Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hếtĐêm qua sân trước một cành mai Cáo tật thị chúng – Mãn Giác thiền sư "Đó không chỉ là một bài kệ, mà còn là một bài thơ, một thi phẩm thể hiện sự xao động củ
Trang 16Chiếu dời đô
Bản dịch tiếng Việt:
Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô[7], nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô[8], há phải các vua thời Tam Đại[9]; ấy theo ý riêng tự tiện dời đô Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp Trẫm rất đau đớn, không thể không dời
Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương[10], ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời
Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?
(Bản dịch của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, in trong Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993)
Nam quốc sơn hà
Sông núi nước Nam, vua Nam ở Giới phận đó đã được định rõ ràng ở sách trời
Cớ sao kẻ thù lại dám đến xâm phạm Chúng mày nhất định sẽ nhìn thấy việc chuốc lấy bại vong
Dịch thơ
Sông núi nước Nam vua Nam [1] ở Vằng vặc sách trời [2] chia xứ sở Giặc dữ cớ sao phạm đến đây Chúng mày nhất định phải tan vỡ
http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=9764
phạt tống lộ bố văn
Dịch nghĩa
BÀI VĂN TUYÊN BỐ VỀ VIỆC ĐÁNH TỐNG
Trời sinh ra dân chúng, Vua hiền ắt hoà mục Đạo làm chủ dân, cốt ở nuôi dân Nay nghe vua Tống ngu hèn, chẳng tuân theo khuôn phép thánh nhân, lại tin kế tham tà của Vương An Thạch, bày những phép "thanh miêu","trợ dịch", khiến trăm họ mệt nhọc lầm than mà riêng thỏa cái mưu nuôi mình béo mập
Bởi tính mệnh muôn dân đều phú bẩm tự trời, thế mà bỗng sa vào cảnh éo le độc hại Lượng kẻ ở trên cố nhiên phải xót Những việc từ trước, thôi nói làm gì!
Nay bản chức vâng mệnh quốc vương chỉ đường tiến quân lên Bắc, muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt, chỉ có ý phân biệt quốc thổ, không phân biệt chúng dân Phải quét sạch nhơ bẩn hôi tanh để đến thuở ca ngày Nghiêu, hưởng tháng Thuấn thăng bình!
Ta nay ra quân, cốt để cứu vớt muôn dân khỏi nơi chìm đắm Hịch văn truyền tới để mọi người cùng nghe Ai nấy hãy tự đắn đo, chớ có mang lòng sợ hãi!
(TRẦN VĂN GIÁP dịch)
Thiên trường vãn vọng
Dịch nghĩa:
Sau thôn trước thôn đều mờ mờ như khói phủ
Bên bóng chiều (cảnh vật) nửa có nửa như không
Trong tiếng sáo, mục đồng dẫn trâu về hết
Trang 2Từng đôi cò trắng hạ cánh xuống đồng.
Dịch thơ:
Trước xóm sau thôn tựa khói lồng
Bóng chiều man mác có dường không
Mục đồng sáo vẳng trâu về hết
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng
Thị đệ tử
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố uý
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô
Dạy đệ tử
(Bản dịch Khuyết danh)
Đời người bóng chớp vút qua
Cỏ cây xuân tốt, thu ra héo tàn
Sợ chi suy thịnh lẽ thường
Khác đâu ngọn cỏ giọt sương đọng hờ
(Bản dịch Khuyết danh) Thân như chớp nhoáng có rồi không Cây cối thu tàn xuân trổ bông Nhìn cuộc thịnh suy, nào có sợ Thịnh suy ngọn cỏ hạt sương hồng (Bản dịch Khuyết danh)
Thân như ảnh, chớp có rồi không Vạn vật xuân tươi, thu héo mồng Quy luật thịnh suy không sợ hãi Thịnh suy như đầu cỏ sương hong
Quốc Tộ
Quốc Tộ như đằng lạc,
Nam Thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các,
Xứ xứ tắt đao binh
Nghĩa là:
Vận nước như dây quấn,
Trời Nam mở thái bình
Vô vi cư điện các,
Xứ xứ hết đao binh
Dịch thơ:
Vận nước như mây quấn
Trời Nam mở thái bình
Vô vi trên điện các
Xứ xứ hết đao binh"
Trang 3Theo Thiên Uyển Tập Anh, Pháp Thuận là một
nhà bác học, giỏi về nghệ thuật, thi ca, có tài
năng phụ tá nhà vua trong việc chính trị, thông
hiểu về tình hình thực tại của đất nước Pháp
Thuận là người vừa thảo văn thư ngoại giao,
vừa trù định chính sách cho nước Do vậy, ta
biết lý do tại sao vua lại hỏi Pháp Thuận về
"Vận nước" và sư đã trả lời bằng thơ kệ
Theo các sử gia thì bài kệ thơ này được làm sau
biến cố Đinh Tiên Hoàng bị Đỗ Thích giết vào
năm 979, tiếp đến là biến cố nhà Tống sai Hầu
Nhân Bảo mang quân tiến vào nước ta năm
981 Rõ ràng vận nước lúc bấy giờ rất rối ren
Nhưng với cái nhìn sắc sảo về nhân quả của
một vị Thiền sư lỗi lạc, Pháp Thuận đã gợi ý
cho nhà vua một phương sách ổn định nhân
tâm và quốc độ
Ta có thể đi sâu để hiểu nghĩa, những từ khó
trong bài kệ thơ "Dây quấn" (đằng lạc) vừa
nói về tình hình rối ren như dây leo quấn chằng
chịt không tìm ra đầu mối của nhân quả tương
quan, vừa gợi ý sự đoàn kết của toàn dân, vua
quan từ hình ảnh một bó cây bền chắc trước
hiểm hoạ ngoại xâm
"Vô vi cư điện các", chữ vô vi này rõ ràng
không còn mang ngữ nghĩa vô vi của Lão Tử
mà cũng không là hoàn toàn thuật ngữ Phật học
với ý nghĩa rỗng rang, giải thoát Vô vi ở đây
đã trở thành một khái niệm tổng hợp cả ba nền
tư tưởng Nho-Phật-Lão Nhà sư khuyên vua và
Triều đình phải sống đời trung chính, đạo đức
hiền thiện, thuận theo lẽ tự nhiên, đừng nhũng
nhiễu, hao phí tài lực của lê dân để noi gương
cho bá tính Khi triều đình sống được như vậy
và nhân dân một lòng đoàn kết thì xứ xứ sẽ
không còn đao binh và trời Nam sẽ thái bình
thịnh trị
Chỉ với mấy câu kệ thơ, Pháp Thuận đã để lại
cho nền văn học nước nhà một tác phẩm mang
nhiều giá trị tư tưởng học thuật, tư tưởng chính
trị, cùng thái độ hành xử của tu sỹ; vừa không
đánh mất phẩm cách của sa môn, vừa giúp
được vua, giúp được nước Là một người đã cống hiến nhiều cho đất nước, nhưng về già, nhà sư đã từ chối lộc hàm, tìm chỗ sơn thuỷ để tĩnh cư
Từ những bài thơ còn lại ít ỏi của một thời, ta cũng có thể hình dung được diện mạo văn học thời Đinh - Lê, tuy mới lập quốc, nhưng đâu phải vì vậy mà văn hoá, văn phong, tư tưởng không nội hàm một sinh lực với giá trị tâm linh lâu đời Và nếu, giả sử không có Phật giáo, không có các nhà sư trí thức với tâm hồn lớn rộng, với cái trí thấy xa ngàn dặm, với cái biết
ưu thời mẫn thế như Khuông Việt, như Pháp Thuận thì các triều đại này biết nương tựa vào ai?
Kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long-Hà Nội, là
kỷ niệm sự kiện dời đô có một không hai về tính hoành tráng của văn hoá Việt Nam, nhắc lại sự kiện thời nước nhà mới lập quốc, thời mà quốc gia phong kiến còn trứng nước, với sự hết mình vì quốc gia, vì dân tộc của các thiền
sư lỗi lạc, dày tính tuệ giác một thời, cũng là một cách nhìn có tầm văn hoá của một nền tảng cốt tuỷ, tinh tuý của dân tộc ta, được cô đúc từ hàng ngàn năm trước!
Ngôn hoài
http://vn.360plus.yahoo.com/ngpvinhba/article
?mid=830&fid=-1 Được nơi truyền đạo đủ bao người Chất phác lòng vui trọn một đời
Có lúc thẳng lên đầu núi lẻ
Hú vang một tiếng lạnh đất trời
Ngôn hoài (Tỏ lòng) http://www.phatgiao.vn/phatphap/725259.aspx Phiên âm:
Trạch đắc long xà địa khả cư,
Dã tình chung nhật lạc vô dư
Hữu thời trực thượng cô phong đỉnh, Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư
Dịch nghĩa:
Trang 4Chọn được mạch đất long xà (rồng rắn) là nơi
ở được,
Tình quê suốt ngày vui không chán
Có lúc lên thẳng đỉnh núi trơ trọi,
Kêu dài một tiếng lạnh cả bầu trời
Dịch thơ:
Kiểu đất long xà chọn được nơi,
Tình quê nào chán suốt ngày vui
Có khi đỉnh núi trèo lêu thẳng,
Một tiếng kêu vang lạnh cả trời
Phan Võ dịch
Ngư nhàn
http://www.giacngo.vn/PrintView.aspx?
Language=vi&ID=7EF411
Vạn lý thanh giang vạn lý thiên
Nhất thôn tang giá nhất thôn yên
Ngư ông thuỵ trước vô nhân hoán,
Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền
(Trời xanh nước biếc muôn trùng
Một thôn sương khói một vùng dâu đay
Ông chài ngủ tít ai lay,
Quá trưa tỉnh dậy tuyết bay đầy thuyền)
(Kiều Thu Hoạch dịch thơ)
Bản dịch thơ "Cáo tật thị chúng" của Mãn
Giác thiền sư
Cáo tật thị chúng
của Mãn Giác thiền sư
Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá, Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Đinh tiền tạc dạ nhất chi mai
Dịch nghĩa:
Xuân đi trăm hoa rụng, Xuân đến, trăm hoa nở
Việc đời ruổi qua trước mắt, Tuổi già hiện đến từ trên mái đầu
Chớ bảo xuân tần hoa rụng hết, Đêm qua, một cành mai trước sân
Dịch thơ:
Xuân ruổi trăm hoa rụng Xuân tới, trăm hoa cười Trước mắt việc đi mãi Trên đầu già đến rồi Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua, sân trước một nhành mai Ngô Tất Tố dịch
Xuân đi trăm hoa rụng Xuân đến trăm hoa cuời Đời thoáng qua truớc mắt Già đến đầu bạc phai Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua sân nở một cành mai David Lý Lãng Nhân dịch
“Hoa xuân trong thơ thiền là hoa xuân biểu tượng bản chất và qui luật vận động của vũ trụ cùng nét đại hòa điệu của vạn vật trong đó có con người, thảo mộc, động vật; chúng trải qua sự nảy nở tốt tươi để rồi sẽ tàn
tạ khô héo Hoa vàng, hoa xuân, hoa thơm đều là hình ảnh của chân như ngay trước cặp mắt thiền Qua hình ảnh chân như hiện thực đó, ý tứ thơ thiền Lý Trần hướng dẫn tâm hồn đồng điệu đến chốn tam muội chân như, đến cõi tịch diệt nhất như, đến bến bờ viên giác”.
(Hoa xuân hương thiền trong thơ Lý – Trần – Trần Văn Tích)
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
(Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân tới trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Trang 5Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai)
Cáo tật thị chúng – Mãn Giác thiền sư
"Đó không chỉ là một bài kệ, mà còn là một bài thơ, một thi phẩm thể hiện sự xao động của nhà thơ trước "cái thần" của sự sống Là một tuyên ngôn triết học ẩn ngữ dưới hình thức nghệ thuật văn chương Bài thơ mượn cảnh thị tình, lấy tình "trực
chỉ chân tâm" nhằm khai phóng nhân sinh.
Bàn về Cáo tật thị chúng
Cáo tật thị chúng (Có bệnh bảo mọi người) trở thành một tác phẩm thi kệ nổi tiếng thời kỳ văn học
Lý-Trần, một tuyên ngôn triết học ẩn ngữ dưới hình thức nghệ thuật văn chương Bài thơ mượn cảnh
thị tình, lấy tình "trực chỉ chân tâm" nhằm khai phóng nhân sinh
Dùng tư duy trực giác để hình thành nên một biểu tượng, bài thơ bắt đầu từ chỗ miêu tả một thực tại,
một hình ảnh đơn giản, sinh động: Khai, lạc của mai hoa (đào hoa, xuân hoa ) là cái nhãn tiền tự
nhiên nhi nhiên:
Xuân khứ bách hoa lạc / Xuân đáo bách hoa khai
Không có mới cũng chẳng có cũ, không có đi cũng chẳng có về; đáo hay khứ thực ra chỉ là một thực tại bị chia cắt thành những khái niệm mà chỉ cần khởi tâm trí tuệ thì bỗng dưng được con mắt sáng mà nhìn, mà nghe, mà cảm nhận cái thi vị của cuộc đời sau những tột cùng vô biên của sự phân chia, tách bạch
Tự nhiên, có con mắt thứ nhất mở ra phía sau trước nhìn vào chốn sinh linh mà lời rằng: đừng bảo,
đừng nói, đừng ngộ nhận, chớ lời, chớ chắc, chớ đoan và còn con mắt thứ hai dành cho kẻ Xuân Thu
biết vui thú du xuân bốn mùa sẽ có được:
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
thì bỗng dưng thấy con đường trung đạo cho thi thiền quả thật thênh thang vạn dặm:
Khứ (lạc, quá) - nhất chi mai -đáo (khai, lai)
Đạo bản vô nhan sắc, nhưng ta (và người) thì có thể thấy được (nhất chi mai) kia là vật của đất trời,
rỗng rang độc lập, hồn nhiên, như hữu sựu mà như vô sự Biết đâu lâu nay người sợ hãi là sợ cái có có không không đối đãi, thì đây là vật chứng, là hiển nhiên của sinh diệt mà cũng là bất diệt Cái giả hợp tất chịu đổi thay: còn trẻ răng trắng má hồng, lúc tuổi già răng long tóc bạc Nhưng trong chỗ diệt diệt sinh sinh ấy có một thứ nhẩn nha ra ngoài sinh tử, và một lúc nào nhận diện được nhành mai trước sân thì tức là đang sống, đang vui đùa với ông Phật vĩnh cửu của chính mình Tìm kiếm Phật ở bên ngoài thì cũng giống như cá chép tranh nhau nhảy ở Vũ Môn, muôn đời làm sao hóa rồng được?!
1 – Bài thơ "Cáo tật thị chúng"
Dưới góc độ là một bài thơ, có thể nói sáu câu thơ trong bài "Cáo tật thị chúng" trên đây ngay lập tức
đã cung cấp cho người đọc cảm giác về tính chất nhất tâm, nhất khí, thông qua sự trôi chẩy của vần điệu, cũng như sự vững chãi đăng đối của khung vòm chung
Ta thấy, hai câu đầu của bài thơ:
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
(Xuân ruổi trăm hoa rụng
Xuân tới trăm hoa cười)
đã chính là một cặp đối nhau hoàn hảo cả về nội dung (ý nghĩa của các cặp chữ đối) lẫn hình thức (số lượng và vị trí của các cặp chữ đối) Có thể ví hai câu thơ này như hai nửa vòng tròn có bán kính bằng nhau Và rồi, khi được xếp kề sát bên nhau, hai nửa vòng tròn ấy – bởi tính chất tương tác và bổ nghĩa trực tiếp cả về vị trí, số lượng cũng như nội dung của các cặp chữ chung chức năng được đặt đứng xây mặt lại nhau – dường như đã tự động dịch chuyển khép đóng lại, để trở nên một vòng tròn hoàn hảo duy nhất
Sự trục nhãn tiền quá
Trang 6Lão tòng đầu thượng lai
(Trước mắt việc đi mãi
Trên đều già đến rồi)
Ở hai câu này, sự đăng đối về cả hai mặt nội dung và hình thức cũng chặt chẽ như trường hợp hai câu thơ trước, và vì thế, chúng cũng lại sẽ tiếp tục - y như trường hợp của hai câu thơ trước - tự xoay ghép vào với nhau để tạo nên thêm một vòng tròn hoàn hảo nữa
Điểm lý thú là cả hai vòng tròn hoàn hảo (được ghép bằng bốn câu thơ) trên đây đều mang chứa trong lòng chúng những thành tố nghĩa chữ chỉ sự di chuyển: khứ, đáo, quá, lai (ruổi, tới, đi, đến) Chính những thành tố chỉ sự di chuyển này, rốt cục, đã trở nên những động lực thúc đẩy và làm cho hai vòng tròn, hai bánh xe đồng bán kính và đối xứng, bắt đầu xoay, tạo nên một đôi chuyển động tuần hoàn đồng hướng
Đôi vòng chuyển động tuần hoàn đồng hướng này, bằng lực ly tâm của chính chúng, ngay tiếp đó, đã tạo nên một vòng chuyển động tuần hoàn rộng hơn
Và rồi, câu thơ thứ năm trong bài thơ:
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
(Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết)
đã xuất hiện đúng lúc như một gạch nối cần thiết mà một đầu được mắc vào vòng chuyển động của đôi vòng tuần hoàn vĩnh cửu bán kính bằng nhau kia, còn một đầu lại được mắc nhuần nhị vào một tình huống mới, khi mà, ở ngay chính câu kết của bài thơ (câu thứ sáu tiếp sau), một hình ảnh mới đã bất ngờ xuất hiện:
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
(Đêm qua sân trước một cành mai)
Về mặt nội dung, hình ảnh cành mai bé nhỏ (nhất chi mai) bất ngờ xuất hiện trong câu cuối của bài thơ này chính là một thành tố mới, giúp mở ra cho bài thơ cả một chiều kích mới Cành hoa ấy, ngay lúc xuất hiện, đã mang dáng vẻ của một ngọn lửa mà, từ sau khi loé cháy lần đầu tiên, đã mãi bập bùng không nguôi suốt gần mười thế kỷ, xuyên không gian và thời gian, để mang tới cho lớp lớp những người đọc chân lý về sự thanh xuân vĩnh cửu của tính giác, cái chân lý của:
Bồ đề bản vô thọ
Xuân đáo, hoa khai[2]
Nhìn từ góc độ này, và có lẽ cũng cần thêm đôi chút tưởng tượng nữa, ta đã có thể hình dung câu thơ thứ năm của bài thơ:
Mạc vi xuân tàn hoa lạc tận
chính là một sợi dây rọi dẻo chắc, mà một đầu được nối vào vòng xoay của hai bánh xe đang nhịp nhàng luân chuyển, trong khi đầu kia được nối vào với câu thơ kết - mà do mang theo sự rung động không nguôi của hình ảnh cành mai "tính giác", cho nên cũng đã trở thành (hoặc mang tính chất của) một vồ chuông mãi mãi đung đưa theo chiều từ trong ra ngoài (trái với nhịp chuyển động xoay ngang của hai bánh xe đăng đối mang theo bốn khổ thơ đầu) để thúc gõ vào "trái chuông tâm trí" của những người đọc (thậm chí là những người đọc của ngàn năm sau), gây nên cho họ những cú giật thót mình
Và sau những cú giật thót mình ấy, những người đọc, chí ít, có lẽ cũng đã có thể mang máng nhớ ra được cái hữu hạn đến nực cười của cuộc đời họ
Sau đây, xin được dựng lại hình ảnh bài thơ theo góc nhìn của đoạn diễn giải trên:
2 – Bài kệ "Cáo tật thị chúng"
Trang 7Tuy nhiên, nếu chúng ta đọc bài thơ " Cáo tật thị chúng" này từ một góc độ khác – góc độ diễn ngôn thiền - tức là góc độ của một bài kệ (từ đây, xin gọi bài thơ " Cáo tật thị chúng” của Mãn Giác Thiền
Sư trở lại là một bài kệ) theo nghĩa: coi các câu trong bài như thể những dấu vết của ánh chớp huệ giác
mà thiền sư để lại cho chúng ta trong giây phút ngài đắc ngộ và cảm thấu vạn vật, thì rõ ràng là sẽ có một cách diễn giải khác về các khổ kệ ấy
Dưới cách nhìn mới, xin được chia bài kệ này ra làm ba phần mà mỗi phần là một gói tâm trạng và không gian khác biệt, qua đó, hiển lộ trọn vẹn ba trạng thái tâm trí của thiền sư- khi ngài quán chiếu vào thế giới
a/ Phần thứ nhất:
Xuân khứ bách hoa lạc(Xuân ruổi trăm hoa rụng
Xuân đáo bách hoa khai (Xuân tới trăm hoa cười)
Ta thấy, ở đây, cái hình ảnh khách quan và chân lý hiển nhiên đến từ ngoại giới:
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
đã hiện lên thông qua con mắt nhìn từ trong ra ngoài Con mắt của chủ thể (có lẽ có đôi chút thờ ơ)
"NHÌN" vào đối vật, và rồi, một cách khách quan, phát biểu lên cái hiện tượng logic bề ngoài của đối vật để chứng minh cho " SỰ BIẾT” (bằng kinh nghiệm cũ) của chủ thể.[3]
b/ Phần thứ hai:
Sự trục nhãn tiền quá(Trước mắt việc đi mãi
Lão tòng đầu thượng lai (Trên đầu già đến rồi)
Rõ ràng là ở giai đoạn kế tiếp này, con mắt của chủ thể, sau khi nhìn vào ngoại giới đã quay (hay nhắm) lại để soi chiếu vào chính nội tâm mình Và chính từ góc nhìn đó, mà cả hai chiều kích không gian: "Sự trục nhãn tiền quá", và thời gian: "Lão tòng đầu thượng lai" đã được "THẤY RA" Ở đây,
"CÁI NHÌN", sau khi quay ngược vào trong, đã chuyển thành sự "THẤY" Và cái hiện thực sau khi được"THẤY RA” này cũng đã không còn chỉ là một hiện thực nằm im "phẳng","tĩnh" và xa lạ ở bên ngoài chủ thể nữa, cũng như sự hiện diện của cái hiện thực được gọi ra ấy đã không đơn thuần chỉ để chứng minh cho bất kỳ chân lý "có sẵn" nào nữa Trong khoảnh khắc này, hiện thực đã hoá thân ngoạn mục để trở thành một "nghiệm trải" - là kết quả của sự tương tác giữa tâm và cảnh
c/ Phần cuối cùng:
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận(Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai (Đêm qua sân trước một cành mai)
Có thể nói giai đoạn này chính là giai đoạn tượng trưng cho cú quẫy "đáo bỉ ngạn" thanh thoát nhất, khi mà, sau hai cái nhìn ra ngoài và vào trong (hay, nhìn ra ngoài để nhìn vào trong), con mắt của chủ thể đã bỗng dưng hòa vào với cảnh vật, làm cho sự nhìn và cảnh vật tan rã vào nhau để trở thành một thể lưỡng lai bất khả chia tách - "N C H Ả Ì N N H " - là kết quả của cái nhìn, sau khi thoát xác, đã trở nên chính là cảnh vật –đã đạt tới cảnh vật
Xin lưu ý đôi chút về sự xuất hiện trở lại của hình tượng đóa hoa trong phần cuối của bài kệ:
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
Sự xuất hiện lần thứ hai này của hình tượng hoa đã mang tới cho bài kệ một thông tin khác hẳn với cái thông tin mà trước đó, trong hai khổ kệ đầu, hình tượng hoa – qua sự xuất hiện lần đầu tiên của mình - từng đem tới:
Xuân khứ bách hoa lạc(Xuân ruổi trăm hoa rụng
Xuân đáo bách hoa khai (Xuân tới trăm hoa cười)
Trang 8Trong trường hợp này, hình tượng hoa rõ ràng đã chỉ là một hình tượng hời hợt bề ngoài, là một cái cớ
để qua đó, chứng minh cho một sự "BIẾT" cũ
Trái lại, trong lần xuất hiện ở câu thơ cuối, tuy hoa vẫn (lại) là hoa, thế nhưng hoa cũng đã đã không chỉ còn là hoa chung chung nữa, mà giờ đây, hoa đã trở nên một cành hoa mai cụ thể (nhất chi mai), ở tại một nơi chốn cụ thể: đình tiền (sân trước), trong một thời gian cụ thể: tạc dạ (đêm qua)
Cành hoa này đã không còn là một cành hoa của cái "BIẾT", sự "NHÌN" hay thậm chí sự "THẤY" đơn thuần nữa Nó đã hoá thân để nhập làm một với tâm trí thiền sư trong giờ phút ngài cảm ngộ vạn vật, để rồi trở nên một cành hoa của sự "NHẬN RA"
Và thế là, chỉ nhoáng trong một ánh vàng rực loé phắt lên nơi góc sân rêu cũ, cành hoa bé nhỏ của sự
"NHẬN RA" ấy – vì đã trở nên nhất thể với (hoặc đã chính là) cái "chân tâm" (mà hẳn) được sinh ra trong giây phút tuyệt đối "vô sở trụ"[4] của trí tuệ thiền sư – nên đã có thể thu gọn vào trong lòng nhụy mong manh bé nhỏ của nó trọn cả cái chân lý tối thượng mang chứa sức mạnh "làm rúng động cả ngàn thế giới".[5]
Nhìn một cách nào đó, ba khổ thơ trong bài kệ "Cáo tật thị chúng" này hình như cũng chính là vết dấu những cú quẫy nhẩy thanh thoát nhất của con "chim hồng" huệ giác [mà Tuệ Sỹ từng diễn tả],[6] lưu ghi lại trên dòng hiện sinh
Những cú quẫy nhẩy thanh thoát từ "đất cạn, qua gò cao… tới nhành cây" vượt thoát khỏi khỏi chiếc lồng son của hư ngụy để rồi cuối cùng, tung mình…
"… bay trong thương khung, đem lông cánh làm đẹp cho bầu trời." [7]
http://www.khongtu.com/forum/showthread.php?t=1141
HỊCH TƯỚNG SĨ
Ta thường nghe chuyện: Kỷ Tín 紀 信 liều thân chịu chết thay cho vua Cao-đế; Do Vu 由 于 lấy mình
đỡ ngọn giáo cho vua Chiêu-vượng; Dư Nhượng 豫 讓 nuốt than để báo thù cho chủ; Thân Khoái 申
蒯 chặt tay để cứu nạn cho nước; Kính Đức 敬 德 là một chức quan còn nhỏ, mà liều thân cứu vua Thái-tông được thoát vòng vây; Kiểu Khanh 杲 卿 là một bề tôi ở xa, mà kể tội mắng thằng Lộc Sơn
祿 山 là quân nghịch-tặc Các bậc trung-thần nghĩa-sĩ ngày xưa, bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả-sử mấy người ấy cũng cứ bo bo theo lối thường tình, chết già ở xó nhà thì sao cho lưu danh sử-sách đến nghìn muôn đời như thế được?
Nay các ngươi vốn dòng vũ-tướng, không hiểu văn-nghĩa, nghe những chuyện cổ-tích ấy, nửa tin nửa ngờ, ta không nói làm gì nữa; ta hãy đem chuyện đời Tống, Nguyên mới rồi mà nói: Vương công Kiên
王 公 堅 là người thế nào? Tỳ-tướng của Vương công Kiên là Nguyễn văn Lập 阮 文 立 lại là người thế nào, mà giữ một thành Điếu-ngư[1] nhỏ mọn, chống với quân Mông-kha[2] kể hàng trăm vạn, khiến cho dân sự nhà Tống, đến nay còn đội ơn sâu Đường ngột Ngại là người như thế nào? Tỳ-tướng của Đường ngột Ngại là Xích tu Tư lại là người thế nào, mà xông vào chỗ lam-chướng xa xôi, đánh được quân Nam-chiếu trong vài ba tuần, khiến cho quân-trướng đời Nguyên đến nay còn lưu tiếng tốt Huống chi ta cùng các ngươi sinh ở đời nhiễu-nhương, gặp phải buổi gian-nan này, trông thấy những ngụy-sứ đi lại rầm-rập ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà xỉ-mắng triều-đình, đem thân dê chó mà bắt-nạt tổ-phụ, lại cậy thế Hốt tất Liệt 忽 必 烈 mà đòi ngọc-lụa, ỷ thế Vân-nam-vương[3] để vét bạc vàng; của kho có hạn, lòng tham không cùng, khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, giữ sao cho khỏi tai-vạ
về sau!
Ta đây, ngày thì quên ăn, đêm thì quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm-tức rằng chưa được sả thịt lột da của quân giặc, dẫu thân này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong da ngựa, thì cũng đành lòng Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh-quyền, cũng đã lâu ngày, không có áo thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho ăn, quan còn nhỏ thì ta thăng thưởng, lương có ít thì ta tăng cấp, đi thủy thì ta
Trang 9cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc hoạn-nạn thì cùng nhau sống chết, lúc nhàn-hạ thì cùng nhau vui cười, những cách cư-xử so với Vương công Kiên, Đường ngột Ngại ngày xưa cũng chẳng kém gì Nay các ngươi trông thấy chủ nhục mà không biết lo, trông thấy quốc-sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ, mà không biết căm; hoặc lấy việc chọi gà làm vui-đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu-khiển, hoặc vui thú về vườn ruộng, hoặc quyến-luyến về vợ con, hoặc nghĩ về lợi riêng mà quên việc nước, hoặc ham về săn-bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát Nếu có giặc đến, thì cựa gà trống sao cho đâm thủng được áo-giáp; mẹo cờ-bạc sao cho dùng nổi được quân-mưu; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, thân ấy nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con díu, nước này trăm sự nghĩ sao; tiền-của đâu mà mua cho được đầu giặc; chó săn ấy thì địch sao nổi quân thù; chén rượu ngon không làm được cho giặc say chết, tiếng hát hay không làm được cho giặc điếc tai; khi bấy giờ chẳng những là thái-ấp của ta không còn, mà bổng-lộc của các ngươi cũng hết; chẳng những là gia-quyến của ta bị đuổi, mà vợ con của các ngươi cũng nguy; chẳng những là ta chịu nhục bây giờ, mà trăm năm về sau, tiếng xấu hãy còn mãi mãi; mà gia-thanh của các ngươi cũng chẳng khỏi mang tiếng nhục, đến lúc bấy giờ các ngươi dẫu muốn vui-vẻ, phỏng có được hay không?
Nay ta bảo thật các ngươi: nên cẩn-thận như nơi củi lửa, nên giữ-gìn như kẻ húp canh, dạy-bảo
quân-sĩ, luyện-tập cung tên, khiến cho người nào cũng có sức khỏe như Bàng Mông và Hậu Nghệ, thì mới
có thể dẹp tan được quân giặc, mà lập nên được công-danh Chẳng những là thái-ấp ta được vững bền,
mà các ngươi cũng đều được hưởng bổng-lộc; chẳng những là gia-quyến của ta được yên-ổn, mà các ngươi cũng đều được vui với vợ con, chẳng những là tiên-nhân ta được vẻ-vang, mà các ngươi cũng được phụng-thờ tổ-phụ, trăm năm vinh-hiển; chẳng những là một mình ta được sung-sướng, mà các ngươi cũng được lưu-truyền sử sách, nghìn đời thơm-tho; đến bấy giờ các ngươi dầu không vui-vẻ, cũng tự khắc được vui-vẻ
Nay ta soạn hết các binh-pháp của các nhà danh-gia hợp lại làm một quyển gọi là « Binh-thư yếu-lược » Nếu các ngươi biết chuyên-tập sách này, theo lời dạy-bảo, thì mới phải đạo thần-tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy-bảo, thì tức là kẻ nghịch-thù
Bởi cớ sao? Bởi giặc Nguyên cùng ta, là kẻ thù không đội trời chung, thế mà các ngươi cứ điềm-nhiên không nghĩ đến việc báo thù, lại không biết dạy quân-sĩ, khác nào như quay ngọn giáo mà đi theo kẻ thù, giơ tay không mà chịu thua quân giặc, khiến cho sau trận Bình-lỗ[4] mà ta phải chịu tiếng xấu muôn đời, thì còn mặt-mũi nào đứng trong trời đất nữa Vậy nên ta phải làm ra bài hịch này để cho các ngươi biết bụng ta
BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO CỦA NGÔ TẤT TỐ
Bản dịch Đại thiên hành hóa hoàng thượng nhược viết:
Cái văn:
Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân,
Điếu phạt chi sư, mạc tiên khử bạo
Duy ngã Đại Việt chi quốc,
Thực vi văn hiến chi bang
Sơn xuyên chi phong vực ký thù,
Nam bắc chi phong tục diệc dị
Tự Triệu Đinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc,[1]
Dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi các đế nhất phương
Thay trời hành hoá, hoàng thượng truyền rằng Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng
Trang 10Tuy cường nhược thì hữu bất đồng,
Nhi hào kiệt thế vị thường phạp
Cố Lưu Cung tham công dĩ thủ bại,
Nhi Triệu Tiết hiếu đại dĩ xúc vong
Toa Đô ký cầm ư Hàm Tử quan,
Ô Mã hựu ế ư Bạch Đằng hải.[2]
Kê chư vãng cổ,
Quyết hữu minh trưng
Khoảnh nhân Hồ chính chi phiền hà,
Trí sử nhân tâm chi oán bạn
Cuồng Minh tứ khích, nhân dĩ độc ngã dân;
Nguỵ đảng hoài gian, cánh dĩ mãi ngã quốc
Hân thương sinh ư ngược diệm,
Hãm xích tử ư họa khanh
Khi thiên võng dân, quỷ kế cái thiên vạn trạng;
Liên binh kết hấn, nẫm ác đãi nhị thập niên
Bại nghĩa thương nhân, càn khôn ky hồ dục tức;
Trọng khoa hậu liễm, sơn trạch mỹ hữu kiết di
Khai kim trường, tắc mạo lam chướng nhi phủ sơn đào sa,
Thái minh châu, tắc xúc giao long nhi hoàn yêu thộn hải
Nhiễu dân thiết huyền lộc chi hãm tịnh,
Điễn vật chức thúy cầm chi võng la
Côn trùng thảo mộc giai bất đắc dĩ toại kỳ sinh,
Quan quả điên liên câu bất hoạch dĩ an kỳ sở
Tuấn sinh linh chi huyết dĩ nhuận kiệt hiệt chi vẫn nha;
Cực thổ mộc chi công dĩ sùng công tư chi giải vũ
Châu lý chi chinh dao trọng khốn,
Lư diêm chi trữ trục giai không
Quyết Đông Hải chi thủy bất túc dĩ trạc kỳ ô,
Khánh Nam Sơn chi trúc bất túc dĩ thư kỳ ác
Thần dân chi sở cộng phẫn,
Thiên địa chi sở bất dung
Dư:
Phấn tích Lam Sơn,
Thê thân hoang dã
Niệm thế thù khởi khả cộng đái,
Thệ nghịch tặc nan dữ câu sinh
Thống tâm tật thủ giả thùy thập dư niên,
Thường đảm ngọa tân giả cái phi nhất nhật
cứ một phương Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau Song hào kiệt thời nào cũng có
Cho nên:
Lưu Cung tham công nên thất bại;
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong;
Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã Việc xưa xem xét,
Chứng cứ còn ghi
Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận Quân cuồng Minh thưà cơ gây hoạ Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế Gây thù kết oán trải mấy mươi năm Bại nhân nghĩa nát cả đất trời
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc
Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ, Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no
nê chưa chán, Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa?
Nặng nề những nổi phu phen Tan tác cả nghề canh cửi
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi !
Lẽ nào trời đất dung tha?
Ai bảo thần dân chịu được?