1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá khả năng thay thế protein bột cá bằng protein chiết xuất từ rong mền (cladophoraceae) trong phối chế thức ăn cho cá kèo giống (pseudaphocryptes elongatus)

34 649 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 533,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN NGUYỄN THANH THẢO ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THAY THẾ PROTEIN BỘT CÁ BẰNG PROTEIN CHIẾT XUẤT TỪ RONG MỀN Cladophoraceae TRONG PHỐI CHẾ THỨC ĂN CHO CÁ KÈO G

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN THANH THẢO

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THAY THẾ PROTEIN BỘT CÁ BẰNG PROTEIN CHIẾT XUẤT TỪ RONG MỀN (Cladophoraceae)

TRONG PHỐI CHẾ THỨC ĂN CHO CÁ KÈO GIỐNG

(Pseudaphocryptes elongatus)

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH SINH HỌC BIỂN

2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN THANH THẢO

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THAY THẾ PROTEIN BỘT CÁ BẰNG PROTEIN CHIẾT XUẤT TỪ RONG MỀN (Cladophoraceae) TRONG

PHỐI CHẾ THỨC ĂN CHO CÁ KÈO GIỐNG

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Lời đâu tiên tôi xin gởi lời cám ơn và tri ân tha thiết gởi đến gia đình đã tạo điều kiện cho tôi học tập và được là sinh viên của Đại Học Cần Thơ như hiện nay

Cám ơn tất cả những thầy cô đã cung cấp cho tôi những khối kiến thức trong quá trình học tập

Cám ơn cô Nguyễn Thị Ngọc Anh đã tạo điệu kiện và sự giúp đỡ nhiệt tình của cô trong quá trình làm đề tài tốt nghiệp và trong học tập

Cám ơn chị Phan Thị Xuân Nguyên và Huỳnh Ngọc Đến đã chung sức hoàn thành đề tài này

Lời cảm ơn này tôi xin gởi đến tập thể lớp Sinh học biển K36 đã cùng tôi đi suốt quảng đời sinh viên

Lời cảm ơn cuối cùng tôi xin gởi đến những người bạn thân đã giúp tôi những lúc khó khăng và vấp ngã

Sinh viên thực hiện Nguyễn Thanh Thảo

Trang 4

TÓM TẮT

Nghiên cứu đánh giá khả năng thay thế protein bột cá bằng protein chiết xuất từ rong mền (Cladophoraceae) trong thức ăn cho cá kèo

(Pseudaphocryptes elongatus) giống được thực hiện 45 ngày Thí nghiệm

gồm 5 nghiệm thức, nghiệm thức thức ăn đối chứng không chứa protein chiết xuất từ rong mền, 4 nghiệm thức còn lại có mức protein bột cá được thay thế bằng protein chiết xuất từ rong mền lần lượt là 15%, 30%, 45% và

60 Thức ăn thí nghiệm có cùng hàm lượng protein (30%) và lipid (7%) Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần, cá kèo giống có khối lượng trung bình ban đầu là 0,43g ± 0,1 và chiều dài là 4,4 ± 0,35 cm Cá ở thí nghiệm được nuôi trong bể nhựa 70L, thể tích nước là 50L với mật độ 30con/bể ở độ mặn 10‰ Cá được cho ăn thỏa mãn 2 lần/ngày Kết quả cho thấy tỷ lệ sống của cá kèo khi kết thúc thí nghiệm không bị ảnh hưởng bởi nghiệm thức thức ăn dao động 91,1 đến 94,4% Khi thay thế 15%, 30% và 45% protein bột cá bằng protein chiết xuất từ rong mền trong thức ăn, cá có tốc

độ tăng trưởng khá tốt hoặc tương đương so với nhóm được cho ăn thức ăn đối chứng Hệ số tiêu tốn thức ăn tăng cao và hiệu quả sử dụng protein giảm thấp ở các nghiệm thức thay thế 30%, 45% và 60%, không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa các nghiệm thức Từ kết quả nghiên cứu cho thấy protein chiết xuất từ rong mền có thể thay thế protein bột cá lên đến 45% trong phối chế thức ăn viên cho cá kèo giống, góp phần đa dạng hóa sử dụng nguồn nguyên liệu làm thức ăn thủy sản

