1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu về cán cân thanh toán của việt nam và các nguyên nhân cũng như giải pháp cho sự thâm hụt cán cân thương mại quốc tế của việt nam

40 418 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 338 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tìm hiểu về cán cân thanh toán của việt nam và các nguyên nhân cũng như giải pháp cho sự thâm hụt cán cân thương mại quốc tế của việt nam

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế mở, mối quan hệ giữa các quốc gia là rất phong phú

và đa dạng Hệ quả của các mối quan hệ này làviệc các nước phải chi trả chonhau, nghĩa là các quốc gia luôn phát sinh các khoản thu chi với các quốcgia khác Để theo dõi và phân tích các khoản thu chi này, từng quốc gia đãlập bảng cân đối gọi là Cán cân thanh toán quốc tế

Trong bối cảnh thị trường thế giới nhiều biến động.Việc Việt Nam gianhập WTO đánh dấu một bước phát triển mới của kinh tế nước nhà Bướcsang giai đoạn phát triển mới, Việt Nam hiện đang đối mặt với nhiều tháchthức và cơ hội phát triển mới Trong những năm vừa qua, nền kinh tế ViệtNam đã có những bước phát triển nhất định và đạt được nhiều thành tựu.Môi trường kinh doanh tại Việt Nam đã có nhiều tiến bộ đáng kể nhưng bêncạnh đó còn có rất nhiều vấn đề phải giải quyết để môi trường kinh doanh đótrở nên thuận lợi hơn nữa và thu hút hơn nữa với các doanh nghiệp và cácnhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài Theo các báo cáo của IMF, Cáncân thanh toán quốc tế của Việt Nam luôn bị thâm hụt Dưới đây, chúng ta

sẽ tìm hiểu về cán cân thanh toán của Việt Nam và các nguyên nhân cũngnhư giải pháp cho sự thâm hụt cán cân thương mại quốc tế của Việt Nam

Trang 2

CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ

1 LÝ LUẬN

1.1 Định nghĩa

Cán cân thanh toán, hay cán cân thanh toán quốc tế, ghi chép nhữnggiao dịch kinh tế của một quốc gia với phần còn lại của thế giới trong mộtthời kỳ nhất định Những giao dịch này có thể được tiến hành bởi các cánhân, các doanh nghiệp cư trú trong nước hay chính phủ của quốc gia đó.Đối tượng giao dịch bao gồm các loại hàng hóa, dịch vụ, tài sản thực, tài sảntài chính, và một số chuyển khoản Thời kỳ xem xét có thể là một tháng, mộtquý, song thường là một năm Những giao dịch đòi hỏi sự thanh toán từ phíangười cư trú trong nước tới người cư trú ngoài nước được ghi vào bên tài sản

nợ Các giao dịch đòi hỏi sự thanh toán từ phía người cư trú ở ngoài nướccho người cư trú ở trong nước được ghi vào bên tài sản có

1.2 Kết cấu và các cán cân bộ phận của BP

1.2.1 Các thành phần của cán cân thanh toán

Theo quy tắc mới về biên soạn biểu cán cân thanh toán do IMF đề ranăm 1993, cán cân thanh toán của một quốc gia bao gồm bốn thành phần sau:

 Tài khoản vãng lai: Tài khoản vãng lai ghi lại các giao dịch về hànghóa, dịch vụ và một số chuyển khoản

 Tài khoản vốn : Tài khoản vốn ghi lại các giao dịch về tài sản thực vàtài sản tài chính

 Thay đổi trong dự trữ ngoại hối nhà nước

Trang 3

 Mức tăng hay giảm trong dự trữ ngoại hối của ngân hàng trung ương.

Do tổng của tài khoản vãng lai và tài khoản vốn bằng 0 và do mục sai

số nhỏ, nên gần như tăng giảm cán cân thanh toán là do tăng giảm dựtrữ ngoại hối tạo nên

 Mục sai số

Do ghi chép đầy đủ toàn bộ các giao dịch trong thực tế, nên giữa phầnghi chép được và thực tế có thể có những khoảng cách Khoảng cách nàyđược ghi trong cán cân thanh toán như là mục sai số

1.2.2 Các bộ phận của cán cân thanh toán

 Cán cân vãng lai (current balance)

 Cán cân vốn (capital balance)

 Cán cân bù đắp chính thức (official finacing balance)

 Cán cân cơ bản (basic balance)

 Cán cân tổng thể (overall balance)

