THỨC ĂN VIÊN CHO CÁ KÈO
Trang 1II.1 Nhu cầu nuôi cá ở Việt Nam [18], [19], [20]
Cá là loại thực phẩm giàu protein, acid béo omega-3 (đặc biệt là EPA và DHA), Iod và vitamin nên cá luôn là một trong những đối tượng chủ lực của nền kinh tế thủy sản
Ngoài ra, gần đây dịch bệnh tôm liên tục xảy ra, con giống tôm chất lượng không cao, việc khai thác cá tự nhiên đang ngày càng khó khăn nên cá nuôi trở thành nguồn cung cấp quan trọng (hiện nay cả nước có hơn 20000 trang trại nuôi trồng thủy sản, chiếm 30% tổng số trang trại nông nghiệp trên cả nước) Bình quân mỗi trang trại nuôi trồng thủy sản đạt giá trị sản xuất hơn
115 triệu đồng/năm Năm 2005, sản lượng nuôi trồng thủy sản của cả nước đạt
1437400 tấn, trong đó sản lượng cá nuôi đạt 933500 tấn Nghề nuôi cá không chỉ phát triển về số lượng, sản lượng mà đặc biệt coi trọng đến sự hiệu quả, ổn định và bền vững
Trước hiện trạng trên, trung tâm Khuyến ngư Quốc gia đang tích cực phối hợp với các cơ quan chức năng xây dựng 10 chương trình khuyến ngư trọng điểm cho giai đoạn 2006 – 2010 trong đó phát triển nghề nuôi thủy sản nước lợ, nuôi cá dò trên biển và các dịch vụ hậu cần nghề cá Ngoài ra, định hướng phát triển nghề nuôi cá phải sớm chuyển từ phương thức nuôi quảng canh sang bán thâm và thâm canh Hiện nay, nhiều mô hình sản xuất mới xuất hiện, đặc biệt là mô hình nuôi cá kèo đã tạo nên sự đa dạng và năng động cho nghề thủy sản ở khu vực miền Tây Nam Bộ
Để phục vụ cho mục tiêu trên, thức ăn nuôi cá luôn là vấn đề đầu tiên, cần có sự quan tâm trong hệ thống chiến lược
Trang 2II.2 Sơ lược đặc điểm sinh học của cá kèo [9]
II.2.1 Phân loại
Trong hệ thống phân loại, cá kèo được xác định vị trí phân loại, sắp xếp theo hệ thống của Bloch và Schneider, 1801
Tên Việt Nam: cá kèo, cá bống kèo, cá kèo vẩy nhỏ
Hình 1: Cá kèo Pseudapocryptes lanceolatus
II.2.2 Phân bố và tập tính sống [1], [2], [7], [8], [12], [16], [17],
[18], [22]
Cá kèo có khoảng thích nghi rộng, dễ thích nghi với sự biến động của môi trường, sống tốt ở nhiệt độ 27 – 33oC; pH 6,5 – 8; DO 2 – 4mg/l Cá kèo
Trang 3thuộc loài cá biển rộng sinh thái, có thể sống ở vùng nước lợ, mặn, và ngay cả ở vùng nước ngọt
Cá kèo đi theo con nước phân bố khắp nơi, khi tìm được bãi bùn thích hợp thì sống chui rúc và thường đào hang cư trú ở các bãi bùn lúc mặt trời chiếu mạnh, có thể trườn dài lên bãi này Chúng chúng đào hang và ở lại đó
Cá kèo phân bố tập trung ở khu vực cửa sông, bãi triều và cửa đảo Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan, Indônesia, Singapore, Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam Ở Việt Nam cá kèo phân bố chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long như các vùng ven biển Bạc Liêu, Sóc Trăng, Tiền Giang, Bến Tre, Cà Mau Cá biệt chúng còn được nuôi ở những nơi có độ mặn rất cao như ruộng muối
Các hình thức nuôi cá kèo hiện nay ở Việt Nam:
• Nuôi quảng canh, bán thâm canh và thâm canh
• Nuôi ghép hoặc nuôi độc canh trong các ruộng lúa bị nhiễm mặn, trong các vuông nuôi tôm hay trên các ruộng muối vào mùa mưa
Nuôi cá kèo là một loại hình nuôi mới nhưng hiện đang là tâm điểm thu hút sự quan tâm của người dân, nhất là các hộ nghèo thiếu vốn nuôi tôm Đến nay, chỉ riêng huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu đã có 545 ha đất muối nuôi cá kèo; Trà Vinh hiện có hơn 100 trang trại thả giống và có hàng ngàn hộ dân nuôi thử cá kèo tự nhiên Xã An Thạnh Nam, huyện Cù lao Dung, tỉnh Sóc Trăng, xã Thừa Đức (Bình Đại) tỉnh Bến Tre cũng đã ứng dụng thành công mô hình nuôi cá kèo thương phẩm và mô hình nuôi thâm canh cá kèo trong ao nuôi tôm sú công nghiệp Hiện nay, mô hình này đang được nhân rộng tại 3 huyện thuộc Bến Tre (Ba Tri, Bình Đại và Thạnh Phú), Nhà Bè Tại Nhơn Trạch, Đồng Nai, hình thức nuôi này còn nhằm mục đích phòng hộ, bảo vệ môi trường và phát triển du lịch sinh thái
Trang 4Hình 2: Tình hình nuôi và đánh bắt cá kèo
a, b: Một số hộ nuôi cá ở Bạc Liêu
c: Tình hình đánh bắt cá kèo ngoài tự nhiên
II.2.3 Hình thái giải phẫu [7]
