1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

điều tra thực trạng thuyền viên; trang bị an toàn; cứu hỏa cho nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 150 – 400cv

90 646 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 5,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực tiễn lao động sản xuất trên các tàu câu cá ngừ đại dương, với mục tiêu đảm bảo an toàn hàng hải cho người và phương tiện tham gia hoạt động khai thác trên biển.. Tôi đã được Khoa

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Đức Sĩ, người đã luôn động viên, chỉ dẫn tôi giải quyết những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện và hoàn thành đồ án

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giảng viên Trường Đại học Nha Trang, đặc biệt là các thầy giáo trong khoa Khai thác-Hàng hải đã tận tình dạy bảo, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, rèn luyện và thực hiện đồ án

Xin chân thành cảm ơn các cán bộ công tác tại Chi cục BVNLTS Khánh Hòa, các cán bộ công tác tại UBND Phường Xương Huân- TP Nha Trang và các cơ quan ban ban ngành liên quan đã cung cấp những thông tin

bổ ích giúp cho đồ án được hoàn thiện Cảm ơn các thuyền trưởng, thuyền viên làm việc trên các tàu câu cá ngừ đại dương trên địa bàn phường Xương Huân đã cung cấp những thông tin quí giá về thực tế trong quá trình sản xuất, làm nền tảng cho việc nghiên cứu

Con xin chân thành cảm ơn ba, mẹ và những người thân trong gia đình

đã chăm sóc, dạy dỗ, tạo mọi điều kiện tốt và động viên khích lệ con trong suốt thời gian học tập

Cuối cùng, xin gởi lời cảm ơn đến tất cả các bạn bè, những người đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình thực hiện đồ án

Nha Trang 20/10/2007

Lê Xuân Hùng

Trang 2

MỞ ĐẦU

Thủy sản là một trong ba ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp rất lớn vào công cuộc phát triển chung của đất nước Với mục tiêu là phát triển nghề cá xa bờ nhằm bảo vệ và tái tạo nguồn lợi ven biển, đảm bảo an ninh chủ quyền của vùng biển Việt Nam, trong những năm vừa qua, Nhà nước ta đã có những chính sánh hỗ trợ nhằm khuyến khích phát triển các đội tàu công suất lớn có đủ khả năng hoạt động xa bờ Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm thế nào để đảm bảo an toàn hàng hải cho các tàu

cá hoạt động đánh bắt Việc phát triển các đội tàu công suất lớn chỉ có thể thực hiện ở những doanh nghiệp khai thác hải sản, còn đối với các tàu của ngư dân thì còn rất nhiều khó khăn do vấn đề tài chính

Hiện nay, toàn tỉnh Khánh Hòa có trên 6000 tàu thuyền hoạt động khai thác thủy sản Với chiến lược bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven bờ tránh nguy cơ cạn kiệt, trong những năm gần đây, tỉnh đã có những chủ trương chính sánh khuyến khích ngư dân tổ chức khai thác ở vùng biển xa bờ Trong đó, phát triển mạnh đội tàu câu

cá ngừ đại dương là một trong những mục tiêu được đề ra Đây là một nghề tương đối nguy hiểm, làm việc trong điều kiện sóng gió, cường độ lao động cao cho nên rủi ro xảy ra đối với ngư dân là rất lớn Ngư trường khai thác là nơi thường có những cơn bão, mật độ tàu thuyền hoạt động cao Chính vì vậy, việc đảm bảo an toàn cho ngư dân hoạt động trên biển, tránh những rủi ro, giảm thiểu tai nạn luôn luôn được đặt ra

Từ thực tiễn lao động sản xuất trên các tàu câu cá ngừ đại dương, với mục tiêu đảm bảo an toàn hàng hải cho người và phương tiện tham gia hoạt động khai thác trên biển Tôi đã được Khoa Khai Thác – Hàng Hải, Trường Đại học Nha Trang giao cho thực hiện đồ án tốt nghiệp:

“Điều tra thực trạng thuyền viên; trang bị an toàn; cứu hỏa cho nghề câu

cá ngừ đại dương nhóm công suất 150 – 400CV của phường Xương Huân – TP Nha Trang – Tỉnh Khánh Hòa”

Trang 3

Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các tàu công suất từ 150 – 400CV trên địa bàn phường Xương Huân về thực trạng thuyền viên, trang bị an toàn, cứu hỏa nhằm phân tích những nguy cơ tiềm ẩn tai nạn, từ đó đề xuất mô hình phù hợp cho các tàu này

Đồ án được thực hiện với những nội dung sau:

1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

2 Thực trạng thuyền viên, trang bị an toàn, cứu hỏa trên các tài câu cá ngừ đại dương công suất 150 – 400 trên địa bàn phường Xương Huân

3 Phân tích các nguy cơ tiềm ẩn tai nạn

4 Đánh giá và đề xuất

Mặc dù đã hết sức cố gắng để hoàn thành tốt nội dung của đồ án, nhưng do kiến thức, tầm hiểu biết của bản thân cũng như điều kiện thực hiện của đồ án còn nhiều hạn chế Chắc chắn đồ án sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự đóng góp ý kiến của Cán bộ hướng dẫn, quí Thầy Cô và bạn đọc để đồ án hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Nha Trang 20/10/2007 Người thực hiện

Lê Xuân Hùng

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Ý Nghĩa

TP Thành phố BVNLTS Bảo vệ nguồn lợi thủy sản

CM Chuyên môn

Trang 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan nghề cá tỉnh Khánh Hòa:

1.1.1 Phân bố dân cư nghề cá theo đơn vị hành chính:

Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Khánh Hòa

Khánh Hòa có diện tích tự nhiên là 5.197 km2, nằm ở tọa độ địa lý từ 108°40’33"E đến 109°27’55"E và từ 11°42’50"N đến 12°52’15"N Bờ biển tỉnh Khánh Hòa kéo dài từ xã Đại Lãnh tới cuối vịnh Cam Ranh, có độ dài khoảng 385

km (tính theo mép nước) với nhiều đầm, vịnh, hàng trăm đảo lớn, nhỏ và vùng biển

Trang 6

rộng lớn Đặc biệt, huyện đảo Trường Sa là nơi có vị trí kinh tế, an ninh quốc phòng quan trọng của cả nước Dọc theo bờ biển từ Đại Lãnh trở vào đến Ghềnh Đá Bạc, Khánh Hòa có 4 vịnh lớn, đó là vịnh Vân Phong, vịnh Nha Phu, vịnh Nha Trang (Cù Huân) và vịnh Cam Ranh Số lượng cơn bão đổ bộ vào Khánh Hòa rất ít, thường chỉ là những cơn bão nhỏ, bão không kéo dài như các tỉnh miền Trung khác Tần số bão đổ bộ vào Khánh Hòa chỉ là 0,82 cơn bão/năm so với 3,74 cơn bão/năm

đổ bộ vào bờ biển nước ta Tuy nhiên, do sông suối có độ dốc lớn, cho nên mỗi khi

có bão kèm theo mưa lớn làm cho nước dâng nhanh chóng, trong khi đó sóng biển

và triều dâng lại cản đường nước rút ra biển nên thường gây ra lũ lụt, tác hại đến sản xuất và đời sống của nhân dân

Trong 9 huyện thị và thành phố trực thuộc tỉnh, thì chỉ có 4 huyện thị và thành phố có bề mặt giáp biển, đó là TP Nha Trang, Thị xã Cam Ranh, huyện Vạn Ninh và huyện Ninh Hòa Các cụm dân cư nghề cá tỉnh Khánh Hòa bao gồm:

Bảng 1.1 Phân bố cụm dân cư nghề cá

Nha Trang

Thị xã Cam Ranh

Huyện Vạn Ninh

Huyện Ninh Hòa

1 Phường

Vĩnh Thọ

Xã Cam Bình

Xã Đại Lãnh Xã Ninh Hải

2 Phường

Vĩnh Phước

Phường Cam Linh

Xã Vạn Thọ Xã Ninh Diêm

3 Phường

Xương Huân

Phường Cam Lợi

Xã Vạn Long Xã Ninh Thuỷ

5 Phường

Vĩnh Trường

Phường Cam Thuận

Xã Vạn Thắng Xã Ninh Vân

Phước Đồng

Xã Cam Phú

Thị trấn Vạn Giã Xã Ninh Ích

Trang 7

7 Xã

Vĩnh Lương

Xã Cam Phúc Bắc Xã Vạn Hưng Xã Ninh Lộc

Nam Xã Vạn Lương

Xã Ninh Hà

(Nguồn: Chi cục BVNLTS – Sở Thủy sản Khánh Hòa)