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Giới thiệu 1

1.2 Mục tiêu đề tài 2

1.3 Nội dung của đề tài 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Sơ lược về rong mền 3

2.1.1 Hệ thống phân loại 3

2.1.2 Đặc điểm sinh học 3

2.1.3 Phân bố 4

2.1.4 Thành phần dinh dưỡng 4

2.1.5 Sử dụng rong biển làm thức ăn trong nuôi trồng thủy sản 5

2.1.6 Vai trò các hợp chất chiết xuất từ rong biển 6

2.2 Sơ lược về cá kèo 8

2.2.1 Đặc điểm sinh học của cá kèo 8

2.2.2 Phân bố và tập tính sống 9

2.2.3 Đặc điểm dinh dưỡng 9

2.2.4 Đặc điểm sinh trưởng 9

2.2.5 Các mô hình nuôi cá kèo hiện nay 10

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11

3.1 Đối tượng nghiên cứu 11

3.2 Vật liệu nghiên cứu 11

3.2.1 Nguồn gốc bột rong mền tách chiết và cá kèo 11

3.2.2 Vật liệu và hóa chất dùng trong thí nghiệm 11

3.3 Phương pháp nghiên cứu 11

3.3.1 Phương pháp chế biến thức ăn 11

3.3.2 Bố trí thí nghiệm 13

Trang 6

3.3.4 Chăm sóc và quản lý 14

3.4 Thu thập số liệu 14

3.4.1 Các yếu tố môi trường 14

3.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá cá thí nghiệm 14

3.5 Phương pháp phân tích và tính toán số liệu 14

3.6 Phương pháp xử lý số liệu 15

PHẦN 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 16

4.1 Các yếu tố môi trường 16

4.2 Yếu tố thủy hóa 16

4.3 Ảnh hưởng của việc thay thế protein bột cá bằng protein chiết xuất từ rong mền lên tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá kèo 17

4.3.1 Tỷ lệ sống 17

4.3.2 Tăng trưởng về khối lượng 18

4.3.3 Tăng trưởng chiều dài 19

4.4 Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) và hiệu quả sử dụng protein (PER) 20

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 22

5.1 Kết luận 22

5.2 Đề xuất 22

PHẦN 6 TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

Trang 7

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Giới thiệu

Nghiên cứu về phân loại và hình thái của rong mền (Cladophoraceae) là loài rong thuộc ngành rong lục (Chlorophyta) gồm nhiều giống loài, phân bố phổ biến ở các thủy vực nước lợ nước ta (Nguyễn Văn Tiến, 2007) Khảo sát về sự phân bố, biến động sinh lượng và thành phần sinh hóa của rong mền ở đồng bằng sông Cửu Long cho thấy rong mền phát triển nhiều cùng với các loài rong khác và thực vật thủy sinh trong các ao quảng canh, thủy vực nước lợ bỏ hoang, kênh tự nhiên… Rong mền (Cladophoraceae) có sinh lượng rất cao (2-7 kg tươi/m2) và được tìm thấy quanh năm Kết quả phân tích thành phần sinh hóa, rong mền có hàm lượng protein thô dao động từ 11,98 - 25,42%, lipid thô 0,43 - 4,08%, tro 22,76 - 40,6%, xơ 3,32 - 21,56% và carbohydrate 40,24 -54,86% (Nguyễn Văn Lực, 2012) Nghiên cứu gần đây cho thấy rong mền được dùng làm nguồn protein thay thế một phần protein bột đậu nành trong phối chế thức ăn cho tôm

thẻ chân trắng, Litopenaeus vannamei, giống (Đinh Thị Kim Nhung, 2013) và protein bột cá trong thức ăn cho cá tai tượng, Osphronemus goramy, giống

(Nguyễn Thị Ngọc Anh và ctv., 2013)

Theo kết quả nghiên cứu của dự án rong biển ITB-Việt Nam (2011), rong mền có hàm lượng carbohydrate cao được thử nghiệm chiết xuất nhiên liệu sinh học (ethanal và butanol), trong giai đoạn tiền xử lý rong đã tách được bột protein có hàm lượng từ 40-50%, cao hơn nhiều so với rong mền thô, có thể sử dụng làm nguồn protein trong phối chế thức ăn cho tôm, cá

Cá kèo (Pseudapocryptes elongatus) là loài cá có giá trị kinh tế khá cao, thời

gian nuôi ngắn, ít rủi ro, lợi nhuận cao và là đối tượng được nuôi luân canh trong

ao tôm sú hoặc các ao tôm bỏ hoang, đang được nuôi phổ biến ở các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau Trong nuôi cá kèo thâm canh, thức ăn viên được sử dụng phổ biến và chiếm cao nhất (40-50%) trong tổng chi phí sản xuất và là một trong các chi phí ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế (Trương Hoàng Minh và Nguyễn Thanh Phương, 2011) Nghiên cứu tìm nguồn nguyên liệu sẵn có, rẽ tiền hoặc các phụ phẩm từ chiết xuất nhiên liệu sinh học để giảm chi phí sản xuất và nâng cao lợi nhuận là rất cần thiết Do đó nghiên cứu khả năng thay thế protein chiết xuất từ rong mền thay thế protein bột cá trong phối chế thức ăn cho cá kèo