1.2.2.1 Cán cân vãng lai

Tài khoản vãng lai (còn gọi là cán cân vãng lai) trong cán cân thanh toán

của một quốc gia ghi chép những giao dịch về hàng hóa và dịch vụ giữangười cư trú trong nước với người cư trú ngoài nước Những giao dịch dẫntới sự thanh toán của người cư trú trong nước cho người cư trú ngoài nướcđược ghi vào bên "nợ" (theo truyền thống kế toán sẽ được ghi bằng mực đỏ).Còn những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của người cư trú ngoài nước chongười cư trú trong nước được ghi vào bên "có" (ghi bằng mực đen) Thặng

dư tài khoản vãng lai xảy ra khi bên có lớn hơn bên nợ

Theo quy tắc mới về biên soạn báo cáo cán cân thanh toán quốc gia doIMF soạn năm 1993, tài khoản vãng lai bao gồm:

Trang 4

1.2.2.1.1 Cán cân thương mại hàng hóa

Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cânthanh toán quốc tế Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuấtkhẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định(quý hoặc năm) cũng như mức chênh lệch (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) giữachúng Khi mức chênh lệch là lớn hơn 0, thì cán cân thương mại có thặng

dư Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, thì cán cân thương mại cóthâm hụt Khi mức chênh lệch đúng bằng 0, cán cân thương mại ở trạng tháicân bằng

Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dưthương mại Khi cán cân thương mại có thặng dư, xuất khẩu ròng/thặng dưthương mại mang giá trị dương Khi cán cân thương mại có thâm hụt, xuấtkhẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị âm Lúc này còn có thể gọi làthâm hụt thương mại Tuy nhiên, cần lưu ý là các khái niệm xuất khẩu, nhậpkhẩu, xuất khẩu ròng, thặng dư/thâm hụt thương mại trong lý luận thươngmại quốc tế rộng hơn các trong cách xây dựng bảng biểu cán cân thanh toánquốc tế bởi lẽ chúng bao gồm cả hàng hóa lẫn dịch vụ

Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại :

+ Nhập khẩu: có xu hướng tăng khi GDP tăng và thậm chí nó còn tăngnhanh hơn Sự gia tăng của nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc xu hướngnhập khẩu biên (MPZ) MPZ là phần của GDP có thêm mà người dân muốnchi cho nhập khẩu Ví dụ, MPZ bằng 0,2 nghĩa là cứ 1 đồng GDP có thêmthì người dân có xu hướng dùng 0,2 đồng cho nhập khẩu Ngoài ra, nhậpkhẩu phụ thuộc giá cả tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hànghóa sản xuất tại nước ngoài Nếu giá cả trong nước tăng tương đối so với giáthị trường quốc tế thì nhập khẩu sẽ tăng lên và ngược lại Ví dụ: nếu giá xa

Trang 5

đạp sản xuất tại Việt Nam tăng tương đối so với giá xe đạp Nhật Bản thìngười dân có xu hướng tiêu thụ nhiều xe đạp Nhật Bản hơn dẫn đến nhậpkhẩu mặt hàng này cũng tăng

+ Xuất khẩu: chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại các quốcgia khác vì xuất khẩu của nước này chính là nhập khẩu của nước khác Dovậy nó chủ yếu phụ thuộc vào sản lượng và thu nhập của các quốc gia bạnhàng Chính vì thế trong các mô hình kinh tế người ta thường coi xuất khẩu

là yếu tố tự định

+ Tỷ giá hối đoái: là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnhhưởng đến giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóatrên thị trường quốc tế Khi tỷ giá của đồng tiền của một quốc gia tăng lênthì giá cả của hàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên rẻ hơn trong khi giá hàng xuấtkhẩu lại trở nên đắt đỏ hơn đối với người nước ngoài Vì thế việc tỷ giá đồngnội tệ tăng lên sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu và thuận lợi cho nhập khẩu dẫnđến kết quả là xuất khẩu ròng giảm Ngược lại, khi tỷ giá đồng nội tệ giảmxuống, xuất khẩu sẽ có lợi thế trong khi nhập khẩu gặp bất lợi và xuất khẩuròng tăng lên Ví dụ, một bộ ấm chén sứ Hải Dương có giá 70.000 VND vàmột bộ ấm chén tương đương của Trung Quốc có giá 33 CNY (Nhân dântệ) Với tỷ giá hối đoái 2.000 VND = 1 CNY thì bộ ấm chén Trung Quốc sẽđược bán ở mức giá 66.000 VND trong khi bộ ấm chén tương đương củaViệt Nam là 70.000 VND Trong trường hợp này ấm chén nhập khẩu từTrung Quốc có lợi thế cạnh tranh hơn Nếu VND mất già và tỷ giá hối đoáithay đổi thành 2.300 VND = 1 CNY thì lúc này bộ ấm chén Trung Quốc sẽđược bán với giá 75.900 VND và kém lợi thế cạnh tranh hơn so với ấm chénsản xuất tại Việt Nam

Tác động của cán cân thương mại đến GDP :