Đề tài tập trung nghiên cứu các tàu câu cá ngừ đại dương công suất 150 – 400CV trên địa bàn phường Xương Huân, đây là một phường nội thành thuộc khối biển của TP Nha Trang, ½ chu vi của phường chạy dọc theo dòng sông Cái ra cửa biển và một phầm bờ biển Nha Trang Diện tích của phường Xương Huân là 0,63km2 với 2150 hộ và 13850 nhân khẩu (tính đến tháng 08/2007) Trên 50% dân

số của phường sống bằng nghề đánh bắt hải sản với 215 tàu thuyền tập trung tại các khu vực Cồn Tân Lập và Cồn Giữa (gồm 7 tổ dân phố)

1.1.2 Năng lực tàu thuyền nghề cá của tỉnh Khánh Hòa :

a Phân chia theo công suất tàu thuyền:

Cho đến tháng 06 năm 2007 thì tổng số tàu thuyền hoạt động nghề cá của toàn tỉnh là 6208 tàu, với tổng công suất là 213840,2CV Số lượng tàu thuyền tập trung ở 4 huyện thị và thành phố đó là: Huyện Ninh Hòa, Huyện Vạn Ninh, Thị xã Cam Ranh và TP Nha Trang Nha Trang là đơn vị có nhiều tàu thuyền hoạt động khai thác thủy sản nhất

Bảng 1.2 Năng lực tàu thuyền nghề cá phân theo công suất tàu

Phân chia công suất Địa phương Tổng công

suất (CV) ≤20 20 ÷ 75 75 ÷ 90 ≥90 Ninh Hoà 12173,7 421 217 8

Trang 8

Qua Hình 1.2 cho thấy tàu thuyền hoạt động nghề cá ở Khánh Hòa chủ yếu

là tàu thuyền có công suất nhỏ (công suất dưới 90CV) Trong tổng số 6208 tàu hoạt động khai thác thủy sản ở Khánh Hòa chỉ có 484 chiếc là có công suất từ 90CV trở lên (chiếm tỷ lệ 7,8%) Số lượng tàu thuyền có công suất nhỏ gồm 5724 chiếc, chiếm 99,2% tổng số tàu thuyền trong toàn tỉnh Thành phố Nha Trang và Thị xã Cam Ranh là hai địa phương có số lượng tàu thuyền nhiều nhất với nhiều tàu có công suất lớn, riêng TP Nha Trang lượng tàu thuyền gồm 3150 chiếc, chiếm 51% tổng số tàu thuyền trong toàn tỉnh, đồng thời cũng là khu vực có nhiều tàu thuyền hiện đại có công suất lớn (> 90CV) bao gồm 418 chiếc tàu trên tổng số 484 chiếc trên toàn tỉnh, chiếm tỷ lệ 86,4%, các tàu này được trang bị để hoạt động đánh bắt

xa bờ Tổng công suất tàu thuyền của TP Nha Trang là 145166CV (chiếm 67,9% công suất tàu thuyền trong toàn tỉnh) Tiếp đó là hai huyện Ninh Hòa và Vạn Ninh

Trang 9

b Phân chia theo nghề:

Số lượng tàu thuyền hoạt động nghề mành, trũ, vây rút chiếm số lượng cao nhất toàn tỉnh, nghề câu là nghề có số lượng tàu ít nhất Ta có thể thấy rõ hơn số lượng tàu thuyền phân chia theo nghề của tỉnh Khánh Hòa thông qua bảng sau:

Bảng 1.3 Năng lực tàu thuyền nghề cá phân chia theo nghề

Nghề khai thác Địa phương

Tổng công suất (cv) Giả

Cản, cước, quét Câu

Mành, trũ, vây rút

Nghề khác

Trang 10

(chiếm tỷ lệ 79,5% tổng số tàu thuyền ở địa phương này và chiếm 18,9% tổng số tàu của toàn tỉnh)

TP Nha Trang là đơn vị có số lượng tàu hoạt động nghề câu lớn nhất toàn tỉnh với 396 chiếc (chiếm tỷ lệ 81,1% tổng số tàu câu của toàn tỉnh), Ninh Hòa là huyện có số lượng tàu câu đứng ở vị trí thứ 2 với 65 chiếc (chiếm 13,3% tổng số tàu câu của toàn tỉnh, tiếp đến là Cam Ranh với 20 chiếc (chiếm 4,1%), cuối cùng là Vạn Ninh với 7 chiếc (chiếm 1,5%)

Số lượng tàu hoạt động nghề giả của Nha Trang nhiều hơn số lượng tàu hoạt động nghề này của các địa phương khác cộng lại (chiếm 59,8% tổng số tàu hoạt động nghề giả của toàn tỉnh) Số lượng tàu hoạt động nghề cản, cước, quét của TP Nha Trang chiểm 62,2% tổng số tàu hoạt động nghề này của toàn tỉnh

Nha Trang là địa phương có sự phát triển cân đối giữa các nghề Số lượng tàu thuyền hoạt động giữa các nghề đều chiếm số lượng lớn so với các đơn vị khác trong toàn tỉnh Cam Ranh là địa phương có số lượng tàu thuyền hoạt động giữa các nghề không có sự đồng đều, số lượng tàu hoạt động nghề mành trũ, vây rút chiếm 36,5% tổng số tàu của đơn vị này

1.1.3 Ngư trường hoạt động:

Ngư trường hoạt động chính của tàu cá Khánh Hòa tương đối rộng, kéo dài

từ Khánh Hòa đến Kiên Giang, trong đó có nhiều tàu thuyền hoạt động xa bờ như lưới kéo, lưới cản, lưới vây và nghề câu cá ngừ đại dương

- Nghề lưới kéo: Ngư trường chính từ Ninh Thuận đến Bà Rịa – Vũng Tàu

- Nghề lưới cản: Ngư trường chính ở Bà Rịa – Vũng Tàu, Kiên Giang, Cà Mau

- Nghề vây: Ngư trường chính ở Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận

- Nghề câu cá ngừ đại dương: Ngư trường kéo dài từ quần đảo Hoàng Sa đến quần đảo Trường Sa Ngư trường hoạt động của các tàu câu cá ngừ đại dương của Khánh Hòa là rất xa bờ (khoảng 50 – 70 giờ tàu chạy) và thay đổi theo mùa Mùa chính (vụ Bắc) từ tháng 12 đến tháng 3 (4) và hoạt động đánh bắt thường diễn ra tại vùng Bắc Biển Đông, Đông Bắc Hoàng Sa, Bắc Trường Sa (từ 120N đến 170N và

Trang 11

1110E đến 1170E) Từ tháng 4 (5) đến tháng 8 (9) là mùa phụ (vụ Nam) và ngư trường rất gần quần đảo Trường Sa, vùng biển Nam Trường Sa (từ 60N đến 110N và

1100E đến 1150E) Có thể thấy rằng cá ngừ có tính di cư theo mùa từ Bắc xuống Nam Sản lượng khai thác cá ngừ chủ yếu là vào vụ Bắc, còn vào vụ Nam thì sản lượng khai thác khá thấp

Hình 1.4 Bản đồ phân bố ngư trường đánh bắt cá ngừ vụ Nam năm 2007

(Nguồn:http://www.fishtenet.gov.vn)Trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 11, chỉ có một số tàu hoạt động đánh bắt cá ngừ đại dương, còn phần lớn các tàu vào bờ để tiến hành bảo dưỡng,

Trang 12

sửa chữa, chuẩn bị cho mùa chính Do ngư trường rộng lớn tàu phải di chuyển xa, tiêu hao nhiều nhiên liệu hơn, vì vậy chi phí của một chuyến biển sẽ nhiều hơn so với các địa phương có ngư trường trọng điểm

Số lượng các tàu thuyền của tỉnh hoạt động ở ngư trường Khánh Hòa không đáng kể, thường là những nghề khai thác nhỏ như: giã cào đơn, nghề mành, nghề trũ, nghề lưới cước,…

1.1.4 Sản lượng khai thác của tỉnh Khánh Hòa:

Thủy sản là ngành kinh tế quan trọng của Khánh Hòa, chiếm 60% tổng kim ngạch xuất khẩu của địa phương, đứng thứ ba cả nước về kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản hàng năm, tỉnh Khánh Hoà xác định đầu tư phát triển thuỷ sản là chiến lược trong chương trình kinh tế biển, nhằm đạt được mục tiêu tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản toàn thời kỳ 2006 – 2010 vượt ngưỡng 1 tỉ USD

Tổng sản lượng khai thác hải sản năm 2006 là 65.000 tấn Sản lượng đánh bắt chủ yếu là của một số nghề chính như: nghề câu cá ngừ đại dương, lưới rê, nghề đăng và nghề khai thác cá đáy Sản lượng khai thác hải sản của tỉnh Khánh Hòa qua các năm từ 2000 đến 2006 được thể hiện thông qua bảng sau:

Bảng 1.4 Sản lượng khai thác hải sản tỉnh Khánh Hòa qua các năm

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Sản lượng

(tấn)