Cá kèo có đầu nhỏ, hình chóp, phần đầu ở trên nắp mang có màu xám thẩm Miệng cá tù, hướng xuống, miệng trước hẹp, rạch miệng nằm ngang kéo dài đến bờ sau của ổ mắt Răng hàm trên có đỉnh tù, răng bên trong nhỏ mịn; răng hàm dưới xiên thưa, đỉnh tà và có một đôi răng chó ở sau nắp tiếp hợp của hai xương răng Cá kèo không có râu, dưới miệng có hai mép râu nhỏ phủ lên môi trên Mắt tròn, nhỏø nằm sát đỉnh đầu, gần chót miệng hơn là gần nắp mang; khoảng giữa hai mắt hẹp, nhỏ hơn hay tương đương với ½ đường kính mắt Lỗ mang hẹp, màng mang phát triển, phần dưới dính với eo mang
Trang 5Cá kèo có thân hình trụ dài, dẹp dần về phía đuôi, có phủ vảy nhỏ tròn rất bé Hai vây lưng rời nhau Hai vây bụng dính nhau tạo thành giác bám hình phiễu, dạng phiễu hình bầu dục Vây ngực, vây bụng có khởi điểm trên một đường thẳng đứng Vây đuôi dài, nhọn Vây ngực có màu nhạt, lấm tấm các đốm dây đuôi có nhiều hàng chấm đen Các vây còn lại trắng nhạt
Cá có màu xám vàng hay xám trắng, nửa thân trên lưng có 7 – 8 sọc đen hướng về phía trước Các sọc này rõ về phía đuôi Bụng màu nhạt
Cá kèo cùng với các loài cá bống họ Gobiidea đều không có dạ dày, thực quản nối liền với ruột Do không có dạ dày nên vai trò tiêu hóa, hấp thu thức ăn và chất dinh dưỡng phải do ruột đảm nhận
Đầu trước của ruột phình to ra thành “cầu ruột”, không có tế bào tiết acid cũng như không có enzyme pepsin Ở toàn bộ ống tiêu hóa của chúng có các enzyme phân giải chất đường (amylase, glycogenase…), enzyme phân giải mỡ (lipase), enzyme phân giải chất đạm (trypsinogen…) Ruột có các tế bào thượng bì, tế bào dạng chén (tế bào tiết chất nhầy với các enzyme tiêu hóa) Ruột cá kèo ngắn, uốn khúc 3 – 4 lần nối các cơ quan tiêu hóa khác
II.2.4 Đặc điểm dinh dưỡng [2]
Cá bống kèo có ruột ngắn và là loài ăn tạp:
• Thức ăn tự nhiên: tảo, mùn bã hữu cơ, giun ít tơ, ấu trùng muỗi lắc, côn trùng thủy sinh, luân trùng và các loại giáp xác hoặc động vật đáy khác
• Thức ăn nhân tạo: thức ăn tươi, thức ăn của tôm, cám chăn nuôi Cá có tốc độ tăng trưởng chậm, đạt trong lượng thương phẩm sau 4 – 5 tháng nuôi Tốc độ sinh trưởng của cá phụ thuộc vào điều kiện dinh dưỡng, môi trường sống và giai đoạn phát triển
Trang 6Lúc nhỏ cá tăng trưởng chiều dài nhanh hơn trọng lượng Cá kèo trưởng thành có kích thước khoảng 20cm – 30cm
II.2.5 Đặc điểm sinh sản [2], [8]
Cá kèo sinh sản tự nhiên ở các thủy vực, bãi bồi ven biển
Tuyến sinh dục đạt đến giai đoạn cao nhất (giai đoạn III) từ tháng 12 đến tháng 2; các tháng sau chỉ phát triển đến giai đoạn II (giai đoạn này đạt giá trị cao nhất từ tháng 5 đến tháng 8)
Chỉ số thành thục GSI của loài Pseudapocryptes lanceolatus đạt cao
nhất từ tháng 6 đến tháng 8 và tháng 10 đến tháng 1 năm sau
II.3 Nhu cầu dinh dưỡng của cá nuôi [13]
Bảng 1: Một số khuyến cáo về nhu cầu dinh dưỡng của cá loài cá ăn tạp
nuôi trong môi trường trong sạch
Dầu cá:dầu thực vật 1:1 1:1 1:1 1:1 1:1
Amino acid (% min)
Trang 7Các yếu tố bổ sung
Khoáng vi lượng (mg/kg min)
2000 (4000)
1500 (3000)
3000 (6000)
Vitamin D 3
1500 (3000)
1250 (2500)
1000 (2000)
750 (1500)
1500 (3000)
Vitamin (mg/kg min)
(240)
100 (200)
80 (160)
60 (120)
120 (240)
Riboflavin 24 (48) 20 (40) 16 (32) 12 (24) 24 (48)
Trang 8Pantothenic acid 48 (144) 40 (120) 32 (96) 24 (72) 48 (144)
Nicotinic acid (216) 108 90
(180)
72 (144)
54 (108)
108 (216)
200 (600)
150 (450)
300 (900)
(2000)
800 (1600)
600 (1200)
1200 (2400)
(250)
100 (200)
75 (150)
150 (300) Amino acid không thay thế là nhu cầu thiết yếu cho cá, phụ thuộc vào thành phần amino acid không thay thế trong chính cơ thể cá
Nhu cầu vitamin khuyến cáo ở trên là mức thấp nhất để bảo vệ cá khỏi các bệnh do thiếu vitamin Các giá trị trong ngoặc là những khuyến cáo về lượng vitamin nên thêm vào đối với thức ăn phải qua chế biến công nghiệp
Vitamin C nên được thêm vào sau khi chế biến thức ăn rồi áo một lớp dầu bao bọc để giảm đến mức tối thiểu lượng vitamin bị mất trong quá trình chế biến
II.3.1 Nhu cầu protein [6]
Protein là những hợp chất cao phân tử chủ yếu xây dựng nên các tổ chức mô của cá Tuy nhiên protein không thể hấp thụ qua ống tiêu hóa để đi vào máu mà được các enzyme protease thủy phân thành amino acid (aa) và chỉ những aa được hấp thụ qua tế bào màng nhầy của ruột mới đi vào máu, vận chuyển đến các mô, cơ quan khác nhau Ở các mô này, chúng tham gia vào quá trình sinh tổng hợp hay oxi hóa, giải phóng năng lượng
