Sự nghèo đói là nguyên nhân chình của những cuộc di cư và cũng là biểu hiện sự xuống cấp về mặt môi trường và sự cạn kiệt tài nguyên so với mức độ tăng dân số.. Từ đầu những năm 90 của t
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÝ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: T.S NGUYỄN VIỆT TIẾN
THÁI NGUYÊN, 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trính nghiên cứu của tôi, các số liệu trìch dẫn có nguồn gốc rõ ràng Kết quả trong luận văn chưa được công bố trong bất cứ công trính nghiên cứu nào khác
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2013
Tác giả luận văn
Vũ Thị Mai
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc và tính cảm chân thành, tôi xin chân thành cảm ơn T.S Nguyễn Việt Tiến, người đã hướng dẫn tận tính tôi trong suốt quá trính học tập nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa Địa lý, phòng sau đại học, trường đại học sư phạm Thái Nguyên, đã tạo điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn văn phòng Tỉnh Uỷ Điện Biên, Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ, Sở Lao động - Thương binh và xã hội tỉnh Điện Biên, Cục thống kê Tỉnh, Sở kế hoạch đầu tư, bạn bè đồng nghiệp, Ủy Ban Dân Tộc Tỉnh Điện Biên, Chi Cục Dân Số Và KHHGĐ Tỉnh Điện Biên người thân trong gia đình, các bạn học viên cao học lớp Địa Lý K19 đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trính làm luận văn của mính
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2013
Học viên:
Vũ Thị Mai (Khóa học 2011 - 2013)
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang bía phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các kì hiệu, các chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng viii
Danh mục các hình ix
MỞ ĐẦU 1
1 Lì do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 5
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp chình của luận văn 8
7 Bố cục của luận văn 9
NỘI DUNG 10
Chương 1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ NGHÈO VÀ GIẢM NGHÈO 10
1.1 Khái quát chung về nghèo 10
1.1.1 Định nghĩa về nghèo 10
1.1.2 Phân loại nghèo 15
1.1.3 Nguyên nhân nghèo 16
1.2 Chuẩn nghèo trên thế giới và Việt Nam 17
1.2.1 Chuẩn nghèo trên thế giới 17
1.2.2 Chuẩn nghèo ở Việt Nam 18
1.3 Thực trạng nghèo, giảm nghèo ở Việt Nam và TDMNPB 22
1.3.1 Ở Việt Nam 22
1.3.2 Ở vùng TDMNPB 27
Trang 6Tiểu kết chương 1 30
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN NGHÈO Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN GIAI ĐOẠN 2005 - 2010 31
2.1 Khái quát chung về tỉnh Điện Biên 31
2.1.1 Vị trì địa lì và phạm vi lãnh thổ 31
2.1.2 Đặc điểm môi trường tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 33
2.1.3 Điểu kiện kinh tế - Xã hội 36
2.1.4 Thực trạng phát triển kinh tế 42
2.1.5 Đánh giá chung 44
2.2 Thực trạng và nguyên nhân đói nghèo ở tỉnh Điện Biên 46
2.2.1 Một số các chính sách và dự án XĐGN ở tỉnh Điện Biên 46
2.2.2 Thực trạng nghèo ở Điện Biên 60
2.2.3 Kết quả chỉ tiêu đánh giá nghèo ở tỉnh Điện Biên 67
2.2.4 Nhận xét về công tác giảm nghèo ở tỉnh Điện Biên giai đoạn 2005 - 2010 77
2.2.5 Nguyên nhân nghèo ở Điện Biên 80
Tiểu kết chương 2 84
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN ĐẾN NĂM 2020 85
3.1 Cơ sở đưa ra giải pháp giảm nghèo ở tỉnh Điện Biên 85
3.1.1 Tổng quan chình sách đã ban hành của Đảng, Nhà nước về vấn đề XĐGN 85
3.1.2 Định hướng PTBV ở Việt Nam 88
3.1.3 Quan điểm, mục tiêu trong công tác giảm nghèo ở tỉnh Điện Biên 94
3.2 Một số giải pháp hướng tới giảm nghèo ở tỉnh Điện Biên 99
3.2.1 Quy hoạch và phát triển kinh tế 99
3.2.2 Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển các loại hính dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa và bảo vệ môi trường 101
Trang 73.2.3 Xã hội hóa các hoạt động XĐGN, đặc biệt là về nguồn lực 102
3.2.4 Đổi mới công tác tổ chức 103
3.2.5 Tiếp tục triển khai và thực hiện chương trính, mục tiêu về XĐGN 105
3.2.6 Giải pháp tuyên truyền 112
3.3 Kiến nghị 113
3.3.1 Đối với nhà nước 113
3.3.2 Đối với cơ quan địa phương 113
3.3.3 Đối với từng hộ gia đính 114
Tiểu kết chương 3 114
KẾT LUẬN 115
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
PHỤ LỤC 120
Phụ lục 1 Tỷ lệ nghèo theo khu vực của tỉnh Điện Biên năm 2010 120
Trang 8ĐKTN Điều kiện tự nhiên
GDĐT Giáo dục đào tạo
Trang 9Bảng 1.3 Tỉ lệ hộ nghèo ở Việt Nam giai đoạn 2004 - 2010 23
Bảng 1.5 Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá thực tế 28 Bảng 2.1 Số đơn vị hành chính, diện tích, dân số và MĐDS Điện
Trang 10Bảng 2.13 Số cơ sở y tế, số giường bệnh và số cán bộ ngành y tỉnh
Điện Biên năm 2007 và 2010
72
Bảng 2.14 Số giường bệnh và số cán bộ ngành y trên 1 vạn dân tỉnh
Điện Biên năm 2007 và 2010
73
Bảng 2.15 Số học sinh các cấp, tỉ lệ xã, phường, thị trấn có trường
TH và THCS năm học 2010 - 2011
74
Bảng 2.16 Chương trính nước sạch và vệ sinh môi trường tỉnh Điện
Biên giai đoạn 2006 - 2010
76
Trang 11Hình 2.2 Biểu đồ dân số trung bình phân theo thành thị, nông thôn
tỉnh Điện Biên giai đoạn 2005 – 2010
37
Hình 2.3 Mật độ dân số theo huyện, thị tỉnh Điện Biên năm 2010 38 Hình 2.4 Cơ cấu thành phần dân tộc tỉnh Điện Biên năm 2010 40 Hình 2.5 Bản đồ hiện trạng nghèo tỉnh Điện Biên năm 2010 61 Hình 2.6 Tỉ lệ hộ nghèo của Điện Biên so với cả nước và vùng
TDMNPB giai đoạn 2006 – 2010
62
Hình 2.7 GDP và GDP/người của Điện Biên giai đoạn 2006 – 2010 68
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Công cuộc XĐGN đã và đang là vấn đề quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới Bởi vì , một đất nước muốn vươn lên ngang tầm với các nước khác trên thế giới thí trước tiên cuộc sống của người dân trong nước phải no
đủ, cuộc sống phải sung túc, thỏa mãn được đầy đủ nhu cầu thiết yếu thí đất nước mới phát triển được , “dân giàu thí nước mới mạnh” Trong diễn trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, Việt Nam cần quyết tâm hơn nữa trong công tác XĐGN và thực hiện lời cam kết của mính với cộng đồng quốc tế
Điện Biên là tỉnh miền núi nằm ở vùng “văn hóa hoa ban” - phía Tây Bắc của Việt Nam Đây là địa bàn cư trú của 21 DTTS và hầu hết đ ịa hình hiểm trở phức tạp (trừ TP Điện Biên), mạng lưới giao thông của các huyện, liên xã, liên thôn, bản hầu hết vẫn là đư ờng đất, cơ sở hạ tầng yếu kém, hệ thống cầu cống hoặc là chưa có hoặc đã xuống cấp hư hỏng cộng với việc gặp nhiều thiên tai nên việc đi lại của người dân trên địa bàn tỉnh , đặc biệt ở các huyện nghè o còn rất khó khăn Theo thống kê năm 2008, tỉnh có 04/62 huyện nghèo của cả nước Với tỉ lệ hộ nghèo 50,01% (2010), Điện Biên là tỉnh nhiều
hộ nghèo nhất Đến nay, tuy đã nhận được nhiều sự quan tâm của Chính phủ
