NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG THANG DINH DƯỠNG KHOÁNG TRÊN LÁ VÀ BƯỚC ĐẦU THỬ NGHIỆM BÓN PHÂN THEO CHUẨN ĐOÁN DINH DƯỠNG CHO CÀ PHÊ VỚI KINH DOANH TẠI ĐĂC LẮC
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN SANH
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG THANG DINH DƯỠNG KHOÁNG TRÊN LÁ VÀ BƯỚC ĐẦU THỬ NGHIỆM BÓN PHÂN THEO CHẨN ĐOÁN DINH DƯỠNG CHO CÀ PHÊ VỐI KINH
DOANH TẠI DAK LAK
Chuyên ngành: Trồng trọt
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI - 2009
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học:
Phản biện 3: TS Hoàng Thanh Tiệm
Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp nhà nước họp tại: Viện đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Vào hồi 8 giờ 30 ngày 15 tháng 5 năm 2009
Có thể tìm luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
- Thư viện Trường Đại học Tây Nguyên
Trang 3DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1 Nguyễn Văn Sanh và CTV(1991), "Trạng thái dinh dưỡng khoáng trên lá cà phê vối
(Coffea canephora robusta) đầu mùa mưa 1990 ở vùng xung quanh Thị xã
Buôn Ma Thuột có năng suất > 3 tấn nhân/ha", Tạp chí Khoa học Kỹ thuật,
Trường Đại học Tây Nguyên 3/1991, trang 25 - 29
2 Nguyễn Văn Sanh (1997), "Chẩn đoán và xây dựng công thức phân bón cho cà phê
vối kinh doanh tại Dak Lak", Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học 20 năm
thành lập Trường Đại học Tây Nguyên, trang 52 - 58
3 Nguyễn Văn Sanh (2000), "Ứng dụng chế phẩm sinh học WEHG để cải tạo bồi
dưỡng và nâng cao năng suất cà phê tại Dak Lak", Tập san Khoa học Kỹ thuật
Nông Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, số 3/2000, Kỷ
niệm 45 năm thành lập Trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, trang
121-123
4 Nguyễn Văn Sanh, Hoàng Minh Tấn (2004), "So sánh hiệu lực của các loại phân
bón: phân khoáng, phân phức hợp, phân sinh học đến năng suất cà phê vối kinh
doanh tại Dak Lak", Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp, Trường Đại học
Nông nghiệp I - Hà Nội, tập II, số 3/2004, trang 181 - 184
5 Nguyễn Văn Sanh và CTV (2006), "Đánh giá hiện trạng sử dụng phân bón cho cà
phê vối Dak Lak", Tạp chí Khoa học đất, số 26/2006, Số đặc biệt chào mừng
Đại hội lần thứ 4 Hội Khoa học Đất Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, trang 51 - 57
6 Nguyễn Văn Sanh (2007),"Xây dựng thang dinh dưỡng khoáng trên lá cho cà phê
vối kinh doanh tại Dak Lak" Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Tây Nguyên,
số 1/2007, trang 104 - 109
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cà phê cung cấp loại thức uống nóng được nhân loại ưa thích, ngày nay hầu như không có nhân dân của một Quốc gia nào là không dùng cà phê Nhu cầu tiêu thụ ngày một tăng nên cây cà phê được xác định là cây mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Ở Dak Lak, sau ngày giải phóng chỉ có vài ngàn ha nhưng đến nay (2007) diện tích cà phê đã ổn định đến 169.345 ha với sản lượng hàng năm đạt khoảng 330.000 tấn nhân, kim ngạch xuất khẩu cà phê trên 300 triệu USD, chiếm 80% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Nhờ cà phê mà đời sống của người dân trồng cà phê từng bước được đổi mới Song không phải thế mà không chấp nhận thực tế: quy luật thị trường chi phối cũng làm cho người trồng cà phê ít vốn lao đao khốn khổ Rõ ràng vốn ít, đầu tư thấp, năng suất