Trang 9Do đó, cá sử dụng protein là để đáp ứng nhu cầu amino acid Cá có 10 loại aa thiết yếu: arginine, histidine, isoleucine, leucine, valine, lysine, phenylalanine, threonine, tryptophan, aa có lưu huỳnh (methionine và cystine)
Nếu thiếu protein, cá phải huy động các nguồn protein từ các tổ chức trong cơ thể để đáp ứng nhu cầu aa, dẫn đến tốc độ sinh trưởng giảm Ngược lại nếu thức ăn quá dư thừa protein, phần protein còn dư sẽ chuyển hóa thành năng lượng hay bài tiết ra ngoài mà protein có giá thành cao nhất trong thức ăn nên rất lãng phí, hiệu quả nuôi thấp
Nhu cầu protein thường được xác định cho các loài cá giống và thường cao hơn nhu cầu của động vật trên cạn Nhu cầu protein phụ thuộc vào các yếu tố: kích thước và tuổi, nhiệt độ nước, năng lượng thức ăn, chất lượng thức ăn và loại thức ăn sử dụng, các yếu tố sinh thái
Trong dạ dày, protein thức ăn được enzyme pepsin thuỷ phân thành polypeptid và chuyển xuống ruột non tiêu hoá bởi trypsin, chymotrypsine, giải phóng ra aa tự do Aa này sẽ được hấp thụ qua thành ống tiêu hóa đi vào máu và được máu vận chuyển đến mô và các cơ quan
Sau khi hấp thu vào cơ thể, aa được chuyển hóa theo các hướng sau:
• Sinh tổng hợp nên protein của mô và các tổ chức khác
• Sinh tổng hợp hormon, enzyme và các sản phẩm sinh học có chứa nitrogen quan trọng khác như: acid nucleic, choline
• Tham gia vào quá trình oxi hóa, cung cấp năng lượng cho cơ thể hay tạo bộ khung carbon để tổng hợp lipid, glucose
Quá trình trao đổi protein xảy ra ở hầu hết các cơ quan trong cơ thể nhưng tập trung chủ yếu ở gan và cơ (50 – 70% protein được tổng hợp ở cơ trắng), ngoài ra còn ở mang cá, tế bào màng nhầy của ruột…
Trang 10Sản phẩm cuối cùng của quá trình dị hóa aa là amoniac (NH3) Khác với động vật trên cạn, NH3 được cá trực tiếp bài tiết ra ngoài, chỉ một phần nhỏ được bài tiết ở dạng urea Mang cá là cơ quan bài tiết NH3 chủ yếu (60 – 90%), ngoài ra NH3 còn bài tiết qua nước tiểu, phân và qua da
II.3.2 Nhu cầu carbonhydrate [4], [5], [6]
Carbonhydrate là nhóm chất dinh dưỡng quan trọng, được dùng chủ yếu vào mục đích năng lượng
Khả năng tiêu hóa carbonhydrate của cá phụ thuộc vào hệ tiêu hóa, các thành phần thức ăn (đặc biệt là cellulose và xơ thô) Trong đó, khả năng tiêu hóa glucose của cá chậm hơn các động vật trên cạn nhưng lượng lớn thức ăn chứa glucose sẽ dẫn đến sự tăng đột ngột và lâu dài glucose trên cá
Trong các nhóm thức ăn carbonhydrate thì tinh bột được cá sử dụng phổ biến nhất và là nguồn năng lượng rẻ tiền so với protein nên các nhà sản xuất thường có khuynh hướng sử dụng tối đa trong thành phần thức ăn cho cá
Tuy nhiên, quá trình tiêu hóa và hấp thu tinh bột chủ yếu xảy ra ở phần ruột trước nhờ enzyme amylase nên khả năng sử dụng carbonhydrate của cá kém Vì thế nếu sử dụng quá nhiều sẽ làm giảm tỷ lệ tiêu hóa đạm trong thức ăn, giảm tính thèm ăn, giảm khả năng sinh trưởng và gây tích lũy mỡ trong gan, tỉ lệ chết cao Do đó, hàm lượng carbonhydrate trong thức ăn chỉ nên khoảng 20 – 30% là phù hợp
Hình 3: Cấu trúc hóa học tinh bột
Trang 11Cellulose và hemicellulose không có khả năng tiêu hóa ở nhiều loài cá vì vậy lượng chất
xơ cao ảnh hưởng bất lợi đến sự tiêu hóa và sử dụng thức ăn Tuy nhiên nếu thức ăn không có chất xơ thô cũng ảnh hưởng bất lợi cho cá Thông thường trong thức ăn cho cá, tỉ lệ chất xơ được đề nghị không quá 8 – 10%
Trong quá trình tiêu hóa carbonhydrate, xơ thô không được tiêu hóa sẽ
di chuyển từ ruột trước ra ruột sau, trở thành chất nền cho quá trình lên men của vi sinh vật trong ống tiêu hóa; giải phóng ra các acid béo dễ bay hơi và sản phẩm khác cho độïng vật hấp thu Xơ thô còn chứa một lượng nước nhất định nhằm duy trì dịch ruột, làm tăng quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng, giúp cho sự di chuyển thức ăn từ ruột trước ra ruột sau dễ dàng hơn
II.3.3 Nhu cầu lipid [4], [5], [6], [10]