(Pseudapocryptes elongatus) được thực hiện

Trang 8

1.2 Mục tiêu đề tài

Xác định tỉ lệ thay thế protein bột cá bằng protein chiết xuất từ rong mền thích

hợp trong phối chế thức ăn cho cá kèo giống (Pseudapocryptes elongatus) Kết

quả nhằm góp phần sử dụng đa dạng nguồn nguyên liệu trong phối chế thức ăn

cho các loài tôm, cá

1.3 Nội dung của đề tài

Ảnh hưởng của việc thay thế protein bột cá bằng protein chiết xuất từ rong mền trong thức ăn đến tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn của cá kèo giống

Trang 9

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Sơ lƣợc về rong mền (Cladophoraceae)

2.1.1 Hệ thống phân loại

Theo Dodds et al (1992), rong mền thuộc ngành rong lục, được tìm thấy nhiều ở

các thủy vực nước lợ và được phân loại như sau:

mạng lưới có nhiều hạt tạo bột (Nguyễn Hữu Dinh và ctv., 1993) Sinh trưởng

của rong mền thuộc họ (Cladophoraceae) chịu tác động nhiều bởi các yếu tố môi trường như: ánh sáng, nhiệt độ, độ mặn, pH Một số nghiên cứu cho rằng rong mền sinh trưởng tốt trong điều kiện pH > 7 và nhiệt độ 25-30oC có ánh sáng đầy

đủ, ngoài ra sinh trưởng của rong mền còn phụ thuộc vào mức nước trong thủy vực và độ trong Rong mền (Cladophoraceae) là loài rộng nhiệt chúng có thể chịu được nhiệt độ từ 24-37oC hoặc cao hơn, độ mặn mà rong mền có thể sống được

Trang 10

là 0-35ppt, ánh sáng 1.200 lux-103.800 lux, mức nước sâu hơn 5m rong mền có thể sống được (Nguyễn Hoàng Duy, 2011)

2.1.3 Phân bố

Chúng được tìm thấy ở tất cả các thủy vực nước ngọt, lợ, mặn, mọc trên bãi đá, vùng triều, cửa sông Rong mền (Cladophoraceae) là loài rong phổ biến nhất trong môi trường nước ngọt trên thế giới Rong mền (Cladophoraceae) còn là nơi trú ẩn và thức ăn cho nhiều loài sinh vật thủy sinh Tuy nhiên, trong thủy vực giàu dinh dưỡng, loài rong này phát triển cực đại che phủ toàn bề mặt thủy vực (Nguyễn Văn Tiến, 2007)

Các yếu tố môi trường trong đó ánh sáng là yếu tố cần thiết cho Cladophoraceae,

vì thế nó thường được tìm thấy ở vùng nước nông, Cladophoraceae phát triển tốt vào mùa hè và mùa thu khi nhiệt độ nước ấm hơn Sự phát triển của Cladophoraceae được xác định bởi các yếu tố như chất nền, chất dinh dưỡng cao

và cường độ ánh sáng (Algae base.com)

Nghiên cứu của dự án ITB-Việt Nam (2011), đã tìm thấy rong mền thuộc họ Cladophoraceae xuất hiện nhiều ở các ao quảng canh nước lợ, ao bỏ hoang, kênh mương tự nhiên ở các tỉnh Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau Chúng phát triển nhanh và hiện diện quanh năm, đạt sinh lượng rất cao 30-70 tấn tươi/ha Nghiên cứu về ảnh hưởng của độ mặn và nhiệt độ đến sự phát triển của rong mền Cladophoraceae ở điều kiện trong phòng của ITB-Việt Nam (2011), kết quả biểu thị rong mền là loài rộng muối có thể sống và phát triển ở độ mặn từ 0-35ppt, độ mặn thích hợp nhất từ 20-30 ppt Rong mền phát triển tốt ở nhiệt độ 30 đến 35oC

Ở Việt Nam, rong mền (Cladophoraceae) phân bố ở Quảng Ninh, Thanh Hóa, Hải Phòng, Hà Tỉnh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Kiêng Giang

Ở đồng bằng sông Cửu Long, rong mền (Cladophoraceae) xuất hiện quanh năm, thường phát triển đồng thời với rong bún hoặc xen kẻ nối tiếp nhau ở các thủy vực nước lợ, ao, đầm quảng canh (Nguyễn Hoàng Duy, 2011)