thấp, thu nhập kém là điều không tránh khỏi, nhưng cũng phải thừa nhận rằng trên cùng một loại đất với cùng một giống năng suất cà phê phụ thuộc rất lớn vào phân bón và năng lực tay nghề của người quản lý chăm sóc Hơn nữa, khi cà phê đạt được năng suất cao thì dinh dưỡng bị mất đi thông qua sản phẩm càng lớn, cân bằng dinh dưỡng trong cây trở nên không phù hợp, cần phải nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng của cây theo từng giai đoạn để đáp ứng yêu cầu năng suất cao, độ phì đất không giảm sút mà còn mang lại hiệu quả kinh tế nữa Để làm được điều đó thì phải kiểm soát và phát hiện sớm những việc thừa, thiếu các nguyên tố dinh dưỡng trong lá trước khi chúng thể hiện ra triệu chứng bên ngoài nên Sylvain đã nhấn mạnh: 'vấn đề chẩn đoán dinh dưỡng trên lá cà phê là cơ sở khoa học để đưa ra công thức
phân bón hợp lý' Để góp phần giải quyết vấn đề nêu trên chúng tôi tiến hành:"Nghiên cứu
xây dựng thang dinh dưỡng khoáng trên lá và bước đầu thử nghiệm bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng cho cà phê vối kinh doanh tại Dak Lak”
Trên cơ sở thực trạng sử dụng phân bón cho cà phê vối kinh doanh của người dân Dak Lak phân tích các mối quan hệ của hàm lượng các nguyên tố dinh dưỡng khoáng trong đất, trong lá với năng suất cà phê để xây dựng một thang dinh dưỡng các nguyên tố khoáng (N, P, K) trong lá cà phê vối kinh doanh trước khi bón phân, làm cơ sở cho việc điều chỉnh lượng phân bón theo chẩn đoán dinh dưỡng qua lá đối với cà phê vối kinh doanh ở Dak Lak
+ Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về sự tương quan của các nguyên tố khoáng N, P, K, Ca, Mg trong đất, trong lá với năng suất cà phê vối và là
cơ sở khoa học cho phép thông qua phân tích lá để xây dựng thang dinh dưỡng khoáng trên
lá và đánh giá thực trạng dinh dưỡng của vườn cà phê;
Trang 5+ Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị cho việc giảng dạy
và nghiên cứu khoa học theo hướng bón phân dựa theo chẩn đoán dinh dưỡng qua lá;
+ Thang hàm lượng các nguyên tố dinh dưỡng khoáng N, P, K trong lá cà phê vối kinh doanh tại Dak Lak là cơ sở cho việc nghiên cứu để đề xuất một biện pháp bón phân tiên tiến cho cà phê vối, đó là phương pháp bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng qua lá Biện pháp này cho phép đánh giá tình hình dinh dưỡng của cây theo từng giai đoạn, khiến người sản xuất có thể bón phân đúng lúc và sát với yêu cầu của cây, vừa sử dụng tiết kiệm phân bón
mà không gây ô nhiễm môi trường, vừa nâng cao năng suất mà giảm chi phí sản xuất khiến cho giá thành sản phẩm hạ thấp có thể cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường thế giới
sở cho các nghiên cứu ứng dụng theo hướng này nên chưa đưa ra được các ứng dụng cụ thể của thang dinh dưỡng này Vì vậy, cần có các nghiên cứu tiếp tục theo hướng này để có thể hoàn chỉnh được phương pháp bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng qua lá cho cây cà phê;
- Việc thử nghiệm thang dinh dưỡng khoáng trên lá theo DRIS (Diagnosis and Recommendation Integrated Systems) để bón phân cho cà phê cũng chỉ bước đầu thực hiện ở công ty cà phê Thắng Lợi, Êa Pok đại diện cho các vùng trồng cà phê vối của Dak Lak
+ Đã xây dựng được thang dinh dưỡng các nguyên tố khoáng trong lá cà phê vối Dak
Lak vào đầu mùa mưa một cách hoàn chỉnh từ rất thiếu, thiếu, trung bình, tối ưu, thừa, làm tiền đề cho việc bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng qua lá;