65.000 66.130 67.600 66.095 59.700 66.190 65.000

(Nguồn: Sở Thủy sản Khánh Hòa) Với nghề khai thác cá ngừ đại dương, hàng năm, Khánh Hòa khai thác được khoảng 1.200 đến 1.700 tấn Đối tượng khai thác chủ yếu là các ngừ mắt to và cá ngừ vây vàng trong đó chiếm sản lượng lớn là cá ngừ vây vàng Tuy nhiên, sản lượng không ổn định, mùa khai thác chính tương đối ngắn, từ tháng 12(1) đến tháng 3(4), kỹ thuật đánh bắt cùng với công nghệ bảo quản cá sau khai thác chưa tốt nên chất lượng cá không cao, ảnh hưởng đến giá cả bán ra, làm giảm hiệu quả khai thác

Trang 13

54000 56000 58000 60000 62000 64000 66000 68000

sản lượng (tấn)

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006

năm sản lượng khai thác

Hình 1.5 Biểu đồ sản lượng khai thác hải sản của tỉnh Khánh Hòa

1.1.5 Lao động khai thác hải sản:

Theo thống kê của Sở Thủy sản Khánh Hòa thì hiện có khoảng 64.000 lao động nghề cá, trong đó có khoảng 20.500 lao động làm nghề khai thác hải sản (chiếm khoảng 32%) Số lượng lao động hoạt động khai thác hải sản trình độ còn hạn chế, phần lớn chưa tốt nghiệp phổ thông cơ sở

Phần lớn lao động không được đào tạo qua trường lớp về trình độ nghề nghiệp, họ làm việc chủ yếu theo kinh nghiệm thực tế trong quá trình sản xuất trên biển và học hỏi thông qua những người đi trước theo phương thức “cha truyền con nối” Đội ngũ thuyền trưởng, máy trưởng hầu hết thiếu những kiến thức cơ bản

Trang 14

trong việc sử dụng có hiệu quả các thiết bị hàng hải, thiết bị khai thác trên tàu Khả năng am hiểu luật hàng hải của đội ngũ thuyền trưởng trên tàu cũng còn nhiều hạn chế, đây là điều gây khó khăn khi tàu hoạt động ở những ngư trường xa bờ

1.1.6 Những chủ trương, chính sách, định hướng phát triển nghề các của địa phương:

1.1.6.1.“Chiến lược phát triển khai thác thủy sản tỉnh Khánh Hòa đến 2010 – Định hướng phát triển đến năm 2020” (Tháng 01/2005) đã được Sở Thủy sản Khánh Hòa vạch ra nhằm đánh giá hiện trạng và đưa ra chiến lược phát triển Nội dung chính bao gồm:

1 Chiến lược khai thác hải sản đến 2010:

Tổng sản lượng thủy hải sản là 103.409 tấn, trong đó:

- Sản lượng khai thác hải sản: 72.330 tấn

- Khai thác & Nuôi trồng nội địa: 31.079 tấn

- Giá trị kim ngạch xuất khẩu: 297,438 triệu USD

b Nội dung thực hiện Chiến lược:

* Điều chỉnh cơ cấu nghề khai thác hải sản ven bờ, xa bờ một cách hợp lý trên cơ sở bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản

Mục tiêu:

- Sắp xếp và cơ cấu lại tàu thuyền, cơ cấu nghề khai thác một cách hợp lý, phù hợp với khả năng nguồn lợi, trên cơ sở ưu tiên phát triển tàu có công suất lớn khai thác xa bờ; có kế hoạch giảm dần số lượng tàu nhỏ khai thác ven bờ đảm bảo

Trang 15

hài hoà giữa khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, chuyển đổi nghề nghiệp đối với ngư dân ven bờ bị dư thừa

- Bảo vệ và duy trì tốt nguồn lợi, tăng hiệu quả khai thác

- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu nguồn lợi thuỷ sản, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch phát triển ngành thủy sản hàng năm, 5 năm, 10 năm

Biện pháp triển khai:

- Thống kê, đánh giá thực trạng nghề cá gần bờ và xa bờ về các mặt: số lượng tàu thuyền, cơ cấu nghề nghiệp, cơ sở hạ tầng và các vấn đề KT – XH

- Triển khai tốt công tác đăng ký, đăng kiểm tàu cá, thực hiện việc cấp và thu hồi giấy phép khai thác thuỷ sản cho tàu thuyền đánh cá

- Đề xuất các cơ chế chính sách phù hợp trong quản lý nhằm sắp xếp lại cơ cấu nghề nghiệp và giảm cường lực khai thác vùng gần bờ, phát triển khai thác hải sản xa bờ trên cơ sở sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn lợi

- Thiết lập các khu vực hạn chế đánh bắt, cấm đánh bắt

- Triển khai các mô hình quản lý dựa vào cộng đồng và các biện pháp quản

lý nghề cá phù hợp với điều kiện KT – XH của nghề cá từng địa phương trong tỉnh góp phần quản lý tốt nghề cá, bảo vệ nguồn lợi, nâng cao đời sống ngư dân và giải quyết các vấn đề môi trường sinh thái

- Phối hợp với các lực lượng Biên phòng, Hải quân, Cảnh sát biển trong việc triển khai tốt công tác cứu hộ, cứu nạn cho ngư dân khi gặp tai nạn rủi ro trên biển, ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm phạm trái phép của tàu thuyền nước ngoài, bảo đảm chủ quyền, quyền chủ quyền của nước ta

- Xây dựng phần mềm cơ sở dữ liệu nguồn lợi thuỷ sản

* Xây dựng cơ sở hậu cần – dịch vụ - chế biến và tiêu thụ sản phẩm khai thác:

Trang 16

Biện pháp triển khai:

- Đầu tư và nâng cấp các cơ sở hậu cần nghề cá, các bến cá, chợ cá, xây dựng

và ban hành qui chế quản lý sử dụng các công trình thủy sản như cảng cá, bến cá,

- Tăng cường công tác thông tin thị trường, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại để mở rộng thị trường xuất khẩu cho các doanh nghiệp, tuyên truyền khuyến khích tiêu thụ các sản phẩm hải sản tại thị trường nội địa Khuyến khích phát triển các hình thức liên kết liên doanh, tăng cường tiêu thụ sản phẩm thông qua

ký kết các hợp đồng giữa đơn vị tiêu thụ sản phẩm với đơn vị khai thác hải sản

* Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ nghề khai thác thuỷ sản:

Mục tiêu:

Đào tạo tốt nguồn nhân lực cho nghề khai thác thuỷ sản, trong đó chú trọng việc đào tạo, nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật cho ngư dân trực tiếp lao động trên biển

Biện pháp triển khai:

- Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ nghiên cứu có chuyên môn sâu

- Đào tạo lực lượng thuyền trưởng, thuyền viên có đủ kiến thức chuyên môn

về kỹ thuật hàng hải, kỹ thuật khai thác, đáp ứng nhu cầu về lao động có kỹ thuật cao phục vụ cho khai thác hải sản, nhất là nghề khai thác xa bờ

- Tăng cường công tác khuyến ngư

- Cần có sự phối hợp, hợp tác với nước ngoài, từng bước đưa tàu của nước ta

đi khai thác hải sản ở vùng biển các nước khác

* Áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào nghề cá của tỉnh:

Mục tiêu:

Trang 17

Ứng dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến phù hợp với điều kiện thực tế của ngư dân trong tỉnh

Biện pháp triển khai:

- Phối hợp với các trường, các viện và các cơ quan nghiên cứu, đào tạo chuyên ngành thuỷ sản thực hiện các đề tài nghiên cứu liên quan đến điều tra nguồn lợi, dự báo ngư trường và chuyển giao các kết quả nghiên cứu áp dụng vào thực tiễn, chủ động thực hiện một số đề tài điều tra nguồn lợi một số đối tượng quan trọng tại địa phương từ đó có chính sách điều chỉnh cơ cấu cường lực khai thác thuỷ sản phù hợp với nguồn lợi hải sản hiện có tại địa phương

- Tăng cường du nhập những nghề khai thác thuỷ sản tiến bộ, khai thác thuỷ sản có chọn lọc, ứng dụng công nghệ và trang thiết bị ngư cụ tiên tiến của các nước phù hợp với nghề cá địa phương nhằm tăng hiệu quả khai thác, giảm bớt cường độ lao động và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản

- Ứng dụng công nghệ vật liệu mới trong việc xây dựng các khu rạn nhân tạo

để tập trung các loài thuỷ sản chủ động trong việc khai thác, giảm thiểu chi phí nâng cao hiệu quả, chất lượng sản phẩm phục vụ du lịch