2.1.4 Thành phần dinh dƣỡng

Hàm lượng dinh dưỡng rong biển thay đổi theo nhiệt độ, độ mặn và hàm lượng

dinh dưỡng trong thủy vực (nitor, phospho) (FAO, 2003; Aguilera-Morales et al.,

Trang 11

Trong thí nghiệm của Khuantrairong et al (2011) cho thấy Cladophoraceae có

hàm lượng protein từ 10,71-17,69%; lipid từ 2,04-2,56%; carbohydrat từ 60,98%

52,54-Thành phần amino acid của Cladophoraceae được xác định theo bảng dưới đây: Bảng 1 Hàm lượng amino acid của rong mền (Cladophoraceae)

Amino acid Phần trăm amino

2.1.5 Sử dụng rong biển làm thức ăn trong nuôi trồng thủy sản

Một số kết quả nghiên cứu về hàm lượng bổ sung bột rong biển thay đổi tùy

thuộc vào loài rong hay đối tượng sử dụng (Cruz-Suarezet al., 2008)

Valent et al (2006) nghiên cứu sử dụng 3 loại rong biển Gracilaria pastoris, Ulva rigida và Gracilaria cornea trong công thức thức ăn của cá chẽm Châu Âu (Dicentrarchus labrax) cho rằng khi bổ sung 10% Gracilaria bursa- pastoris hoặc 10% Ulva rigida không ảnh hưởng đến tăng trưởng của cá Mặc

bursa-khác độ tiêu hóa protein và lipid không bị ảnh hưởng khi bổ sung 10%

Gracilaria bursa-pastoris hoặc 10% Ulva rigida hoặc 5% Gracilaria cornea Bên cạnh đó Azaza et al (2007), nghiên cứu tăng trưởng của cá rô phi

Trang 12

Oreochromis niloticus L khi thay thế bột đậu nành bằng bột rong Ulva rigida

với các mức 10%, 20% và 30% vào thức ăn Tác giả nhận thấy có thể sử dụng

bột Ulva rigida thay 20% bột đậu nành trong thức ăn cá rô phi cho tăng trưởng

khác biệt không có ý nghĩa so với thức ăn đối chứng và tỷ lệ sống không bị ảnh hưởng bởi hàm lượng rong trong thức ăn Ngoài ra, nghiên cứu của Hashim and

Mat Saat (1992) bổ sung 5% Ulva vào thức ăn cho cá lóc (channa striatus)

không làm ảnh hưởng đến sự phát triển và thành phần dinh dưỡng của cá

Nghiên cứu gần đây của Nguyễn Thị Tý Nị, (2012) đánh giá khả năng thay thế

đạm bột cá bằng đạm bột rong bún (Enteromorpha intestinalis) lần lượt là 10%, 20%, 30%, 40% và 50% trong thức ăn cho cá nâu (Scatophagus argus) giống cho

thấy tốc độ tăng trưởng của cá nâu giảm theo mức tăng protein rong bún trong khẩu phần ăn nhưng khác biệt không có ý nghĩa ở mức thay thế 10-40% và đối chứng, hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) tăng cao và hiệu quả sử dụng protein (PER) giảm thấp theo mức tăng protein rong bún trong thức ăn nhưng khác biệt không

có ý nghĩa giữa các nghiệm thức, tỷ lệ sống không bị ảnh hưởng bởi nghiệm thức

thức ăn Theo Costa et al (2013) nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung bột rong nâu Ascophyllum nodosum với các mức 5, 10, 15, và 20g/kg thức ăn lên tăng trưởng của cá rô phi Oreochromis niloticus Kết quả sau 42 ngày thí nghiệm

cá không bị ảnh hưởng về tăng trưởng, cải thiện được hiệu quả sử dụng thức ăn

và năng xuất cá ở mức bổ sung rong nâu 5- 20g/kg thức ăn Đỗ Quốc Trung, (2013) khi thay thế protein bột cá bằng protein bột rong mền (Cladophoraceae) trong phối chế thức ăn cho cá kèo (Pseudaphocryptes elongatus) ở các mứt 10,

20, 30, 40, 50 Tác giả nhận thấy khi thay 30% protein rong mền thay cho bột cá thì không ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng của cá

Nguyễn Thị Ngọc Anh và ctv (2013), nghiên cứu đánh giá khả năng thay thế protein bột cá bằng protein bột rong bún (Enteromorpha sp.) và bột rong mền (Cladophoraceae) làm thức ăn cho cá tai tượng (Osphronemus goramy) giống

Sau 8 tuần thí nghiệm, tỉ lệ sống của cá tai tượng không bị ảnh hưởng bởi nghiệm thức thức ăn, dao động từ 80,0 đến 82,2% Protein bột cá có thể được thay thế 30% protein rong mền và 45% protein rong bún trong khẩu phần ăn cho cá tai tượng