Lipid là nhóm hợp chất quan trọng của các màng sinh học, nguồn cung cấp năng lượng, nguồn cung cấp vitamin hòa tan trong mỡ: vitamin A, D, E, K
Cá không thể dùng trực tiếp lipid mà phải phân cắt thành acid béo để hấp phụ
Căn cứ vào số lượng nối đôi, acid béo không no chia thành các dạng PUFA (có ít nhất hai nối đôi trong mạch carbon) và HUFA (có từ 4 – 6 nối đôi trong mạch carbon)
Hình 4: Cấu trúc hóa học cellulose
Trang 12Cá biển có nhu cầu họ n-3 PUFA Khi còn nhỏ cá có nhu cầu acid béo thiết yếu cao hơn giai đoạn trưởng thành nên cần bổ sung thêm mỡ cá hay dầu gan cá Tuy nhiên nếu thức ăn quá thừa acid béo có thể dẫn đến ức chế sự hấp thụ, tích lũy các acid béo khác gây ra bệnh béo phì và ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng protein của cá
Để đảm bảo tính cân đối của acid béo trong thành phần chất béo, trong khẩu phần thức ăn cho tôm cá tỷ lệ acid béo chưa no có nhiều nối đôi nên là 10%, acid béo no là 30% và acid oleic là 60% Đối với cá biển, đặc biệt là cá ôn đới, lipid trong thức ăn thường chiếm tỷ lệ 10 – 15%
• Ngoài ra, mỡ rất dễ bị oxy hóa sinh ra các độc tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, vì thế chỉ nên sử dụng từ 4 – 10% trong thức ăn Khi cá sử dụng thức ăn có chất béo bị oxy hóa, cá dễ bị bệnh: xuất huyết, lượng hồng cầu giảm và cá có triệu chứng thiếu máu; trương bụng và phồng gan; giảm ăn và FCR tăng cao; mòn vây và teo cơ; tăng tỉ lệ chết
Hình 5: Bệnh béo phì ở cá do thức ăn quá thừa lipid
II.3.4 Nhu cầu muối khoáng [6], [10]
Chất khoáng rất cần thiết để xây dựng nên cơ thể và tham gia vào quá trình trao đổi chất trong cơ thể cá, có vai trò xúc tác đối với enzyme, hormon
Trang 13và protein Chất khoáng còn có vai trò duy trì thể dịch, quan trọng trong việc điều hòa áp suất thẩm thấu, làm cho số lượng các chất điện giải và tỉ lệ giữa chúng ổn định, tham gia vào các hệ đệm để ổn định độ pH của môi trường bên trong như các bicarbonat, phosphate, sulphate của K và Na
Đối với nhiều loài cá biển, chúng có khả năng hấp thu một lượng đáng kể các chất khoáng từ môi trường nước vì vậy sự bổ sung chất khoáng vào thức ăn cho cá biển thường ít được quan tâm hơn so với cá nước ngọt
Theo nghiên cứu nhu cầu của cá nhỏ: Ca/P phải ≥ 1 – 1,5
II.3.5 Nhu cầu vitamin
Người ta chia vitamin thành 2 nhóm: vitamin tan trong chất béo (vitamin
A, D, E, K) và vitamin tan trong nước
Bảng 2: Đặc điểm một số vitamin
Trang 14Nhu cầu vitamin C liên quan chặt chẽ đến tốc độ sinh trưởng, kích thước cá
Vitamin B1
(Thiamine)
Có nhiều trong cám gạo, có vai trò trong quá trình trao đổi chất của cá (là coenzyme tham gia vào quá trình oxy hóa glucose trong tế bào), rất cần thiết cho hoạt động thần kinh, quá trình tiêu hóa, sinh trưởng và sinh sản của cá
Độ ẩm càng cao, vitamin B1 thiếu hụt càng nhanh
Vitamin B6
(Pyridoxine)
Có nhiều trong cám gạo Dẫn xuất của nó là coenzyme cho nhiều enzyme xúc tác các quá trình chuyển hóa aa, chuyển hóa glycogen, sinh tổng hợp NAD+ và coenzyme A… Do đó, vitamin B6 có liên quan chặt chẽ đấn quá trình trao đổi protein, lipid và carbonhydrate
Cá thiếu vitamin này sẽ dẫn đến rối loạn thần kinh, chết cứng nhanh…
Cơ thể cá chỉ cần một lượng nhỏ vitamin trong thức ăn, nhưng đó là yếu tố không thể thiếu để đảm bảo sinh trưởng và phát triển bình thường
Hầu hết các vitamin có vai trò như một coenzyme hay tác nhân hỗ trợ enzyme thực hiện phản ứng sinh hóa trong cơ thể Các vitamin thường đóng vai trò như một tác nhân oxy hóa như: pyridoxine (B6), thyamine (B1) hay vitamin B12 có thể làm thay đổi cấu trúc nền giúp cho hoạt tính của các enzyme được tăng cường
Nhu cầu vitamin của cá phụ thuộc vào: tập tính dinh dưỡng, khả năng tổng hợp vitamin của vi sinh vật sống trong ống tiêu hóa cá, điều kiện nuôi dưỡng, điều kiện sinh lý… Cho đến nay nhu cầu vitamin của nhiều loài cá nuôi
Trang 15vẫn chưa được xác định Tuy nhiên kết quả nghiên cứu về nhu cầu vitamin của một số loài cá như cá hồi, cá chép và cá da trơn thường được áp dụng cho các loài cá khác và thức ăn cho cá thường bổ sung vitamin dưới dạng premix vitamin
Nếu thức ăn thiếu vitamin C cá có các biểu hiện như: biến dạng cột sống, xuất huyết, mang bị tổn thương, mất sắc tố, khả năng đề kháng kém, dễ nhiễm bệnh, dễ bị stress, dễ bị tổn thương khi đánh bắt …
Hình 6: Cá bị nhiễm trùng khi thiếu Ca, P và vitamin C
II.4 Thức ăn công nghiệp cho cá
II.4.1 Tầm quan trọng của thức ăn công nghiệp [11], [15]
Trong các điều kiện nuôi cá, thức ăn chiếm tỷ lệ cao trong tổng chi phí (50 – 77%) Do đó, thức ăn có vai trò quyết định đến năng suất, sản lượng, hiệu quả của nghề nuôi cá Khi cho cá ăn, cần đủ lượng và chất mới nâng cao được năng suất cá nuôi và giảm giá thành sản phẩm
Thức ăn cho nuôi thủy sản cần phải có sự cân đối về dinh dưỡng, chế tạo và cho ăn cần phải có sự hướng dẫn của khoa học Sự mất cân đối một thành phần nào đó sẽ gây trở ngại cho việc hấp thu các thành phần khác
Việc sử dụng thức ăn tươi sống, thức ăn nhanh tan trong nước, thức ăn
Trang 16kém chất lượng là một trong những nguyên nhân của sự chậm tăng trưởng (hay chết) sau một thời gian nuôi
Đặc điểm của thức ăn công nghiệp (thức ăn viên): cứng, có dạng viên, lâu tan trong nước nên việc sử dụng thức ăn công nghiệp giúp cá hấp thu được nhiều thức ăn hơn và đáp ứng được các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm theo quy định của ngành thủy sản Trước khi sản xuất, thức ăn phải được khảo sát, cân đối khẩu phần…để đưa ra khuyến cáo giúp người dân sử dụng vừa đủ
Khẩu vị thức ăn công nghiệp hấp dẫn, cá dễ hấp thu, công nghệ chế biến phải đảm bảo thời gian tan của thức ăn phù hợp với thời gian ăn của cá
II.4.2 Các dạng thức ăn công nghiệp
• Thức ăn dạng bột: hạt nhỏ, mịn dùng để nuôi ấu trùng
• Thức ăn dạng viên: bột được trộn với nước, chất kết dính ép nén thành những hạt nhỏ, khô, lâu tan trong nước, dễ bảo quản
• Thức ăn dạng nở: thức ăn viên khô qua công đoạn xử lý ngâm nở, chế biến dạng thức ăn này cần khoảng 30% tinh bột Ưu điểm loại thức ăn này là nổi trên mặt nước, tiện cho việc bắt mồi của cá ăn nổi và cho người nuôi
Hình 7: Các sản phẩm thức ăn công nghiệp trên thị trường
II.4.3 Thực liệu dùng để chế biến thức ăn công nghiệp
Trang 17II.4.3.1 Thực liệu giàu protein [4], [12]
a Thực liệu giàu protein động vật
Khác với các thực liệu khác, thực liệu giàu protein động vật hầu như có đủ 10 loại aa thiết yếu, trong đó một số loại có hàm lượng đạm cao Các thực liệu này thường có ít chất không có nitrogen, hầu như không có chất xơ nhưng có hàm lượng tro cao, một số có hàm lượng mỡ cao nên giá trị năng lượng cao Chúng còn là nguồn cung cấp vitamin A, B (đặc biệt là B2 và B12), D và các chất thúc đẩy ĐVTS sinh trưởng, phát dục
Bảng 3: Đặc điểm một số thức ăn đạm động vật
Thực liệu Đặc điểm
Bột cá Đạm rất cao (44 – 68%), lipid khoảng 6 – 8%, aa thiết yếu
đầy đủ với tỉ lệ cân đối, vitamin và chất khoáng rất phong phú, hàm lượng xơ thấp, dễ tiêu hóa, giá trị dinh dưỡng cao (bột cá tốt tỉ lệ tiêu hóa đến trên 80%)
Dịch nước cá Vitamin nhóm B (nhất là B1) cao
Bột thịt Giàu đạm, có đủ 10 aa thiết yếu nhưng methionine và
tryptophan thấp, vitamin A, D rất ít nhưng vitamin nhóm B phong phú, lipid khoảng 12% nên giá trị năng lượng cao
Bột xương thịt Đạm từ 30 – 50% (tỷ lệ đạm tiêu hóa khoảng 60 – 80%),
chất tro 23 – 40%, chất lipid 9 -18%, nước 10%
Bột máu Đạm cao 73 – 83%, lượng aa đầy đủ nhưng không dễ hòa tan
trong nước và không dễ tiêu hóa, dễ biến chất, khẩu vị kém
Bột lông vũ Hàm lượng đạm đến hơn 80%, tỷ lệ tiêu hóa cao nhất chỉ 70
Trang 18– 80%, thiếu lysine, methinine và histidine, còn threonine, isoleucine và valine lại cao, vitamin B1 và chất kích thích sinh trưởng có giá trị sinh học cao
b Thực liệu giàu protein thực vật
Các thực liệu giàu protein thực vật thường không có đủ 10 loại aa thiết yếu mà cá cần, thường có ít hay không có methionine và tryptophan
Ví dụ bánh khô dầu đậu nành có hàm lượng đạm cao (35 – 47%), năng lượng tiêu hóa khá cao,
xơ thấp 5,1 – 11%, vì vậy tỷ lệ tiêu hóa cao Chất lượng đạm đậu nành khá tốt do hàm lượng aa phong phú, đặc biệt là lysine (nhiều nhất), threonine, histidine, arginine và phenylalanine Do đó, đậu nành được xem như nguồn protein thực vật thay thế
cho bột cá tốt nhất trong thức ăn thủy sản, nhằm hạ giá thành