và các nhà tài tr ợ quốc tế nhưng nhiều khó khăn, thách thức vẫn đang đặt ra
Sự phân hóa giàu - nghèo diễn ra gay gắt và dễ nhận thấy thông qua điều tra
về thu nhập bính quân đầu người/tháng, chỉ số tiêu dùng điện và nước sinh hoạt, số trẻ được tới trường, Tỉ lệ dân số chưa có những dịch vụ, kết cấu hạ tầng cơ bản và cơ sở đáp ứng cho nhu cầu của cuộc sống tinh thần cũng như những phương tiện sinh hoạt cần thiết còn cao Sự nghèo đói và cạn kiệt tài nguyên như người bạn đồng hành và có xu hướng xấu đi trước sự gia tăng dân
số Vì nghèo đói nên họ lại tiếp tục khai phá các nguồn tài nguyên đã bị phá hoại ấy để sống và kết quả là môi trường càng trở nên xấu đi , cuộc sống của
người dân tiếp tục rơi vào “vòng luẩn quẩn” Như vậy, càng làm cho họ
Trang 13nghèo hơn Khi cái vòng nghèo đói và môi trường bị xuống cấp tới một giới hạn nào đó khiến người ta không chịu đựng được nữa sẽ buộc phải du canh du
cư Sự nghèo đói là nguyên nhân chình của những cuộc di cư và cũng là biểu hiện sự xuống cấp về mặt môi trường và sự cạn kiệt tài nguyên so với mức độ tăng dân số
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và tầm quan trọng của vấn đề nêu trên ,
chúng tôi quyết định lựa chọn “Vấn đề nghèo ở tỉnh Điện Biên: Thực trạng
và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề “đói nghèo” đã được các Tổ chức quốc tế quan tâm và nghiên cứu từ lâu Đồng thời, vấn đề này cũng được nhiều cơ quan, tổ chức ở trong nước cũng như các nhà kinh tế học, xã hội học và địa lì học quan tâm nghiên cứu
Trên thế giới , đáng chú là các nghiên cứu của Chương trính phát triển
của Liên hợp quốc (UNDP), của Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng
Châu Á (ADB), Chương trính nghiên cứu Việt Nam – Hà Lan (WNRP)
Cách đây gần 200 năm, vấn đề gai góc về mối quan hệ giữa dân số-
nguồn tài nguyên đã được nêu ra trong tác phẩm gây nhiều tranh cãi: “Bàn về
qui luật dân số” của Mantuyt - 1798 (An essay on the principle on
population) Sau đó, Mill trong tác phẩm “Những nguyên lý trong kinh tế học
chính trị” - 1818 (The principle of Politcal Economy) đã thừa nhận những
nguyên tắc chung của Mantuyt về dân số Ngay thời kỳ này, nhiều học giả đã nhất trì rằng ở các nước phát triển việc tiêu thụ năng lượng và nguồn tài
nguyên thiên nhiên làm khuấy đảo môi trường sinh thái, nguyên nhân gây ô nhiễm không khì, đất, nước,
Triết học Mác đã khám phá ra mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Các Mác là người đầu tiên xem xét mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa con người và tự nhiên Quá trính quan tâm và nghiên cứu mối quan hệ giữa Dân số - Tài nguyên - Môi trường đã được giới khoa học tập trung nghiên cứu
Trang 14từ lâu Sharma đã viết: “Dân số -Tài nguyên - Môi trường và chất lượng cuộc
sống” Trong cuốn sách này, ông đã đề cập một cách sinh động về những vấn
đề trên và những vấn đề có liên quan tới Dân số - Tài nguyên - Môi trường và Chất lượng cuộc sống Đồng thời, ông chỉ ra mối quan hệ qua lại giữa Dân số- Tài nguyên - Môi trường và Chất lượng cuộc sống
Đặc biệt, từ năm 1990 trở lại đây nghiên cứu về mối quan hệ này dần trở thành nhiêm vụ quan trọng của toàn cầu mà Liên Hợp Quốc có nhiệm vụ thực hiện Nhiều công trính khoa học nghiên cứu về chùm quan hệ này đã
được công bố như: “Dân số- Môi trường: Một cách nhìn phổ quát” của Ban thư ký Liên Hợp Quốc (Population and environment: Overview), “Dân số- môi
trường và sự phát triển bền vững” của Uỷ ban các vấn đề kinh tế Châu Á - Thái
Bính Dương (Population,enveronment and sustainable development),
Ở Việt Nam, vấn đề đói nghèo được Đảng, Nhà nước và các cấp, các
ngành cũng như nhiều cơ quan, nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX đến nay đã có nhiều công trính khoa học , đề tài nghiên cứu, bài viết liên quan đến vấn đề đói nghèo được công bố cụ thể là các công trình sau: Các nghiên cứu của Tổng cục thống kê Việt Nam , Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia (Hiện nay là Viện khoa học xã hội Việt Nam), của Ủy ban Dân tộc
PTS Đỗ Thị Bính , Lê Ngọc Hân với tác phẩm “ Phụ nữ nghèo nông
thôn trong điều kiện kinh tế thị trường”, Nxb Chính trị quốc gia, 1996 Cuốn
sách này nêu lên các quan niệm về phân hóa giàu nghèo và tính trạng đói nghèo ở nước ta và trên thế giới; đánh giá thực trạng đời sống, các khó khăn
và yêu cầu của phụ nữ nghèo nông thôn; đưa ra các khuyến nghị khoa học làm cơ sở cho việc hoạch định chình sách XĐGN , giúp phụ nữ nghèo nông
thôn vươn lên; Nguyễn Thị Hằng với tác phẩm “Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở
nông thôn nước ta hiện nay”, Nxb Chình trị quốc gia, 1997 Cuốn sách đánh
giá khá đầy đủ về thực trạng nghèo đói ở Việt Nam và biện pháp XĐGN ở
Trang 15nông thôn nước ta đến năm 2000 TS Lê Xuân Bá (cùng tập thể tác giả) với tác phẩm “Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam”, Nxb Nông nghiệp,
2001 Các tác giả đã phản ánh tổng quan về nghèo đói trên thế giới; đưa ra các phương pháp đánh giá về nghèo đói hiện nay , nghèo đói ở Việt Nam và nghiên cứu thực tiễn về nghèo đói ở tỉnh Quảng Bính Qua đó, đưa ra một số quan điểm, giải pháp chung về XĐGN ở Việt Nam Hoàng Thị Hiền với Luận
văn thạc sỹ kinh tế “Xóa đói giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc ít người
tỉnh Hòa Bình – thực trạng và giải pháp”, Học viện chình trị quốc gia Hồ Chì
Minh, 2005
Gần đây, các tổ chức phi Chình phủ qua hợp tác với phìa Việt Nam thực hiện một số dự án về đói nghèo, môi trường - sinh thái, quan hệ tộc người, Ở miền núi cũng có những nghiên cứu đáng quan tâm Tiêu biểu cho
số này là Công ty ADUKI Pty Ltd với “Poverty in Vietnam” (Vấn đề nghèo
đói ở Việt Nam) [1995]; hoặc các báo cáo tư vấn của Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á, các tổ chức phi Chình phủ, đáng lưu ý là báo
cáo của Neil Jamieson: “A Socio - economic Overview of the Northern
Mountain Region and the Project for Poverty Reduction in the Northern Mountain Region of Vietnam” [2000] (A Tổng quan về tính hính kinh tế - xã
hội khu vực miền núi phìa Bắc và Dự án giảm nghèo ở khu vực miền núi phìa
Bắc: Ngân hàng Thế giới) và “B Rethinking Approaches to Ethenic Minority
Development, The Case of Vietnam”; Concept Paper perpared for the World
Bank, Unpublished [2000] (Nghĩ lại cách tiếp cận chương trính phát triển dân
tộc thiểu số, Trường hợp Việt Nam); Chương trình người dân vùng cao, do UNDP, UNV và Uỷ ban Dân tộc và Miền núi thực hiện năm 2001; Báo cáo
về giảm nghèo ở Việt Nam, do UNDP phát hành 2006 Các báo cáo này đã
chỉ ra rằng những nhóm DTTS vùng sâu, vùng xa, trính độ thấp ìt được ảnh hưởng từ thành quả thực hiện đường lối đổi mới của Nhà nước Việt Nam, phân tìch những bài học kinh nghiệm phát triển cho cộng đồng dân tộc thiểu