2.1.6 Vai trò các hợp chất chiết xuất từ rong biển

Thành phần của chất chiết xuất phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu cung cấp (loài rong biển và khu vực thu rong) và phương pháp chiết xuất Các hợp chất có hoạt tính sinh học: polysaccharides, polyphenols, protein, khoáng, sắc tố,

PUFA… (Chojnacka et al., 2012)

Trang 13

Bảng 2: Các hợp chất có hoạt tính sinh học trong chất chiết xuất từ rong biển

Chất hoạt tính sinh học Hoạt tính Tác giả

Thúc đẩy tăng trưởng Vidanarachchi et al (2009)

Polysaccharides Cải thiện sức khỏe Vidanarachchi et al.(2009)

Kháng virus Song et al (2012)

Chống oxy hóa Souza et al (2012)

Cung cấp amino acid thiết yếu

Aguilera-Morales et al (2005)

Protein Kháng khuẩn Cunningham and Joshi, (2010)

Kháng virus Cunningham and Joshi, (2010)

Chống oxy hóa Wijesinghe et al (2011)

Axit béo mạch cao

không no

Kháng nấm Bhagavathy et al (2011)

Cải thiện sức khỏe Pulz and Gross, (2004)

Chống oxy hóa Li and Kim, (2011)

Chống oxy hóa Ganesan, (2011)

Polyphenols Kháng khuẩn Gupta and Abu-Ghannam, (2011)

Kháng virus Gupta and Abu-Ghannam, (2011) Chất khoáng Thúc đẩy tăng trưởng Nwosu et al (2011)

Cải thiện sức khỏe Nwosu et al (2011)

Nguồn: Chojnacka et al (2012)

Theo tài liệu tổng quan của Huỳnh Trường Giang, (2011) β-glucan chiết xuất từ rong biển đã được sử dụng thành công trong việc tăng cường sức đề kháng đối với vi khuẩn gây bệnh thuộc nhóm Vibrio, thậm chí đối với virus đốm trắng trên

một số loài tôm biển như là tôm sú Penaeus monodon, tôm he Nhật Bản Marsupenaeus japonicus, tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei, tôm he Ấn

Độ Fenneropenaeus chinensis, tôm thẻ chân vàng Farfantepenaeus californiensis

và tôm Sao Paulo Farfantepenaeus paulensis Nghiên cứu của Pulz and Gross,

(2004) nhận thấy sắc tố sẽ được tích lũy và làm tăng màu sắc thịt cá Bên cạnh

đó, Holdt et al., 2011 nhận thấy nhóm carotenoids quan trọng trong hợp chất

chiết xuất từ rong bao gồm β-carotene, fucoxanthin và tocopherol Ngoài ra,

Chojnacka et al (2012) cho rằng sử dụng chiết xuất từ rong biển làm giảm hàm

lượng các chất độc

Trang 14

2.2 Sơ lƣợc về cá kèo (Pseudapocryptes elongatus, Cuvier 1816)

2.2.1 Đặc điểm sinh học của cá kèo

Theo Mai Đình Yên, (1992) thì ở Nam Bộ có hai loài cá kèo là Pseudapocryptes lanceolatus (cùng tên P elongatus) (bống kèo vẩy nhỏ) và Parapocryptes serperaster (bống kèo vẩy to) Chúng có thể sống ở nước lợ, mặn và củng có thể

sống và phát triển ở nước ngọt Trên thế giới cá phân bố rộng tại những vùng cửa sông và thủy triều tại Ấn Độ, Bangladesh, Campuchia, Đài Loan, Indonesia, Malaysia, Nhật Bản, Singapore, Tahiti, Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam Tại Việt Nam cá tập trung trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhất là tại Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, thích hợp với các ao hồ kênh-mương nước lợ Cá còn được nuôi tại các ruộng muối ở ĐBSCL chủ yếu là cá kèo vây

nhỏ môi trường sống chủ yếu là đáy bùn

Hệ thống phân loại cá kèo vẩy nhỏ (Pseudapocryptes lanceolatus)

Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) cá kèo có hệ thống phân loại như sau :

Bộ: Perciformes

Họ: Apocrypteidae

Giống: Pseudapocryptes

Loài: Pseudapocryptes elongates (Cuvier, 1816)

Hình 2.1: Cá kèo Pseudapocryptes elongatus

Hình 2 Cá kèo vây nhỏ (Pseudapocryptes lanceolatus)