+ Lần đầu tiên ở Việt Nam đã sử dụng phương pháp DRIS (N/P, P/K, N/K) để chẩn đoán dinh dưỡng, đề xuất và kiểm nghiệm bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng cho cà phê; + Bước đầu đã thử nghiệm thang dinh dưỡng khoáng trong lá để điều chỉnh lượng phân bón theo DRIS cho 2 công ty cà phê Thắng Lợi và Êa Pok đạt kết quả tốt
Luận án gồm 123 trang (không kể tài liệu tham khảo, phụ lục) Mở đầu 4 trang; Chương 1: Tổng quan tài liệu 34 trang; Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 11 trang; Chương 3: Kết quả và thảo luận 75 trang; Kết luận và đề nghị 3 trang Luận án có 24 bảng biểu số liệu, 17 hình vẽ đồ thị, 8 hình ảnh và tham khảo 99 tài liệu trong
& ngoài nước
Trang 6CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Vai trò cây cà phê đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam
Thập niên 90 của thế kỷ XX cà phê Việt Nam phát triển với tốc độ chóng mặt cả về diện tích lẫn sản lượng Thu hút khoảng 300.000 hộ gia đình với trên 600.000 lao động thường xuyên, vào mùa thu hoạch số lao động cần huy động lên tới 800.000 người chiếm 1,83% tổng lao động của cả nước và 2,93% tổng lao động nông nghiệp Những năm gần đây kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt hơn 2 tỷ USD (2008) góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước
1.2 Những nghiên cứu đất trồng và phân bón cho cà phê
Theo nhiều nghiên cứu cho rằng cà phê có thể trồng trên các loại đất phát triển trên các loại đá mẹ khác nhau: Đá basalt, đá granit, đá vôi, đá phiến sét Bernhard Rothfos, B
R (1970)[79], Raju, T., Thomas, M R., Ganesh, K A (1982)[96], Đoàn Triệu Nhạn (1990)[38], Coste, R (1992)[84] mang lại hiệu quả khác nhau Tuy có thể trồng trên các loại đất khác nhau nhưng tốt nhất vẫn là đất nâu đỏ basalt (Rhodic Ferralsols) (Trương Hồng, 1999)[20] Wrigley, G.(1988)[99] cho rằng cà phê ưa đất giàu mùn, giàu dinh dưỡng,
độ chua thấp, tổng lượng P2O5 ít quan trọng nhưng lại là yếu tố cần thiết đặc biệt cho giai đoạn ra hoa Anonymous (1991) [73], Krishna Murthy Rao (1985) [92] cùng đưa ra một số chỉ tiêu đất trồng cà phê như sau:
Tầng đất pHKCl Mùn% N% C/N P2O5% K2O% > 70cm 4,5 - 5,5 > 2 0,15 - 0,20 12 0,10 - 0,15 0,10 - 0,15 Theo Nguyễn Sỹ Nghị (1982) [37] tiêu chuẩn của đất để trồng được cà phê cho năng suất bình thường phải nằm trong giới hạn sau: N% = 0,15 - 0,20%, P2O5%= 0,08 - 0,10%,
K2O% = 0,10 - 0,15%, hàm lượng mùn tối thiểu là 2% Theo Trương Hồng, Tôn Nữ Tuấn Nam và CTV (1996)[19] tỷ lệ NPK 1:0,3:0,91 đạt năng suất cao nhất, nhưng Phan Kim Hồng Phúc (2000) [42] cho rằng cây cà phê cần dùng lượng N và K gấp ba lần so với lượng
P Vì vậy, phân hỗn hợp NPK phải được sản xuất theo tỷ lệ 1 : 0,3 : 1 là hợp lý hơn cả Tôn
Nữ Tuấn Nam (1993)[32] tiến hành cân đối P trên nền NK (N0 = 0, N1 = 150, N2 = 300 kg N/ha; K0 = 0, K1 = 150, K2 = 300 kg K2O/ha) kết quả cho thấy trên nền N0K0 có bón lân tăng
từ 0 đến 200 kg P2O5/ha năng suất không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các nghiệm thức, thậm chí ở mức lân cao nhất 200 kg P2O5/ha còn làm giảm năng suất so với không bón và bón 100 kg P2O5/ha Khi nghiên cứu cân đối NPK với năng suất và phẩm chất cà phê vối Dak Lak Trình Công Tư (2000) [67] cho rằng trên nền PK (P1 = 100, P2 = 150, P3 = 200 kg
P2O5/ha; K1 = 200, K2 = 300, K3 = 400 kg K2O/ha) bón N từ 200 đến 400 kg N/ha có làm
