn đến gia tăng ô nhiễm môi trường do chất thải đồng thời làm xấu cảnh quan do nhân dân tự khai thác đó là sự biến đổi khó khắc phục nhất, ví dụ như

các di tích lịch sử như Hội An, Huế, Thành Đồ Bàn…

III- Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ GIẢI PHÁP:

1 Ô nhiễm môi trường ven biển:

 Môi trường ven biển Việt Nam hiện nay được xem là đang xuống cấp nghiêm trọng, ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên biển và cuộc sống dân

 Hầu hết các nhà máy công nghiệp đều đổ nước thải chưa được xử lý vào môi trường và vấn đề ô nhiễm đang là một thực trạng đáng báo động ở các vùng ven biển Việt Nam.Vùng nước thải từ cống rãnh các

Trang 8

đô thị cũng làm ô nhiễm môi trường ven biển: hầu hết nước thải từ các cống rãnh kênh rạch của thành phố đông dân đều đổ ra biển Quá trình này phải đi qua vùng ven biển, đi qua vùng đất ướt ven biển làm ô nhiễm vùng này và khi đổ ra biển thì làm ô nhiễm cả một vùng nước ven bờ 10 – 20 km

 Ngoài ra nước thải sinh hoạt cũng được thải trực tiếp từ các khu dân cư ven biển, ngư dân ven biển; thành phần của nó chủ yếu là các chất hữu

cơ, phân, rác, thức ăn thừa… góp phần làm ô nhiễm môi trường biển ven bờ

 Tại nhiều cửa sông, chất lượng nước bị suy thoái nghiêm trọng, đặc biệt là Đà Nẵng, Hải Phòng, Vũng Tàu… Ngay tại cửa sông Hồng hàm lượng đồng, kẽm, thuốc trừ sâu đều cao hơn mức cho phép hàng chục lần

 Tại các vùng ven biển như Vinh , Vũng Tàu hàm lượng đồng trong nước biển cũng cao hơn 2.5 – 4.6 lần cho phép Có khoảng 3% vùng biển ven bờ nước ta có hàm lượng cacbon vượt quá mức độ an toàn mà nguyên nhân chủ yếu là do dò rỉ dầu từ trên các tàu trên biển Ô nhiễm dầu đã trở thành vấn đề thời sự đáng lưu ý với gần 10 điểm ven biển được phát hiện ô nhiễm cao gây nguy hiểm cho sinh vật biển

 Các thành phố ven biển như Hải Phòng, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Cà Mau, Tp HCM… thải hàng triệu tấn chất thải công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt mỗi ngày ra cửa sông và ven biển gây ô nhiễm nặng Bên cạnh đó biển còn gánh chịu các vật liệu lắng đọng của khí thải khi mưa xuống, những tai nạn liên tiếp của tàu chở dầu trong thời gian gần đây Tại nhiều vùng biển và bãi tắm, dầu cặn dưới dạng parafin chìm và lơ lửng trong nước có thể thấy được bằng mắt thường

 Các bãi tắm hiện nay dang rất thu hút khách du lịch, và đó cũng chính là nguyên nhân gây nên tình trạng ô nhiễm biển Do ý thức về môi trường của khách du lịch chưa cao và chưa có các biện pháp quản lý chặt chẽ nên gây ra các tình trạng xả rác bừa bãi gây ô nhiễm …

 Ngành khai thác dầu khí hiện nay củng đang phát triển khá mạnh, nhưng do không có các biện pháp khai thác hợp lý, chưa quan tâm đến chế biến thu hồi khí đồng hành và bảo vệ chống rò rỉ mà trữ lượng dầu đang dần bị cạn kiệt

Trang 9

 Các cuộc thăm dò đỉa chất cũng gây ô nhiễm và tác động xấu đến hệ sinh thái xung quanh do không có các biện pháp xử lý sau khi khai thác, dẫn đến rò rỉ ra môi trường xung quanh

2 Ô nhiễm biển do dầu:

Việt Nam là một quốc gia biển, với chiều dài bờ biển hơn 3.260 km và một vùng biển rộng hơn 1 triệu km 2 , gấp 3 lần diện tích đất liền Hoạt động khai thác, sử dụng biển đã diễn ra trên nhiều lĩnh vực: nghề cá, khai thác dầu khí, du lịch biển và giao thơng vận tải biển, là những hướng phát triển kinh tế biển của Việt Nam hiện nay Những hoạt động phát triển này cĩ ảnh hưởng mạnh đến sự bền vững của hệ sinh thái ven biển, gây ơ nhiễm mơi trường biển Một trong những nguồn đĩ là từ tàu biển chủ yếu là do tai nạn

và xả thải bừa bải của các tàu thuyền lưu thơng.