Tuy nhiên, đậu nành có nhược điểm là lượng methionine ít, nhiều P nhưng ít Ca, thiếu caroten Ngoài ra nó còn chứa một số độc tố ảnh hưởng đến khẩu vị và tỷ lệ tiêu hóa
Bảng 4: Thành phần dinh dưỡng một số thực liệu giàu protein thực vật
Khô dầu
đậu nành (%)
Khô dầu vừng mè (%)
Khô hạt rau (%)
Bánh mầm ngô (%)
Trang 19II.4.3.2 Thực liệu giàu carbonhyhrate [4]
Bảng 5: Đặc điểm một số thức ăn giàu carbonhydrate
Thực liệu Đặc điểm
Cám gạo Có giá trị năng lượng tương đối cao, chất xơ và chất không
có nitrogen thấp nên thích hợp làm chất độn
Hàm lượng mỡ thô cao nên khó bảo quản, dễ bị oxy hoá thành acid làm cám biến chất
Lúa Phụ phẩm của gạo như tấm, cám, khô dầu cám có giá trị
năng lượng tương đối cao
Cao lương Giá trị năng lượng bằng 99% ngô Hàm lượng các acid amin
như methionine gấp 2 lần của ngô, tryptophan gấp 4 lần so với ngô
Ngô Có giá trị dinh dưỡng cao
Khoai lang Giàu hydrat carbon, giá trị năng lượng cao, hàm lượng
caroten nhiều
Khoai tây Ít đạm, caroten, P, Ca, bột chiếm 70 – 80%, có vitamin B, C
Khi độc tố trong khoai tây quá 0,02% sẽ gây trúng độc đặc biệt ở các củ nảy mầm
Khoai mì Được sử dụng như nguồn cung cấp bột, đường, có khoảng 10
– 14% protein Thành phần chủ yếu của protein bột mì là gluten Bột mì thường được sử dụng làm thức ăn cho tôm cá với hàm lượng từ 10 – 30% trọng lượng khô thức ăn [12] Bột mì còn được dùng làm chất kết dính trong thức ăn viên
Trang 20Hình 9: Một số thực liệu giàu carbonhydrate
II.4.3.3 Thực liệu giàu lipid [4]
Dầu động thực vật không chỉ là nguồn cung cấp acid béo không no cần thiết cho cá mà còn có tác dụng tạo mùi cho thức ăn Trong nguyên liệu chế biến thức ăn thủy sản thường có sẵn lipid nên trong công thức thức ăn chỉ bổ sung thêm khoảng từ 2-3% dầu Ngoài ra, lecithin (phospholipid) hay cholesterol cũng được bổ sung vào thức ăn thông qua nguồn dầu mực, dầu đậu nành hoặc trực tiếp sử dụng lecithin, cholesterol tổng hợp
Bảng 6: Thành phần acid béo của một số dầu động thực vật
Dầu thực vật
Nguồn động vật biển
II.4.3.4 Chất bổ sung [4]
Trang 21Chất bổ sung là những chất thêm vào thành phần thức ăn như: chất bổ sung tăng sức sinh trưởng, chất kết dính, chất dẫn dụ, chất tạo màu, chất bảo quả chống mối, sự oxy hóa Tỷ lệ chất bổ sung trong thức ăn rất ít nhưng có nhiều tác dụng: cân đối nhu cầu của cá, kích thích cá sinh trưởng và phát dục, giúp tăng chất lượng cá, phòng bệnh cho cá, giảm thấp tỷ lệ hư hỏng thức ăn
a Chất bổ sung tăng sức sinh trưởng
• Muối khoáng, vitamin
Có thể bổ sung muối khoáng, vitamin dưới dạng premix vitamin hay premix khoáng
• Enzyme
Bảng 7: Đặc điểm một số enzyme
Enzyme Đặc điểm
Amylase Là một enzyme phân giải tinh bột, thuộc ba loại:
α–amylase: phân giải một phần nối α–1,4–glucoside của phân tử amylose hoặc amylopectin, không phân hủy được nối α–1,6–glucoside và một số nối α–1,4–glucoside ở gần chỗ phân nhánh Sản phẩm thủy phân tinh bột là dextrin, maltose, glucose
Amylose–1,4–glucosidase: phân giải các dây nối α–1,4–glucoside tạo ra sản phẩm chủ yếu là glucose
Amylose–1,6–dextrinase: phân hủy nối α–1,6–glucoside Nếu phối hợp men nói trên có thể làm tinh bột bị thủy phân triệt để thành mantose và glucose
Pectinase cắt pectin thành methanol và acid pectic, acid D- galactoronic
Trang 22Cellulase là một enzyme phân giải cellulose, bao gồm phức hệ chủ yếu:
endoglucanase, exoglucanase, β–glucosidase, cellobiohydrolase, hay cellobiase
Xylanase là một enzym ngoại bào phân giải xylan phân giải xylan tạo thành
các sản phẩm: xylose, xylobiose và một số sản phẩm phụ khác
Protease Là enzyme phân giải protein thành các đoạn pholypeptide nhỏ hay
các aa Có ba loại: protease chịu kiềm, protease trung tính và protease chịu acid
Kitinase phân cắt kitin thành kitobiose và kitotriose
Lipase Là enzyme phân cắt lipid
Người ta thường sử dụng enzyme như chất xúc tác quá trình tiêu hóa, hấp thu thức ăn, làm tăng hệ số hấp thụ thức ăn, giảm tối đa lượng thức ăn dư thừa do đó giảm chi phí nuôi ở mức thấp nhất
Đặc tính quan trọng của enzyme là làm tăng tốc độ phản ứng ở nhiệt độ
cơ thể và dưới điều kiện pH nhẹ