Trang 6

Đối với một nền kinh tế mở, cán cân thương mại có hai tác động quantrọng: xuất khẩu ròng bổ sung vào tổng cầu (AD) của nền kinh tế; số nhânđầu tư tư nhân và số nhân chi tiêu chính phủ khác đi do một phần chi tiêu bị

"rò rỉ" qua thương mại quốc tế

Xuất khẩu ròng và GDP cân bằng

1.2.2.1.2 Cán cân thương mại phi hàng hóa

- Cán cân dịch vụ :

Bao gồm các khoản thu chi từ các dịch vụ về vận tải, du lịch, bảo hiểm,bưu chính, viễn thông, ngân hàng, thông tin xây dựng và các hoạt động khácgiữa người cư trú với người không cư trú Giống như xuất nhập khẩu hànghoá xuất khẩu dịch vụ làm phát sinh cung ngoại tệ nên nó được ghi vào bên

co và có dấu dương; nhập khẩu ngoại tệ làm phát sinh cầu ngoại tệ Cácnhân tố ảnh hưởng lên giá trị xuất khẩu dịch vụ cũng giống như các nhân tố

Trang 7

ảnh hưởng lên giá trị xuất nhập khẩu dịch vụcũng giống như các nhân tố ảnhhưởng lên giá trị xuất nhập khẩu hàng hoá

- Cán cân thu nhập :

+ Thu nhập người lao động: là các khoản tiền lương, tiền thưởng và cáckhoản thu nhập khác bằng tiền hiện vật người cư trú trả cho người không cưtrú hay ngược lại.các nhân tố ảnh hưởng lên thu nhập của người lao động ởnước ngoài

+ Thu nhập về đầu tư: là các khoản thu từ lợi nhuận đầu tư trực tiếp, lãi

từ đầu tư giấy tờ có giá và các khoản lãi đến han phải trả của các khoản vaygiữa người cư trú và không cư trú

- Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều :

Các khoản viện trợ không hoàn lại, quà tặng, quà biếu và các khoảnchuyển giao khác bằng tiền, hiện vật cho mục đích tiêu dùng do ngườikhông cư trú chuyển cho người không cư trú và ngược lại Các khoảnchuyển giao vãng lai một chiều phản ánh sự phân phối lại thu nhập giữangười cư trú với người không cư trú các khoản thu làm phát sinh cung ngoại

tệ (cầu nội tệ) nên được ghi vào bên có (+), các khoản chi làm phát sinh cầungoại tệ nên được ghi vào bên nợ (-) Nhân tố chính ảnh hưởng lên chuyểngiao vãng lai một chiều là lòng tốt, tình cảm giữa người cư trú và ngườikhông cư trú

Chúng ta thấy rằng cán cân dịch vụ, thu nhập và chuyển giao vãng laimột chiều không thể quan sát bằng mắt thường nên chúng được gọi là cáncân vô hình (invisible) Như vậy, cán cân vãng lai có thể biểu diễn :

Cán cân vãng lai = cán cân hữu hình +cán cân vô hình

Tóm lại, các khoản thu nhập của người cư trú từ người không cư trúlàm phát sinh cung ngoại tệ nên dược ghi vào bên có và các khoản thu nhập

Trang 8

trả cho người không cư trú làm phát sinh cầu ngoại tệ nên được ghi vào bên

nợ Tất cả các khoản thanh toán của các bộ phận nhà nước hay tư nhân đềuđược gộp chung vào trong tính toán này.Đối với phần lớn các quốc gia thìcán cân thương mại là thành phần quan trọng nhất trong tài khoản vãng lai.Tuy nhiên, đối với một số quốc gia có phần tài sản hay tiêu sản ở nước ngoàilớn thì thu nhập ròng từ các khoản cho vay hay đầu tư có thể chiếm tỷ lệ lớn

Vì cán cân thương mại là thành phần chính của tài khoản vãng lai, vàxuất khẩu ròng thì bằng chênh lệch giữa tiết kiệm trong nước và đầu tư trongnước, nên tài khoản vãng lai còn được thể hiện bằng chênh lệch này

Cùng với tài khoản vốn, và thay đổi trong dự trữ ngoại hối, nó hợpthành cán cân thanh toán.Tài khoản vãng lai thặng dư khi quốc gia xuất khẩunhiều hơn nhập khẩu, hay khi tiết kiệm nhiều hơn đầu tư Ngược lại, tàikhoản vãng lai thâm hụt khi quốc gia nhập nhiều hơn hay đầu tư nhiều hơn.Mức thâm hụt tài khoản vãng lai lớn hàm ý quốc gia gặp hạn chế trong tìmnguồn tài chính để thực hiện nhập khẩu và đầu tư một cách bền vững Theocách đánh giá của IMF, nếu mức thâm hụt tài khoản vãng lai tính bằng phầntrăm của GDP lớn hơn 5, thì quốc gia bị coi là có mức thâm hụt tài khoảnvãng lai không lành mạnh