Trang 16số Cuốn sách “Giảm nghèo và rừng” (tác giả TS Huỳnh Thu Ba) là một sự
tổng kết những kiến thức có thể thu thập được từ các tài liệu thứ cấp có liên quan đến chủ đề này Những công trính nghiên cứu nêu trên có giá trị rất lớn
về lý luận và thực tiễn, có thể coi là những định hướng quan trọng cho những nghiên cứu ở cấp nhỏ hơn (thôn/bản, xã, huyện, tỉnh, )
Tại Điện Biên, nghèo đã và đang là vấn đề được các cấp, các ngành quan tâm do đặc điểm của tỉnh vùng cao có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Nhiều tài liệu, báo cáo của các cơ quan, ban ngành như Sở LĐTBXH, Ban Dân tộc – tôn giáo, Cục thống kê, được sử dụng trong đề tài
này Đề tài “Vấn đề nghèo ở tỉnh Điện Biên: Thực trạng và giải pháp” nghiên
cứu về hiện trạng và nguyên nhân nghèo của tỉnh Điện Biên Từ đó, đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững
3 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Về không gian nghiên cứu: Đề tài tiến hành nghiên cứu tại tỉnh Điện
Biên với 9 huyện và thành phố, đặc biệt là 04/62 huyện nghèo nhất cả nước:
Điện Biên Đông, Mường Ẳng, Mường Nhé, Tủa Chùa
- Về nội dung nghiên cứu : Đề tài tập trung tím hiểu, phân tìch hiện
trạng nghèo ở Điện Biên dựa trên hệ thống chỉ tiêu cơ bản về nghèo như: chỉ tiêu thu nhập, chỉ tiêu về y tế - chăm sóc sức khỏe, chỉ tiêu về giáo dục, các chỉ tiêu khác như nhà ở, điện nước sinh hoạt; nguyên nhân và các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập
- Về thời gian nghiên cứu: Sử dụng nguồn số liệu tập trung ở khoảng
thời gian từ năm 2005 – 2010 (khi tỉnh Điện Biên chia tách thành 2 tỉnh Điện
Biên và Lai Châu)
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1.Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận về nghèo và các chỉ tiêu đánh giá nghèo của thế giới và Việt Nam, đề tài tập trung đánh giá hiện trạng nghèo ở
Trang 17tỉnh Điện Biên, chỉ ra những nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Điện Biên
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan có chọn lọc và bổ sung các vấn đề lý luận và thực tiễn về nghèo, giảm nghèo Từ đó, vận dụng vào nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Điện Biên
- Phân tìch hiện trạng và nguyên nhân nghèo, đánh giá những thành tựu và thách thức trong công tác giảm nghèo ở tỉnh trong thời gian từ 2005 – 2010
- Đề xuất các giải pháp giảm nghèo bền vững ở tỉnh Điện Biên đến năm
2015 và tầm nhín tới năm 2020
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Quan điểm nghiên cứu
sự khác nhau đó
* Quan điểm hệ thống
Các yếu tố địa lì KT-XH luôn tồn tại, vận động và phát triển trong một không gian lãnh thổ nhất định và chúng bao gồm nhiều nhân tố khác nhau Mỗi nhân tố có một quy luật vận động và phát triển riêng song các nhân tố không tồn tại độc lập mà có quan hệ gắn bó hỗ trợ lẫn nhau tạo nên một thể thống nhất và hoàn chỉnh Do đó, khi một nhân tố thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của các nhân tố khác hay của cả hệ thống Khi nghiên cứu vấn đề nghèo của tỉnh Điện Biên sẽ được phân chia thành cấp nhỏ hơn (huyện, xã) Ví vậy, khi nghiên cứu vấn đề nghèo tỉnh Điện Biên cần tím hiểu sự tác động qua lại
Trang 18của các nhân tố ảnh hưởng tới vấn đề này và mối quan hệ giữa các địa phương trong địa bàn tỉnh
* Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Nghèo là hiện tượng xã hội phát sinh và tồn tại trong một thời gian nhất định Tùy theo từng thời kỳ, các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề nghèo và mức
độ nghèo là khác nhau Theo quan điểm lịch sử khi xem xét hiện tượng nghèo
ở Điện Biên, cần nghiên cứu trong một thời gian liên tục từ quá khứ - hiện tại
- tương lai, dự báo sự phát triển của hiện tượng
* Quan điểm phát triển bền vững
Nghèo đã và đang là một hiện tượng tồn tại phổ biến trên khắp thế giới, nguy cơ tái nghèo cao đặc biệt là ở các dân tộc thiểu số Do đó, nghiên cứu vấn đề giảm nghèo ở Điện Biên cần phải nghiên cứu trên quan điểm bền vững nhằm hạn chế đến mức thấp nhất nguy cơ tái nghèo trên cơ sở bảo tồn, gìn giữ, phát huy văn hóa truyền thống, tri thức bản địa các tộc người, sử dụng hợp lý nguồn TNTN và bảo vệ môi trường
* Quan điểm xã hội học
Quan điểm xã hội học giúp tác giả nhín nhận và đánh giá tác động của các chình sách xã hội ở tỉnh Điện Biên đến công tác giảm nghèo và ý nghĩa của nó trong việc cải thiện, nâng cao mức sống của người dân
5.2 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp thực địa
Phương pháp khảo sát thực tế giúp tác giả kiểm tra đánh giá và thu thập
bổ sung các tư liệu, số liệu, hính ảnh về thực trạng nghèo và giảm nghèo ở tỉnh Điện Biên
* Phương pháp thu thập, xử lí tài liệu tài liệu
Sử dụng phương pháp này trong việc thu thập thông tin, xử lì các số liệu, tài liệu khác nhau như: các văn kiện, Nghị quyết Đảng bộ các cấp; các sách, tài liệu nghiên cứu lì luận về vấn đề nghèo, các tài liệu thống kê ở TW
Trang 19và cấp tỉnh, các bản đồ, biểu đồ, các số liệu, tài liệu có được từ khảo sát thực địa, liên quan tới đề tài nghiên cứu
* Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp các số liệu thống kê
Sau khi thu thập được tài liệu và tiến hành xử lý tài liệu, đề tài sử dụng phương pháp phân tìch và tổng hợp, so sánh Nhờ phương pháp này, nguồn tài liệu đã được xử ly phù hợp với thực tế khách quan Từ đó, có thể rút ra những kết luận khoa học cho đề tài
* Phương pháp điều tra phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia
Khi nghiên cứu đề tài, tác giả có sử dụng ý kiến đóng góp của các chuyên gia về vấn đề nghèo và giảm nghèo để thiết lập một kênh trao đổi thông tin thường xuyên giữa tác giả và các chuyên gia Ý kiến của các chuyên gia góp phần nâng cao giá trị của các kết luận khoa học và bổ sung cho tình hiện thực của các giải pháp do tác giả đề tài kiến nghị
* Phương pháp nghiên cứu có sự tham gia của người dân
Đây là phương pháp thu hút cộng đồng dân tộc vào quá trính phân tìch các câu hỏi nghiên cứu nhằm tím ra những vấn đề mang tình hợp lý cao cho công cuộc giảm nghèo của tỉnh Điện Biên Thực chất của phương pháp này là lấy người dân, lấy cộng đồng thôn bản làm trung tâm với phương châm nhà nghiên cứu và các thành viên cộng đồng cùng chia sẻ thông tin về những vấn
đề cùng quan tâm trong quá trính nghiên cứu để đưa ra các kết luận có tình chân thực, sát hợp cao
* Phương pháp hệ thống thông tin địa lí (GIS)
Đây là phương pháp và công cụ quan trọng trong nghiên cứu Địa lì Các bản đồ là những tài liệu tham khảo và cũng là sản phẩm của quá trính nghiên cứu Sử dụng CNTT nhằm để xây dựng các bản đồ, lược đồ, sơ đồ và biểu đồ liên quan tới hiện trạng và sự phân hóa nghèo trên địa bàn nghiên cứu