Trang 7thay đổi năng suất cà phê khá rõ, tương quan giữa các nguyên tố cho thấy bón N cao trên nền P và K cao mới làm tăng năng suất cà phê Còn trên nền P và K thấp có bón tăng N cũng không làm thay đổi năng suất cà phê
1.3 Những nghiên cứu bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng qua lá
1.3.1 Trên thế giới
Trên thế giới phương pháp bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng qua lá đã được áp dụng từ lâu Năm 1957, Chaverri ở Costa Rica (dẫn qua Đoàn Triệu Nhạn,1984 [39]) cho rằng hàm lượng N thích hợp trong lá đầu mùa mưa là 3,0%, vượt quá giới hạn này được xem là thừa N Hàm lượng P trong lá biến thiên từ 0,12 đến 0,14% là thích hợp Về K từ 1,5 đến 2,5% được xem là mức độ thích hợp nhất cho cà phê ở Costa Rica Về Ca, hàm lượng thích hợp lớn hơn 1,5% Loue, A (1958)[93] đưa ra giá trị dinh dưỡng ở cặp lá thứ 3 như sau: 1,5-1,8% thiếu N nghiêm trọng, từ 2,5-2,8% thiếu ít, từ 2,8-3,0% cần bón ít, từ 3,0-3,3% có thể thừa N Forestier (1966) [88] đưa ra ngưỡng tối thích cho cà phê vối là
N = 3,05%, P = 0,13-0,14%, K = 1,8-2,0%, Mg = 0,35%, N/P >18 là có triệu chứng thiếu P Năm 1967, Benac, R [77] nghiên cứu nhu cầu các nguyên tố đa lượng trong cây cà phê ở vùng Bamoun thuộc Cameroon giới hạn tối thích và cân đối cho cà phê Bamoun là: N = 2,8 - 3,3%, P = 0,12 - 0,15%, K = 1,5 - 2,5%, Mg = 0,30 - 0,36%, Ca = 1,4 - 1,6%, N/P = 12,6 - 16,5 Beaufils, E.R (1973)[78] đưa ra phương pháp DRIS (Diagnosis and Recommendation Integrated Systems) hệ thống kết hợp chẩn đoán và đề xuất, sau đó hàng loạt các công trình dựa theo phương pháp này được ra đời như của Jones, C.A.(1981)[91], Malavolta, E (1990)[94], Bataglia, O.C.; Santos, W.R.; Quaggio, J.A.(2001)[75], Bataglia, O.C.; Santos, W.R.; Quaggio, J.A.(2004)[74]
1.3.2 Trong nước
Tình hình nghiên cứu cũng như kết quả đạt được còn nhiều bất cập, rời rạc và chưa
hệ thống Đoàn Triệu Nhạn (1984)[39] khởi xướng việc chẩn đoán dinh dưỡng cho cà phê vối Tây nguyên ông đưa ra giá trị ban đầu như sau: N = 2,7-3,0%, P = 0,11-0,13%, K = 2,0-2,2%, Ca = 1,4-1,6%, Mg = 0,33-0,35% Từ năm 1986-1990, Nguyễn Tri Chiêm (1994)[9] đưa ra giá trị thích hợp là N = 2,8-3,5%, P = 0,11-0,15%, K = 1,6-1,8%, Ca = 1,2-1,6%,
Mg = 0,25-0,35% Trương Hồng và cộng sự (2000)[22] nghiên cứu trên các vườn cà phê có năng suất > 5 tấn nhân/ha và xác định phạm vi dinh dưỡng thích hợp như sau: N = 3,07-3,21%, P = 0,121-0,127%, K = 1,82-2,02%, Ca = 0,80-0,90%, Mg = 0,45-0,53%
Như vậy, nghiên cứu xây dựng thang dinh dưỡng khoáng trên lá và ứng dụng bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng cho cà phê chưa đáp ứng yêu cầu của sản xuất hiện nay nên nghiên cứu theo hướng này không những có ý nghĩa khoa học và thực tiễn mà còn là động lực để thúc đẩy sản xuất cà phê Dak Lak phát triển
Trang 8CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng
Cây cà phê vối Coffea canephora var robusta ở độ tuổi 10 - 15 trồng trên đất nâu đỏ
basalt FRr (Rhodic Ferralsols) của Dak Lak
2.2 Nội dung
+ Điều tra, đánh giá tình hình sử dụng phân bón của nhân dân trồng cà phê ở Dak Lak;
+ Nghiên cứu chẩn đoán dinh dưỡng khoáng qua lá cho cà phê vối kinh doanh Dak
Lak;
+ Bước đầu thử nghiệm bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng qua lá cho cà phê vối
kinh doanh tại Dak Lak:
- Thử nghiệm 1: Nghiên cứu thử nghiệm thang dinh dưỡng khoáng trên lá để điều