1.2.2.2 Cán cân vốn

Tài khoản vốn (còn gọi là cán cân vốn) là một bộ phận của cán cânthanh toán của một quốc gia Nó ghi lại tất cả những giao dịch về tài sản(gồm tài sản thực như bất động sản hay tài sản tài chính như cổ phiếu, tráiphiếu, tiền tệ) giữa người cư trú trong nước với người cư trú ở quốc giakhác Khi những tuyên bố về tài sản nước ngoài của người sống trong nướclớn hơn tuyên bố về tài sản trong nước của người sống ở nước ngoài, thì

Trang 9

quốc gia có thặng dư tài khoản vốn (hay dòng vốn vào ròng) Theo quy ước,dòng vốn vào ròng phải bằng thâm hụt tài khoản vãng lai.

Tài khoản tài chính (hay tài khoản đầu tư) là một bộ phận của tài khoảnvốn ghi lại những giao dịch về tài sản tài chính

Tài khoản vốn và lãi suất:

Giả sử ban đầu tài khoản vốn cân bằng tương ứng với mức lãi suấttrong nước r Khi lãi suất tăng lên mức r’, tài khoản vốn trở nên thặng dư

Nếu lãi suất hạ xuống mức r, tài khoản vốn trở nên thâm hụt Vì vốn có quan

hệ mật thiết với lãi suất Vì thế, cân đối tài khoản vốn cũng có quan hệ mậtthiết với lãi suất

Khi lãi suất trong nước tăng lên, đầu tư vào trở nên hấp dẫn hơn, vì thếdòng vốn vào sẽ gia tăng, trong khi đó dòng vốn ra giảm bớt Cán cân tàikhoản vốn, nhờ đó, được cải thiện Ngược lại, nếu lãi suất trong nước hạxuống, cán cân vốn sẽ bị xấu đi

Khi lãi suất ở nước ngoài tăng lên, cán cân tài khoản vốn sẽ bị xấu đi

Và, khi lãi suất ở nước ngoài hạ xuống, cán cân vốn sẽ được cải thiện

Tài khoản vốn và tỷ giá hối đoái:

Trang 10

Khi đồng tiền trong nước lên giá so với ngoại tệ, cũng có nghĩa là tỷ giáhối đoái danh nghĩa giảm, dòng vốn vào sẽ giảm đi, trong khi dòng vốn ratăng lên Hậu quả là, tài khoản vốn xấu đi Ngược lại, khi đồng tiền trongnước mất giá (tỷ giá tăng), tài khoản vốn sẽ được cải thiện.

1.2.2.3 Cán cân cơ bản

Như đã phân tích ở trên, cán cân vãng lai ghi chép các hạng mục về thunhập, mà đặc trưng của chúng là phản ánh mối quan hệ sở hữu về tài sảngiữa người cư trú với người không cư trú Chính vì vậy tình trạng của cáncân vãng lai có ảnh hưởng lâu dài đến sự ổn định của nền kinh tế mà đặc biệt

là lên tỉ giá hối đoái của nền kinh tế

Tổng của cán cân vãng lai và cán cân dài hạn gọi là cán cân cơ bản.Tính chất ổn định của cán cân cơ bản ảnh hưởng lâu dài đến nền kinh tế và tỉgiá hối đoái Chính vì vậy cán cân cơ bản được các nhà phân tích và hoạchđịnh chính sách kinh tế quan tâm

Cán cân cơ bản = các cân vãng lai +cán cân vốn dài hạn

Những hạng mục hay thay đổi như vốn ngắn hạn và thay đổi dự trữ ngoại

1.2.2.4 Cán cân tổng thể (overall balance)

Nếu công tác thống kê đạt mức chính xác tuyệt đối (tức nhầm lẫn và saisót bằng không ) thì cán cân tổng thể bằng tổng của cán cân vãng lai và cáncân vốn Trong thực tế do có rất nhiều vấn đề phức tạp về thống kê trong quátrình thu nhập số liệu và lập BP do đó thường phát sinh những nhầm lẫn vàsai sót Do đó cán cân tổng thể được điều chỉnh lại bằng tổng của cán cânvãng lai và cán cân vốn và hạng mục sai sót trong thống kê Ta có :

Cán cân tổng thể = cán cân vãng lai +cán cân vốn + nhầm lẫn và sai sót

1.2.2.5 Cán cân bù đắp chính thức(official finacing balance)

Trang 11

Cán cân bù đắp chính thức (OFB) bao gồm các hạng mục :

- Thay đổi dự trữ ngoại hối quốc gia (ΔR)R)