Cá kèo vẩy nhỏ (Pseudapocryptes lanceolatus) có đầu nhỏ, hình chóp, mõm tù,

hướng xuống, miệng trước hẹp, rạch miệng ngang kéo dài đến đường thẳng kẻ qua cạnh sau mắt Răng hàm trên một hàng, răng cửa to, đỉnh tà răng trong nhỏ mịn Răng hàm dưới một hàng, mọc xiên thưa, đỉnh tà và có một đôi răng chó sau mấu tiếp hợp của hai xương răng, không có râu, mắt tròn nhỏ, nằm phía sau lưng của đầu gần chóp mõm hơn gần điểm cuối nắp mang, khoảng cách giữa hai mắt hẹp, lỗ mang hẹp, màng mang phát triển, phần dưới dính với eo mang Thân hình trụ thon dài, hơi hẹp bên, phần hai xương trẩm có hai đường sóng có phủ vẩy, cuống đuôi ngắn, chiều dài cuống đuôi nhỏ hơn chiều cao cuống đuôi Hai

vi lưng rời nhau, khoảng cách của hai vi này lớn hơn chiều dài vây lưng thứ nhất Khởi điểm vi hậu môn sau khởi điểm vi lưng thứ hai Vi đuôi dài và thon Cá có

Trang 15

màu xám ửng vàng, nửa trên của thân có 7-8 sọc đen hướng xéo về trước, các sọc

này rỏ dần về đuôi

Khi môi trường nước thiếu oxy, cá kèo quạt nước qua mang từng đợt, nhưng gia tăng tần xuất trao đổi khí qua mô và giảm tần xuất trao đổi khí ngoài mô (Martin

và Bridges, 1999)

Theo Rainboth (1996) chiều dài cá kèo có thể đạt đến 20cm, chiều cao thân

khoảng 14% chiều dài chuẩn

2.2.2 Phân bố và tập tính sống

Theo Kottelat và Whitten (1996) được trích bởi Võ Thành Toàn (2005), thì cá kèo sống chủ yếu ở vùng nhiệt đới, nhiệt độ thích hợp nhất cho cá kèo là 23-

28oC

Theo Trương Hoàng Minh và ctv (2009) khi nghiên cứu về cá kèo giống ở tỉnh

Sóc Trăng và Bạc Liêu cho thấy cá phân bố ở rừng ngập mặn, trôi nổi theo dòng nước từ khơi vào nội địa, vào tháng 6-9 cá kèo giống xuất hiện nhiều, chúng có liên quan trực tiếp tới độ mặn, lượng mưa, lưu tốc dòng chảy và độ trong

Nghiên cứu của Takita et al (1999) cho rằng: các loài họ cá bống có khả năng chịu được độ mặn cao Điều này được Bucholtz et al (2009) khẳng định rằng cá

kèo là loài rộng muối có thể sống từ 0-50‰ Thích hợp nhất là 10-25‰

2.2.3 Đặc điểm dinh dưỡng

Theo Trần Đắc Định và ctv (2002) thì tỷ lệ giữa chiều dài ruột (Li) và chiều dài

chuẩn (Lc) là 3.27, khi phân tích thành phần thức ăn trong đường ruột của cá cho thấy thành phần thức ăn khá phong phú, thực vật lẫn động vật có 3 loại thức ăn

có tần số xuất hiện nhiều nhất là tảo khuê (Bacillariophyta) chiếm 82.99% kế đến

là mùn bã hữu cơ chiếm 14.9% và tảo lam chiếm 2.03% động vật phiêu sinh cũng được phát hiện trong ống tiêu hóa nhưng với tỷ lệ rất thấp như: Copepoda 0.058%, Cladophora 0.025% từ kết quả trên tác giả đã kết luận cá kèo là động vật

ăn tạp thiên về thực vật

Trong nuôi thương phẩm cá kèo, thức ăn cho cá kèo cho giai đoạn ương ban đầu (10 ngày - 1 tháng tuổi) có hàm lượng protein dao động từ 28 - 32% Thức ăn cho cá trong các tháng tiếp theo hàm lượng đạm trong thức ăn dao động từ 18 - 25% (nguồn: nongnghiep.vn)

2.2.4 Đặc điểm sinh trưởng

Theo Võ Thành Toàn (2005) theo kết quả phân tích trong 1264 mẫu trong vòng

12 tháng kể từ tháng 3/2002 tại xã Hiệp Thành - Bạc Liêu Dựa theo số liệu tần xuất chiều dài của cá kèo vẩy nhỏ cho thấy chiều dài tối đa mà cá có thể đạt được