- Triển khai tốt các chương trình khuyến ngư, trong đó chú trọng đến nội dung chuyển giao các thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ khai thác thác mới, công tác kỹ thuật bảo quản sản phẩm sau khai thác, kiến thức sử dụng các thiết bị điện tử hàng hải và thông tin liên lạc hiện đại,… nhằm nâng cao hiệu quả khai thác cho ngư dân

2 Định hướng phát triển khai thác thủy sản đến 2020:

- Chấm dứt tình trạng khai thác thuỷ sản bằng các nghề cấm mang tính huỷ diệt nguồn lợi và môi trường sống của các loài thuỷ sản trên vùng biển Khánh Hoà

- Xây dựng quy hoạch, chương trình khai thác hải sản phù hợp với quy hoạch phát triển ngành theo hướng cơ khí hoá hiện đại hoá Hợp tác, du nhập các công nghệ và trang bị kỹ thuật của các nước tiên tiến trên thế giới tiến tới tổ chức được các đội tàu đủ mạnh có thể tiến hành hợp tác đánh cá viễn dương

Trang 18

- Có giải pháp hạn chế đóng tàu cá loaị nhỏ, tiến tới cấm đóng mới các loại tàu khai thác thuỷ sản có công suất nhỏ hơn 90 CV vào năm 2020, khuyến khích đầu tư đóng mới tàu vỏ thép, vỏ composic, loại tàu có công suất lớn hơn 150 CV cùng với việc đầu tư đồng bộ cho nghề khai thác hải sản xa bờ

- Bảo vệ và mở rộng diện tích các hệ sinh thái quan trọng đối với phát triển thuỷ sản; tiến hành phục hồi các hệ sinh thái đã bị suy thoái; bổ sung, tái tạo nguồn giống hải sản “nhân tạo” cho vùng biển, kể cả đối với các loài bản địa – đối tượng khai thác từ bao đời của người dân ven biển

- Giáo dục cộng đồng để mọi người dân khi tham gia hoạt động nghề cá đều

có ý thức chấp hành tốt Luật Thuỷ sản, Luật biển và các Công ước quốc tế cũng như Luật pháp Việt Nam

1.1.6.2 “Quyết định số 74/2006/QĐ- UBND” về Chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tỉnh Khánh Hòa đến 2010:

Ngày 31 tháng 08 năm 2006, UBND tỉnh Khánh Hòa đã ban hành Chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tỉnh Khánh Hòa đến 2010 kèm theo Quyết định số 74/2006/QĐ- UBND Trong đó đánh giá thực trạng về nguồn lợi thủy sản và môi trường sống của các loài thủy sinh, đưa ra nội dung bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản từ nay đến 2010 và định hướng đến 2020, đồng thời nêu một số giải pháp thực hiện chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản Có thể tóm tắt nội dung của chương trình như sau:

1 Một số mục tiêu để bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tỉnh Khánh Hòa từ nay đến 2010:

* Bảo vệ đa dạng sinh học biển tỉnh Khánh Hòa

* Phục hồi nguồn lợi thủy sản ven bờ; các đầm, vịnh; các sông, hồ chứa nước thủy lợi tại các địa phương trong tỉnh, vùng đất ngập mặn nhằm phát triển ngành thủy sản bền vững

* Tuyên truyền phổ biến các kiến thức nhằm nâng cao nhận thức và tầm quan trọng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học, đồng thời xác

Trang 19

định rõ vai trò, trách nhiệm của cộng đồng người dân trong việc tham gia bảo vệ nguồn lợi thủy sản

* Tăng cường quản lý Nhà nước của ngành Thủy sản Khánh Hòa, của các cơ quan chức năng và chính quyền các cấp Huy động sự tham gia của cộng đồng cũng như các tổ chức phi chính phủ, quốc tế vào công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản ở Khánh Hòa

2 Nội dung bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản của tỉnh Khánh Hòa từ nay đến 2010:

- Phục hồi, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản

- Bảo vệ, bảo tồn đa dạng sinh học

- Tổ chức quản lý khai thác nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ

- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu nguồn lợi thủy sản

- Giáo dục nâng cao nhận thức về bảo vệ NLTS

3 Định hướng bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm 2020:

- Chấm dứt tình trạng khai thác thủy sản bằng các nghề mang tính hủy diệt

- Hạn chế tiến tới cấm khai thác ở đầm vịnh nơi có độ sâu nhỏ hơn 30m trong vùng biển Khánh Hoà

- Xây dựng quy hoạch, chương trình khai thác hải sản phù hợp với quy hoạch phát triển ngành theo hướng cơ khí hoá hiện đại hoá

- Có giải pháp hạn chế đóng tàu cá loại nhỏ

- Có kế hoạch nhằm bảo vệ các nơi sinh cư tự nhiên của các loài thủy sinh, bảo tồn nguồn giống thủy hải sản tự nhiên

- Thiết lập mới và quản lý hiệu quả hệ thống các khu bảo tồn biển

- Bảo vệ và mở rộng diện tích các hệ sinh thái quan trọng, tiến hành phục hồi các hệ sinh thái đã bị suy thoái

- Bổ sung, tái tạo nguồn giống hải sản “nhân tạo” cho vùng biển

- Đào tạo tốt nguồn nhân lực cho nghề khai thác thủy sản

Trang 20

- Giáo dục cộng đồng để mọi người dân khi tham gia hoạt động nghề cá đều

có ý thức chấp hành tốt Luật Thủy sản, Luật biển và các Công ước quốc tế cũng như Luật pháp Việt Nam

4 Các giải pháp thực hiện Chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản:

* Tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động khai thác hải sản:

- Phân cấp quản lý theo tuyến

- Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát trên biển

- Trên cơ sở quy hoạch tổng thể, triển khai các quy hoạch chi tiết để quản lý luồng lạch, quản lý nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản ở những khu vực cụ thể

- Thực hiện và tăng cường hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước trong việc quản lý nghề cá có trách nhiệm và bền vững

Tổ chức tuyên truyền và vận động nhân dân các xã, phường ven biển và ngư dân không vi phạm Nghị định 128/NĐ-CP ngày 11/10/2005 của Chính phủ "Quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản"; xử lý nghiêm các hành

vi vi phạm Nghị định

* Tổ chức sản xuất cho các tàu tham gia khai thác xa bờ

* Ứng dụng khoa học công nghệ vào hoạt động nghề cá

* Đào tạo nguồn nhân lực - Giáo dục nâng cao ý thức cộng đồng về bảo vệ nguồn lợi thủy sản

* Quản lý nguồn lợi thủy sản trên cơ sở cộng đồng

1.2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới:

Khai thác cá ngừ đại dương là một nghề khai thác hiện đại của nghề cá thế giới Trên thế giới, kỹ thuật khai thác cá ngừ đại dương không chỉ bằng hình thức câu vàng mà dưới rất nhiều hình thức khác nhau như: lưới vây, câu vàng, câu tay Đặc biệt là khai thác cá ngừ bằng lưới vây luôn đi đầu trong sản lượng khai thác cá ngừ

Trang 21

Việc đảm bảo an toàn hàng cho các tàu vận tải biển đã được thế giới quan tâm từ rất lâu với việc ra đời của Tổ Chức tư vấn hàng hải liên chính phủ (International Maritime Consultative Organization - IMCO) năm 1948, mục đích là chịu trách nhiệm đảm bảo an toàn trên biển cho tất cả các tàu lưu thông trên biển Đến năm 1982 thì tổ chức này đổi tên thành tổ chức Hàng hải quốc tế (International Maritime Organization – IMO) Sự ra đời của Tổ chức hàng hải quốc tế chủ yếu là quan tâm đến an toàn hàng hải cho tàu biển là chính, còn mảng tàu cá thì vẫn còn bỏ ngỏ Vấn đề an toàn hàng hải cho tàu cá được thế giới quan tâm khi Công ước quốc

tế về an toàn tàu cá ra đời (năm 1977) Hiện nay, vấn đề an toàn cho tàu cá đã được các nước nghề cá phát triển quan tâm đúng mức Việc trạng bị các tàu câu cá ngừ hiện đại, có công suất lớn (như Nhật Bản, Nauy,…) đã cho thấy vấn đề an toàn cho tàu cá đã được các nước này chú trọng Chính vì vậy mà rủi ro, tai nạn trong quá trình sản xuất cũng được hạn chế