- Tín dụng với IMF và các ngân hàng trung ương khác (L)

- Thay đổi dự trữ của các ngân hàng trung ương khác bằng đồng tiềncủa quốc gia lập cán cân thanh toán (≠)

OFB = ΔR)R + L + ≠

Một thực tế rằng, khi dự trữ ngoại hối tăng thì chúng ta ghi nợ (-) vàgiảm thì ghi có (+), do đó nhầm lẫn thường xảy ra ở đây Điều này được giảithích như sau :

Chúng ta hình dung, quốc gia việt nam được chia thành hai bộ phậngồm : NHTW và phần còn lại không bao gồm NHTW (gọi là nền kinh tế -NKT) Tiêu chí để phân thành NHTW và NKT là: NHTW có chức năng canthiệp lên cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối, còn nền kinh tế thìkhông có chức năng can thiệp Theo quy tắc BP được lập trên cơ sở của nềnkinh tế, do đó, các hoạt động can thiệp của NHTW trên thị trường ngoại hối(mua bán nội tệ) nhằm tác động lên nền kinh tế, được xem là quan hệ giữangười cư trú với người không cư trú Khi NHTW can thiệp bán ngoại tệ ra,làm cho dự trữ ngoại hối giảm, đồng thời làm tăng cung nội tệ cho nền kinh

tế, do đó ta phải ghi có(+) Khi NHTW can thiệp mua ngoại tệ vào làm cho

dự trữ ngoại hối tăng, đồng thời làm tăng cầu ngoại tệ đối với NKT , do đó

Trang 12

Đẳng thức cuối cùng cho thấy số dư của hạng mục nhầm lẫn và sai sótchính là độ lệch giữa cán cân bù đắp chính thức và tổng của cán cân vãng lai

và cán cân vốn Bởi vì cán cân bù đắp chính thức , cán cân vãng lai và cáncân vốn luôn được xác định (luôn thể hiện là một số cụ thể trên BP ), do đóđẳng thức trên được áp dụng số dư nhầm lẫn và sai sót khi lập BP trong thựctế

1.3 Thặng dư và thâm hụt BP

- Khái niệm:

BP được lập theo nguyên tắc hạch toán kép, do đó tổng các bút toán ghi

có luôn bằng tổng các bút toán ghi nợ, nhưng có dấu ngược nhau Điều này

có nghĩa là, về tổng thể thì BP luôn được cân bằng Do đó nói đến thặng dư,thâm hụt BP là nói đến thặng dư thâm hụt của một hoặc của một nhóm cáccán cân bộ phận chứ không nói đến toàn bộ cán cân

Về mặt nguyên tắc, thặng dư hay thâm hụt của BP được xác định theo haiphương pháp:

 Phương pháp xác định thặng dư thâm hụt của từng cán cân bộphận

Cán cân thương mại thặng dư: X > M, cho biết:

- Thu từ người không cư trú > chi cho người không cư trú

- Cung ngoại tệ > cầu ngoại tệ

Trang 13

Cán cân thương mại thâm hụt: X < M, cho biết:

- Thu từ người không cư trú < chi cho người không cư trứ

- Cung ngoại tệ < cầu ngoại tệ

Việc phân tích diễn biến cán cân thương mại có vai trò to lớn trong nềnkinh tế, bởi vì: Cán cân thương mại là bộ phận chính cấu thành cán cân vãnglai Cán cân thương mại phản ánh kịp thời xu hướng vận động của cán cânvãng lai Điều này xảy ra là vì, cơ quan hải quan thường cung cấp kịp thờicác số liệu về xuất nhập khẩu hàng hóa, trong khi đố việc thu thập các sốliệu về dịch vụ, thu nhập và chuyển giao vãng lai thường diễn ra chậm hơn,tức là có một độ lệch về thời gian nhất định

Do tầm quan trọng của cán cân thương mại, cho nên hầu hết các nướcphát triển thường công bố tình trạng cán cân này hàng tháng

1.3.2 Thặng dư và thâm hụt cán cân vãng lai

Cán cân vãng lai bao gồm cán cân “Hữu hình” và “Vô hình’, nên nhìntổng thể thì nó quan trọng hơn cán cân thương mại

Công thức xác định:

CA = TB + Se + Ic + Tr = Kl + Ks+ R

- Cán cân vãng lai thặng dư khi: ( X – M + Se + Ic + Tr ) > 0

Cán cân vãng lai thặng dư (CA > 0) có nghĩa thu từ người không cư trúlớn hơn so với chi cho người không cư trú Điều này có nghĩa là giá trị ròngcủa các giấy tờ có giá do người không cư phát hành nằm trong tay người cưtrú tăng lên.cung ngoại tề lớn hơn cầu ngoại tệ