Enzyme thường được cho trực tiếp vào thức ăn nhưng hoạt tính của enzyme có thể bị phá hủy bởi điều kiện nhiệt độ nên một yêu cầu đối với enzyme dùng trong công nghiệp là tính chịu nhiệt
Trang 23giảm sự thất thoát các chất dinh dưỡng, tăng độ bền của thức ăn trong môi trường nước, giảm bụi trong quá trình chế biến thức ăn
Tuy nhiên một số chất kết dính có thể làm ảnh hưởng đến độ tiêu hóa thức ăn Một vài loài cá không chấp nhận thức ăn quá cứng Tinh bột được gelatin hóa là chất kết dính tự nhiên tốt nhất cho động vật thủy sản, tuy nhiên để tăng độ kết dính của thức ăn phải bổ sung thêm chất kết dính
Một số chất kết dính được sử dụng trong thức ăn thủy sản:
• Nhóm có nguồn gốc thực vật: tinh bột (10 – 25%), gum, hemicellulose, carboxymethyl cellulose_CMC ( 1 – 3%)…
• Nhóm có nguồn gốc động vật: gelatin, collagen, chitosan…
• Nhóm có nguồn gốc vô cơ: bentonite…
• Nhóm có nguồn gốc tảo biển: agar (1 – 2%), alginate, carrgeenan… Hàm lượng chất kết dính sử dụng trong thức ăn phụ thuộc vào thành phần nguyên liệu chế biến thức ăn và thiết bị chế biến Khi sử dụng các thiết
bị thủ công thì chất kết dính sử dụng sẽ nhiều hơn so với hệ thống thiết bị ép viên hiện đại
c Chất dẫn dụ [4]
Chất dẫn dụ đóng vai trò quan trọng, quyết định hiệu quả sử dụng thức ăn của cá Trong các nguồn nguyên liệu sử dụng làm thức ăn cho cá có sẵn các chất dẫn dụ tự nhiên như: bột mực, bột cá, dầu mực… Hàm lượng chất dẫn dụ thay đổi tùy theo loài (1 – 5%)
Ngoài các chất dẫn dụ tự nhiên, các chất dẫn dụ nhân tạo như các acid amin tự do (glycine, analine, glutamate) hay một số phân tử peptide như betane cũng được tổng hợp để bổ sung vào thức ăn cho cá
Trang 24d Chất phụ gia bảo quản [4]
• Chất chống oxy hóa: chủ yếu phòng chống các chất dầu mỡ trong thức ăn không bị oxy hóa Thường dùng: vitamin C, vitamin E, acid photphoric
• Chất chống mốc: chống thức ăn bị mốc biến chất
II.4.4 Sản xuất thức ăn công nghiệp
II.4.4.1 Các phương pháp xác định nhu cầu protein của cá [6], [14] Theo định nghĩa về nhu cầu protein thì có một số phương pháp xác định nhu cầu protein trong đó phương pháp phân tích phương trình hồi quy bậc hai là một phương pháp đơn giản, thông qua việc xác định tốc độ tăng trưởng của cá khi nuôi bằng thức ăn có hàm lượng protein khác nhau
Tốc độ tăng trưởng và hàm lượng protein trong thức ăn là tương quan bậc hai theo phương trình: Y = aX2 + bX + c
Đồ thị của phương trình là dạng đường parabol bậc hai có một cực đại Điểm cực đại được xem như mức dinh dưỡng tối đa cho sự tăng trưởng tối đa Nếu vượt qua mức này thì tăng trưởng sẽ giảm
Tuy nhiên sau khi đạt được tốc độ tăng trưởng tối đa thì đường cong biểu diễn sẽ đi xuống theo hướng đối xứng Vì vậy tốc độ tăng trưởng này chỉ được biểu diễn là ½ đường cong bậc hai Sử dụng phương pháp này có thể cho giá trị nhu cầu protein khá cao, vì vậy cần thiết phải so sánh, tham khảo các phương pháp khác nhau để có lựa chọn phù hợp
II.4.4.2 Quy trình sản xuất thức ăn cho cá [10]
Thức ăn cho cá phải dùng trong nước nên thường phải ở dạng viên, khó tan trong nước Vì thế, công nghệ sản xuất thức ăn phải giải quyết được hai
Trang 25khâu quan trọng là: tạo dạng viên và khả năng kết dính các nguyên liệu trong thức ăn để viên thức ăn không tan trong nước ở một khoảng thời gian nhất định, giúp cá kịp ăn hết, tránh lãng phí và tránh ô nhiễm môi trường
Tùy quy mô sản xuất, điều kiện thiết bị, kỹ thuật công nghệ, quy trình sản xuất thức ăn viên có khác nhau nhưng luôn gồm các công đoạn chính sau:
Nghiền Ỉ Trộn Ỉ Tạo viên Ỉ Sấy Ỉ Đóng gói và bảo quản
• Nghiền nguyên liệu (nghiền thô): các nguyên liệu thô được nghiền
bằng máy nghiền búa đến khi đạt độ mịn từ 0,85 – 1mm
• Cân trộn: nguyên liệu sau khi nghiền thô được cân theo đúng tỷ lệ
trong công thức rồi chuyển sang máy trộn
• Nghiền mịn: để có được hỗn hợp mịn và đồng nhất nhằm tạo ra viên
thức ăn chắc, lâu tan trong nước, hỗn hợp được máy trộn đưa vào hệ thống thiết bị nghiền mịn đến khi độ mịn hạt từ 0,425 – 0,25mm sẽ được chuyển vào hệ thống tạo viên
• Tạoviên: hỗn hợp nguyên liệu khô có độ ẩm 11 – 12% sau khi qua