6 Đóng góp chính của luận văn
- Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về nghèo, giảm nghèo trên thế giới
và Việt Nam để vận dụng nghiên cứu giảm nghèo vào địa bàn tỉnh Điện Biên
Trang 20- Đánh giá ảnh hưởng của tự nhiên, KT – XH đến mức sống dân cư tỉnh Điện Biên Phân tìch thực trạng nghèo ở tỉnh Điện Biên
- Tím hiểu những nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu , kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục , cấu trúc của đề tài được chia thành 03 chương:
Chương 1 Tổng quan chung về nghèo và giảm nghèo
Chương 2 Thực trạng nghèo ở tỉnh Điện Biên giai đoạn 2004 - 2010 Chương 3 Một số giải pháp giảm nghèo ở tỉnh Điện Biên đến năm 2020
Trang 21NỘI DUNG
Chương 1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ NGHÈO VÀ GIẢM NGHÈO
1.1 Khái quát chung về nghèo
1.1.1 Định nghĩa về nghèo
1.1.1.1 Định nghĩa chung
Để tồn tại được trong cuộc sống hàng ngày, con người cần phải giải quyết được những nhu cầu thiết yếu nhất Nhu cầu này được chia thành hai dạng, đó là nhu cầu về vật chất (ăn, mặc, ở, đi lại) và nhu cầu về tinh thần (giáo dục, y tế, văn hoá và giao tiếp xã hội) Đồng thời, những nhu cầu này phải được đáp ứng ở một mức độ nhất định nào đó - người ta gọi là mức sống tối thiểu của cộng đồng Nghĩa là nếu không đạt được đến mức này, con người không thể đảm bảo cuộc sống để phát triển một cách bính thường được
Do vậy, khi nghiên cứu về vấn đề nghèo và giảm nghèo, chúng ta phải nghiên cứu đến nhu cầu, hay còn gọi là mức sống tối thiểu của người dân
Nghèo là một khái niệm mang tình chất động, biến đổi tuỳ thuộc vào không gian, thời gian và xuất phát điểm của mỗi địa phương hay mỗi quốc gia Tuỳ thuộc vào từng quốc gia, từng thời điểm khác nhau, cũng như quan điểm nghiên cứu khác nhau mà vấn đề nghèo sẽ được quan niệm khác nhau
Từ trước đến nay có nhiều quốc gia, nhiều tổ chức trên thế giới đã đưa ra những quan điểm riêng về nghèo Các quan điểm này phản ánh mục tiêu nghiên cứu và tính trạng nghèo ở nhiều nước trên thế giới Tiêu chì chung nhất đề xác định nghèo vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người Sự khác nhau chung nhất là thoả mãn ở mức
độ cao hay mức độ thấp Điều này phụ thuộc vào trính dộ phát triển kinh tế xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia
Đề cập tới khái niệm “nghèo” và “đói”, “nghèo đói”, nhiều tổ chức đã đưa ra khái niệm như sau:
Trang 22Tại hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban KT-XH khu vực Châu Á - Thái Bính Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào tháng
09/1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng: “Nghèo đói là
tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu
cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”.[1 ]
Tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen - Đan Mạch năm 1995, định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như
sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 đôla (USD)
mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” [1 ]
Tuy vậy, cũng có quan điểm khác về nghèo đói mang tình kinh điển hơn, triết lý hơn của chuyên gia hàng đầu của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) - ông Abapia Sen, người được giải Nobel về kinh tế năm 1998, cho
rằng: “Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát
triển cộng đồng” Xét cho cùng sự tồn tại của con người nói chung và của
người giầu, người nghèo nói riêng, cái khác nhau cơ bản để phân biệt họ chình
là cơ hội lựa chon của mỗi người trong cuộc sống Thông thường, người giàu
có cơ hội lựa chọn nhiều hơn, người nghèo có cơ hội lựa chon ìt hơn
Ngân hàng thế giới (WB) và tổ chức UNDP đã đưa ra chỉ số nghèo đói
về con người (nghèo tương đối) Nghèo đói là tính trạng thiếu thốn ở cả 3 khìa cạnh của cuộc sống: mức sống (mức thu nhập), tuổi thọ và kiến thức Các chỉ số này được hính thành bởi 4 tiêu chì: GDP thực tế bính quân đầu người (ngang giá sức mua PPP), tuổi thọ, tính trạng mù chữ của người lớn, tổng tỉ lệ nhập học
Trên đây, là một số khái niệm về “nghèo”, “đói” và “nghèo đói” Tuỳ thuộc vào từng thời kỳ nghiên cứu cũng như hướng nghiên cứu khác nhau sẽ
Trang 23có cách tiếp cận cho phù hợp Trong đề tài này, tác giả công nhận khái niệm nghèo của Việt Nam và của tổ chức WB, UNDP Đồng thời, hướng tiếp cận nghèo đối với người dân là tiếp cận về kinh tế, có nghĩa là tiếp cận về thu nhập của người dân
1.1.1.2 Định nghĩa nghèo theo tình trạng sống
Định nghĩa nghèo theo tính trạng sống lưu ý đến những khìa cạnh khác ngoài thu nhập Điển hính như cơ hội đào tạo, mức sống, quyền tự quyết định,
ổn định về luật lệ, khả năng ảnh hưởng đến những quyết định chình trị và nhiều khìa cạnh khác UN cũng đã đưa ra chỉ số phát triển con người (tiếng
Anh: human development index–HDI) Các chỉ thị cho HDI bao gồm tuổi thọ
dự tình vào lúc mới sinh, tỷ lệ mù chữ, trính độ học vấn, sức mua thực trên đầu người và nhiều chỉ thị khác
Trong "Báo cáo phát triển thế giới 2000", WB đã đưa ra bên cạnh các
yếu tố quyết định khách quan cho sự nghèo là những yếu tố chủ quan như phẩm chất và tự trọng Cơ sở và tiêu chì để đánh giá nghèo:
+ Cuộc sống không ổn định, nhà ở tạm bợ trong một đến hai năm;
+ Thiếu phương tiện như tivi, radio, …
+ Không có tiền để dành, thiếu tiền quanh năm;
+ Trẻ không được đi học hoặc rời trường sớm;
+ Đủ thức ăn trong mùa thu hoạch hoặc thiếu vài tháng trong năm; + Sử dụng nguồn nước tự nhiên, không tiếp cận nguồn nước sạch, môi trường sống không được vệ sinh
1.1.1.3 Quan niệm về nghèo ở Việt Nam
Quan niệm của chình người nghèo ở một số địa phương của nước ta về nghèo đói đơn giản hơn, trực diện hơn Một cuộc phỏng vấn có sự tham gia
của người dân ở miền núi nói rằng: “Nghèo đói là gì ư? Là hôm nay con tôi
ăn khoai, ngày mai con tôi không biết ăn gì? Bạn nhìn nhà cửa của tôi thì biết, trong nhà nhìn thấy mặt trời, khi mưa thì trong nhà cũng như ngoài
Trang 24trời” Một số người ở tỉnh Hà Tĩnh thí trả lời: “Nghèo đói đồng nghĩa với nhà
ở bằng tranh tre, nứa lá tạm bợ, xiêu vẹo, dột nát; không đủ đất đai sản xuất, không có trâu bò, không có tivi, con cái thất học, ốm đau không có tiền đi khám bệnh ”
Qua nhiều cuộc điều tra, khảo sát, các nhà nghiên cứu và quản lý ở các
Bộ đã đi đến thống nhất một khái niệm riêng, chuẩn mực riêng cho nghèo đói
ở Việt Nam, đó là: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng
thoả mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện” Quan
niệm trên đều phản ánh ba khìa cạnh chủ yếu của người nghèo:
- Không được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người;
- Có mức sống thấp hơn mức sống trung bính của cộng đồng dân cư;
- Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trính phát triển của cộng đồng Bên cạnh những quan niệm về nghèo đã trính bày ở trên, tuỳ thuộc vào những giai đoạn, những hoàn cảnh khác nhau cũng như những mục tiêu nghiên cứu khác nhau mà người ta có những cách tiếp cận khác nhau về nghèo Hiện nay, có thể tiếp cận nghèo theo các hướng sau:
- Tiếp cận về dinh dưỡng: người nghèo là những người có mức tiêu thụ Calo đạt dưới 2.100 kcalo/người/ngày Chỉ tiêu này do WHO xây dựng cho mỗi thể trạng trung bính của con người Chỉ tiêu này áp dụng cho những nước phát triển cũng như các nước đang phát triển
- Tiếp cận về thu nhập: người nghèo la những người có mức thu nhập không đảm bảo cuộc sống và chi tiêu Trong cuộc sống hàng ngày, ngoài những nhu cầu về lương thực và thực phẩm ra, con người có nhiều những nhu cầu cần phải đảm bảo khác như nhà ở, mặc, y tế, giáo dục, Do vậy, nếu thu nhập không đảm bảo trang trải được cuộc sống về chi tiêu thí được coi là nghèo đói
Trang 25- Tiếp cận về xã hội: người nghèo là những người không được tiếp cận
về những dịch vụ công cộng như y tế, giáo dục, vui chơi giải trì, pháp luật, Kinh tế ngày càng phát triển, đời sống của người dận không ngừng được nâng lên về mọi mặt Khi đó ngoài những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, con người cần phải đáp ứng nhiều những nhu cầu khác Đánh giá về nghèo không chỉ đơn thuần chỉ về dinh dưỡng mà phải bao gồm những yếu tố khác nữa
- Người nghèo là những người dễ bị tổn thương Người nghèo bị tổn thương bời những rủi ro trong sản xuất và đời sống Khả năng hồi phục sau những rủi ro của người nghèo là hạn chế hơn rất nhiều so với những người khá giả
Quan niệm về “nghèo” ở Việt Nam rất đa dạng:
Nghèo thể hiện ở thiếu ăn hàng năm từ 1 - 2 tháng, chủ yếu ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Ứớc tình mỗi năm có trên 1 triệu lượt người thiếu
ăn (200 - 220 nghín lượt hộ), chiếm khoảng 15% hộ nghèo và 1,2% số hộ toàn quốc, phần lớn là dân tộc Vân Kiều, PaKô, Mông, Giarai,
Nghèo thể hiện ở sự tạm bợ (còn khoảng 500.000 hộ); tài sản, đồ dùng lâu bền không có hoặc có nhưng giá trị rất thấp, hầu hết hộ nghèo dân tộc ìt người tài sản chỉ ở mức 1 -2 triệu đồng (vùng Tây Nguyên và vùng núi cao)
Nghèo thể hiện ở việc không có điện để sử dụng trong sinh hoạt và phải dùng nguồn nước sinh hoạt tự nhiên từ sông, suối, hồ, ao
Nghèo thể hiện ở chỗ nông dân không có hoặc thiếu đất sản xuất
Nghèo thể hiện ở việc thiếu điều kiện để phát triển sản xuất, hạ tầng cơ
sở kém phát triển, công cụ sản xuất thô sơ, thiếu vốn và chưa tiếp cận được thị trường tiêu thụ sản phẩm
Nghèo thể hiện ở việc thiếu kiến thức sản xuất do trính độ văn hoá của chủ hộ thấp và mù chữ, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp, không có chuyên môn kĩ thuật Tỉ lệ lao động qua đào tạo của cả nước khoảng, nhưng rơi vào nhóm hộ không nghèo
Trang 26Nghèo thể hiện ở việc con cái chỉ theo học ở bậc tiểu học, nếu có học tiếp ở bậc trung học cơ sở thí tỉ lệ bỏ học lớn, nhất là các trẻ em gái ở vùng dân tộc thiểu số Khi ốm đau không có tiền đến chữa trị ở các bệnh viện mà chủ yếu là chữa trị tại nhà
Nghèo gắn liền với tập quán lạc hậu, nhất là ma chay, cưới xin tốn kém Một số hộ nghèo dân tộc thiểu số khi ma chay phải bán cả trâu, bò mua bằng nguồn vốn vay Ngân hàng chình sách xã hội và không có khả năng trả nợ
Nghèo còn thể hiện ở cuộc sống của người dân đô thị không có việc làm ổn định, thu nhập thấp, không có điều kiện tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, giáo dục con cái, lang thang kiếm sống
Nghèo tiềm năng còn thể hiện ở nhóm dân cư không có đất sản xuất do chuyển đổi mục đìch sử dụng trong quá trính đô thị hoá, song không kịp chuyển đổi nghề nghiệp hoặc không có tay nghề
Ngoài ra, còn có nhóm nghèo thuộc diện chình sách bảo trợ xã hội như người già cả cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật nặng nhưng không thuộc đối tượng của chương trính giảm nghèo
Nguyên nhân dẫn đến nghèo đói bao gồm: Nguyên nhân khách quan (xuất phát điểm thấp của nền kinh tế trước khi đổi mới do phải trải qua hơn 30 năm chiến tranh, điều kiện tự nhiên không thuận lợi ở một số vùng, thiên tai, dịch bệnh ) và nguyên nhân chủ quan (chình sách chi tiêu cho y tế, giáo dục
và chình sách đầu tư phát triển KT-XH của nhà nước chưa cân đối giữa các cấp hành chình, các vùng miền, giữa các ngành kinh tế và có những nguyên nhân chủ quan thuộc về chình người dân)
1.1.2 Phân loại nghèo
Người ta thường phân biệt hai khái niệm nghèo về thu nhập (nghèo tuyệt đối) và nghèo về con người (nghèo tương đối)
1.1.2.1.Nghèo tuyệt đối (nghèo thu nhập)
Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản tối thiểu để duy trì cuộc sống( nhu cầu về ăn,mặc, nhà
ở, chăm sóc y tế, giáo dục, …)
Trang 27Đo lường mức chi tiêu cần thiết để đảm bảo một người có thể mua được một lượng lương thực, thực phẩm tương đương 2100- 2300 kcalo/người/ngày Mức nghèo tuyệt đối là thước đo dễ lượng hoá để mô tả tính trạng đói nghèo
1.1.2.2 Nghèo tương đối (nghèo về con người)
Khái niệm nghèo tương đối được Robert Mc Namara - nguyên Tổng giám đốc WB định nghĩa "Nghèo ở mức độ tương đối là sống ở ranh giới
ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tương đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt qua sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta".[ 1 ]
Mức nghèo tuyệt đối có phương pháp tình toán riêng nên ranh giới nghèo tuyệt đối được xác lập cụ thể Ngược lại, ranh giới của nghèo tương đối rất khó xác định bởi không có một tiêu chuẩn chung áp dụng Nó phụ thuộc chủ yếu vào tính hính phát triển KT - XH của từng quốc gia và mức
độ quan tâm, điều chỉnh của chình quốc gia đó Như vậy, nghèo tương đối không chỉ bao hàm mức thu nhập và tiêu dùng thấp mà còn bao gồm cả mức hưởng thụ thấp về giáo dục, y tế và các lĩnh vực khác của sự phát triển con
người Đặc biệt, nghèo tương đối còn đề cập đến "sự thiếu quyền lực và tiếng
nói, cũng như tính chất dễ bị tổn thương và đe doạ của người nghèo" Trong
những hoàn cảnh nhất định, họ không có tiếng nói chình trị, thậm chì còn bị tẩy chay sống biệt lập với xã hội
1.1.3 Nguyên nhân nghèo
Những nguyên nhân chình dẫn đến nghèo được liệt kê ra là chiến tranh,
cơ cấu chình trị (thì dụ như chế độ độc tài, các quy định thương mại quốc tế không công bằng), cơ cấu kinh tế (phân bố thu nhập không cân bằng, tham nhũng, nợ quá nhiều, nền kinh tế không có hiệu quả, thiếu những nguồn lực
có thể trả tiền được), thất bại quốc gia, tụt hậu về công nghệ, tụt hậu về giáo dục, thiên tai, dịch bệnh, dân số phát triển quá nhanh và không có bính đẳng nam nữ
Trang 28Yếu tố nguy hiểm chình cho sự nghèo tương đối là thất nghiệp và thiếu việc làm Ngoài ra những yếu tố nguy hiểm khác là phân bố thu nhập quá mất cân bằng, thiếu giáo dục và bệnh tật mãn tình
Cho đến thế kỷ XIX, sự nghèo nàn phần lớn không được xem như là có nguyên nhân từ xã hội mà là do lỗi lầm cá nhân hay "trời muốn" Cùng với công nghiệp hóa và các tranh cãi chung quanh "câu hỏi xã hội" tại châu Âu, quan điểm cho rằng hiện tượng nghèo nàn phổ biến là kết quả của sự thất bại của thị trường và có thể được làm giảm thiểu bằng các biện pháp quốc gia ë Anh, việc chống nghèo chình là khởi điểm của một chình sách xã hội hiện đại Thế nhưng trong thời gian gần đây hiệu quả của việc chống nghèo bằng chình sách xã hội tại nhiều nước công nghiệp đã bị đặt câu hỏi ví nhiều hính thức nghèo mới xuất hiện
1.2 Chuẩn nghèo trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Chuẩn nghèo trên thế giới
Hiện nay, không có một chuẩn mực chung về đói nghèo cho tất cả các quốc gia trên thế giới mà có sự biến đổi theo thời gian
Ngân hàng thế giới (WB) và tổ chức UNDP đưa ra chỉ số nghèo đói về con người (nghèo tương đối) là tính trạng thiếu thốn ở cả 3 khìa cạnh của cuộc sống: mức sống (mức thu nhập), tuổi thọ và kiến thức Các chỉ số này được hính thành bởi 4 tiêu chì: GDP thực tế bính quân đầu người( ngang giá sức mua PPP), tuổi thọ, tính trạng mù chữ của người lớn, tổng tỉ lệ nhập học
Để đo lường đói nghèo thu nhập, ngân hàng thế giới (WB) sau nhiều cuộc điều tra từ năm 1985 đến 1998 trên toàn cầu và sử dụng ước tình về ngang giá sức mua (PPP) đã đưa ra ngưỡng nghèo chung:
+ Đối với các nước có thu nhập thấp: < 1USD/ người/ ngày
+ Đối với các nước có thu nhập trung bính thấp: <2USD/ người/ ngày Đây là những chỉ báo về diễn biến toàn cầu chứ không đánh giá được những diễn biến ở phạm vi quốc gia ví mỗi nước có ngưỡng nghèo đặc thù và
có chỉ tiêu riêng
Trang 291.2.2 Chuẩn nghèo ở Việt Nam
1.2.2.1 Giai đoạn 2001 – 2005
Chỉ số nghèo đói chình thức theo tổng cục thống kê của Việt Nam( GSO) là tỉ lệ nghèo đói, có nghĩa là tỉ lệ người dân sống dưới mức chuẩn nghèo quốc gia Mức chuẩn nghèo của Việt Nam dựa trên chi tiêu đòi hỏi để cung cấp 2.100- 2.300 Calo/ người/ ngày, sử dụng rổ lương thực, thực phẩm của các hộ gia đính trong nhóm thứ 3 cộng với phụ cấp ngoài lương thực- thực phẩm tương đương với chi tiêu cho hàng hóa phi lương thực - thực phẩm của các hộ gia đính đó
Trong những thập kỷ vừa qua Việt Nam đã thực hiện các bước đáng kể trong xóa đói giảm nghèo về lương thực, thực phẩm cũng như về thu nhập
+ Tỉ lệ nghèo đói toàn quốc, được ước tình là tỉ lệ phần trăm tổng số dân dưới mức chuẩn nghèo quốc gia (Po) đã giảm 21% từ năm 1993 đến năm
1998 xuống còn 15,3% năm 2001 và 7% năm 2005
+ Chỉ số khoảng cách nghèo (P1) tình bằng tỉ lệ phần trăm thiếu hụt trong chi tiêu của mỗi cá nhân dưới mức chuẩn nghèo nhân với mức chuẩn nghèo
+ Mật độ nghèo đói có nghĩa là số lượng cá nhân nghèo đói trong một
xã Tại Việt Nam, các vùng đông dân cư có số lượng người sống dưới mức chuẩn nghèo quốc gia cao nhất Mật độ nghèo đói thấp ở các vùng có tỉ lệ nghèo đói cao So sánh mật độ dân số (số người/ km2) với mật độ nghèo đói (số người sống dưới mức chuẩn nghèo quốc gia/ km2) cho thấy mức độ tương quan cao giữa hai chỉ số này
* Các đặc tình khác của tính trạng nghèo: Các chỉ số định lượng quan trọng khác đánh giá đặc tình tính trạng nghèo gồm có chỉ số khoảng cách nghèo đói (P1) cho biết người dân nghèo như thế nào và độ trầm trọng của nghèo đói (P2) chình là phân bố thu nhập hoặc chi tiêu trong số người nghèo
và cho thấy rõ hơn khoảng cách nghèo lớn hơn giữa thu nhập cá nhân và mức chuẩn nghèo Tỉ lệ nghèo đói cao (Po) liên quan chặt chẽ và tỉ lệ thuận với
Trang 30khoảng cách nghèo đói (P1) và độ trầm trọng của nghèo đói (P2) Cả (P1) và (P2) đề cao ở các vùng mà (Po) cao Bởi vậy, ở các vùng có tỉ lệ nghèo đói cao thí tính trạng nghèo đói càng trầm trọng hơn và mức sống người dân càng thấp hơn nhiều so với mức chuẩn nghèo
Bảng 1.1 Chuẩn mức nghèo ở Việt Nam năm 1997 và giai đoạn 2001 - 2005
Địa bàn
Thu nhập người/ tháng
(1997)
Thu nhập người/ tháng (2001 - 2005)
Như vậy, chuẩn nghèo được Việt Nam áp dụng trong giai đoạn 2001-
2005 là 80.000 đồng/ người/tháng tại vùng nông thôn, miền núi và hải đảo, 100.000 đồng/ người/ tháng tại vùng nông thôn đồng bằng và 150.000 đồng/ ngưới/ tháng tại vùng thành thị
1.2.2.2 Giai đoạn 2006 – 2010
Thủ tướng Chình phủ đã ký Quyết định số 170/2005/QĐ - TTg ngày
8/7 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010
Quy định những người có mức thu nhập sau được xếp vào nhóm hộ nghèo:
- Thu nhập bính quân đầu người đối với khu vực nông thôn là dưới 200.000 đồng/người/tháng
- Thu nhập bính quân đầu người đối với khu vực thành thị là dưới 260.000 đồng/người/tháng
Tuy nhiên, với tính hính lạm phát như hiện nay chuẩn nghèo trên chưa đánh giá được đúng như thực tế Chuẩn mực nghèo đói của Việt Nam vẫn còn cách quá xa so với chuẩn mực do WB đưa ra với ngưỡng 1 USD/người/ngày
Trang 31Do đó, Việt Nam cần phải nỗ lực hơn nữa trong công cuộc xoá đói giảm nghèo để xây dựng chuẩn nghèo tiến tới ngưỡng chung của Thế giới
1.2.2.3 Giai đoạn 2011 - 2015
Ngày 30/01/2011, Thủ tướng Chình phủ đã ký Quyết định số 09/2011/QĐ
- TTg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn
2011 - 2015 Theo quyết định này chuẩn hộ nghèo và hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 như sau:
* Hộ nghèo: (i) Vùng nông thôn: Có mức thu nhập từ 400.000
đồng/người/tháng trở xuống; (ii) Vùng thành thị: Có mức thu nhập từ 500.000
đồng/người/tháng trở xuống
* Hộ cận nghèo: (i) Vùng nông thôn: Có mức thu nhập từ 401.000 -
520.000 đồng/người/tháng; (ii) Vùng thành thị: có mức thu nhập từ 501.000 -
650.000 đồng/người/tháng
Theo Bộ LĐTBXH, tỷ lệ hộ nghèo cả nước hiện nay ở mức 13% Nếu chuẩn nghèo mới được thông qua, tỷ lệ hộ nghèo sẽ tương đương với con số trên 20% Bộ LĐTBXH đã phối hợp với các Bộ liên quan nghiên cứu đề xuất phương án chuẩn nghèo trính Chình phủ phê chuẩn theo chỉ số thực tế giá cả năm 2008 Theo đó, ở nông thôn hộ nghèo có mức thu nhập bính quân từ 300.000 đồng/người/tháng trở xuống Ở thành thị, mức thu nhập từ 390.000 đồng trở xuống
1.2.2.4 Đánh giá về cách thay đổi chuẩn nghèo ở Việt Nam
Việc thay đổi chuẩn nghèo chình là để giúp người nghèo bớt khó khăn Hiện nay, chuẩn nghèo 260.000 đồng/tháng của đô thị nước ta không còn phù hợp Bởi ví trong những năm qua, giá lương thực, thực phẩm đã tăng đáng kể cộng với lạm phát cao Điều chỉnh chuẩn nghèo mới có thể phân loại xem thật