- Cán cân vãng lai thâm hụt khi: ( X – M + Se + Ic + Tr ) < 0

Cán cân vãng lai thâm hụt ( CA < 0) có nghĩa là thu nhập của người cư trú từngười không cư trú là thấp hơn so với chi cho người không cư trú Điều này

có nghĩa là giá trị ròng của các giấy tờ có giá do người không cư trú phát

Trang 14

hành nằm trong tay người cư trú giảm xuống cung ngoại tệ nhỏ hơn cầungoại tệ

- Hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng, trạng thái cán cân vãng lai là lýtưởng để phân tích trạng thái nợ nước ngoài của quốc gia Lý do có thể đượcgiả thích như sau: Trạng thái cán cân vãng lai có mối liên hệ trực tiếp vớitrạng thái tổng nợ nước ngoài của một quốc gia Cán cân vãng lai cân bằngnói lên rằng tổng nợ nước ngoài của quốc gia là không đổi ( quốc gia không

là chủ nợ và cũng không là con nợ ) Cán cân vãng lai thặng dư phản ánh tàisản có ròng của quốc gia đối với phần thế giới còn lại được tăng lên ( vị thếquốc gia là chủ nợ ) Ngược lại cán cân vãng lai thâm hụt phản ánh tài sản

nợ ròng của quốc gia đối với nước ngoài tăng lên ( vị thế quốc gia là connợ)

CA = 0, trong dài hạn

Theo giả thiết cán cân vãng lai cân bằng, nghĩa là:

( X- M + Se + Ic + Tr ) = 0

Vì trong dài hạn hiệu ứng can thiệp của NHTW mang tính trung lập do

đó chúng ta có thể coi dự trữ ngoại hối của NHTW thay đổi là bằng 0, tức:

R= 0

- Kl + Ks = 0.có 2 khả năng xảy ra

+ TH1: Kl < 0 và Ks > 0 nếu luồng vốn ngắn hạn chảy vào cànglớn và được cân đối bởi luồng vốn dài hạn chảy ra, có thể làm cho năng lựcthanh toán của quốc gia trong tương lai bị đe dọa, dẫn đến áp lực tăng ápsuất và giảm giá nội tệ

+ TH2: Kl > 0 và Ks < 0 nếu luồng vốn dài hạn chảy vào càng lớn

và được cân đối bởi luồng vốn ngắn hạn chảy ra, thì sẽ tạo ra môi trường

Trang 15

kinh tế vĩ mô ổn định hơn để duy trì ổn định tỷ giá, lãi suất va thực hiệnchiến lược phát triển kinh tế quốc gia.

CA = 0 trong ngắn hạn

Trong ngắn hạn, các khoản đầu tư dài hạn coi như không đổi, nghĩa là Kl

=0

Ks + R = 0 có 2 khả năng xảy ra:

+ TH1: R > 0 và Ks < 0 Dây là trạng thái khi vốn ngắn hạn chảy rađược bù đắp bởi sự giảm sút của dự trữ ngoại hối quốc gia Trong thực tếtình huống này có thể xảy ra trong ngắn hạn, khi NHTW nỗ lực cân đối cácluồng vốn ngắn hạn có tính đầu cơ chảy ra nước ngoài bằng cách can thiệpbán dự trữ trên thị trường noại hối nhằm bảo vệ tỷ giá, tức ngăn ngừa nội tệgiảm giá Do vậy cho dù trang thái cán cân vãng lai là cân bằng, nhưng vẫntồn tại áp lực giảm giá nội tệ hoặc phải tăng lãi suất nội tệ, nếu NHTWkhông tiếp tục can thiệp bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối

+ TH2: R < 0 và Ks > 0 Đây là trạng thái khi vốn ngắn hạn chảy vàolàm tăng ngoại hối dự trữ quốc gia Trong thực tế, tình huống này có thêrxảy ra, khi NHTW tăng mức lãi suất của nội tệ để ngăn ngừa các luồng vốnngắn hạn chạy ra và thu hút thêm các luồng vốn ngắn hạn chạy vào nhằmbảo vệ cho tỷ giá không tiếp tục tăng nữa ( tức ngăn không cho nội tệ tiếptục giảm giá

1.3.3.Thặng dư và thâm hụt cán cân cơ bản

BB = CA + Kl

Khi CA < 0, nhưng nếu ( CA + Kl ) > 0, thì quốc qia không hề chịu rủi

ro thanh khoản chính vì vậy, nhiều nhà kinh tế cho răng, cán cân cơ bảnphản ánh tổng quát hơn về trạng thái nợ nước ngoài của một quốc gia so vớicán cân vãng lai.điều này xảy ra là vì, vốn dài hạn có đặc trưng của sự phân