Nghề khai thác cá ngừ đại dương, đặc biệt là đánh bắt cá ngừ bằng lưới vây trên thế giới đã phát triển với trình độ rất cao Do sự đầu tư trong việc nghiên cứu

về ngư trường, cải tiến kỹ thuật đánh bắt mà sản lượng đánh bắt cá ngừ vằn trên thế giới tăng mạnh từ 400.000 tấn năm 1970 lên 1.900.000 tấn năm 1998 Các đội tàu lưới vây đánh bắt cá ngừ trên thế giới có chiều dài vỏ tàu từ 25 – 60m, chiều dài vùng lưới từ 1000 – 1500m, chiều cao 100 – 140m, với nghề khai thác cá ngừ vây vàng thì chiều cao của vàng lưới vây lên đến 200 – 280m Các thiết bị tập trung dò tìm đàn cá như chà di động, chà cố định và các thiết bị dò tìm đàn cá như máy dò ngang, radar tìm chim đã đựợc sử dụng triệt để Một số nước còn sử dụng máy bay trực thăng để dò tìm đàn cá ngừ và chỉ điểm cho các tàu đến khai thác Ngoài ra, kỹ thuật viễn thám cũng được sử dụng để phục vụ cho dự báo đàn cá ngừ

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước:

Nghề câu cá ngừ đại dương xuất hiện ở nước ta vào đầu những năm 1990 thông qua việc chuyển giao công nghệ của một số doanh nghiệp như Liên hiệp Thủy sản Hạ Long, Tổng công ty Hải sản Biển Đông, Công ty TNHH Việt Tân,…

và sự tự du nhập của một số ngư dân làm nghề lưới rê khai thác cá chuồn ở miền

Trang 22

Trung Cho đến nay, cá ngừ đại dương ở nước ta chỉ được đánh bắt bằng nghề câu vàng, các nghề khác như lưới vây, lưới rê, câu tay, vẫn chưa được sử dụng để khai thác đối tượng này

Nhận thức được vai trò quan trọng của nghề khai thác cá ngừ đại dương và những lợi ích mà đối tượng này mang lại Trong những năm vừa qua, hàng loạt những đề tài nghiên cứu nhằm đảm bảo an toàn trong lao động sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế trong quá trình đánh bắt cá ngừ đại dương nói riêng và nghề cá nói chung đã được thực hiện

Vấn đề liên quan đến thuyền viên, trang bị an toàn, trang bị cứu hỏa dẫn đến tai nạn, tổn thất cho tàu thuyền và người lao động cũng đã được nhiều tác giả nghiên cứu Có thể nêu ra một số đề tài nghiên cứu như sau:

* Năm 1990 Th.S Phan Trọng Huyến thực hiện đề tài nghiên cứu “Điều tra tai nạn tàu thuyền nghề cá Việt Nam 1980-1989” Đề tài được thực hiện nhằm mục đích thống kê tình hình tai nạn của tàu cá trên vùng biển Việt Nam

* “Nghề câu cá ngừ đai dương” Tác giả: Lê Xuân Tài – 1999 Bài viết chủ yếu

đề cập đến tình hình nghề câu cá ngừ trên thế giới và Việt Nam, xu hướng phát triển

* “Kết quả nghiên cứu một vài tiêu chuẩn an toàn hàng hải của tàu thuyền nhề

cá Việt Nam” Tác giả: Th.S Phan Trọng Huyến (Tập san Trường Đại học Thủy sản, năm 1999)

* Năm 2001, đề tài “Nghiên cứu thực trạng an toàn lao động trong nghề khai thác thủy sản tỉnh Khánh Hòa” được thực hiện bởi Th.S Nguyễn Đức Sỹ và Kỹ sư

Vũ Kế Nghiệp Kết quả cho thấy, tàu thuyền của một số nghề khai thác thủy sản chủ yếu ở Khánh Hòa là tàu công suất nhỏ, trang thiết bị cũ kỹ, lạc hậu, các điều kiện an toàn lao động trên tàu không đảm bảo

*“Một số vấn đề thực trạng an toàn lao động của một số nghề khai thác thuỷ sản ở Khánh Hoà” của Th.S Nguyễn Đức Sỹ - 2001 Kết quả cho thấy, mức độ tai nạn trong quá trình sản xuất trên tàu cá vẫn chưa có biện pháp khắc phục

Trang 23

* “Đánh giá qui mô nghề câu vàng và nghề lưới rê khai thác cá ngừ tại TP Nha Trang – Tỉnh Khánh Hòa” của Th.S Trần Đức Lượng (Tạp chí KHCNTS số 02/2005)

* “Chống sét cho tàu đánh cá” của Th.S Trần Tiến Phức (Tạp chí KHCNTS số 01/2004) Trình bày biện pháp chống sét cho tàu hoạt động trên biển đảm bảo an toàn cho tàu thuyền, trang thiết bị và thuyền viên trên tàu cá

* “Lại bàn về công tác đảm bảo an toàn cho người và tàu cá” Tác giả: Đặng Quang Huy – Cục KT&BVNLTS (đăng trên Tạp chí Thủy sản số 04/2007)

1.3 Các văn bản qui định về thuyền viên, trang bị an toàn, cứu hỏa đối với tàu thuyền nghề cá nói chung và nghề câu cá ngừ nói riêng:

1.3.1 Văn bản trung ương:

Bảng 1.5 Các văn bản trung ương ban hành

biển

1 Chính phủ

TTG 30/06/2006

22/2006/CT-Về việc tăng cường công tác đảm bảo an toàn cho hoạt động đánh bắt hải sản trên các vùng biển, đặc biệt là đánh bắt xa bờ

2 Bộ Thủy sản

Trang 24

02/2006/TT-Hướng dẫn thực hiện Nghị định của Chính phủ số 59/2005/NĐ-CP

BTS 03/07/2006

05/2006/TT-Về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 66/2005/NĐ-CP 10/2006/QĐ-

BTS 03/07/2006

Về việc ban hành qui chế đăng

ký tàu cá và thuyền viên

ĐKT 22/08/2001

182/BVNL-Về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định 494/2001/QĐ-

Hướng dẫn kiểm tra an toàn kỹ

thật tàu cá vỏ gỗ

Tất cả những văn bản qui định về thuyền viên, trang bị an toàn, cứu hỏa là áp dụng cho nghề cá nói chung chứ không có những văn bản qui định cho viêc áp dụng riêng đối với nghề câu cá ngừ đại dương

Tất cả các tàu cá cỡ nhỏ đều phải tuân thủ qui định về trang bị an toàn theo Tiêu chuẩn ngành 28TCN 90:91 về trang bị an toàn tàu cá cỡ nhỏ

Trang 25

1.3.2 Các văn bản của địa phương ban hành:

Việc ban hành các văn bản trung ương được áp dụng đối với tất cả các tàu cá Việt Nam Tuy nhiên, nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các qui định của trung ương phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương thì tỉnh Khánh Hòa cũng đã ban hành một số văn bản sau:

Bảng 1.6 Các văn bản địa phương ban hành

1.3.3 Định mức trang bị của cỡ tàu nghiên cứu:

Định mức trang bị của cỡ tàu nghiên cứu được thực hiện theo Tiêu chuẩn ngành 28TCN 90-91 và Nghị định 66/2005/NĐ-CP, định mức trang bị đối với các tàu có công suất từ 150CV – 400CV được trình bày ở Phụ lục 2

1.4 Tổng quan về thuyền viên, trang bị an toàn, cứu hỏa trên các tàu nghề cá Việt Nam:

1.4.1 Tổng quan về thuyền viên:

Hiện nay, cả nước có khoảng 1.002.253 lao động tham gia khai thác thủy sản, trong đó có khoảng 159.366 lao động tham gia các hoạt động khai thác xa bờ (chiếm 15,9% tổng số lao động hoạt động khai thác thủy sản của cả nước)

Thuyền viên trên tàu cá Việt Nam chủ yếu là lao động phổ thông, không được đào tạo chuyên môn các kiến thức về hàng hải, việc sử dụng trang thiết bị máy móc còn nhiều hạn chế

Trang 26

Hầu như các thuyền viên làm việc trên tàu cá Việt Nam đều không ký hợp đồng lâu dài, không ổn định sau mỗi chuyến biển Do đó, việc quản lý gặp rất nhiều khó khăn khi có tình huống xảy ra (bão, áp thấp nhiệt đới,…)

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài thì cần nghiên cứu độ tuổi của thuyền viên (có nằm trong trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật hay không), trình độ học vấn, bằng cấp chuyên môn, tuổi nghề, kinh nghiệm trong lao động sản xuất trên biển

Vấn đề quản lý tàu thuyền cũng chưa đựợc thực hiện một cách triệt để Trong thời gian vừa qua, Bộ Thủy sản đã từng có công điện yêu cầu các tỉnh ven biển trong cả nước phải hoàn thành đăng kiểm 51.000 tàu cá trên 20CV trước ngày 30/04/2007 Tuy nhiên, cho đến ngày 20/05/2007, mặc dù đã quá thời hạn yêu cầu,

cả nước hiện vẫn còn đến gần 12.000 tàu cá các loại công suất trên 20VC chưa được đăng kiểm (chiếm 23,5% tổng số tàu cá phải hoàn thành đăng kiểm) Ngoài ra, còn

có đến 25.000 tàu cá các loại chưa thực hiện đăng ký, trong đó nhiều tỉnh có tỉ lệ tàu chưa đăng ký rất lớn như Thanh Hoá (49,5%), Quảng Ngãi (41,4%) và Quảng Ninh (36,4%)