bộ phận tiếp nhận sẽ được chuyển bằng vít tải xuống buồng trộn và hỗn hợp được làm chín bằng hơi nước Tại đây hơi nước nồi hơi đưa vào sẽ được điều chỉnh để hỗn hợp đạt đôï ẩm 16 – 17% Hỗn hợp sau đó sẽ đi xuống bộ phận tạo viên Viên thức ăn sau khi ra khỏi mặt sàng của thiết bị tạo viên thường ở nhiệt độ 88 – 90oC nên phải làm khô và làm nguội nhanh đến độ ẩm ≤10%
• Sửa viên: nếu sản xuất thức ăn dùng cho cá nhỏ thì sau khi làm
nguội, viên thức ăn (thường có kích thước 3,1 – 4,7mm) được qua thiết bị sửa viên để xay nghiền thành những hạt mảnh rồi qua máy sàng phân cỡ theo kích thước ấn định và loại bỏ phần bột mịn
Trang 26• Bao chất béo bên ngoài viên thức ăn: chất béo được phun sương bao
phủ bề mặt ngoài viên thức ăn nhằm bổ sung chất béo cần thiết và các chất không tan trong chất béo vào thức ăn cho cá Nhờ đó, tạo được viên thức ăn bóng đẹp, có hương vị hấp dẫn mà không làm ảnh hưởng đến độ tan, hạn chế việc giảm chất lượng các thành phần vi lượng tan trong chất béo
• Đóng gói: thức ăn viên thành phẩm sau khi được làm nguội đến độ
ẩm ≤10% sẽ được cân và đóng bao bằng thiết bị tự động
II.4.4.3 Cách tính lượng cho ăn [10]
Khi nuôi, tùy theo số lượng cá nuôi, cỡ cá thả, số lần tăng trọng, hệ số thức ăn mà dự trù lượng trù lượng cho ăn khác nhau [4]
Tuy nhiên để tính lượng thức ăn hàng ngày, cần phải biết [10]:
Trang 27• Khẩu phần thức ăn hàng ngày so với phần trăm trọng lượng cá đang nuôi
• Tỷ lệ sống của cá tại thời điểm đó
• Khối lượng trung bình của tôm cá đang nuôi tính theo định kỳ thu mẫu (tối thiểu là 2 tuần đến 1 tháng) ở một số vị trí đại diện của ao đầm nuôi Chú ý không thu mẫu tại nơi có máng ăn là nơi tập trung những cá thể lớn, hiếu động, mẫu không thể đại diện cho trung bình cá thể trong ao Mỗi lần thu cân lấy khoảng 20 – 30 cá thể để lấy trung bình
Khẩu phần thức ăn không phải là con số cố định trong suốt thời gian nuôi do khi còn nhỏ thì khẩu phần thức ăn của cá lớn hơn khi trưởng thành Khẩu phần còn thay đổi theo các yếu tố môi trường như nhiệt độ nước, chất lượng nước, thời tiết… Người ta có thể tăng cường lượng thức ăn nuôi vỗ vài ngày trước khi thu hoạch
Trong thực tế, khẩu phần thức ăn hàng ngày sẽ được điều chỉnh bằng cách quan sát lượng ăn khoảng 2 giờ kể từ lúc bắt đầu cho ăn Nếu thức ăn dư thừa thì hôm sau sẽ bớt lại
III.1 Dụng cụ – Thiết bị – Hóa chất
a Dụng cụ – Thiết bị
• Phần mềm tính công thức thức ăn: Feedlife
• Dụng cụ làm thức ăn: máy nghiền búa; rây inox cỡ 0,5mm; máy xay thịt với đường kính lỗ khuôn là 1,5mm; tủ sấy hiệu Memmert của Đức
• Dụng cụ kiểm tra chất lượng nước: máy đo độ mặn, máy đo O2, máy
đo pH, nhiệt kế
Trang 28• Dụng cụ nuôi cá: bể kính 40×60×40cm, bạc đen, máy sục khí, máy
lọc nước, máng đựng thức ăn bằng vải, vợt vớt cá, bể trữ nước máy và nước biển
• Dụng cụ cân đo: thước 20cm; cân
• Đồng hồ bầm giây
b Nguyên liệu
• Bột cá lạt có 65,5% protein thô, cám gạo loại 1, khoai mì lát, khô dầu đậu nành có 45,5% protein thô, premix khoáng và vitamin , methionine, lysine, dầu gan mực, chất kết dính Binder
b Hóa chất
Chất hút ẩm Silicagel, cồn
Trang 29III.2 Phương pháp nghiên cứu
III.2.1 Nội dung
• Xác định độ ưa thích của cá kèo đối với bột cá và đậu nành
• Xác định nhu cầu protein của cá kèo
• Xác định tỷ lệ phối trộn protein động vật và protein thực vật
• Tổng hợp và khảo sát hiệu quả thức ăn viên TVE
III.2.2 Quy trình xử lý và chế biến thức ăn viên
Trang 30III.2.3 Khảo sát một số chỉ tiêu của thức ăn viên
III.2.3.1 Xác định độ tan
Cho 1g mẫu vào bể nuôi cá 40×40×60cm có chiều cao cột nước là 5cm Sau mỗi 30 phút khuấy nhẹ để làm rã phần thức ăn đã tan bên ngoài Quan sát và ghi nhận thời gian thức ăn tan hết
Mỗi mẫu được kiểm tra 3 lần
III.2.3.2 Xác định độ ẩm
Cho 1g mỗi loại thức ăn vào máy rồi để máy đo tự động
Kết quả ghi nhận trên máy ghi tự động
III.2.4 Phương pháp chăm sóc và quản lý cá
Chuẩn bị và xử lý bể nuôi cá Chuẩn bị và xử lý nước nuôi cá Thuần cá và chọn lọc cá thí nghiệm
Chăm sóc cho cá ăn thức ăn thí nghiệm
Tính sự tăng trưởng cá
Sơ đồ 1: Phương pháp chăm cá và quản lý cá
Bắt và chuyển cá từ
Bạc Liêu lên trại
thực nghiệm