chỉnh lượng phân bón cho cà phê vối kinh doanh ở Công ty cà phê Thắng Lợi, Dak Lak;
- Thử nghiệm 2: Hiệu quả của việc thử nghiệm bón phân theo chẩn đoán dinh
dưỡng kết hợp phân hữu cơ sinh học cho cà phê ở Công ty cà phê Êa Pok, Dak Lak
2.3 Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp điều tra đánh giá tình hình sử dụng phân bón và năng suất cà phê vối
Dak Lak: Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn RRA (Rapid Rural Appraisal);
+ Phương pháp tính hiệu quả đầu tư phân bón: FIE = GR - (TVC1+ TVCf)/TVCf;
VCR = VY/CF
+ Phương pháp lấy mẫu và phân tích đất, lá theo quy trình phổ biến hiện hành;
+ Phương pháp xây dựng thang dinh dưỡng khoáng trên lá cà phê theo giá trị trung
bình x = ∑ xi / n và độ lệch chuẩn δ = ∑(x - x)2 Rất thiếu: < x - 2δ,
Thiếu:x - 2δ → x - δ, n(n-1) Trung bình:x - δ → x + δ Tối ưu: x + δ → x + 2δ, Thừa > x + 2δ;
Recommendation Integrated Systems);
+ Phương pháp bố trí thí nghiệm: Cả 2 thử nghiệm đều bố trí theo khối ngẫu nhiên
đầy đủ (Randomized complete block design) gồm 4 công thức (1 công thức gồm 9 cây cà
phê), 3 lần nhắc, 12 ô cơ sở, tổng diện tích cho 1 thử nghiệm là 2700m2;
+ Phương pháp xử lý số liệu: Statgraphic và Microsoft Excel
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Điều tra đánh giá tình hình sử dụng phân bón cho cà phê vối Dak Lak
3.1.1 Thực trạng sử dụng phân bón và năng suất cà phê vối Dak Lak
Kết quả điều tra 86 hộ trồng cà phê trên 3 huyện Krông Ana, Êa Kar, Buôn Đôn
(bảng 3.1) các hộ sử dụng phân bón rất tuỳ tiện, thiếu hiểu biết, nhiều hộ chỉ sử dụng phân
Trang 9đơn nhưng không đủ 3 loại phân N, P, K có hộ vừa sử dụng phân đơn vừa sử dụng phân
phức hợp nhưng tỷ lệ NPK không thích hợp, đặc biệt có đến 78% số hộ bón phân phức hợp
NPK 16-16-8 Lượng phân đạm đầu tư thấp nhất là 48kg đến cao nhất 2102,2 kgN/ha, lượng
phân lân đầu tư thấp nhất 6 kg đến cao nhất 283,2 kg P2O5/ha, lượng phân kali đầu tư thấp
nhất 26,4 kg đến cao nhất 840 kg K2O/ha Như vậy đầu tư lượng phân ở mức thấp thì quá
thiếu, ở mức cao lại vượt quá xa so với quy trình[28], cá biệt tổng lượng phân thương phẩm
cao nhất lên tới 5284 kg/ha Trong 86 hộ điều tra chỉ có 22% số hộ bón phân cân đối, tỷ lệ
thích hợp, hiệu quả cao
Bảng 3.1 Thực trạng sử dụng phân bón và năng suất cà phê của 3 huyện Krông Ana,
Êa Kar, Buôn Đôn, tỉnh Dak Lak (2002-2003) (trích một số hộ đại diện)
stt Họ và tên kg nguyên chất/ha Tỷ lệ phân hữu cơ Năng suất
3.1.2 Thực trạng bón phân theo tỷ lệ N:P:K và năng suất cà phê vối Dak Lak
Theo số liệu ở bảng 3.1 người dân trồng cà phê ở Dak Lak bón phân tùy tiện không
tuân thủ theo quy trình nên chúng tôi tìm thấy không có hộ nào bón phân theo tỷ lệ NPK thích
hợp mà các nhà khoa học đã khuyến cáo, cũng không thấy có tỷ lệ NPK nào chiếm đại đa số
mà hoàn toàn bón phân một cách tùy tiện nên tỷ lệ NPK được phân bố rãi rác theo các tỷ lệ
1: 0,74 : 1,56; 1: 0,21 : 0,73; 1: 0,36 : 0,53; 1: 0,81 : 0,41; 1: 0,59 : 0,99 và 1: 1 : 0,50 trong đó
bón phân theo tỷ lệ 1: 0,74 : 1,56 đạt năng suất thấp nhất 1,1 tấn nhân/ha nhưng bón phân theo
Trang 10tỷ lệ 1: 1 : 0,50 đạt năng suất cao nhất 6 tấn nhân/ha Song nếu chỉ bón phân khoáng với mức đầu tư thấp không kết hợp phân hữu cơ nhưng theo tỷ lệ 1: 0,3 : 1 thì vẫn đạt được năng suất
từ 2,9 - 4,4 tấn nhân/ha điều đó cho thấy đầu tư cân đối tỷ lệ NPK có tầm quan trọng trong việc đáp ứng yêu cầu của cây cà phê tạo ra năng suất và hạ giá thành sản phẩm