sự có bao nhiêu người nghèo
Chỉnh lại ngưỡng nghèo có ý nghĩa rất quan trọng ví người nghèo có một số “quyền” ìt ỏi về tiếp cận dịch vụ xã hội như chăm sóc sức khỏe, trợ cấp khó khăn Vì dụ, nếu thu nhập của một gia đính là 500.000 đồng/tháng,
Trang 32mức thấp nhất cho một hộ nghèo ở thành thị hiện nay, nhưng ví mức đó cao hơn chuẩn nghèo hiện tại là 390.000 đồng/tháng, thí hộ đó vẫn không được hưởng một số dịch vụ ưu đãi cho người nghèo
Chúng ta không “giấu nghèo”, khi điều chỉnh chuẩn nghèo tất nhiên sẽ
có thêm nhiều người nghèo mới và sẽ mất “thành tìch” xóa nghèo, nhưng bù lại, người nghèo sẽ được quan tâm, chăm lo nhiều hơn Mặt khác, chính quyền cũng cần biết chình xác còn bao nhiêu người nghèo, họ sống như thế nào để có kế hoạch cụ thể hỗ trợ, giúp đõ họ đỡ nghèo hơn TP Hồ Chì minh
đã nâng chuẩn nghèo lên 1 triệu đồng/tháng, nhưng một số thành phố, đô thị chưa làm ví ngân sách khó khăn
Chuẩn nghèo thời kỳ 2006 – 2010 không phản ánh giá tăng, lạm phát
và chi phì sinh hoạt thực tế Cần có một cách nhín, cách nghĩ “sáng sủa” hơn
về vấn đề người nghèo ở nước ta Việc điều chỉnh, nâng chuẩn nghèo phải coi
là một bước tiến chứ không phải bước thụt lùi của đất nước Thêm nhiều người nghèo theo chuẩn mới, có nghĩa là ngưỡng nghèo được nâng lên, “đáy” nghèo cũng cao hơn so với “vùng trũng” nghèo của khu vực và thế giới
Quan trọng hơn, chình quyền sẽ hiểu rõ chuẩn nghèo của địa phương
để phân bổ ngân sách và chuẩn bị nguồn lực thực hiện trách nhiệm đối với người nghèo Đặc biệt, ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chì Minh đối tượng người nhập cư nghèo chịu nhiều “tổn thương” Họ chưa thể đăng ký
cư trú và kiếm sống trong khu vực không chình thức nên rất khó “chạm” tay vào các dịch vụ an sinh xã hội Về nguyên tắc, người nhập cư có quyền đăng
ký tạm trú nhưng với điều kiện phải có hợp đồng thuê nhà hợp pháp Nơi họ ở thường không có điện, nước ổn định, nếu có thí phải chịu phì cao hơn Về lý thuyết, con cái họ có quyền đi học, được chăm sóc sức khỏe Tuy vậy, các trường học, bệnh viện ở các thành phố vốn đã quá tải, chưa thỏa mãn nổi nhu cầu của người dân địa phương, nói gí đến những người “di cư” ngoại tỉnh
Chuẩn nghèo quốc gia là mức chi phì cho một loạt nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng lương thực và phi lương thực thiết yếu, cho phép con người có một cuộc sống khỏe mạnh Theo đó, Chình phủ còn cần phải ưu tiên đầu tư
Trang 33mạnh mẽ hơn ở những huyện nghèo, xã nghèo để tạo cơ hội cho người nghèo
có điều kiện thoát khỏi tính trạng nghèo triền miên
Hiện nay, số người nghèo chủ yếu tập trung ở vùng nông thôn miền núi Nhiều hộ đã thoát khỏi danh sách này nhưng nguy cơ tái nghèo vẫn luôn rính rập, nhất là sau những đợt thiên tai, dịch bệnh
1.3.1 Ở Việt Nam
Theo số liệu của UN, năm 2004 tại Việt Nam, HDI của Việt Nam xếp hạng 112/177 nước, chỉ số phát triển giới xếp 87/144 nước và chỉ số nghèo tổng hợp xếp hạng 41/95 nước Theo số liệu điều tra hộ nghèo năm 2004 của
Bộ lao động thương binh và xã hội, nguyên nhân đói nghèo được người dân trả lời như sau: Thiếu vốn sản xuất (78%), thiếu kiến thức sản xuất (trên 70%), thiếu thông tin về thị trường (35%), thiếu đất sản xuất (29%), ốm đau bệnh t%), đông con (24%), không tím được việc làm (24%), rủi ro (5,9%), gia đính có người mắc tệ nạn xã hội (1%)
Bảng 1.2 Thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam
giai đoạn 2004 - 2010
GDP/người (nghìn đồng) 8.783 11.694 17.445 19.278 1.387 Quy đổi USD 561 730 1.052 1.064 1.061
Nguồn:[ 21 ]
Năm 2010, GDP/người/năm đạt 1.061 USD (khoảng 19,3 triệu đồng), vượt mốc 1000 USD dù chưa loại trừ yếu tố giảm giả Theo WB, nước có mức GDP/người/năm thấp hơn 875 USD/người/năm thuộc vào nhóm có thu nhập thấp, sau khi loại trừ yếu tố giảm giá thí Việt Nam vẫn
có mức GDP bính quân đầu người vượt qua mức của nhóm nước có thu nhập thấp, chuyển thành nước có thu nhập trung bính thấp
Căn cứ vào chuẩn nghèo quốc gia đã ban hành, tỉ lệ hộ nghèo và tỉ lệ nghèo chung đều giảm Xu hướng giảm diễn ra ở cả thành thị, nông thôn và các vùng Như vậy, dù chuẩn nghèo nào với chỉ tiêu thu nhập hay chi tiêu
Trang 34thí công cuộc XĐGN đã đạt được nhiều kết quả Tuy nhiên công tác XĐGN vẫn chưa thực sự vững chắc khi hơn 48% dân số Việt Nam còn sống dưới mức 2USD/người/ngày
Bảng 1.3 Tỉ lệ hộ nghèo ở Việt Nam giai đoạn 2004 - 2010
"40%" của WB Tiêu chuẩn này xét tỉ trọng tổng thu nhập của 40% số hộ
có thu nhập thấp nhất (nhóm 1 và nhóm 2) trong tổng thu nhập (của 5 nhóm) Nếu tỉ trọng này nhỏ hơn 12% thí bất bính đẳng là cao; nằm trong khoảng 12 - 17% là bất bính đẳng vừa; nếu lớn hơn 17% là tương đối bính đẳng Số liệu thống kê cho kết quả: Tỉ trọng này của Việt Nam năm 1999
là 18,7% và năm 2010 là 52,9% Trong 10 năm, sự chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm hộ từ tương đối bính đẳng đang tiến dần về bất bính đẳng vừa Tuy nhiên các chuyên gia Việt Nam nhận định, hệ thống an sinh xã hội nước ta không tác động giống nhau lên toàn bộ dân số, sự phát triển kinh tế kéo theo nâng cao an sinh xã hội nhưng không nâng mọi người lên một mức ngang nhau "Các hộ trong nhóm 20% giàu nhất nhận được khoảng 40% lợi ìch an sinh xã hội và các tác động tìch cực từ tăng trưởng kinh tế Trong khi đó, nhóm nghèo nhất chỉ nhận chưa tới 7%"
Trang 35Hệ số Gini (G) là một chỉ số khác thể hiện sự bất bính đẳng hay bất bính đẳng trong xã hội Hệ số G có trị số nằm trong khoảng từ 0 đến 1 Hệ
Đặc biệt, đói nghèo ở Việt Nam có sự phân hóa đặc biệt giữa khu vực thành thị - nông thôn và theo các vùng, nhóm dân tộc
Thứ nhất, ở khu vực thành thị: Tỉ lệ đói nghèo thấp hơn và mức sống
trung bính cao hơn so với mức chung của cả nước Tuy nhiên, mức độ cải thiện đời sống không đồng đều giữa các tầng lớp dân cư, một bộ phận người nghèo đô thị của nước ta công việc không ổn định, thu nhập thấp, một bộ phận khác do chuyển đổi cơ cơ cấu kinh tế, cổ phần hoá, cắt giảm lao động ở các công ty thuộc khu vực nhà nước đã dẫn đến thừa lao động, số lao động này phải chuyển sang làm các công việc khác với mức lương thấp hơn hoặc không tím được việc làm và trở thành thất nghiệp Họ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, phải chịu nhiều thiệt thòi, ìt có cơ hội tiếp cận với các dịch
vụ xã hội, hơn thế nữa họ phải "chi trả cho các dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục ở mức cao hơn sơ với người dân có hộ khẩu"
Trang 36Thứ hai, ở khu vực nông thôn: Đây là khu vực có lượng người nghèo
đông nhất Đặc điểm nổi bật ở nông thôn kinh tế chủ yếu là phát triển nông nghiệp, đất đai manh mún Tỉ lệ hộ nghèo ở nông thôn năm 2010 vẫn cao chiếm 17,4% cao gấp 2,5 lần thành thị (6,9%) và gấp 1,2 lần so với trung bính cả nước