Trang 16

phối lại thu nhập tương đối ổn định trong một thời gian dài giữa một quốcgia và phần thế giớ bên ngoài Ngoài ra, sự bù trừ cho nhau giữa thặng dưcủa cán cân vãng lai và thâm hụt của cán cân vốn dài hạn có thể được duytrì lâu dai Trên cơ sở những đặc điểm này của cán cân cơ bản mà chúng ta

có thể định hướng chiến lược phát triển nền kinh tế quốc dân

Thông thường người ta cho rằng một sự xấu đi của cán cân cơ bản là tínhiệu xấu của nền kinh tế tuy nhiên, điều này không nhất thiết phải như vậy,nghĩa là cho dù cán cân cơ bản bị thâm hụt nhưng đây chưa hẳn đã là điềuxấu Ví dụ, một quốc gia có thể đang bị thâm hụt cán cân vãng lai vàđồng thời có các luồng vốn dài hạn chảy ra, điều này khiến cho cán cân cơbản trở lên thâm hụt nặng; nhưng các luồng vốn chảy ra sẽ hứa hện nhữngthu nhập như lãi suất, cổ tức hay lợi nhuận trong tương lai; những thu nhậpmày sẽ góp phần cải thiện thâm hụt hay tạo thặng dư cán cân vãng lai trongtương lai

Ngược lại thặng dư cán cân cơ bản không nhất thiết là điều tốt khi màluồng vốn ròng dài hạn chảy vào lớn hơn mức thâm hụt cán cân vãng lai thìcán cân cơ bản trở lên thặng dư Có hai cách để nhìn nhận vấn đề thặng dưcủa cán cân cơ bản như sau:

- Cách thứ nhất cho rằng, do được phía nước ngoài tin tưởng nên quốcgia có khả năng nhập khẩu được nhiều vốn dài hạn, do đó không cóvấn đề gì phải lo lắng khi cán cân vãng lai bị thâm hụt

- Cách thứ hai cho rằng, thặng dư cán cân cơ bản là một vấn đề phảixem xét, bởi vì việc một quốc gia nhập khẩu vốn dài hạn sẽ phải thanhtoán các khoản lãi suất, cổ tức và lợi nhuận trong tương lai Điều này

có thể làm cho cán cân vãng lai trở lên xấu đi trong tương lai

1.3.4 Thặng dư và thâm hụt cán cân tổng thể

Trang 17

Cán cân tổng thể phản ánh bức tranh các hoạt động của NHTW trongviệc tài trợ cho sự mất cân đối cuối cùng của nền kinh tế

OB = ( X – M + Se + Ic + Tr + Kl + Ks )

OB = - OFB

Cán cân tổng thể có ý nghĩa quan trọng bởi vì

- nếu thặng dư (+ ) nó cho biết số tiền có sẵn để một quốc gia có thể sửdụng để tăng ( mua vào) dự trữ ngoại hối

- nếu thâm hụt (- ) nó cho biết số tiền mà quốc gia phải hoàn trả bằngcách giảm ( bán ra ) dự trữ ngoại hối là như thế nào

Mọi thâm hụt trong cán cân tổng thể phải được tài trợ bằng cách:

 giảm dự trữ ngoại hối

 vay ( hay hợp đồng hoán đổi) IFM và các NHTW khác

 tăng TSN taị các NHTW nước ngoài

Khái niệm về thặng dư và thâm hụt cán cân tổng thể chỉ thích hợp vớicác nước áp dụng chế độ tỷ giá cố định mà không thích hợp với các nước ápdụng chế độ tỷ giá thả nổi nói như vậy là vì, nếu tỷ giá được hoàn toàn tự dobiến động thì cán cân tổng thể luôn có xu hướng vận động nề trạng thái cânbằng ( tức có kết số bằng 0), bởi vì NHTW không can thiệp mua vào haybán ra đồng tiền của mình, do đó dự trữ ngoại hối không thay đổi Trong chế

độ tỷ giá thả nổi, nếu cầu về một đồng tiền lớn hơn cung thì tỷ giá của nó sẽtăng và ngược lại nếu cầu nhỏ hơn cung thì tỷ giá sẽ giảm, do đó thong qua

cơ chế biến động của tỷ giá mà cán cân tổng thể luôn được điều chỉnh vềtrạng thái cân bằng Tuy nhiên, khái niệm về “cán cân tổng thể” là rấ quantrọng đối với chế độ tỷ giá cố định, bởi vì nó cho biết áp lực dãn đến phảiphá giá hay nâng giá đồng tiền là như thế nào Trong hệ thống tỷ giá cố định

Trang 18

một quốc gia có thâm hụt cán cân tổng thể phải chịu áp lực cung nội tệ lớnhơn cầu, do đố để tránh phá giá NHTW phải tiến hành bán dự trữ

CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA VIỆT

NAM

1 Thực tế BP của Việt Nam

1.1 Cán cân thương mại (TB)

Nhận xét chung:

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá cả nước trong 8 tháng đầunăm đạt 79,13 tỷ USD, giảm 22,7% so với cùng kỳ năm 2008 Trong đó,xuất khẩu là 37,06 tỷ USD, giảm 14,6% và nhập khẩu là 42,08 tỷ USD, giảm28,7%

Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại 8T/2009

Xuất khẩu:

* Quy mô và tốc độ.