3.1.3 Phân hữu cơ và năng suất cà phê vối Dak Lak
Theo số liệu ở bảng 3.1 cho thấy:
+ Ở huyện Krông Ana nông dân bón lượng phân vô cơ rất cao và tỷ lệ NPK cũng không thích hợp nhưng năng suất đạt khá cao từ 3,2 - 6,0 tấn nhân/ha là do 100 % các hộ trồng cà phê của huyện Krông Ana có bón phân vô cơ kết hợp với phân hữu cơ từ 10 - 20 tấn phân hữu cơ/ha Trong đó để đạt năng suất 6,0 tấn nhân/ha các hộ đã bón kết hợp với phân hữu cơ từ 17 - 20 tấn/ha, để đạt được năng suất 5,0 - 5,7 tấn nhân/ha thì các hộ đã bón kết hợp với phân hữu cơ từ 13 - 19 tấn /ha, để đạt được năng suất từ 3,2 - 4,6 tấn nhân/ha các hộ đã bón kết hợp với phân hữu cơ từ 10 - 20 tấn Đáng chú ý nhất là khả năng tiết kiệm phân vô cơ khá lớn như hộ Nguyễn Văn Hòa để đạt được 6,0 tấn nhân/ha hộ này đã bón
2400 kg phân NPK + 20 tấn phân hữu cơ, trong khi hộ Đặng Ngọc Nhân để đạt được năng suất 5,0 tấn nhân/ha hộ này đã bón 2875 kg phân NPK + 18 tấn phân hữu cơ
+ Ở huyện Êa Kar năng suất cà phê thấp nhưng chênh lệch nhau khá lớn, năng suất thấp nhất chỉ có 1,1 tấn nhân/ha nhưng cao nhất lên tới 5,7 tấn nhân/ha Sở dĩ có tình trạng này là do lượng phân vô cơ đầu tư chênh nhau quá lớn và chỉ có 2/30 hộ được điều tra là có bón kết hợp phân vô cơ với phân hữu cơ Hộ Bùi Quang Trung bón lượng phân hóa học cao nhất đến 4705 kg phân NPK nhưng không có kết hợp với phân hữu cơ nên năng suất cũng chỉ đạt 3,5 tấn nhân/ha Trong khi để đạt được năng suất 3,3 tấn nhân/ha hộ Lê Văn Tâm chỉ cần bón 2700 kg phân NPK kết hợp với 10 tấn phân hữu cơ Rõ ràng khi bón phân cho cà phê có kết hợp với phân hữu cơ đã tiết kiệm khá lớn lượng phân hóa học và tăng hiệu quả của phân hóa học khá cao Vai trò của phân hữu cơ chưa được nông dân huyện Êa Kar coi trọng đúng mức nên số hộ bón kết hợp phân vô cơ với phân hữu cơ rất ít
+ Ở huyện Buôn Đôn lượng phân hóa học được bón cho cà phê tương đối thấp so với
2 huyện trên và tỷ lệ NPK cũng chưa thích hợp nên năng suất chỉ đạt được từ 1,3 - 4,1 tấn nhân/ha Phần lớn các hộ trồng cà phê huyện Buôn Đôn bón phân không có kết hợp phân hóa học với phân hữu cơ, chỉ có 6 hộ bón kết hợp phân hữu cơ với số lượng thấp đều < 5,5 tấn phân hữu cơ/ha nhưng vẫn đạt được năng suất khá cao từ 2,9 - 4,1 tấn nhân/ha, các hộ còn lại không bón kết hợp với phân hữu cơ chỉ đạt được năng suất từ 1,3 - 3,3 tấn nhân/ha Nếu bón cùng tỷ lệ NPK 1 : 1 : 0,5 nhưng năng suất chênh nhau khá lớn giữa có và không
có kết hợp bón phân hữu cơ như hộ Đinh Sĩ Phu bón theo tỷ lệ 1 : 1 : 0,5 không kết hợp phân hữu cơ thì đạt được năng suất 2,9 tấn nhân/ha nhưng hộ Đinh Viết Hải cũng bón theo
tỷ lệ 1 : 1 : 0,5 có kết hợp 4,4 tấn phân hữu cơ thì đạt được năng suất 4,1 tấn nhân/ha Cùng
Trang 11bón lượng phân NPK như nhau nhưng có kết hợp phân hữu cơ thì năng suất chênh nhau khá
rõ chứng tỏ sự kết hợp này đã tiết kiệm được phân hóa học khá lớn
Như vậy có thể thấy có 37/86 hộ điều tra là có bón phân hữu cơ từ 3,3- 20 tấn phân hữu cơ/ha và đạt được năng suất từ 2,9 - 6,0 tấn nhân/ha Nhưng điều đáng chú ý là mức bón phân hữu cơ đã góp phần tạo ra năng suất khác biệt giữa các vườn cà phê khá lớn Kết quả của điều tra cho thấy có 5/37 hộ bón phân hữu cơ với mức < 5 tấn phân hữu cơ/ha thì năng suất đạt được từ 2,9 - 4,1 tấn nhân/ha, có 3/37 hộ bón phân hữu cơ với mức từ 5 - 10 tấn phân hữu cơ thì năng suất đạt được từ 3,4 - 4,0 tấn nhân/ha, nhưng nếu bón với mức