Trang 16

là L∞ = 22,1 cm với tốc độ tăng trưởng K = 0,81/năm, t0 = - 0,8 và chỉ số tăng trưởng Φ’ =2,778 Qua phương trình tăng trưởng Von Bertalanffy (1934) cho phép xác định được mối quan hệ giữa tuổi và chiều dài của cá tương ứng với chiều dài tổng đã khảo sát được trong khoảng 8,5-23,5 cm Kết quả cho thấy khi

cá kèo đạt kích thước khoảng 16,9 cm thì cá có thể được một tuổi, khi cá đạt được hai tuổi chiều dài có thể đạt đến 20,7 cm khi cá đạt tới 3 tuổi thì chiều dài

có thể đạt tới 22,9 cm

2.2.5 Các mô hình nuôi cá kèo hiện nay

Hiện nay tình hình dịch bệnh trong ao nuôi tôm diễn ra phức tạp chính vì lẻ đó

mô hình nuôi luân canh giữa tôm và cá kèo hoặc luân canh cá kèo - muối được thực hiện tại các tỉnh như: Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, và Cà Mau (Báo Khoa học phổ thông số 6-2008)

Ở huyện Cù Lao Dung tỉnh Sóc Trăng bước đầu nuôi thử nghiệm cá kèo trong ao đất với mật độ 10-20 con/m2

sau 4 tháng nuôi đạt năng xuất từ 50-500kg/ha/vụ (Trung Tâm Khuyến ngư tỉnh Sóc Trăng, 2003)

Theo Trương Hoàng Minh và Nguyễn Thanh Phương (2011) thì diện tích nuôi cá kèo ở 2 tỉnh Sóc Trăng và Bạc Liêu có diện tích tăng đáng kể 352 ha (2006), 787

ha (2007) ở 2 tỉnh khảo sát

Theo Trần Ngọc Hải và Nguyễn Tấn Nhơn (2009) cá kèo nuôi thương phẩm, diện tích nuôi trung bình 0,60±0,70 ha Cá kèo giống được thả nuôi luân canh với tôm sú, chủ yếu vào mùa mưa với mật độ 80,9±44 con/m2 Cá kèo được cho ăn thức ăn viên và hệ số thức ăn là 1,74±0,19 Thời gian nuôi 4-5 tháng, năng xuất

cá thương phẩm bình quân đạt 4,884±3,013 kg/ha/vụ và lợi nhuận đạt 90,368±95,832 triệu đồng/ha/vụ Mô hình nuôi luân canh vụ tôm sú - cá kèo ở các vuông tôm ven biển Gò Công Đông - Tiền Giang theo đánh giá của cơ quan quản lý Thủy sản ở địa phương thì mô hình này bước đầu cho hiệu quả cao và mang tính bền vững nhờ việc nuôi luân canh nên cắt được mầm bệnh trên tôm sú, mặt khác cá kèo sử dụng mùn bã hữu cơ nên ao nuôi được cải tạo sạch sau vụ nuôi tôm

Ở Bến Tre cá kèo được nuôi luân canh với tôm sú với mật độ 10-30 con/m2 sau

4 tháng nuôi đạt năng xuất 313-1461 kg/ha/vụ (Trần Thị Thu Nga và Dương Nhựt Long, 2005)

Trang 17

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Bột protein tách chiết từ rong mền (Cladophoraceae)

Cá kèo (Pseudapocryptes elongatus)

3.2 Vật liệu nghiên cứu

3.2.1 Nguồn gốc bột rong mền tách chiết và cá kèo

Bột protein chiết xuất từ rong mền (Cladophoraceae) được cung cấp bởi Viện Sinh học Nhiệt đới (ITB), TP Hồ Chí Minh

Cá kèo giống được mua ở Bạc Liêu, cá khỏe mạnh, không dị tật, dị hình Cá được thuần hóa dần về độ mặn 10‰ để bố trí thí nghiệm

3.2.2 Vật liệu và hóa chất dùng trong thí nghiệm

Bể nhựa 70L

Bể composite 2m3

Các hóa chất: Chlorine, formol

Hệ thống máy bơm và sục khí

Khúc xạ kế, máy đo nhiệt độ, pH và bộ testkit SERA

Cân đồng hồ, cân điện tử 02 số lẻ

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp chế biến thức ăn

Rong mền chiết xuất được cung cấp từ Viện Sinh học Nhiệt đới (ITB)

Các nguyên liệu thức ăn thí nghiệm gồm bột rong mền chiết xuất, bột cá, bột đậu nành, dầu đậu nành, dầu mực, gelatin, bột mì và cám gạo, được phân tích thành phần sinh hóa trước khi phối chế thức ăn theo phương pháp AOAC (1995)

Tất cả các nghiệm thức thức ăn có cùng hàm lượng protein (30%), lipid (7%) và mức năng lượng Công thức phối chế thức ăn thí nghiệm được tính toán dựa trên chương trình Solver trong chương trình Excel (Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009) Thức ăn sau khi phối chế ở dạng chìm và sẽ được phân tích thành phần sinh hóa (ẩm độ, protein, lipid, tro, xơ) và được bảo quản trong tủ lạnh

