Ngày 28092012 Ngân hàng TMCP Công Thương VN đã cho ông Nguyên và bà Giang vay số tiền là 1.100.000.000 (một tỉ, một trăm triệu đồng) theo HĐ tín dụng số 1662012HĐTDTL với mục đích vay là để “Bổ sung vốn lưu động, phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh”. Thời hạn vay 6 tháng, lãi suất vay trong hạn là 12,8%năm ngày đến hạn là ngày 2832013. Để đảm bảo tiền vay, ông Nguyên, bà Giang đã thế chấp tài sản là QSDĐ và tài sản gắn liền trên đất thuộc thửa đất số 37, tờ bản đồ số 26 có diện tích 395,8m2 theo GCNQSDĐ số S694723 do UBND tỉnh Bắc Ninh cấp cho ông Chính và bà Trang (là anh ruột và chị dâu của ông Nguyên, bà Giang.) trị giá 2.200.000.000đ Hợp Đồng thế chấp bảo lãnh để đảm bảo khoản vay cho em ruột và em dâu được ông Chính và bà Trang đã tự nguyện đứng ra làm và việc này đã được công chứng theo quy định của pháp luật tại phòng công chứng số 3 tỉnh Bắc Ninh vào ngày 2792012. Ngày 28032013, là sau 6 tháng đến hạn trả nợ cả gốc và lãi cho ngân hàng, mặc dù ngân hàng TMCP Công Thương VN đã nhiều lần đôn đốc và làm việc với ông Nguyên, bà Giang cũng như người có nghĩa vụ liên quan là ông Chính, bà Trang về việc thanh toán nợ cho ngân hàng...nhưng ông Nguyên bà Giang đã không có khả năng chi trả nợ đáo hạn cho ngân hàng. Về phía bên có tài sản bảo đảm ông Nguyễn ThếChính và bà Nguyễn ThịThu Trang sau khi làm các thủ tục thế chấp bảo đảm cho khoản vay của Khúc Thị Hương Giang và Nguyễn ThếNguyên thì lại tỏ ra bất hợp tác trong công tác phối hợp với Ngân hàng xử lý thanh toán nợ. Vì thế ngày 01112013 ngân hàng TMCP Công Thương VN đã kiện ông Nguyên, bà Giang ra tòa án ND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh với yêu cầu:+ Buộc ông Nguyên, bà Giang phải trả số tiền gốc, lãi, lãi phạt theo HĐ tín dụng 1662012HĐTDTL tạm tính đến ngày 31102013 tổng cộng là: 1.219.208.615 đồng.+ Trong trường hợp ông Nguyên, bà Giang không trả được khoản nợ trên, đề nghị tòa án xử lý tài sản bảo đảm theo HĐ thế chấp bằng cách tiến hành kê biên, bán tài sản bảo đảm thu hồi nợ theo qui định của pháp luật. Tuy nhiên trong quá trình thu thập chứng cứ, căn cứ vào các lời khai, biên bản đối chất, biên bản hòa giải...ông Chính, bà Trang cho rằng: do hiểu biết pháp luật hạn chế, không đọc kỹ các văn bản giấy tờ trước khi ký, do vợ chồng Nguyên, Giang đã có kế hoạch mờ ám nên ông Chính, bà Trang cho rằng mình không có trách nhiệm hoặc liên quan gì đến khoản vay của ông Nguyên, bà Giang nên không chấp nhận việc khởi kiện kê biên căn nhà của mình...Ngày 27122013 Tòa án nhân dân Huyện Thuận Thành ra quyết định số 032013QĐXXKDTM đưa vụ án ra xét xử vào lúc 7h30’ ngày 24012014. Ngày 24012014, qua quá trình xét xử và làm rõ các vấn đề Hội đồng xét xử đã ra bản án số 012014KDTM giải quyết vụ án như sau:Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam Chi nhánh khu công nghiệp Quế Võ Bắc Ninh buộc anh Nguyên và chị Hương phải trả tiền nợ gốc và lãi cho ngân hàng TMCP CT Việt Nam với tổng số tiền là 1.272.032.025đTừ ngày 24012014 Ngân hàng TMCP CT Việt Nam sẽ tiếp tục tính lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn trên nợ gốc cho đến khi bị đơn trả hết nợTrong trường hợp bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng anh Nguyên và chị Hương không thể thực hiện nghĩa vụ cho Ngân hàng TMCP CT Việt Nam thì phía Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự Huyện Thuận Thành phát mại tài sản được Theo hợp đồng thế chấp số: 1662012HĐTC ngày 27092002, để ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam – Chi nhánh khu công nghiệp Quế Võ – Bắc Ninh thu hồi nợ theo như quyết định của bản án.Buộc anh Nguyễn Thế Nguyên và chị Khúc Thị Hương Giang phải chịu 50.160.960 đồng tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩmHoàn trả cho Ngân hàng TMCP CT Việt Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp.Ngày 07022014, Toà án nhân dân Huyện Thuận Thành nhận được đơn kháng cáo của ông Nguyễn Thế Chính và bà Trịnh Thị Thu Trang. Kháng cáo đối với bản án sơ thẩm số:012014KDTMST ngày 24012014 của Toà án nhân dân Huyện Thuận Thành với nội dung kháng cáo không nhất trí với bản án sơ thẩm mà Tòa án nhân dân Huyện Thuận Thành đã xét xử.II Một số vấn đề cần lưu ý và cần làm rõ trong hồ sơ vụ án1.Tính hiệu lực của Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, Biên bản định giá.2.Thẩm quyền ký kết hợp đồng, đại diện ký kết đúng hay không? Quyền sử dụng đất là của hộ gia đình hay không? Hình thành từ đâu (được nhà nước giao, được chuyển nhượng, thừa kế,…?)3.Tài sản thế chấp để đảm bảo khoản vay có hợp pháp?4.Lãi suất vay, lãi suất phạt quá hạn và lãi suất phạt chậm trả có phù hợp theo quy định pháp luật?
Trang 1BÀI THU HOẠCH
BÀI 6
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIAI GIAI ĐOẠN PHÚC THẨM, GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
Tình huống: Thực hành kỹ năng tham gia giai đoạn
phúc thẩm (Hồ sơ kinh doanh thương mại LS.TM
-14/B6.TH)
HỌC & TÊN: ………
MÃ SỐ HỌC VIÊN: ………… LỚP: ĐÀO TẠO LUẬT SƯ …
TP HCM ngày … tháng … năm 2015
HỌC VIỆN TƯ PHÁP LỚP ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ LUẬT SƯ
Trang 2* Luật sư tham gia bảo vệ cho bên kháng cáo yêu cầu phúc thẩm.
I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 28/09/2012 Ngân hàng TMCP Công Thương VN đã cho ông Nguyên và bà Giang vay số tiền là 1.100.000.000 (một tỉ, một trăm triệu đồng) theo HĐ tín dụng số 166/2012/HĐTD/TL với mục đích vay là để
“Bổ sung vốn lưu động, phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh” Thời hạn vay 6 tháng, lãi suất vay trong hạn là 12,8%/năm ngày đến hạn là ngày 28/3/2013.
Để đảm bảo tiền vay, ông Nguyên, bà Giang đã thế chấp tài sản là QSDĐ và tài sản gắn liền trên đất thuộc thửa đất số 37, tờ bản đồ số 26
có diện tích 395,8m2 theo GCNQSDĐ số S694723 do UBND tỉnh Bắc Ninh cấp cho ông Chính và bà Trang (là anh ruột và chị dâu của ông Nguyên, bà Giang.) trị giá 2.200.000.000đ
Hợp Đồng thế chấp bảo lãnh để đảm bảo khoản vay cho em ruột
và em dâu được ông Chính và bà Trang đã tự nguyện đứng ra làm và việc này đã được công chứng theo quy định của pháp luật tại phòng công chứng số 3 tỉnh Bắc Ninh vào ngày 27/9/2012.
Ngày 28/03/2013, là sau 6 tháng đến hạn trả nợ cả gốc và lãi cho ngân hàng, mặc dù ngân hàng TMCP Công Thương VN đã nhiều lần đôn đốc và làm việc với ông Nguyên, bà Giang cũng như người có nghĩa vụ liên quan là ông Chính, bà Trang về việc thanh toán nợ cho ngân hàng nhưng ông Nguyên bà Giang đã không có khả năng chi trả
nợ đáo hạn cho ngân hàng.
Về phía bên có tài sản bảo đảm ông Nguyễn ThếChính và bà Nguyễn ThịThu Trang sau khi làm các thủ tục thế chấp bảo đảm cho khoản vay của Khúc Thị Hương Giang và Nguyễn ThếNguyên thì lại tỏ ra bất hợp tác trong công tác phối hợp với Ngân hàng xử lý thanh toán nợ.
Vì thế ngày 01/11/2013 ngân hàng TMCP Công Thương VN đã kiện ông Nguyên, bà Giang ra tòa án ND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh với yêu cầu:
+ Buộc ông Nguyên, bà Giang phải trả số tiền gốc, lãi, lãi phạt theo HĐ tín dụng 166/2012/HĐTD/TL tạm tính đến ngày 31/10/2013 tổng cộng là: 1.219.208.615 đồng.
+ Trong trường hợp ông Nguyên, bà Giang không trả được khoản nợ trên, đề nghị tòa án xử lý tài sản bảo đảm theo HĐ thế chấp
Trang 3bằng cách tiến hành kê biên, bán tài sản bảo đảm thu hồi nợ theo qui định của pháp luật
Tuy nhiên trong quá trình thu thập chứng cứ, căn cứ vào các lời khai, biên bản đối chất, biên bản hòa giải ông Chính, bà Trang cho rằng: do hiểu biết pháp luật hạn chế, không đọc kỹ các văn bản giấy tờ trước khi ký, do vợ chồng Nguyên, Giang đã có kế hoạch mờ
ám nên ông Chính, bà Trang cho rằng mình không có trách nhiệm hoặc liên quan gì đến khoản vay của ông Nguyên, bà Giang nên không chấp nhận việc khởi kiện kê biên căn nhà của mình
Ngày 27/12/2013 Tòa án nhân dân Huyện Thuận Thành ra quyết định số 03/2013/QĐXX-KDTM đưa vụ án ra xét xử vào lúc 7h30’ ngày 24/01/2014
Ngày 24/01/2014, qua quá trình xét xử và làm rõ các vấn đề Hội đồng xét xử đã ra bản án số 01/2014/KDTM giải quyết vụ án như sau:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại
cổ phần công thương Việt Nam- Chi nhánh khu công nghiệp Quế Võ- Bắc Ninh buộc anh Nguyên và chị Hương phải trả tiền nợ gốc và lãi cho ngân hàng TMCP CT Việt Nam với tổng số tiền là 1.272.032.025đ
- Từ ngày 24/01/2014 Ngân hàng TMCP CT Việt Nam sẽ tiếp tục tính lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn trên nợ gốc cho đến khi bị đơn trả hết nợ
- Trong trường hợp bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng anh Nguyên và chị Hương không thể thực hiện nghĩa vụ cho Ngân hàng TMCP CT Việt Nam thì phía Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự Huyện Thuận
số: 166/2012/HĐTC ngày 27/09/2002, để ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam – Chi nhánh khu công nghiệp Quế Võ – Bắc Ninh thu hồi nợ theo như quyết định của bản án.
- Buộc anh Nguyễn Thế Nguyên và chị Khúc Thị Hương Giang phải chịu 50.160.960 đồng tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm
Trang 4- Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP CT Việt Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Ngày 07/02/2014, Toà án nhân dân Huyện Thuận Thành nhận được đơn kháng cáo của ông Nguyễn Thế Chính và bà Trịnh Thị Thu Trang Kháng cáo đối với bản án sơ thẩm số:01/2014/KDTM-ST ngày 24/01/2014 của Toà án nhân dân Huyện Thuận Thành với nội dung kháng cáo không nhất trí với bản án sơ thẩm mà Tòa án nhân dân Huyện Thuận Thành đã xét xử.
II/ Một số vấn đề cần lưu ý và cần làm rõ trong hồ sơ vụ án
1 Tính hiệu lực của Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, Biên bản định giá.
2 Thẩm quyền ký kết hợp đồng, đại diện ký kết đúng hay không? Quyền sử dụng đất là của hộ gia đình hay không? Hình thành từ đâu (được nhà nước giao, được chuyển nhượng, thừa kế,…?)
3 Tài sản thế chấp để đảm bảo khoản vay có hợp pháp?
4 Lãi suất vay, lãi suất phạt quá hạn và lãi suất phạt chậm trả có phù hợp theo quy định pháp luật?
III ĐƠN KHÁNG CÁO
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-Ngày 23 tháng 05 năm 2015
ĐƠN KHÁNG CÁO
Kính gửi: Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành
Người kháng cáo:
Trang 5CMND số 125 098 884 do công an tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 12/5/2000
CMND số 125 472 626 do công an tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 05/02/2009
Địa chỉ: Thị Trấn Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Là người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan trong vụ án “Tranh
chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
03/QĐXX-ST ngày 27/12/2013, giữa:
*Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Người đại diện theo ủy quyền:
Ông Hà Xuân Nam và bà Trương Thúy Anh – Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh KCN Quế Võ
*Bị đơn: Ông Nguyễn Thế Nguyên SN 1973
Bà Khúc Thị Hương Giang SN 1979
Địa chỉ: Phố Hồ, thị trấn Hồ, Thuận Thành, Bắc Ninh.
Nay tôi làm đơn này kháng cáo: toàn bộ đối với bản án sơ thẩm số:01/2014/KDTM-ST ngày 24 tháng 01 năm 2014 của Toà án nhân dân Huyện Thuận Thành.
Lý do kháng cáo: chúng tôi không nhất trí với toàn bộ bản án
sơ thẩm mà Tòa án Thuận Thành đưa xét xử cụ thể là việc bản án
đã quy định rõ: “trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật mà vợ chồng anh Nguyễn Thế Nguyên và chị Khúc Thị Hương Giang vẫn không thanh toán trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam – Chi nhánh khu công nghiệp Quế Võ – Bắc Ninh thì Ngân hàng Thương mại cổ phần công thương Việt Nam – chi nhánh khu công nghiệp Quế Võ – Bắc Ninh có quyền đề nghị Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Thuận Thành phát mại tài sản là giá trị quyền sử dụng đất và giá trị tài sản gắn liền trên đât theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 694723 do UBND tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 20/02/2001 mang tên hộ ông Nguyễn Thế Chính và bà Trịnh Thị Thu Trang đã đứng ra thế chấp bảo lãnh cho anh Nguyên chị
Trang 6Giang vay vốn Thửa đất số 37 tờ bản đồ số 27 có diện tích 395,8m2, tại Phố Hồ - Thị Trấn Hồ - Thuận Thành – Bắc Ninh.”
Yêu cầu tòa phúc thẩm giải quyết những việc sau đây:
- Xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm số:01/2014/KDTM-ST ngày
24 tháng 01 năm 2014 của Toà án nhân dân Huyện Thuận Thành.
- Không phát mãi quyền sử dụng đất …
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Những tài liệu chứng cứ kèm theo bao gồm:
- Biên bản phiên tòa ngày
- Bản án sơ thẩm số
- Giấy chứng nhận QSDĐ số
- Văn bản ủy quyền số của hai cháu con
- Hợp đồng thế chấp số
- Hợp đồng tín dụng số
NGƯỜI KHÁNG CÁO Nguyễn Thế Chính
(đã ký) Trịnh Thị Thu Trang
( đã ký )
IV CÁC TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ CHỨNG MINH VÀ CÁC TÌNH TIẾT, SỰ KIỆN CẦN CHỨNG MINH
Các tình tiết, sự kiện cần chứng minh trong vụ án:
- Nguồn gốc của thửa đất thửa đất số 37, tờ bản đồ số 26, diện tích 395,8m2 tại Phố Hồ, thị trấn Hồ, Thuận Thành, Bắc Ninh, theo GCNQSDĐ số S694723 do UBND tỉnh Bắc Ninh cấp ngày
Trang 720/02/2001, cụ thể là được hình thành từ đâu? Từ được nhận thừa kế, nhận tặng cho, ai được nhận? các thành viên của hộ gia đình nhận chuyển nhượng hay các hình thức nào? Để nhằm xác định ai là người có quyền sử dụng thửa đất này, đồng thời xác định tính hiệu lực của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
+ Căn cứ Điều 109 Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung
của hộ gia đình
1 Các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theo phương thức thoả thuận.
2 Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý.
+ Căn cứ khoản 2, Điều 146 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai: “Hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, thuê lại quyền sử dụng đất; hợp đồng hoặc văn bản tặng cho QSD đất; hợp đồng thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng QSD đất thuộc QSD chung của hộ gia đình phải được tất cả các thành viên có đủ năng lực hành vi dân
sự trong hộ gia đình đó thống nhất và ký tên hoặc có văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự.”
+ Căn cứ Điều 108 bộ luật dân sự về tài sản chung của Hộ gia đình: “Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ.”
- Hộ gia đình của ông Nguyên, bà Giang gồm những ai? Các con
từ đủ 18 tuổi chưa? Vì theo HĐ Tín dụng xác định đối tượng đi vay là Hộ kinh doanh, vì vậy cần các thành viên của hộ đồng ý vay Nếu không thì tính hiệu lực của HĐTD bị ảnh hưởng.
- Các tài liệu, chứng cứ chứng minh ông Nguyên, bà Giang sử dụng vốn vay để dùng vào mục đích bổ sung vốn lưu động phục
vụ sản xuất kinh doanh Và chứng cứ chứng minh cho việc Ngân hàng chấp nhận yêu cầu vay của ông Nguyên, bà Giang là có căn
cứ (giấy tờ về phương án kinh doanh, ).
Trang 8- Ông Hà Xuân Hoan (phó Giám đốc chi nhánh Quế Võ) có được
ủy quyền khởi kiện, tham gia tố tụng từ Giám đốc chi nhánh hay những người có thẩm quyền khác?
V MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA VIỆC XÁC ĐỊNH VÀ CHỨNG MINH QHPLTC TRONG VIỆC THAM GIA VỤ ÁN DS, KDTM
Để giải quyết vụ án dân sự nói chung, kinh doanh thương mại nói riêng, Luật sư phải dựa vào yêu cầu cụ thể của người khởi kiện
để xác định quan hệ pháp luật mà đương sự tranh chấp Từ đó, đối chiếu với các quy định về thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân
sự (BLTTDS) để xác định yêu cầu khởi kiện của đương sự có thuộc thẩm quyền của Tòa án hay không Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp còn có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng pháp luật nội dung (điều chỉnh quyền và nghĩa vụ giữa các bên) trong việc bảo vệ yêu cầu hợp pháp của đương sự.
VII BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA CHO ÔNG NGUYỄN THẾ CHÍNH VÀ BÀ TRỊNH THỊ THU TRANG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
BÀI LUẬN CỨ BẢO VỆ Lợi ích hợp pháp của cho Ông Nguyễn Thế Chính và bà Trịnh Thị Thu
Trang
Kính thưa :
- Hội Đồng xét xử
- Đại diện Viện kiểm sư
- Thưa luật sư đồng nghiệp
Trang 9Tôi là luật sư nguyễn A Tham gia phiên Tòa hôm nay với tư cách bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp cho cá nhân là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong
vụ kiện dân sư huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Sau khi nghiên cứu toàn bộ hồ sơ có liên quan và qua tranh luận tại phiên Tòa, tôi xin đưa ra quan điểm bảo vệ cho thân chủ tôi như sau :
1 Tóm tắt hồ sơ
1.Ngân hàng TMCP Công Thương VN đã cho ông Nguyên
và bà Giang vay số tiền là 1.100.000.000 (một tỉ, một trăm triệu đồng) theo HĐ tín dụng số 166/2012/HĐTD/TL ngày 28/09/2012 với mục đích vay là để “Bổ sung vốn lưu động, phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh” Thời hạn vay 6 tháng, lãi suất vay trong hạn là 12,8%/năm
2.Để đảm bảo tiền vay, ông Nguyên, bà Giang đã thế chấp tài sản là QSDĐ và tài sản gắn liền trên đất thuộc thửa đất số 37, tờ bản đồ số 26 có diện tích 395,8m2 theo GCNQSDĐ số S694723 do UBND tỉnh Bắc Ninh cấp cho ông Chính và bà Trang (là anh ruột và chị dâu của ông Nguyên, bà Giang.) Trước đó ông Chính và bà Trang
đã tự nguyện đứng ra làm HĐ thế chấp bảo lãnh để đảm bảo khoản vay cho em ruột và em dâu mình và việc này đã được công chứng theo quy định của pháp luật tại phòng công chứng số 3 tỉnh Bắc Ninh.
3.Ngày 28/03/2013, là sau 6 tháng đến hạn trả nợ cả gốc
và lãi cho ngân hàng, mặc dù ngân hàng TMCPCông Thương VN đã nhiều lần đôn đốc và làm việc với ông Nguyên, bà Giang cũng như người có nghĩa vụ liên quan là ông Chính, bà Trang về việc thanh toán nợ cho ngân hàng nhưng ông Nguyên bà Giang đã mất khả năng chi trả.
4.Vì thế ngày 01/11/2013 ngân hàng TMCP Công Thương
VN đã kiện ông Nguyên, bà Giang ra tòa án ND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh với yêu cầu:
+ Buộc ông Nguyên, bà Giang phải trả số tiền gốc, lãi, lãi phạt theo HĐ tín dụng 166/2012/HĐTD/TL tạm tính đến ngày 31/10/2013 tổng cộng là: 1.219.208.615 đồng.
+ Trong trường hợp ông Nguyên, bà Giang không trả được khoản nợ trên, đề nghị tòa án xử lý tài sản bảo đảm theo HĐ thế chấp bằng cách tiến hành kê biên, bán tài sản bảo đảm thu hồi nợ theo qui định của pháp luật
5.Tuy nhiên trong quá trình thu thập chứng cứ, căn cứ vào các lời khai, biên bản đối chất, biên bản hòa giải ông Chính, bà
Trang 10Trang cho rằng: do hiểu biết pháp luật hạn chế, không đọc kỹ các văn bản giấy tờ trước khi ký, do vợ chồng Nguyên, Giang đã có kế hoạch
mờ ám nên ông Chính, bà Trang cho rằng mình không có trách nhiệm hoặc liên quan gì đến khoản vay của ông Nguyên, bà Giang nên không chấp nhận việc khởi kiện kê biên căn nhà của mình
b Xác định các vấn đề pháp lý cơ bản:
Quyết định của bản án sơ thẩm số 01/2014/KDTM ngày 24/01/2014 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” đã tuyên như sau:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hang TMCP Công Thương Việt Nam_Chi nhánh KCN Quế Võ – Bắc Ninh, buộc bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền: 1.272.032.025 đồng (một
tỷ hai trăm hai mươi bảy triệu không trăm ba mươi hai nghìn không trăm năm mươi lăm đồng).
- Trường hợp mà bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Công Thương_Chi nhánh KCN Quế Võ – Bắc Ninh có quyền đề nghị Chi cục thi hành án Dân sự Huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh phát mại tài sản đã thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S
694723 do UBND tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 20/02/2001 mang tên hộ ông Nguyễn Thế Chính và bà Trịnh Thị Thu Trang, thuộc thửa đất số
37, tờ bản đồ 27 Thị Trấn Hồ - huyện Thuận Thành – tỉnh Bắc Ninh Các tài liệu, chứng cứ nội dung bản án sơ thẩm không phù hợp với quy định của pháp luật và các tình tiết có trong vụ án:
- Thứ nhất, theo đơn khởi kiện số 362/ĐK-CNQV ngày 01/11/2013 của
Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam_Chi nhánh KCN Quế Võ – Bắc Ninh thì ở cuối đơn khởi kiện có đóng dấu của chi nhánh, có ký tên của Phó Giám đốc chi nhánh Hà Xuân Hoan (ký thay Giám đốc) Theo quy định Điều 92 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của Pháp nhân, không có tư cách của pháp nhân nên không thể đứng đơn khởi kiện Văn bản ủy quyền số 431/UQ-HĐQT-NHCT18 ngày 30/6/2010 của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chưa có đóng dấu của