> 10 tấn phân hữu cơ thì năng suất đạt được từ 3,0 - 6,0 tấn nhân/ha có đến 29/37 hộ Vì vậy, vai trò của phân hữu cơ thể hiện khá rõ nên bón phân hữu cơ luôn là yêu cầu bắt buộc trong canh tác cà phê, hơn nữa vùng nhiệt đới quá trình khoáng hóa xảy ra mạnh có thể > 2% nên lượng hữu cơ bị mất đi rất lớn cần phải thường xuyên bổ sung chất hữu cơ cho đất
3.1.4 Tỷ lệ lượng phân vô cơ và năng suất cà phê vối Dak Lak
Bảng 3.2 Tỷ lệ lượng phân bón vô cơ và năng suất cà phê vối Dak Lak (2003)
Phân bón và năng suất cà phê huyện Krông Ana
Chỉ tiêu < 100 kg 100 - 300 301 - 500 501 - 700 701 - 900 >900kg/ha Phân Đạm
Phân Lân
Phân Kali
0 16,67/3,6-4,1
0
3,33/ 3,2 56,67/3,2-6,0 6,67/ 3,8-4,6
26,67/3,0- 6,0 3,33/ 4,0 76,67/3,0-6,0
0 6,67/ 4,6-5, 7 16,66/4,1-5,0
33,33/3,8-6,0 13,33/3,8-6,0
0
36,67/3,6-5,0 3,33/5,0
0 Phân bón và năng suất cà phê huyện Êa Kar
Chỉ tiêu < 100 kg 100 - 300 301 - 500 501 - 700 701 - 900 >900kg/ha Phân Đạm
Phân Lân
Phân Kali
0 10,00/2,0-5,7 3,33/4,0
6,66/2,2- 3,1 16,67/1,4-4,4 10,00/2,2-3,1
30,00/1,1-3,3 23,33/1,3-3,5 46,67/1,1-3,3
16,67/1,4-2,8 16,67/1,1-3,1 13,33/2,0-4,4
23,33/2,2-4,4 20,00/2,6-4,4 16,67/2,5-5,7
23,33/2,0-5,7 13,33/2,2-4,4 10,00/2,2-4,4 Phân bón và năng suất cà phê huyện Buôn Đôn
Chỉ tiêu < 100 kg 100 - 300 301 - 500 501 - 700 701 - 900 >900kg/ha Phân Đạm
Phân Lân
Phân Kali
0 36,66/1,7-4,0 20,00/1,4-3,3
36,66/1,3-4,1 30,00/1,3-4,1 70,00/1,7-4,1
40,00/1,5-3,0 26,67/1,8-3,0 10,00/1,5-3,4
16,67/2,9-3,0 6,67/ 1,8-3,0
- Tử số là phần trăm các hộ bón phân vô cơ ở mức đó (%)
- Mẫu số là năng suất biến động của hộ bón phân vô cơ ở mức đó (tấn nhân/ha)
Kết quả của bảng 3.2 cho thấy để đạt được năng suất từ 3,8 đến 6,0 tấn nhân/ha các
hộ trồng cà phê huyện Krông Ana đã bón lượng phân đạm từ 701 đến 900 kg chiếm 33,33%, để đạt năng suất từ 3,6 đến 5,0 tấn nhân/ha các hộ đã bón lượng phân đạm > 900 kg/ha chiếm 36,67% Như vậy, có thể thấy để đạt được năng suất cao các hộ trồng cà phê huyện Krông Ana đã đầu tư tổng lượng phân đạm khá cao chiếm tới 70,00%, song cũng có tới 26,67% chỉ bón từ 301 đến 500 kg nhưng vẫn đạt được năng suất từ 3,0 - 6,0 tấn
Trang 12nhân/ha Đối với phân lân, tính mất cân đối thể hiện khá rõ bởi vì có tới 56,67% số hộ bón lượng phân lân từ 101 - 300 kg để đạt được năng suất từ 3,2 đến 6,0 tấn nhân/ha, số hộ còn lại bón theo các mức nhưng mức bón cao chiếm tỷ lệ ít, lượng bón từ 301 đến > 900 kg chỉ chiếm 26,66% Đối với phân kali các hộ đã bón từ 301 - 500 kg chiếm 76,67% để đạt được năng suất từ 3,0 đến 6,0 tấn nhân/ha Thực tế trên toàn huyện xu hướng bón phân ở mức cao chiếm ưu thế nhưng năng suất không tương quan đồng thuận với lượng phân bón vào, điều này làm cho giá thành sản phẩm tăng cao, hiệu quả đầu tư thấp là điều hiển nhiên
Ở huyện Êa Kar để đạt được năng suất từ 1,1 đến 3,3 tấn cà phê nhân/ha, lượng phân đạm đã được bón từ 301 - 500 kg, chiếm 30,00% Số hộ bón trên 700 kg chiếm 46,66% đạt được năng suất từ 2,0 đến 5,7 tấn nhân/ha Đối với phân lân, ở huyện Êa Kar không có mức bón nào chiếm đại đa số mà rãi rác từ mức < 100 kg đến mức > 900 kg, trong đó đáng chú ý nhất là mức bón từ 301 - 500 kg chiếm 23,33% để đạt được năng suất từ 1,3 - 3,5 tấn nhân/ha Đối với phân kali thì ngược lại có đến 46,67% các hộ bón từ 301 - 500 kg, mức bón < 301 kg và mức > 900 kg rất ít chỉ chiếm 3,33% đến 10,00%
Ở huyện Buôn Đôn, để đạt được năng suất từ 1,3 - 4,1 tấn cà phê nhân/ha lượng phân đạm đã được bón từ 100 - 500 kg, chiếm 76,66%, mức bón > 701 kg rất hiếm chỉ chiếm 6,67%, không có hộ nào bón với mức > 900 kg N là nguyên tố đa lượng tối quan trọng nhưng các hộ đã bón tương đối thấp, chứng tỏ khả năng đầu tư của các hộ trồng cà phê ở Buôn Đôn phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế của gia đình rất lớn Lượng phân lân đã bón từ < 100 - 300 kg chiếm 66,66%, không có hộ nào bón trên 700 kg và từ 501 đến 700 kg cũng chỉ có 6,67% số
hộ bón Mức bón thấp chiếm đại đa số Lượng phân kali đã bón từ 100 - 300 kg chiếm 70,00%, mức bón < 100 kg chiếm 20%, trong khi mức 301 đến 500 kg chỉ có 10% số hộ bón Không có hộ nào bón mức trên 500 kg Như vậy cho thấy hầu như 2/3 số hộ dân Buôn Đôn bón phân tương đối thấp, nhưng hiệu quả đầu tư phân bón tương đối cao Điều đó chứng tỏ khi bón phân cho cà phê tạo sự cân đối giữa các nguyên tố đa lượng trong cây cà phê là rất quan trọng Cho nên bón phân ở mức thấp nhưng cân đối vẫn cho năng suất và hiệu quả kinh
tế cao
3.1.5 Hiệu quả sử dụng phân bón cho cà phê vối Dak Lak
Hiệu quả đầu tư phân bón cao không phải do đầu tư cao hay thấp mà do đầu tư phân bón cân đối đáp ứng được yêu cầu của cây tạo ra năng suất cao Ở huyện Krông Ana, với mức đầu tư phân bón từ 7.080.000 đ đến 10.371.000 đ, thu được lợi nhuận từ 20.590.000 đ đến 38.178.000 đ, đạt tỷ suất lợi nhuận đầu tư phân bón từ 1,65 đến 5,38 lần Nhưng ở huyện Êa Kar, mức đầu tư phân bón từ 2.267.000 đ đến 10.628.000 đ, chênh nhau quá lớn tạo ra năng suất cách biệt nhưng không cao, lợi nhuận thấp nên tỷ suất lợi nhuận đầu tư phân bón chỉ đạt từ 0,87 đến 4,28 lần Ở huyện Buôn Đôn, mức đầu tư phân bón chỉ bằng 1/2 so với 2 huyện trên nhưng tỷ lệ NPK cân đối hơn nên tỷ suất lợi nhuận đầu tư phân bón đạt từ 2,13 đến 5,62 lần
Trang 13Bảng 3.3 Hiệu quả kinh tế của việc đầu tư phân bón cho cà phê Dak Lak
có năng suất > 3 tấn nhân/ha (2003)
Phân chuồng ( tấn/ha)
18
436
320
208 52.250 23.750 17.708 5.561 34.542 4,27
19
486
320
296 47.500 19.000 19.691 6.242 27.809 3,04
12
441
160
209 34.200 5.700 13.610 3.463 20.590 1,65
20
384
284
240 57.000 28.500 18.822 5.300 38.178 5,38 Huyện Êa Kar
Phân chuồng ( tấn/ha)
0
360
320
48 38.000 9.500 15.857 2.217 22.143 4,28
0
590
464
568 42.180 13.680 19.447 6.166 22.731 2,22
0
3385
23
428 54.245 25.745 35.937 20.265 18.308 1,27
0
360
32
840 41.800 13.680 17.947 3.749 23.853 3,65 Huyện Buôn Đôn
Phân chuồng ( tấn/ha)
950 13.668
390 15.782 2,44
4,4
312
125
170 34.200 5.700 14.949 1.387 19.251 4,11
5,5
240
240
240 32.300 3.800 16.201 1.781 16.099 2,13
3,3
203
80
203 30.400 2.850 13.464
711 16.936 4,01
4,4
266
133
266 38.950 10.450 15.765 1.858 23.185 5,62 Như vậy, có thể thấy nông dân sản xuất cà phê của Dak Lak bón phân rất tùy tiện, thiếu hiểu biết, mang lại hiệu quả kinh tế thấp Vì vậy, người dân Dak Lak rất cần phương pháp bón mới, rà soát lại lượng đầu tư năm trước mà xây dựng lượng phân cho phù hợp với nhu cầu của cây, có thể kiểm soát được lượng dinh dưỡng cung cấp cho cây, sau khi bón phải theo dõi động thái dinh dưỡng hấp thu lên lá bảo đảm thoả mãn nhu cầu của cây chưa nhưng không được lãng phí, bón đúng và sát với yêu cầu thực tế của cây Đó chính là nội dung của bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng qua lá