Ngày đăng: 22/09/2015, 12:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Rong mền (Cladophoraceae) - đánh giá khả năng thay thế protein bột cá bằng protein chiết xuất từ rong mền (cladophoraceae) trong phối chế thức ăn cho cá kèo giống (pseudaphocryptes elongatus)
Hình 1. Rong mền (Cladophoraceae) (Trang 9)
Bảng 2: Các hợp chất có hoạt tính sinh học trong chất chiết xuất từ rong biển  Chất hoạt tính sinh học  Hoạt tính  Tác giả - đánh giá khả năng thay thế protein bột cá bằng protein chiết xuất từ rong mền (cladophoraceae) trong phối chế thức ăn cho cá kèo giống (pseudaphocryptes elongatus)
Bảng 2 Các hợp chất có hoạt tính sinh học trong chất chiết xuất từ rong biển Chất hoạt tính sinh học Hoạt tính Tác giả (Trang 13)
Hình 2.1:  Cá kèo Pseudapocryptes elongatus - đánh giá khả năng thay thế protein bột cá bằng protein chiết xuất từ rong mền (cladophoraceae) trong phối chế thức ăn cho cá kèo giống (pseudaphocryptes elongatus)
Hình 2.1 Cá kèo Pseudapocryptes elongatus (Trang 14)
Bảng 3.3.2 Thành phần sinh hóa (% khối lượng khô) thức ăn thí nghiệm - đánh giá khả năng thay thế protein bột cá bằng protein chiết xuất từ rong mền (cladophoraceae) trong phối chế thức ăn cho cá kèo giống (pseudaphocryptes elongatus)
Bảng 3.3.2 Thành phần sinh hóa (% khối lượng khô) thức ăn thí nghiệm (Trang 18)
Bảng 3.3.1 Thành phần hóa học các nguyên liệu thức ăn (% khối lượng khô) - đánh giá khả năng thay thế protein bột cá bằng protein chiết xuất từ rong mền (cladophoraceae) trong phối chế thức ăn cho cá kèo giống (pseudaphocryptes elongatus)
Bảng 3.3.1 Thành phần hóa học các nguyên liệu thức ăn (% khối lượng khô) (Trang 18)
Bảng 3.3.3 Thành phần các nguyên liệu trong thức ăn thí nghiệm (% khối lượng  khô) - đánh giá khả năng thay thế protein bột cá bằng protein chiết xuất từ rong mền (cladophoraceae) trong phối chế thức ăn cho cá kèo giống (pseudaphocryptes elongatus)
Bảng 3.3.3 Thành phần các nguyên liệu trong thức ăn thí nghiệm (% khối lượng khô) (Trang 19)
Bảng 4.2 biểu thị hàm lượng NO 2  trung bình ở các nghiệm thức thức ăn không  khác nhau nhiều, dao động từ 1,04 đến 1,18 mg/L - đánh giá khả năng thay thế protein bột cá bằng protein chiết xuất từ rong mền (cladophoraceae) trong phối chế thức ăn cho cá kèo giống (pseudaphocryptes elongatus)
Bảng 4.2 biểu thị hàm lượng NO 2 trung bình ở các nghiệm thức thức ăn không khác nhau nhiều, dao động từ 1,04 đến 1,18 mg/L (Trang 22)
Hình 4.3.1 Tỷ lệ sống của cá kèo sau 45 ngày - đánh giá khả năng thay thế protein bột cá bằng protein chiết xuất từ rong mền (cladophoraceae) trong phối chế thức ăn cho cá kèo giống (pseudaphocryptes elongatus)
Hình 4.3.1 Tỷ lệ sống của cá kèo sau 45 ngày (Trang 24)
Bảng 4.3 Các chỉ tiêu tăng trưởng về khối lượng  của cá kèo giống sau 45 ngày - đánh giá khả năng thay thế protein bột cá bằng protein chiết xuất từ rong mền (cladophoraceae) trong phối chế thức ăn cho cá kèo giống (pseudaphocryptes elongatus)
Bảng 4.3 Các chỉ tiêu tăng trưởng về khối lượng của cá kèo giống sau 45 ngày (Trang 24)
Bảng 4.5: Hệ số tiêu tốn thức ăn và hiệu quả sử dụng protein (% khối lượng khô) - đánh giá khả năng thay thế protein bột cá bằng protein chiết xuất từ rong mền (cladophoraceae) trong phối chế thức ăn cho cá kèo giống (pseudaphocryptes elongatus)
Bảng 4.5 Hệ số tiêu tốn thức ăn và hiệu quả sử dụng protein (% khối lượng khô) (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w