Trang 19

Tháng 8/2009, tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước là 4,52 tỷ USD, giảm5,9% so với tháng 7/2009.Trong đó, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài (FDI) là 2,10 tỷ USD, giảm 0,5% so với tháng trước; nâng tổng kimngạch xuất khẩu của khu vực này 8 tháng lên 14,61 tỷ USD và chiếm 39%kim ngạch xuất khẩu của cả nước

* Một số mặt hàng xuất khẩu chính.

- Hàng dệt may: Trong 8 tháng năm 2009, Hoa Kỳ tiếp tục là đối tác

lớn nhất của hàng dệt may Việt Nam với trị giá đạt 3,25 tỷ USD và chiếmtới 55,2% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước Đứng thứhai là thị trường EU với kim ngạch đạt 1,1 tỷ USD, tiếp theo là xuất khẩusang thị trường Nhật Bản: 605 triệu USD, Đài Loan: 141 triệu USD, HànQuốc: 123 triệu USD, Canađa: 121 triệu USD,…

- Giày dép các loại: Tính đến hết tháng 8, xuất khẩu nhóm hàng giày

dép của nước ta đạt 2,72 tỷ USD, giảm 12,8% so với cùng kỳ năm 2008.Trong đó, thị trường EU là 1,33 tỷ USD, giảm 21% và chiếm 49% tổng kimngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước Tiếp theo là thị trường Hoa

Kỳ trị giá xuất khẩu đạt 697 triệu USD, Mêxicô: 91 triệu USD, Nhật Bản: 83triệu USD, Trung Quốc: 62 triệu USD,…

- Hàng thuỷ sản: Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang các đối tác

lớn trong 8 tháng qua như sau: thị trường EU với kim ngạch gần 704 triệuUSD, giảm 3,9% so với cùng kỳ năm 2008; Nhật Bản: 464 triệu USD, giảm13,7%; Hoa Kỳ: 448 triệu USD, tăng 4,0%; Hàn Quốc: 189 triệu USD,giảm 10,9%;…

- Dầu thô: Tính đến hết tháng 8, lượng dầu thô xuất khẩu của Việt

Nam là 9,75 triệu tấn, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước Mặc dù lượngxuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm 2008, nhưng do giá bình quân giảm

Trang 20

mạnh tới 51,9% (tương đương với giảm 456 USD/tấn), nín kim ngạch xuấtkhẩu mặt hăng năy 8 thâng chỉ đạt 4,13 tỷ USD, giảm 48,2%.

Câc thị trường chính nhập khẩu dầu thô của nước ta chủ yếu lăÔxtrđylia: 2,5 triệu tấn, Singapore: 1,74 triệu tấn, Malaysia: 1,36 triệu tấn,Nhật Bản: 685 nghìn tấn, Hoa Kỳ: 672 nghìn tấn, Hăn Quốc: 656 nghìn tấn ,

- Gạo: Thâng 8, lượng gạo xuất khẩu lă 417 nghìn tấn, nđng lượng

xuất khẩu mặt hăng năy trong 8 thâng lín 4,63 triệu tấn, tăng 41,0% so vớicùng kỳ năm trước Tính đến hết thâng 8, kim ngạch xuất khẩu gạo của cảnước đạt 2,11 tỷ USD, giảm 3,0% so với cùng kỳ năm 2008

Biểu đồ: Giâ bình quđn vă lượng xuđt khẩu gạo 8 thâng năm 2009

Tính đến hết thâng 8/2009, lượng gạo của Việt Nam xuất sang hầu hếtcâc chđu lục đều tăng trín 20% so với cùng kỳ năm 2008 (trừ Chđu Mỹ).Trong đó, lượng gạo xuất khẩu sang Chđu  đạt 2,66 triệu tấn, tăng 22,4%

vă chiếm 57% tổng lượng xuất khẩu gạo của cả nước; sang chđu Phi: 1,13triệu tấn, tăng 124%; sang chđu Mỹ: 387 nghìn tấn, giảm 12%; sang ChđuĐại Dương: 267 nghìn tấn, tăng mạnh 317%; sang chđu Đu: 182 nghìn tấn,tăng 83,2% so với cùng kỳ năm 2008

Ngày đăng: 17/11/2015, 21:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w