Do đó, khi gặp sự cố trên biển, các tàu thuyền này thường không có đủ các phương tiện để tự cứu mình hay yêu cầu trợ giúp từ bên ngoài, đặc biệt khu vực biển Việt Nam thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới Ngư dân hầu như

Trang 27

chưa có ý thức về việc sử dụng tần số vô tuyến điện, một số tàu sử dụng tần số cấp cứu để liên lạc với nhau làm ảnh hưởng đến việc trực canh của các đài thông tin duyên hải

Việc trang bị các loại máy VTĐ trên tàu cá chưa có sự thống nhất chung Ngư dân thường mua các loại máy bán tự do trên thị trường, không đăng ký tần số, không biết qui trình sử dụng, nguồn điện dự phòng không đảm bảo nên dễ gây hỏng hóc không sử dụng được Các máy này cũng chưa được “hòa mạng” theo qui ước hàng hải quốc tế, cơ bản chỉ liên lạc với gia đình và một số ghe tàu với nhau theo tập quán dòng họ, làng xã Các ngư dân còn nhiều hạn chế như chưa biết được tần

số liên lạc nào dành cho cấp cứu cũng như cách thức để thực hiện một cuộc gọi cấp cứu để yêu cầu được trợ giúp khi có sự cố trên biển

Với trang bị an toàn trên tàu, vấn đề đặt ra của đề tài là cần phải nghiên cứu: trang bị hàng hải, trang bị vô tuyến điện, phương tiện cứu sinh, phương tiện tín hiệu, các phương tiện bảo hộ cá nhân trong quá trình sản xuất

1.4.3 Trang bị cứu hỏa:

Việc trạng bị các dụng cụ cứu hỏa chủ yếu là ở các tàu có công suất lớn Mặc dù có trang bị các dụng cụ cứu hỏa nhưng chủ yếu mang trính chất đối phó với lực lượng kiểm tra, việc các ngành chức năng xử phạt hành chính với các trường hợp vi phạm trong thời gian qua chưa đủ tác dụng để người dân tự giác chấp hành

Trang bị cứu hỏa trên tàu bao gồm: bình cứu hỏa, bạt cứu hỏa, cát, bơm cứu hỏa, vòi phun, chăn mền, xô, gàu,…

1.5 Nhận xét:

Trong thời gian vừa qua, việc nghiên cứu về tàu thuyền, máy động lực, thiết

bị tàu, trang bị cứu thủng trên các tàu câu cá ngừ đại dương ở Việt Nam cũng đã thu được một số kết quả cụ thể nhằm đem lại sự an toàn trong sản xuất Tuy nhiên, để nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, sâu sắc nhằm đem lại một phương án tối ưu nhất nhằm nâng cao sản lượng đánh bắt, đảm bảo an toàn cho thuyền viên vẫn là một vấn

đề nan giải, nhất là đối với tình hình tàu cá Việt Nam hiện nay Hầu hết các tàu đều

là tàu vỏ gỗ (theo thống kê năm 2005, cả nước có khoảng khoảng 1670 tàu chuyên

Trang 28

câu cá ngừ, trong đó chỉ có 45 tàu là tàu câu cá ngừ công nghiệp, trang thiết bị khai thác và bảo quản sản phẩm hiện đại của các doanh nghiệp Số còn lại là tàu truyền thống được cải hoán từ các tàu lưới rê và câu đáy của ngư dân) Với tình hình tàu câu cá ngừ ở Việt Nam như thế thì việc đảm bảo an toàn cho các tàu này cũng là một vấn đề hết sức khó khăn cần phải nghiên cứu cụ thể nhằm đưa ra mô hình phù hợp

Với tình hình thực tế của tàu câu cá ngừ Việt Nam hiện nay Đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu đi sâu giải quyết về vấn đề thuyền viên, trang bị an toàn, cứu hoả nhằm đưa ra một mô hình phù hợp với điều kiện thực tế của các tàu câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 150 – 400CV trên địa bàn phường Xương Huân – TP Nha Trang nói riêng và tỉnh Khánh Hòa nói chung, góp phầm đảm bảo sự an toàn trong sản xuất, đem lại hiệu quả kinh tế

Trang 29

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nội dung nghiên cứu:

2.1.1 Nội dung nghiên cứu của đề tài gồm:

- Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

- Nội dung và phương pháp nghiên cứu

- Kết quả nghiên cứu

- Đánh giá và đề xuất mô hình

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu:

Điều tra thực trạng thuyền viên, trang bị an toàn, cứu hỏa cho nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 150 – 400CV

- Phương tiện tín hiệu: bao gồm đèn hiệu (đèn mạn, đèn cột), vật hiệu đánh

cá, âm hiệu và pháo hiệu

- Trang bị vô tuyến điện: bao gồm máy đàm thoại, radar

- Trang bị hàng hải: la bàn từ, đo sâu dò cá, định vị vệ tinh, hải đồ, bảng thủy triều, ống nhòm, dụng cụ đo sâu bằng tay (dây đo, sào đo), đồng hồ đo thời gian

c Về trang bị cứu hỏa:

Tình hình trang bị các thiết bị chữa cháy như: bình chữa cháy, bơm cứu hỏa, vòi phun, cát, chăn mền

2.1.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

* Thời gian thực hiện: từ ngày 30/07/2007 đến 10/11/2007

Trang 30

- Thời gian thu thập các số liệu tổng quan: từ ngày 30/07/2007 đến 10/08/2007

- Thời gian thu thập các số liệu điều tra, tiến hành phân tích và xử lý: từ ngày 11/08/2007 đến ngày 30/09/2007

* Địa điểm nghiên cứu: phường Xương Huân - TP Nha Trang - Khánh Hòa

2.2 Phương pháp nghiên cứu:

2.2.1 Các bước tiến hành điều tra số liệu:

a Phương pháp điều tra xây dựng số liệu thông qua báo cáo của các cơ quan quản lý:

Tiến hành thu thập tài liệu tổng hợp tại Sở Thủy sản Khánh Hòa, Chi cục BVNLTS Khánh Hòa, đồn Biên phòng 317 đóng trên địa bàn TP Nha Trang Tài liệu thu thập được chủ yếu là tài liệu mang tính tổng quát về số lượng tàu thuyền theo công suất, theo nghề, và một số thông tin khác về tàu

b Phương pháp xây dựng số liệu thực trạng thông qua phỏng vấn trực tiếp trên cơ sở bộ câu hỏi đã có sẵn trên phiếu điều tra:

Tiếp xúc với chủ tàu và những người liên quan nhằm thu thập thông tin, điều tra, phỏng vấn thông qua phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn gián tiếp các chủ tàu khác để làm cơ sở đánh giá tính xác thực của thông tin mà mình thu thập được

c Xây dựng các số liệu thực trạng thông qua quan sát trực tiếp, chụp ảnh: Trực tiếp xuống tàu để khảo sát, tính toán các thông số của các trang thiết bị trên tàu, làm cơ sở cho quá trình đánh giá thực trạng

2.2.2 Xây dựng các tiêu chí để đánh giá :

Quan điểm xây dựng tiêu chí phải dựa trên cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn nhằm đảm bảo tính khoa học của tiêu chí đề ra

2.2.2.1 Tiêu chí về thuyền viên:

a Cơ sở lý luận:

- Tiêu chuẩn ngành 28TCN 181:2002 về Chức danh viên chức tàu thủy sản

Trang 31

- Quyết định số 10/2006/QĐ-BTS về việc ban hành Qui chế tàu cá và thuyền viên

- Tuổi nghề: tuổi nghề được phân lớp theo từng khoảng 5 năm theo thứ tự sau: từ 1 – 5 năm, từ 6 – 10 năm, từ 11 – 15 năm, từ 16 – 20 năm và trên 20 năm Xác định xem thuyền viên nằm trong nhóm tuổi nghề nào là chủ yếu Tiêu chí đưa

ra là cần lựa chọn tuổi nghề trong một giới hạn nhất định nhằm đảm bảo kinh nghiệm làm việc trên tàu cũng như sức khỏe và khả năng chịu đựng sóng gió

- Học vấn: tiến hành phân lớp trình độ học vấn của thuyền viên làm việc trên các tàu điều tra theo 3 nhóm: tiểu học (lớp 1 đến lớp 5), trung học cơ sở (lớp 6 đến lớp 9), trung học phổ thông (lớp 10 đến lớp 12) Học vấn sẽ đảm bảo cho việc tiếp cận các công việc trên tàu một cách nhanh chóng

* Trang bị cứu sinh:

- Phao tròn: phao tròn phải đảm bảo sức nổi cần thiết Phao tròn nghiên cứu được chia làm 3 chủng loại chủ yếu sau:

Phao SOLAS: - Đường kính ngoài: 71cm

- Đường kính trong: 43cm

- Trọng lượng: 2500g

Trang 32

Phao loại vừa: - Đường kính ngoài: 73 cm

- Đường kính trong: 42 cm

- Trọng lượng: 700g Phao loại nhỏ: - Đường kính ngoài: 63 cm

- Đường kính trong: 40 cm

- Trọng lượng: 500g Trên cơ sở đó, tiến hành phân tích và lựa chọn chủng loại phao phù hợp

- Phao áo cá nhân: tiêu chí lựa chọn:

Sức nổi: sức nổi phải đảm bảo cho mọi thuyền viên trên tàu đều có thể sử dụng được (sức nổi phải trên 75kg)

Độ bền: căn cứ vào thời gian sử dụng, tình trạng hiện tại của phao

Giá thành: giá thành của phao áo cá nhân có phù hợp với điều kiện kinh tế của các tàu điều tra hay không

* Trang bị hàng hải:

- Số lượng trang bị trên mỗi tàu phải tuân theo Tiêu chuẩn ngành 28TCN 90:91

- Chất lượng sử dụng của các trang bị hàng hải trên tàu, tình trạng hư hỏng

* Trang bị vô tuyến điện:

- Số lượng trang bị vô tuyến điện trên mỗi tàu phải tuân theo qui định trong Tiêu chuẩn ngành 28TCN 90:91 hiện hành hay không

- Chất lượng sử dụng của các trang bị vô tuyến điện trên tàu, tình trạng hư hỏng

Từ cơ sở lý thuyết và cơ sở thực tiễn của trang bị an toàn trên tàu, tiến hành lựa chọn mô hình phù hợp

2.2.2.3 Trang bị cứu hỏa:

a Bình chữa cháy:

* Cơ sở lý thuyết:

- Trọng lượng CO2 cần trang bị cho mỗi hầm hoặc buồng theo công thức:

Trang 33

Trong đó: G: trọng lượng CO2 cần trang bị (kg)

γ: tỉ trọng CO2 = 1,98

V: thể tích hầm hoặc buồng ở (m3) Cũng có thể sử dụng công thức sau:

QCO

2

=

56 , 0 100

% h V

h: chiều dày lớp bọt (Các công thức (1), (2), (3) được trích từ Giáo trình Xử lý sự cố hàng hải- Nguyễn Đức Sĩ)

* Cơ sở thực tiễn: Áp dụng công thức (1) ta có:

Bảng 2.1 Lượng CO2 cần trang bị để phục vụ chữa cháy trên các tàu điều tra

Kích thước hầm máy (m)

Lượng CO2 cần trang bị (kg)

Kích thước buồng ở

Lượng CO2cần trang bị (kg)

Trang 34

Tiêu chí đưa ra phải đồng thời thỏa mãn tiêu chuẩn ngành 28TCN 90:91 và

cơ sở thực tiễn đã nêu trong Bảng 2.1

b Bơm cứu hỏa:

- Số lượng trang bị trên mỗi tàu phải tuân theo tiêu chuẩn ngành 28TCN 90:91

- Lưu lượng máy bơm: phải đảm bảo 11m3/h (TCVN 7111:2002)

2.2.3 Từ các tiêu chí, đề xuất sử dụng mô hình:

Từ các tiêu chí đã được đưa ra kết hợp với các qui qui định về thuyền viên, trang bị an toàn, cứu hỏa Tiến hành lựa chọn mô hình phù hợp cho các tàu câu cá ngừ đại dương công suất 150 – 200CV của phường Xương Huân – Thành phố Nha Trang – Tỉnh Khánh Hòa

Trang 35

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Kết quả điều tra về thuyền viên, trang bị an toàn, cứu hỏa trên các tàu nghiên cứu:

3.1.1 Số lượng tàu thuyền điều tra:

Tàu thuyền chủ yếu là tàu vỏ gỗ, được đóng theo mẫu dân gian Trên tàu cũng được trang bị một số trang thiết bị chuyên dụng phục vụ khai thác, đánh bắt

Hình 3.1 Sơ đồ bố trí trên tàu câu cá ngừ đại dương

Trang 36

Qua điều tra thực tế thì thống kê được số lượng tàu hoạt động nghề câu trong nhóm công suất 150 – 400CV trên địa bàn phường Xương Huân như sau:

a Thống kê số lượng tàu thuyền đăng ký tại Chi cục BVNLTS Khánh Hòa:

Bảng 3.1 Số lượng tàu thuyền đăng ký

STT Chủ tàu Địa chỉ SĐK LxBxH (m) Công suất

(CV)

1 Trần Bá

Lộc

30A/9 Cồn Giữa KH9018BT 18,2x5,1x2,35 160

2 Trần

Phụng

57 Cồn Giữa KH95598TS 14,5x4x1,65 160

3 Đặng Thị

Rồng

24 Cồn Tân Lập KH96595 13,5x3,8x1,15 160

6 Phạm

Văn Phu

59C Cồn Giữa KH9143TS 18,95x5,35x2 247

7 Lê Văn

Thơ

40/2 Cồn Giữa KH96606TS 15,7x4,65x2,3 250

9 Đặng

Giám

63A Cồn Giữa KH92634TS 15,6x4,6x2 270

11 Mai 159C Cồn KH96633TS 15,74x4,7x2,3 320

Trang 37

14 Nguyễn

Ngọc An

125A Cồn Giữa KH9037TS 18,9x5,7x2,4 450 (Nguồn: Chi cục BVNLTS Khánh Hòa)

b Số lượng tàu thuyền thực tế điều tra:

Trên cơ sở các số liệu thống kê của Chi cục BVNLTS, qua điều tra thực tế thu được kết quả như sau:

Bảng 3.2 Số lượng tàu thuyền qua thực tế điều tra

STT Chủ tàu Địa chỉ SĐK LxBxH (m) Công suất

(CV)

1 Trần Bá

Lộc

30A/9 Cồn Giữa KH9018BT 18,2x5,1x2,35 160

5 Lê Văn

Thơ

40/2 Cồn Giữa KH96606TS 15,7x4,65x2,3 250

6 Đặng

Giám

63A Cồn Giữa KH92634TS 15,6x4,6x2 270

Trang 38

- Dự án xây dựng kè và đường dọc sông Cái trên địa bàn phường Xương Huân triển khai đòi hỏi các hộ gia đình nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của dự

án phải tiến hành giải tỏa Có 4 tàu trong nhóm tàu điều tra buộc phải giải tỏa xuống khu vực Cảng Hòn Rớ – Phước Đồng – Nha Trang Cụ thể:

Bảng 3.3 Danh sách các tàu chuyển khỏi địa phương

STT Chủ tàu SĐK Công suất

(CV) Nơi ở cũ Nơi ở mới

1 Huỳnh

Phi Tâm KH96967TS 165

Duy Hải – Xương Huân

ô 10 lô 1022 – Hòn Rớ

2 Lê Văn

71 Xóm Cồn – Xương Huân Hòn Rớ

3 Phạm

Văn Phu KH9143BT 247

59C Cồn Giữa – Xương Huân

Hòn Rớ

4 Nguyễn

Văn Trụ KH95482TS 340

131 Xóm Cồn – Duy Hải Hòn Rớ

Trang 39

- Tàu KH96641TS của chủ tàu Nguyễn Anh Khoa (10B/2 Cồn Giữa) không

hề hoạt động nghề câu cá ngừ đại dương Từ trước đến nay, tàu chỉ hoạt động nghề lưới cản

Nguyên nhân: Tàu này đã đăng ký nghề câu nhằm giảm mức phí, giảm thuế Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với nghề câu cá ngừ đại dương đánh bắt xa bờ,

vì vậy với việc đăng ký nghề câu thì sẽ hưởng những chính sách ưu đãi so với việc đăng ký nghề lưới cản

- Tàu bán cho chủ tàu khác:

Tàu KH9037TS: chủ tàu Nguyễn Ngọc An (125A Cồn Giữa – Duy Hòa – Xương Huân – TP Nha Trang) đã mất Tàu đã được bán cho chủ tàu mới là Nguyễn Thanh Liêm (TP Tuy Hòa – Phú Yên)

- Trong quá trình điều tra, có 1 tàu hoạt động nghề câu cá ngừ đại dương nằm trong nhóm công suất nghiên cứu không có trong danh sách thóng kê của chi cục Cụ thể:

Tàu KH96316TS: chủ tàu Nguyễn Văn Dưỡng (40C/1 Cồn Giữa – Duy Hòa – Xương Huân – Nha Trang) mua lại từ chủ tàu cũ là Trần Văn Minh (anh rể) vào năm 2006 Tàu này có công suất là 180CV