Việc kiểm sốt ơ nhiễm biển do dầu hiện nay vẫn đang là một vấn đề nhức nhối đối với nhiều quốc gia vì rất nhiều lý do:

Thứ nhất, dầu bị đổ ra biển cĩ thể lan đi rất xa, làm ơ nhiễm cả một vùng biển rộng lớn, huỷ hoại nghiêm trọng chất lượng nước biển và làm chết các nguồn sinh vật biển Người ta tính tốn được rằng cứ một tấn dầu

đổ ra biển cĩ thể lan ra làm nhiễm bẩn trên một diện tích tối thiểu 12km 2 mặt biển với một lớp dầu dày từ 1/1000mm Lớp dầu này ngăn cách nước với khơng khí cũng đủ làm cho sinh vật sống trong nước bị chết ngạt Dầu mỏ lan nhanh trên mặt biển do tính chất lý – hố học của nĩ, dưới tác động của dịng chảy, thuỷ triều và của giĩ, ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt và sự sống của các lồi sinh vật, động vật sống ở biển và thực vật của rừng ngập mặn Ơ nhiễm biển do dầu từ các con tàu gây ra trong các vụ tai nạn cĩ tác hại rất lớn về nhiều mặt (khí hậu, mơi trường, kinh tế), ảnh hưởng gián tiếp đến sự phát triển của ngành du lịch và nuơi trồng thuỷ sản Trong khi đĩ, việc xử lý và thu gom dầu đổ lại rất tốn kém và địi hỏi trình độ khoa học cơng nghệ cao mà hiện nay rất nhiều nước khơng cĩ khả năng đáp ứng được Trong tổng số lượng hàng hố thơng qua cảng cĩ khoảng 28% là sản phẩm dầu nhập và xuất khẩu của nước ta ngày càng gia tăng Lượng dầu thơ xuất khẩu hàng năm khoảng 9 triệu tấn, nhập hơn 6 triệu tấn (1996).

Thứ hai, khơng một ai cĩ thể đảm bảo được rằng các vụ tai nạn hàng hải đắm tàu chở dầu lại khơng thể xảy ra; các hoạt động khai thác dầu khí lại vẫn cần thiết được tiến hành để phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế của quốc gia ven biển; khơng ai cĩ thể nĩi trước rằng cĩ xảy ra sự cố hay khơng trong quá trình khai thác Nhưng theo GESAMP, nguồn ơ nhiễm từ hoạt động khai thác dầu khí chỉ chiếm 1% Trong những năm gần đây, nhu cầu xăng dầu của Việt nam ngày càng tăng, cơng cuộc thăm dị khai thác dầu khí ở nước ta cũng trở nên nhộn nhịp, quan hệ thương mại quốc tế với Việt nam được mở rộng với nguy cơ sự cố tràn dầu

Trang 10

do đâm va, mắc cạn trên các vùng biển của Việt nam trở nên nghiêm trọng Việc vận chuyển dầu khai thác được tại mỏ vào các nhà máy lọc dầu của Việt Nam trong tương laicũng chủ yếu bằng các đội tàu dầu, vì chúng ta chưa thể xây dựng lắp đặt hệ thống ống dẫn dầu trên biển Đây cũng là nguy cơ xảy ra các vụ tai nạn, gây sự cố tràn dầu trên vùng biển Việt Nam.

Ô nhiễm dầu trên biển :

Sol khí bay hơi

quang oxy hóa

Lớp mỏng trên mặt nước Máng dầu trên mặt nước

Hình: Quá trình xâm nhập và phân tán của dầu tràn trên biển

Khi xảy ra sự cố tràn dầu, vết dầu to có thể loang ra rất nhanh ở mặt biển, vùng bờ biển, bãi tắm, vùng canh tác nuôi trồng thủy sản,…Dầu loang trên mặt nước làm giảm quá trình trao đổi Oxy của lớp nước mặt, làm ngạt nhiều loài thủy sinh vật Có một số chất hòa tan rất độc như Toluen, Xylen, Napthtalen… Những chất bay hơi gây tình trạng độc hại cho sinh vật, dầu gây ngạt bằng cách bọc kín mang cá và động vật thủy sinh  tác hại rất lớn tới tới các loài chim, cá sấu làm hư hại môi trường sống của chúng , làm ảnh hưởng đến cảnh quan gần bờ và vùng du lịch, kinh tế,…

Dầu trong nhũ tương

nước

Nước trong dầu nhũ tương

xáo trộn và quay trở lại mặt nước

trầm tích

Ngày đăng: 23/04/2013, 07:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w