Thứ ba, theo nhóm dân tộc: Tính trạng nghèo khổ diễn ra ở tất cả các
nhóm dân tộc Nhưng trong đó nhóm Kinh – Hoa có trính độ phát triển kinh tế cao hơn nên có tỉ lệ hộ nghèo ìt, thấp hơn rất nhiều so với nhóm dân tộc khác
Bắc Trung Bộ
và duyên hải miền Trung
sông Cửu Long
Trang 37(ii) Tốc độ giảm nghèo có xu hướng chậm lại Một số động lực cho XĐGN không còn tác dụng mạnh mẽ như giai đoạn đầu như chình sách đất đai, giao đất giao rừng, chình sách khoán 10 trong nông nghiệp
(iii) Chênh lệch về thu nhập có xu hướng gia tăng Sự gia tăng khoảng cách nghèo sẽ làm cho tính trạng nghèo tương đối trở lên khó khăn hơn
(iv) Hộ nghèo có xu hướng tập trung rõ rệt ở một số vùng địa lì và một nhóm đối tượng (DTTS)
+ Tỷ lệ hộ nghèo tập trung chủ yếu ở những vùng khó khăn, có nhiều yếu tố bất lợi như điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, kết cấu hạ tầng thấp kém, trính độ dân trì thấp, trính độ sản xuất manh mún, sơ khai Đây là những điều kiện cơ bản làm gia tăng yếu tố tái nghèo và tạo ra sự không đồng đều trong tốc độ giảm nghèo giữa các vùng Các vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên có tốc độ giảm nghèo nhanh nhất, song đây cũng là những vùng có tỷ
Nguyên nhân dẫn đến đói nghèo ở Việt Nam hết sức đa dạng Tuỳ điều kiện tự nhiên, dân cư cụ thể mà các nguyên nhân đói nghèo không giống nhau giữa các vùng
Nhóm nguyên nhân do điều kiện tự nhiên: Khì hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lụt, hạn hán, đất đai xấu, địa hính phức tạp, giao thông khó khăn
Nhóm nguyên nhân do hạn chế chủ quan của người nghèo: Thiếu kiến thức làm ăn, thiếu vốn sản xuất, đông con, thiếu lao động, thiếu việc làm, lười lao động và mắc vào các tệ nạn xã hội
Trang 38Nhóm nguyên nhân do cơ chế chình sách: Thiếu hoặc không đồng bộ
về chình sách đầu tư và khuyến nông, lâm ngư, về vốn tìn dụng, giáo dục đào tạo, y tế, chình sách đất đai, định canh, định cư, kinh tế mới
Riêng vùng DTTS, nguyên nhân đói nghèo có một số khác biệt Chủ yếu do sự gia tăng dân số quá mức theo cả hai hướng tự nhiên và cơ học dẫn đến thiếu đất nông nghiệp, lại do đất xấu dẫn đến năng suất và thu nhập thấp Môi trường xuống cấp, dẫn đến điều kiện sống và sản xuất ngày một khó khăn hơn Sự suy giảm diện tìch rừng, đất đai bị suy thoái, nguồn nước ìt dần, khì hậu thay đổi theo hướng tiêu cực, tình đa dạng sinh học bị phá vỡ, là nguyên nhân làm cho điều kiện sống và sản xuất ngày càng xuống cấp Tập quán chi tiêu thiếu kế hoạch cũng là nguyên nhân gây nên đói nghèo phổ biến ở vùng dân tộc thiểu số Người dân chịu nhiều rủi ro trong cuộc sống, sản xuất mà chưa có các thiết chế phòng ngừa hữu hiệu, dễ tái nghèo trở lại như thiên tai, dịch bệnh, sâu hại, tai nạn giao thông, tai nạn lao động, thất nghiệp, …
1.3.2 Ở vùng TDMNPB
Vùng Trung du - miền núi phía Bắc (TDMNPB) gồm 15 tỉnh (Cao Bằng, Bắc Kạn , Lạng Sơn , Thái Nguyên , Hà Giang , Tuyên Quang , Bắc Giang, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ , Quảng Ninh, Lai Châu, Điện Biên, Sơn
La, Hoà Bính), chiếm 30,6% diện tìch (101.437,8 km2) và 14,2% dân số cả nước (12.328,8 nghín người - 2010)
Bên cạnh những thành tựu của công cuộc XĐGN thí ở vùng miền núi
cao là nơi sự phân hóa giàu nghèo ngày càng diễn ra gay gắt và dễ dàng nhận
thấy thông qua điều tra về thu nhập bính quân đầu người/ tháng, chỉ số tiêu dùng điện và nước sinh hoạt, số trẻ được tới trường… Tỉ lệ dân số chưa có những phương tiện sinh hoạt cần thiết còn cao
Sự phát triển đã tạo ra sự phân hóa xã hội giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội Bên cạnh tầng lớp nghèo nhính thành các tầng lớp dân cư giàu
có Những người giàu có mức thu nhập cao và mức sống cũng cao Xét về thực chất mức sống cao ấy cũng là kết quả của việc khai thác các nguồn tài nguyên môi trường sống chung của xã hội Mức tiêu dùng cao đòi hỏi mức
Trang 39khai thác các nguồn tài nguyên cũng cao Điều này làm cạn kiệt và xuống cấp ngày càng tăng với các tài nguyên có thể khôi phục được và đặc biệt là các tài nguyên k thể phục hồi được Khi mà hệ thống sản xuất được đẩy lên để đáp ứng cho nhu cầu sống tăng lên gấp bội sẽ sinh ra ô nhiễm đối với môi trường
Sự tăng trưởng tiêu dùng nhanh cho một số người sẽ gây bất lợi đối với người khác, tạo ra sự bất bính đẳng về mặt xã hội và cái giá phải trả sẽ rất lớn Sự tiêu dùng của những người giàu gây ra sự tàn phá về môi trường lại trút hậu quả nghiêm trọng đối với người nghèo
Tuy nhiên có sự chênh lệch lớn về mật độ dân số giữa vùng Đông Bắc
và Tây Bắc Mật độ dân số trung bính toàn vùng là 117 người/km2 Theo dự báo đến năm 2024, dân số trong vùng sẽ tăng lên 14.062,1 nghín người (theo phương án thấp – mức sinh giảm) và 15.372,8 nghín người (theo phương án trung bình – mức sinh không đổi) Sự phân bố không đồng đều là đặc điểm chung trên bản đồ dân cư của vùng
Đại bộ phận dân số sống ở nông thôn Tỷ lệ dân sống ở thành thị rất thấp, chỉ chiếm khoảng 19,8% trong khi đó tỷ lệ dân sống thành thị trung bính của cả nước là 30,5% năm 2010 Theo báo cáo chiến lược phát triển con người Việt Nam năm 2004, chỉ số phát triển con người (HDI) giữa các vùng Đông Bắc, Tây Bắc có sự chênh lệch đáng kể so với cả nước Tỷ lệ hộ nghèo của vùng cao nhất so với cả nước (29,4% so với 14,2%) Điều này phản ánh thực tế
là đời sống của người dân trong vùng vẫn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn
Bảng 1.5 Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá thực tế
Trang 40được triển khai rộng rãi rong khuân khổ chương trính 135 Cơ sở hạ tầng của nông thôn được cải thiện đáng kể Các bản dân tộc, định canh, định cư nhất là các vùng tái định cư của các dự án xây dựng thủy điện Tuyên Quang, thủy điện Sơn La được quy hoạch gọn gàng, đẹp mắt, vừa giữ được nét đẹp của văn hóa dân tộc, vừa đảm bảo được đời sống và sản xuất của dân bản
Trong thời kỳ đổi mới, cơ cấu kinh tế của vùng TDMNPB có sự chuyển biến tìch cực theo hướng giảm dần tỉ trọng nông – lâm – ngư nghiệp
và tăng dần tỉ trọng khu vực công nghiệp – xây dựng, dịch vụ Mặc dù so với tính hính chung cả nước, tốc độ chuyển dịch như vậy còn khiêm tốn, quá trính phân công lao động theo ngành và theo lãnh thổ diễn ra chậm chạp, nền kinh
tế vẫn trong tính trạng chậm phát triển Hơn nữa, sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế giữa hai tiểu vùng Đông Bắc và Tây Bắc, trung du và miền núi, giữa các tỉnh khác nhau Quảng Ninh là tỉnh có cơ cấu kinh tế tiến bộ nhất Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn do thiếu quy hoạch và chưa chủ động được thị trường
210.4
287.5
360.6 390.7
412.6 363.1