3.1.2 Kết quả điều tra về thuyền viên:

Qua danh sách thuyền viên lao động trên các tàu điều tra được thể hiện ở Phụ lục 1 ta có kết quả tổng hợp tại Bảng 3.4 như sau:

Bảng 3.4 Kết quả điều tra thuyền viên

STT Thông tin về thuyền viên Số lượng

Trang 40

10 -12 8 10,4% Bằng thuyền

trưởng (hạng 5) 9 11,7%

4 Bằng cấp chuyên môn

Bằng máy trưởng (hạng 5) 9 11,7%

* Nhận xét: Từ Bảng 3.4 ta thấy:

Có đến 57,9% thuyền viên có tuổi đời dưới 30 Số lượng thuyền viên trên 45 tuổi chỉ có 7,8% Thuyền viên chủ yếu nằm trong độ tuổi thanh niên, cho nên khả năng linh hoạt cũng như tình trạng sức khỏe tốt hơn các nhóm tuổi khác, phù hợp với lao động nặng nhọc trên các tàu câu cá ngừ đại dương

Hầu hết các thuyền viên chưa qua đào tạo chuyên môn Đa số các thuyền viên hoạt động trên tàu chủ yếu dựa theo kinh nghiệm của bản thân, học hỏi qua những người đi trước Số lượng thuyền viên đã từng lao động trên tàu trên 5 năm chiếm đến 71,1% Có 23,4% thuyền viên có bằng cấp chuyên môn, tập trung chủ yếu ở thuyền trưởng và máy trưởng trên tàu

Phần lớn thuyền viên có trình độ học vấn từ lớp 9 trở xuống (chiếm 89,6%), không có thuyền viên nào tốt nghiệp trung học phổ thông Có đến 27,3% số thuyền viên có trình độ học vấn từ lớp 5 trở xuống

Chỉ có thuyền trưởng và máy trưởng là có bằng cấp chuyên môn (chiếm 23,4% tổng số thuyền viên điều tra) Số thuyền viên còn lại chủ yếu là lao động phổ thông, làm việc dựa theo kinh nghiệm là chính

Phần lớn chủ tàu không nhớ rõ thuyền viên đã đi trên tàu mình qua từng chuyến biển, bởi vì thuyền viên đi trên tàu đến từ nhiều địa phương khác nhau, họ chủ yếu là lao động phổ thông, không qua đào tạo nghề cụ thể Điều này gây khó khăn cho công tác quản lý thuyền viên khi có sự cố xảy ra (trường hợp nếu tàu bị tai nạn hay mất tích thì sẽ rất khó để xác định chính xác thông tin cá nhân của thuyền viên trên tàu nếu các cơ quan chức năng không có biện pháp quản lý chặt chẽ) Số thuyền viên trên các tàu điều tra dao động từ 7 – 10 người

Ngày đăng: 04/03/2015, 14:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Website: http://www.fistenet.gov.vn Link
1. Bộ Thủy sản (1991), Tiêu chuẩn ngành 28TCN 90-91về trang bị an toàn tàu cá cỡ nhỏ Khác
2. Chính phủ (2005), Nghị định 66/2005/NĐ-CP về Đảm bảo an toàn cho người và tàu cá hoạt động thủy sản Khác
3. Phan Trọng Huyến (2007), Bài giảng Đăng kiểm và quản lý tàu thuyền, Đại học Nha Trang Khác
4. Phan Trọng Huyến (2005), Bài giảng Luật biển và pháp luật hàng hải, Đại học Thủy sản Khác
5. Lê Hữu Lan (2006), Công tác cấp cứu trên biển, Đại học Thủy sản Khác
6. Nguyễn Đình Long (1994), Trang bị động lực, Đại học Thủy sản Khác
7. Nguyễn Đức Sĩ (2005), Bài giảng An toàn lao động, Đại học Thủy sản Khác
8. Nguyễn Đức Sĩ (2005), Bài giảng Xử lý sự cố hàng hải, Đại học Thủy sản Khác
9. Vũ Văn Xứng (2005), Thiết bị cơ giới hóa các quá trình đánh bắt cá, NXB Nông nghiệp Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Bản đồ hành chính tỉnh Khánh Hòa - điều tra thực trạng thuyền viên; trang bị an toàn; cứu hỏa cho nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 150 – 400cv
Hình 1.1. Bản đồ hành chính tỉnh Khánh Hòa (Trang 5)
Bảng 1.2. Năng lực tàu thuyền nghề cá phân theo công suất tàu - điều tra thực trạng thuyền viên; trang bị an toàn; cứu hỏa cho nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 150 – 400cv
Bảng 1.2. Năng lực tàu thuyền nghề cá phân theo công suất tàu (Trang 7)
Hình 1.2. Biểu đồ biến động số lượng tàu thuyền theo dải công suất - điều tra thực trạng thuyền viên; trang bị an toàn; cứu hỏa cho nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 150 – 400cv
Hình 1.2. Biểu đồ biến động số lượng tàu thuyền theo dải công suất (Trang 8)
Hình 1.4. Bản đồ phân bố ngư trường đánh bắt cá ngừ vụ Nam năm 2007 - điều tra thực trạng thuyền viên; trang bị an toàn; cứu hỏa cho nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 150 – 400cv
Hình 1.4. Bản đồ phân bố ngư trường đánh bắt cá ngừ vụ Nam năm 2007 (Trang 11)
Hình 1.5. Biểu đồ sản lượng khai thác hải sản của tỉnh Khánh Hòa - điều tra thực trạng thuyền viên; trang bị an toàn; cứu hỏa cho nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 150 – 400cv
Hình 1.5. Biểu đồ sản lượng khai thác hải sản của tỉnh Khánh Hòa (Trang 13)
Bảng 3.3. Danh sách các tàu chuyển khỏi địa phương - điều tra thực trạng thuyền viên; trang bị an toàn; cứu hỏa cho nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 150 – 400cv
Bảng 3.3. Danh sách các tàu chuyển khỏi địa phương (Trang 38)
Bảng 3.11. Thực trạng trang bị cứu hỏa trên các tàu điều tra - điều tra thực trạng thuyền viên; trang bị an toàn; cứu hỏa cho nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 150 – 400cv
Bảng 3.11. Thực trạng trang bị cứu hỏa trên các tàu điều tra (Trang 49)
Hình 3.8. Bình chữa cháy - điều tra thực trạng thuyền viên; trang bị an toàn; cứu hỏa cho nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 150 – 400cv
Hình 3.8. Bình chữa cháy (Trang 51)
Hình 3.11. Sơ đồ vàng câu trên các tàu điều tra - điều tra thực trạng thuyền viên; trang bị an toàn; cứu hỏa cho nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 150 – 400cv
Hình 3.11. Sơ đồ vàng câu trên các tàu điều tra (Trang 55)
Hình 3.16. Hầm cá trên tàu H96595TS     Hình 3.17. Hầm nước trên tàu KH96595TS - điều tra thực trạng thuyền viên; trang bị an toàn; cứu hỏa cho nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 150 – 400cv
Hình 3.16. Hầm cá trên tàu H96595TS Hình 3.17. Hầm nước trên tàu KH96595TS (Trang 58)
Hình 3.18. Hầm máy trên tàu  KH96595TS - điều tra thực trạng thuyền viên; trang bị an toàn; cứu hỏa cho nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 150 – 400cv
Hình 3.18. Hầm máy trên tàu KH96595TS (Trang 59)
Hình 3.20. Vô lăng gỗ tàu KH96316TS     Hình 3.21. Vô lăng inox tàu KH96595TS - điều tra thực trạng thuyền viên; trang bị an toàn; cứu hỏa cho nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 150 – 400cv
Hình 3.20. Vô lăng gỗ tàu KH96316TS Hình 3.21. Vô lăng inox tàu KH96595TS (Trang 62)
Hình 3.22. Bánh lái và chân vịt trên tàu KH96336TS  (ảnh chụp tại Nhà máy đóng tàu Song Thủy) - điều tra thực trạng thuyền viên; trang bị an toàn; cứu hỏa cho nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 150 – 400cv
Hình 3.22. Bánh lái và chân vịt trên tàu KH96336TS (ảnh chụp tại Nhà máy đóng tàu Song Thủy) (Trang 62)
Hình 3.25. Phạm vị ngư trường đánh bắt của các tàu điều tra (vụ Bắc) - điều tra thực trạng thuyền viên; trang bị an toàn; cứu hỏa cho nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 150 – 400cv
Hình 3.25. Phạm vị ngư trường đánh bắt của các tàu điều tra (vụ Bắc) (Trang 69)
Bảng 3.17. Thống kê các tai nạn xảy ra đối với tàu - điều tra thực trạng thuyền viên; trang bị an toàn; cứu hỏa cho nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 150 – 400cv
Bảng 3.17. Thống kê các tai nạn xảy ra đối với tàu (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm