www.100hanoi.com Văn Hoá phi vật thể Văn hĩa dân gian trong đời sống Một vấn đề được các nhà quản lý văn hĩa Hà Nội đặc biệt quan tâm là đầu tư nghiên cứu, bảo tồn vốn văn hố phi vật t
Trang 1
www.100hanoi.com Văn Hoá phi vật thể
Ca trù là một mơn nghệ thuật lâu đời,
tồn tại ít nhất cách đây 700 năm
(Cĩ tài liệu cho rằng hơn 1000 năm)
Trước đây, Ca trù được coi là một mơn
nghệ thuật tao nhã, sang trọng
và kén người nghe
Sau một thời gian
bị lãng quên hơn nửa thập kỷ,
Trang 2
www.100hanoi.com Văn Hoá phi vật thể
Hà Nội luơn là mộ địa danh văn hĩa, kinh tế, chính trị của cả nước Tìm hiểu các thơng tin về kinh tế, văn hĩa, giải trí….của Hà Nội luơn là một nhu cầu thiết yếu của nhiều tầng
lớp nhân dân Bên cạnh đĩ, năm 2010 là năm quan trọng, với rất nhiều những dịp lễ kỉ
niệm lớn, đặc biệt là đại lễ 1000 năm Thăng Long Đây là một cột mốc văn hĩa, lịch sửđược quan tâm của cả trong và ngồi nước Đĩ chính là lí do chúng tơi lựa chọn chủđề
về Hà Nội đểđịnh hướng nội dung cho dự án chuỗi website Hà Nội
Dự án chuỗi website về Hà Nội mang tên Hà N ộ i Tơi Yêu được cơng ty CP ĐT Hồng
Đạt triển khai thực hiện từ tháng 2 năm 2010 Với những nỗ ực, tâm huyết và tình yêu dành cho Hà Nội, các thành viên ban dự án đã cho ra những sản phẩm văn hĩa gây
được ấn tượng với độc giả yêu Hà Nội
Đại Lễ 1000 năm Thăng Long đang đến rất gần, dự án cũng đang đi vào giai đ ạn gấp rút hồn thành để hịa chung khơng khí của ngày Đại Lễ
Dự án là một bức tranh tổng thể đi từ những sự kiện gắn với Đại Lễ, cũng như những gĩc sâu trong tâm hồn Hà Nội, những nếp sống, những cảm xúc của người Hà Nội Bên cạnh việc xây dựng và hồn thiện chuỗi website về Hà Nội, Ban dự án cịn cho ra
mắt những ấn phẩm về Hà Nội Chúng tơi đã dành nhiều tâm huyế để xây dựng Tủ sách
Hà Nội với những ấn phẩm điện tửđược tặng miễn phí cho quý bạn đọc Chúng tơi hi
vọng những tâm huyết này sẽ mang lại cho quý bạn đọc yêu Hà Nội những điều thú vị
Tư liệu chúng tơi sử dụng để thực hiện những ấn phẩm này hồn tồn được sưu tầm và biên tập từ các nguồn trên Internet nên khơng tránh được những thiếu sĩt Một số ư liệu
do lấy ở các nguồn thứ cấp, nên chúng tơi khơng thể trích dẫn nguồn đầy đủ Chúng tơi mong nhận được sự thơng cảm từ các tác giả
Xin chân thành c ả m ơ n và mong nh ậ n đượ c nh ữ ng gĩp ý t ừ phía b ạ n đọ c!
Ban d án
Trang 3
www.100hanoi.com Văn Hoá phi vật thể Mục Lục Thư ngỏ 2
Văn hĩa dân gian trong đời sống 3
Múa rối nước, nghệ thuật sân khấu 7
độc đáo 7
Di sản nhạc lễ cổ truyền Hà Nội 11
Các nhcj cụ dân tộc Việt Nam Error! Bookmark not defined Văn học dân gian cổ truyền trên đất Thăng Long 29
Nghệ thuật múa trong sân khấu chèo ở Thăng long - Đơng đơ - Hà nội 34
Nghệ thuật Tuồng trên đất 37
Thăng Long – Hà Nội 37
Ca trù 41
Hát Chầu văn 43
Âm nhạc dân gian 45
Tranh Hàng Trống 47
Nghệ thuật thêu tay 48
Trang 4
www.100hanoi.com Văn Hoá phi vật thể
Văn hĩa dân gian trong đời sống
Một vấn đề được các nhà quản lý văn hĩa Hà Nội đặc biệt quan tâm là đầu tư nghiên
cứu, bảo tồn vốn văn hố phi vật thể tiêu biểu như lễ hội Cổ Loa (Đơng Anh), lễ hội đền Sĩc (Sĩc Sơn), lễ hội Vua Lê đăng quang (Hồn Kiếm), lễ hội đền Và (Sơn Tây), múa Bài Bơng (Phú Xuyên), hát Dơ (Quốc Oai)…
Đồng thời tạo điều kiện để nhiều loại hình nghệ thuật dân gian phát triển như rối nước
Đào Thục (Đơng Anh), tuồng Dương Cốc (Quốc Oai), các câu lạc bộ ca trù ở nội thành
Hà Nội, Lỗ Khê (Đơng Anh), Đơng Duyên (Thường Tín)… Bản thân các địa phương nơi
vốn cổđược sinh ra và lớn lên cũng đang mải miết và hồ hởi với hành trình bảo tốn và phát huy “đặc sản” văn hĩa quê mình
Hị Cửa đình và múa hát Bài Bơng được coi là nét văn hĩa đặc trưng ở thơn Phú Nhiêu,
xã Quang Trung, huyện Phú Xuyên Ra đời cách đây hàng trăm năm, đây là loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian độc đáo - hị hát theo các nghi lễ dân gian ởđịa phương
để cung chúc các vị thần hồng làng Đến nay loại hình này vẫn là niềm tự hào của
người dân Phú Xuyên Nội dung bài hị Cửa đình gồm 517 câu, được chia làm 3 phần: Bài giáo, bài hị và bài khĩng Những câu hị đã ăn sâu vào tiềm thức của những người dân, coi đây như một bài trường ca của quê hương Múa hát Bài Bơng cũng liên tục xuấ
hiện trong những ngày lễ hội theo ba đội hình: múa hát khi đi rước trải, múa hát phục vụ
các chầu tế lễ, múa hát thờ thánh Đội hình múa hát Bài Bơng gồm 8 người (ngày xưa là
những thiếu nữ chưa chồng), được tuyển chọn từ những cơ gái đẹp nhất làng, đạo cụđể
múa là một quạt lụa hoa, một khăn lụa màu, mộ đơi đèn hoa để múa đêm Chính hị
Cửa đình và múa hát Bài Bơng ở Phú Nhiêu đã làm cho lễ hội ởđây cĩ nét riêng biệt
Trang 5
www.100hanoi.com Văn Hoá phi vật thể
Hai loại hình diễn xướng này được lưu giữ với một niềm tự hào của người dân Thời kỳ
hưng thịnh nhất của loại hình diễn xướng này là từ cách mạng Tháng 8 trở về trước Sau hịa bình lập lại, các cụ bơ lão và nhân dân Phú Nhiêu cũng đã tìm tịi và khơi phục lại hồn chỉnh bài hị Cửa đình và múa hát Bài Bơng Đặc biệt, phải nĩi đến những người
rất tâm huyết như ơng Lương Đức Nghi,người cĩ cơng lưu giữ, sưu tầm trong suốt 40
n m, nghệ nhân Nguyễn Thị Ga đã tích cực truyền dạy cho thế hệ sau Từ những năm
1957, 1961, 1983, 2000 và những năm gần đây, đội văn nghệ múa hát Bài Bơng của thơn đã được chọn đi thi cấp huyện, tỉnh thành và luơn giành được giải cao Càng muốn
giữ gìn loại hình nghệ thuật diễn xướng độc đáo, người dân cũng nhiệt tình tham gia học
tập, truyền lại cho thế hệ sau Hiện nay các bé gái 9,10 tuổi ngồi giờ học đều tự nguyện
ra sân đình tập múa hát cùng với các cụ bà đã vào cái tuổi xưa nay hiếm Ơng Lương
Tất Tố, chủ nhiệm câu lạc bộ thơn Phú Nhiêu cho biết: Hiện tại câu lạc bộ cĩ 130 hội viên hoạ động quanh năm nhưng đơng nhất là dịp hè vì hội làng tổ chức vào rằm tháng
8 nên hè là lúc các bạn trẻ cĩ nhiều thời gian để t p luyện nhất
Đến thơn Dương Cốc (xã Đồng Quang, huyện Quốc Oai), cĩ một loại hình văn hĩa dân gian cũng đang được gắng cơng gìn giữ , đĩ là tuồng Cĩ thể nĩi rằng, người dân nơi
đây là những nghệ sĩ nơng dân, những diễn viên tuồng thực thụ Theo ơng Nguyễn Văn
Lý, Chủ nhiệm Câu lạc bộ tuồng thơn Dương Cốc: Người dân thơn Dương Cốc tình cờ
“bén duyên” với nghệ thuật tuồng Năm 1967, đúng vào thời điểm chiến tranh ác liệt, các nghệ sĩ tuồng chuyên nghiệp thuộc Nhà hát tuồng Trung ương sơ tán về Dương Cốc đã truyền lửa cho những người dân nơi đây Mạch nguồn đam mê đĩ cứ dần dần thấm sâu vào máu người dân, như duyên phận trời định khơng tài nào dứt ra được Tại hầu hế
các hội diễn sân khấu khơng chuyên tồn quốc, đội tuồng thơn Dương Cốc luơn để l i
d u ấn đậm nét trong lịng cơng chúng Số lượng vở mà đội tuồng thơn Dương Cốc dàn
Trang 6
www.100hanoi.com Văn Hoá phi vật thể
“Trưng Nữ Vương”, “Trần Quốc Toản ra quân”, “Trần Bình Trọng”, “Nghêu Sị Ốc Hến”,
“Tình cá nước”… Tuy hoạ động mạnh là thế nhưng các thế hệ diễn viên, nhạc cơng ở
Câu lạc bộ tuồng thơn Dương Cốc nhiều người đã đến tuổi thất thập Họ luơn e ngại thế
h trẻ khơng cịn mặn mà với nghệ thuật tuồng như lớp cha anh Các thành viên đã quyết tâm duy trì đều đặn hoạ động của đội tuồng và gây dựng những “mầm non” hát
tuồng với hy vọng đêm lại sức sống cho một loại hình văn hĩa đặc sắc trong đời sống
Trong khi ngành văn hĩa Hà Nội đang ra sức để khơi phục những điệu múa cổ, gìn giữ
những nét sinh hoạt văn hĩa dân gian, đặt vấn đề bảo tồn và quy hoạch các yếu tố văn hĩa phi vật thể thành việc làm cấp bách và cần thiết, thì tại các làng, xã, nơi các loại hình
văn hĩa dân gian đang tồn tại từ hát Chèo Tàu (Đan Phượng), hát Dơ (Quốc Oai) đến rối
nước Đào Thục (Đơng Anh)…vẫn được người dân âm thầm nuơi dưỡng như một dịng
chảy khơng ngừng từ thế hệ này sang thế hệ khác Họ nỗ lực hết mình với hy vọng rằng,
những giá trị văn hĩa ấy ngày càng được tiếp nối, phát huy như một vốn di sản văn hố ngàn năm
Trang 7
www.100hanoi.com Văn Hoá phi vật thể
Múa rối nước
nghệ thuật sân khấu độc đáo
Múa rối cạn hầu như dân tộc nào cũng cĩ, cịn múa rối nước thì cĩ lẽ chỉ cĩ ở Việt Nam
Đây là nghệ thuật dân gian độc đáo của nước ta đã xuất hiện từ rất lâu Tấm bia đá ở
tháp Sùng Thiên Diên Linh dựng tại chùa Đọi Sơn (huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) năm
1121 (Triều Lý) cĩ ghi: Rối nước đã từng được diễn trong lễ mừng thọ nhà vua
Nghệ thuật múa rối nước được sinh ra từđồng bằng châu thổ sơng Hồng, phản ánh sản
xuất nơng nghiệp và đời sống của người nơng dân nước ta
Ti ế t m ụ c múa r ố i n ướ c c ủ a nhà hát múa r ố i Vi ệ t Nam
Ngày trước, những người làm nghề rối nước thường tổ chức thành phường rối Mỗi
phường cĩ khoảng bảy, tám chục ngươi do một ơng trùm đứng đầu để điều hành cơng
việc Trong một phường chỉ cĩ 20 người hoạ động trực tiếp , số người cịn lại phục vụ
cho phường hoạ động biểu diễn Phường rối vừa là một tổ chức nghệ thuật nghiệp dư
vừa là một tổ chức tương tế Hàng năm phường rối làm lễ tế tổ nghề và nhận thêm
người mới Người mới được kết nạp vào phường mang trầu cau, rượu đến lễ tổ, trình
phường, thề giữ bí mật nhà nghề Lệ quy định khơng nhận phụ nữ vào phường, sợ khi
lấy chồng xa, họ mang theo bí truyền múa rối của phường
Trang 8
www.100hanoi.com Văn Hoá phi vật thể
Một vở rối nước thường cĩ nhiều “nhân vật”, mỗi nhân vật (con rối) là một tác phẩm điêu
khắc dân gian, mang dáng vẻ khác nhau thể hiện tính cách cũng khác nhau Con rối
được làm bằng gỗ, bên ngồi phủ sơn ta, để chống thấm nước, nhân vật tiêu biểu của
rối nước là chú Tễu với thân hình trịn trĩnh và nụ cười hĩm hỉnh, lạc quan
Vùng đồng bằng Bắc Bộ cĩ nhiều ao, hồđã trở thành sân khấu múa rối nước vơ cùng sinh động Bờ ao, hồ là nơi khán giả quây quần xem biểu diễn vào những ngày lễ hội làng thường tổ chức ở thuỷđình (nhà trị) Biểu diễn rối nước bắ đầu bằng việc chú Tễu
ra giới thiệu chương trình Với bộ mặt tinh nghịch, trang phục ngỗ nghĩnh, hai tay chỉ trỏ
miệng hát lời “dọn đám”, chú Tễu mang lại tràng cười sảng khối ngay từ phút đầu Khi
biểu diễn, nghệ nhân phải ngâm mình dưới nước đểđiều khiển con rối thơng qua máy sào, máy dây Nhạc đệm cho cuộc diễn là bộ gõ gồm trống, mõ, thanh la…
Thời Lê cịn để lại các di tích thuỷđình (nhà của những người điều khiển con rối) tại đền Phù Đổng (huyện Gia Lâm), chùa Nành (xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm) và thuỷđình cĩ quy mơ lớn ở chùa Thầy (xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai) đều thuộc ngoại thành Hà Nội ngày nay
Chương trình trị diễn rối nước khá phong phú, mỗi nơi, mỗi phường cĩ khác Vềđề tài lao động sản xuất cĩ các nhĩm trị tứ dân, gồm Ngư cĩ các trị câu cá, cá lội, úp nơm,
bơi thuyền, thả ưới, kéo vĩ; Tiều cĩ các trị chặt cây, gánh củi; Canh với các trị đi cầy,
bừa, cấy lúa, gặt lúa, tát nước, cắt cỏ, chăn trâu; Độc với các trị ơng đồ, bà đồ, đi học,
đọc sách Về đề tài sinh hoạt văn hố cĩ các nhĩm trị vật đua leo lang, đua ngựa…, trích đ ạn các tích chuyện chèo cổ, tuồng cổ, các trị lễ nghi, hội hè, các chuyện lịch sử
như cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40 – 43 sau cơng nguyên), Bà Triệu (thế kỷ thứ
3), Lê Lợi (1385 – 1433), chiến thắng trên sơng Bạch Đằng, Ngơ Quyền đánh quân xâm
lược Nam Hán năm 938, Lê Hồn đánh quân Tống năm 981 và Trần Quốc Tuấn đánh quân Mơng – Nguyên năm 1288
Kho tàng các vở rối nước rất lớn và ngày càng được bổ sung nhiều vở diễn mới cĩ nội dung thích hợp với cuộc sống đương đại và sở thích của khán giả Ví dụ: Nhà hát múa
rối Việt Nam cĩ chương trình biểu diễn gồm 16 trị cổ tiêu biểu, bật cờ, vinh quy bái tổ
múa rồng, múa lân, múa phượng, múa sư tử, múa bát tiên, đánh cáo, bắt vịt, đánh cá,
đua thuyền, trọi trâu, nhi đồng hí thuỷ, Lam Sơn tụ nghĩa…
Tiết mục múa rối nước thường ngắn, gọn luơn thay đổi, lại kết hợp với âm nhạc, pháo hoa, lửa đ ốc… được phản quang trên mặt nước làm tăng vẻ lộng lẫy và sức hấp dẫn
Rối nước là loại hình nghệ thuật sân khấu mang tính tổng hợp cao của nhiều loại hình nghệ thuật dân gian khác như chạm khắc, sơn thiếp, vẽ màu, làm pháo, kiến trúc, thêu
Trang 9
www.100hanoi.com Văn Hoá phi vật thể
Ở Hà Nội hiện nay cĩ nhiều làng xã tổ chức múa rối nước nhân ngày hội làng và giỗ tổ
nghề Tại vùng chiêm trũng huyện Phú Xuyên cĩ câu tục ngữ “Lệnh ải, trải Neo, chèo
Bối, rối Lường” Lường là tên nơm các thơn Tạ Xá, An Mỹ (xã Đại Thắng), thơn Ngọc Lâu (xã Quang Trung) Xã Đại Thắng hiện cĩ một ngơi chùa cĩ tên là chùa Rối Dân làng
kể rằng ngày xưa làng mở hội chùa và tổ chức múa rối cho dân xem ởđĩ
Huyện Thanh Oai cĩ xã Cao Viên hiện cịn ngơi chùa tên chữ Hán là Phúc Lâm, nhưng dân làng cũng gọi là chùa Rối
Múa rối nước.
Giữa hồ Long Trì ở chùa Thầy (xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai) cĩ nhà thuỷđình Các nhà nghiên cứu văn hố đốn định thuỷ đình này đã ra đời vào thời Lê sơ, bởi tấm bia ở
cạnh đĩ cĩ niên hiệu Đại Chính thứ bảy (1536) thời Mạc Đăng Doanh Phường rối nước làng Gia (xã Bình Phú, huyện Thạch Thất) thường biểu diễn ở thuỷđình này vào dịp lễ
h i chùa Thầy từ ngày 4 đến ngày 8 tháng 3 âm lịch Người làng Thầy cĩ 3 mẫu ruộng giao lại cho người làng Gia hưởng hoa lợi để hàng năm làm nghĩa vụ kể trên Người làng Gia lưu truyền thuỷ tổ của nghề múa rối nước là Từ Đạo Hạnh, một thiền sư nổi
tiếng thời Lý Để ghi nhớ cơng lao của thiền sư dạy nghề ở chùa Thầy, tại gian thượng
điện cĩ tượng thờ TừĐạo Hạnh được cấu trúc theo dạng cĩ thể cửđộng đứng lên, ngồi
xuống, khi đĩng hoặc mở cửa khám thờ
Hiện nay, ngồi làng Gia, cịn cĩ hai phường rối nước khác là phường Chàng Sơn và
phường Yên Thơn vẫn giữđược nghề Ba phường này ngày xưa đều thuộc Tổng Nủa ở
vùng đất phía nam huyện Thạch Thất Nhìn chung ba phường rối nước đều gìn giữ
Trang 10
www.100hanoi.com Văn Hoá phi vật thể
Bên cạnh việc biểu diễn, người ta cịn làm con rối để bán, coi như một sản phẩm văn hố
Trong các phường rối nước của Thủđơ, nổi tiếng hơn cả là phường Đạo Thục (xã Thuỵ
Lâm, huyện Đơng Anh) Với nhiều trị diễn như Cơ Tấm đi hội, Thạch Sanh, Thánh Giĩng, sự tích thành Cổ Loa… phường đã đi biểu diễn ở các tỉnh Ninh Bình, Khánh Hồ,
Hải Phịng… và cả ở nước ngồi như Trung Quốc, Hà Lan ở trong nước cũng như ở
các nước bạn, phường đều được nhiều khách đến xem và cổ vũ nồng nhiệt
Trên địa bàn Hà Nội, cĩ nhà múa rối Việt Nam và nhà hát múa rối Thăng Long Hàng ngày đều cĩ đơng khách trong nước và quốc tếđến xem Hai nhà hát này cũng đã cĩ
những chuyến lưu diễn rối nước ở nhiều nước trên thế giới và được bạn bè năm châu yêu thích
Múa rối nước là di sản văn hố độc đáo và quý giá của dân tộc, cần được giữ gìn và phát triển khơng chỉ hiện nay mà cịn cho các thế hệ mai sau
Trang 11
www.100hanoi.com Văn Hoá phi vật thể
Di sản nhạc lễ cổ truyền Hà Nội
Nh ậ n di ệ n nh ạ c l ễ Hà N ộ i
Nhạc lễở đây được hiểu là những thể loại, hình thức âm nhạc gắn với nghi lễ tơn giáo
và tín ngưỡng Bài viết này xin giới hạn đề cập tới âm nhạc gắn với bốn khơng gian chính là: nhạc trong nghi lễ Thành hồng làng, trong nghi lễ Phật giáo, trong tín ngưỡng
Tứ phủ và trong Tang ma của người Việt tại khu vực Hà Nội (cũ)
Trước hết, âm nhạc trong tế ễ thành hồng được xác định trên hai thành phần chính là
cặp trống - chiêng và dàn nhạc bát âm Ở một sốđình làng cịn mở rộng thêm vài hình
thức tổ chức nữa như đội múa trống bồng, đội múa sinh tiền và đội trống bản Những hình thức tổ chức này chúng ta cĩ thể gặp phổ biến trong nghi thức tế rước thành hồng làng ở các nơi như: Quan Nhân, Chính Kinh, Cự Lộc, Giáp Nhất và Phùng Khoang ở
quận Thanh Xuân; Mễ Trì Hạ Đình Thơn ở xã Mễ Trì và đình làng Liêm Mạc, lễ hội đình Chèm huyện Từ Liêm Đây cũng là một trong những nét độc đáo thể hiện tính dân gian mang đặc trưng riêng ở mỗi làng, phường
Ngh ệ nhân Tám Nh ứ t bi ể u di ễ n cùng dàn nh ạ c l ễ trong ti ế t m ụ c Đ ánh nghinh
Trang 12
www.100hanoi.com Văn Hoá phi vật thể
Trong khi tế lễ, trống là hiệu lệnh giúp cho các quan viên và người chấp lễ thực hiện nghi
thức dâng lễ vật Những người chấp lễ chỉ thực hiện sau khi người đơng xướng và tây
xướng hơ cùng với tiếng trống điểm Do đĩ, các bước đi đều được quy định bởi tiếng
trống Trống lúc này như một thứ ngơn ngữđặc biệ đối với người hành lễ và thần linh
Về phường bát âm gồm cĩ: một trống bộc, một cảnh, hai sáo, một nhị, một tam, một hồ
một nguyệt và một sinh tiền Riêng nhạc cụ sinh tiền đã cĩ nhiều nơi tách ra thành mộ
đội nhạc riêng để vừa diễn tấu phối hợp với múa trong khi rước thành hồng làng (như
trường hợp một số làng đã nêu ở trên)
Đội trống bản thơng thường được sử dụng bốn chiếc, cĩ đường kính khoảng 35-40cm, chiều cao 18cm; khi diễn tấu được treo ở trước ngực Trong nhiều trường hợp, đội trống
b n cĩ chức năng tạo và giữ nhịp cho phường bát âm và đội múa sinh tiền cũng như
những tổ chức âm nhạc trong đĩ theo suốt quá trình của buổi tế rước lễ
Như vậy, cơ cấu tổ chức dàn nhạc chính phục vụ nghi thức tế lễ thành hồng làng được biên chế gồm một trống lớn, một chiêng, một phường bát âm, mộ đội trống bản, một tổ
múa sinh tiền Ngồi ra tuỳ địa phương, cĩ thể bổ sung biên chế một số nhạc cụ khac,
nhưng về nguyên tắc khơng đưa những dụng cụ " lạ " Nếu như âm nhạc trong tế lễ
thành hồng chủ yếu là nhạc đàn, thì âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo được nổi bật bởi
nhạc hát (thanh nhạc) và được sử dụng trong hầu hết cá nghi lễ, từ l Phậ đản, lễ Vu Lan, lễ Hơ thần nhập tượng đặc biệt hấp dẫn và độc đáo trong nghi lễ Cầu siêu
Tại khu vực Hà Nội hiện nay, bên cạnh các hình thức tụng kinh, đọc kệ, than cơ hồn (trong các đàn lễ cầu siêu), người ta đặc biệt chú ý tới các hình thức tán canh Đây cĩ
thể coi là một trong những di sản, và là một trong những đặc sản trong âm nhạc Phậ
giáo đồng bằng Sơng Hồng nĩi chung, khu vực Hà Nội nĩi riêng Nếu như hát Văn được coi như âm nhạc đặc trưng trong tín ngưỡng Tứ phủ thì tán canh chính là mộ đặc trưng trong nghi lễ Phật giáo ởđây Qua điền dã, nghiên cứu nhạc lễ Phật giáo tại khu vực Hà
Nội, chúng tơi được biết, hiện nay tại khu vực này cịn bảo tồn được số lượng 13 bài bản canh khá phong phú và độc đáo, gồm các canh: lơ hương, xạ nhiệt, chí tâm, phú, hồng kim, thổng, hãm, giới đinh, dương chi, tả thủ, canh ai, đơng ba, bảo đỉnh (đàn thượng)
Đặc biệt, theo như các sư t ng và thầy cúng, chúng tơi cịn được biết tại khu vực Hà Nội
trước đây cịn tồn tại ba “lị” canh chính Đĩ là lị canh chùa Bộc, lị canh Quảng Bá - Tây
Hồ và lị canh chùa Thanh Nhàn
Biên chế dàn nhạc trong nghi lễ Phật giáo thơng thường bao gồm: nhạc cụ thân vang cĩ chuơng, mõ, tiu cảnh, thanh la, não bạt; nhạc cụ màng rung cĩ trống cái (trống lớn),
trống bản và trống dẫn; nhạc cụ hơi cĩ kèn tiểu, kèn la, nhạc cụ dây cĩ đàn nguyệt và
nhị
Trang 13
www.100hanoi.com Văn Hoá phi vật thể
Tuy nhiên, hai nhĩm nhạc cụ sau chỉ mới xuất hiện trong thời gian gần đây, dàn nhạc truyền thống sử dụng trong nghi lễ Phật giáo trước đây ở Hà Nội khơng cĩ Vấn đề này tác giả sẽ trình bày thêm ở phần 2: thực trạng nhạc lễ Hà Nội Dàn nhạc trên chủ yếu sử
d ng bốn nhịp trống chính là trống pháp lơi, trống hiến thượng đường, trống dẫn lục cúng và trống sai
Tương tự âm nhạc Phật giáo, âm nhạc trong tín ngưỡng Tứ phủ cơ bản là thanh nhạc,
n i bật cĩ hát Văn Hát Văn cĩ ba hình thức chính là Văn thờ, Văn thi và Văn hầu[3] Ở
đây chúng tơi tập trung vào hát Văn thờ - một hình thức cịn được sử dụng phổ biến tại khu vực Hà Nội
Hát Văn thờ được tổ chức vào các ngày Tứ quý (kỳ l ): Thượng Nguyên (tháng Riêng),
Nhập hạ (tháng Tư), Tán hạ (tháng Bảy), Tất niên (tháng 12) và ngày Tiệc (ngày quy hố
- ngày mất) của các vị thánh thờ chính hoặc thờ vọng, như Mẫu Liễu Hạnh (03/03), Tiệc
Cơ Bơ (12/06), Tiệc Quan Tam Phủ (24/06), Tiệc Ơng Hồng Bảy (17/07), Tiệc Đức Trần Triều (20/08), v.v
Thanh nhạc trong hát văn thờ được trình bày thứ tự làn điệu rất rõ ràng, gồm: văn Cơng
đồng, văn Mẫu thoải, văn Cảnh Thưđường và văn Nhị vị Bồ Tát và được hát lần lượt các điệu: bỉ, miễu, thổng, phú bình, phú chênh, phú dầu, phú nĩi, đưa thư, vãn, dọc, cờn hãm, kiều dương, dồn
Nhạc cụ sử dụng trong hát Văn nĩi chung, hát Văn thờ nĩi riêng chỉ năm loại chính là:
đàn nguyệt, trống ban, phách, cảnh và trống cái Các nhạc cụ này chủ yếu giữ vai trị
đệm và giữ nhịp cho các cung văn khi hát
Âm nhạc trong tang ma được coi là một bộ phận khơng thể thiếu trong đời sống văn hĩa tâm linh của người Việt nĩi chung, người dân Hà Nội nĩi riêng
Theo các nhà nghiên cứu, âm nhạc trong lễ tang ở khu vực Hà Nội trước đây, ngồi giai
điệu của những bài khĩc, chỉ cĩ hai nhạc cụ chính là trống và kèn Ngày nay thì chúng
đã cĩ những biến tướng khác đi nhiều Dàn nhạc trong đám tang phần lớn lấy cả
phường bát âm trong nghi thức lễ ế hội vào sử dụng
Theo truyền thống, trống sử dụng trong đám tang gồm cĩ hai chiếc: một trống cái và mộ
trống con (trống bản) Kèn chủ yếu sử dụng hai loại là kèn pĩp, cịn gọi là kèn già nam hay gọi thẳng là kèn đám ma và kèn pha (âm khu hơi trầm) Bài bản âm nhạc chính
thống được sử dụng trong tang lễ gồm cĩ các điệu lâm kh ốc, bản hãm, bản kéo và kèn
lễ
Như vậy, nhìn từ gĩc nhìn dân tộc học và tơn giáo, âm nhạc trong mỗi nghi lễđều cĩ
những cách thức tổ chức bài bản và nhạc cụ khơng giống nhau
Trang 14
www.100hanoi.com Văn Hoá phi vật thể
Tuy nhiên, chúng đều gặp nhau tại mộ điểm là sinh ra từ trong nghi lễ và để phục vụ cho các nghi lễ Do đĩ, để cĩ cái nhìn đúng đắn, tránh ngộ nhận khi tiếp cận với các thể loại
và hình thức nhạc lễ, chúng ta phải cĩ cái nhìn tổng thể và cơ bản phải phân biệ được
về cơ cấu tổ chức cũng như quy chuẩn bắt buộc của mỗi thành phần âm nhạc gắn với
từng nghi lễ Nĩi điều này đểđề cập tới một thực trạng là hiện nay tại khu vực Hà Nội nĩi riêng, khu vực đồng bằng Sơng Hồng nĩi chung, các hình thức âm nhạc được sử dụng trong nghi lễ tơn giáo và tín ngưỡng đã và đang cĩ xu hướng biến tướng, lai căng và sử
d ng vơ tổ chức Điều này xin được nĩi rõ hơn ở phần sau đây
Th ự c tr ạ ng nh ạ c l ễ Hà N ộ i hi ệ n nay
Cùng với chính sách mở cửa nền kinh tế thị trường, song song với việc đẩy mạnh các
hoạ động giao lưu hội nhập và hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực, thì âm nhạc truyền
thống Việt Nam nĩi chung, nhạc lễ khu vực Hà Nội nĩi riêng khơng nằm ngồi quy luậ
biến đổi cơ bản Nếu như trước đây, âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo tại khu vực này
thường cĩ tổ chức rất khuơn phép và chặt chẽ thì ngày nay nhiều trong sốđĩ đã bị phá
vỡ Nguyên nhân của thực trạng này bắ đầu từ sự giao lưu mở rộng vùng hoạ động
của các sư tăng và thầy cúng trong các nghi lễở Hà Nội và một số địa phương khác
Những người thực hiện các nghi lễ Phật giáo ở khu vực Hà Nội thường được mời về
thực hiện các nghi lễở những tỉnh lân cận Ngược lại, những đàn lễ kéo dài nhiều ngày
ở một số ngơi chùa Hà Nội cũng đã mời những đội cúng, những sư tăng ở các địa
phương khác lên thực hiện Ở đây, sự tiếp thu, ảnh hưởng phong cách giữa các địa
điểm vì thế mà diễn ra phổ biến Tính đặc trưng vùng miền bị chà trộn Ngay trong âm
điệu khi tụng kinh, một số sư t ng khu vực Hà Nội cũng đã bịảnh hưởng âm hưởng âm
cũng như phong cách các sư tăng khu vực miềm Nam Bên cạnh đĩ, trong nhiều ngơi chùa lớn của Hà Nội hiện nay sử dụng nhiều đĩa nhạc tụng kinh do các sưĐài Loan và Trung Quốc thực hiện và sản xuất Chính vì thế, sựảnh hưởng và vay mượn lẫn nhau trong âm nhạc tơn giáo và tín ngưỡng khu vực Hà Nội với các địa phương khác hiện nay
là một hiện tượng phổ biến Nĩ khơng những bịảnh hưởng âm nhạc trong cùng một tơn giáo ở các địa phương khác, mà cịn bị ảnh hưởng một số hình thức âm nhạc tín
ngưỡng và tơn giáo khác Thí dụ, trong nghi lễ Phật giáo ở một nơi như quận Long Biên, huyện Gia Lâm, các sư tăng thầy cúng cịn sử dụng cả đàn nguyệt và hát Văn khi thực
hiện phần hát lễ Về ổ chức dàn nhạc, người ta cịn bổ sung thêm cả trống cơm và kèn -
những nhạc cụ mà trong truyền thống âm nhạc Phật giáo Hà Nội nĩi riêng trước đây khơng sử dụng Trong hầu hết các khơng gian lễ khác như Tứ phủ, tế lễ thành hồng và tang ma cũng bị trường hợp tương tự như vậy Nhất là âm nhạc sử dụng trong tang lễ
Hiện nay, nhiều đám tang ở Hà Nội đã xuất hiện những phường kèn ở những địa
phương khác tới
Trang 15
www.100hanoi.com Văn Hoá phi vật thể
Trong đĩ, chúng tơi cịn thấy xuất hiện cả những nhạc cụ được coi là vật kiêng trong
nhạc tang lễ, như đàn ghi ta phím lõm sử dụng trong nhạc tài tử và nhiều nhạc cụ
“l ”khác Khơng những thế, bài bản sử dụng trong tang lễ cũng đã biến tướng và lai căng
rất nhiều Người ta sử dụng cả một sốđiệu hát trong chèo, biến hố nhiều làn điệu trong
nhạc tài tửđểđưa vào khi thực hiện nghi lễ Hiện tượng này phải chăng đang là một xu
hướng “cải cách”, “đổi mới” trong đời sống sinh hoạt văn hĩa âm nhạc tơn giáo và tín
ngưỡng trên địa bàn Hà Nội ? Chúng tơi cịn chưa đề cập đến một tình trạng trong cách
ăn mặc lễ phục khi hành lễ
Đĩ là một vài thí dụ trong rất nhiều trường hợp mà chúng tơi phát hiện trong quá trình
điền dã, nghiên cứu Thực trạng sử dụng âm nhạc khơng đúng chức năng trong khơng gian thiêng tơn giáo và tín ngưỡng khu vực Hà Nội hiện nay đang là một vấn đề cần
được những người làm quản lý, nghiên cứu quan tâm lên tiếng
Gi ả i pháp b ả o t ồ n
Những phân tích trên cho thấy Hà Nội cịn lưu truyền được nhiều thể loại và hình thức
nhạc lễ rấ độc đáo Nĩ gắn liền với đời sống sinh hoạt tâm linh của người dân hàng tháng, cả năm Dịp đầu xuân được coi là thời gian mà diện mạo nhạc lễở Hà Nội diễn ra
đậm đặc nhất Đĩ là nghi lễ ế thành hồng ở các đình làng; lễ cầu an cho các Phật tử và nhân dân trong các chùa; các Phủ mở tiệc vào ngày quy hố của thánh mẫu và đểđĩn
tiếp các con nhang, đệ tử tới cầu may; và đâu đĩ, lễ tang vẫn diễn ra trong khu phố, hẻm ngõ Theo đĩ, hát Văn thờ rơm rả, nhộn nhịp diễn ra suốt ngày đêm; tiếng chuơng chùa,
tiếng mõ, nhịp trống dẫn lục cúng rộn ràng mà nghiêm trang; tiếng trống chiêng điểm báo các cụ chuẩn bị dâng lễ ế thành hồng; và tiếng ai ốn báo hiệu cho ta thấy đã cĩ ai đĩ
vừa trở về “bên kia thế giới”! - tạo nên một diện mạo âm nhạc tín ngưỡng vơ cùng phong phú và đặc sắc Tuy nhiên, trong bối cảnh tồn cầu hố hiện nay, bên cạnh những gì chúng ta đã và đang cịn bảo tồn được là thực trạng, nguy cơ thất truyền do lớp nghệ
nhân lớn tuổi mấ đi dần; sự lai căng, ơ hợp do sựảnh hưởng trực tiếp của bối cảnh mở
của kinh tế Vì thế để bảo tồn và phát huy vốn di sản nhạc lễ nĩi riêng, nhiều vốn văn hĩa truyền thống khác trên địa bàn Hà Nội nĩi chung, tơi xin đưa ra một số giải pháp sau:
Một là, các trường đào tạo ngành quản lý văn hĩa cần cĩ những chương trình liên kế
với các Viện nghiên cứu, các trường đại học chuyên ngành để qua đĩ, các chuyên gia
giới thiệu và phổ biến những hiểu biết chung về đời sống sinh hoạt âm nhạc truyền
thống nĩi chung, âm nhạc tơn giáo và tín ngưỡng nĩi riêng, trong đĩ cĩ các nguyên tắc
sử dụng mỗi thể loại âm nhạc gắn với khơng gian thiêng cụ thể đồng thời giúp sinh viên
cĩ thể phân biệ được những hình thức và thể loại âm nhạc ở những khơng gian khác
Trang 16
www.100hanoi.com Văn Hoá phi vật thể
phương cĩ những hiểu biết nhấ định về những loại hình văn hĩa truyền thống nĩi chung Bảo tồn âm nhạc lễ truyền thống của Hà Nội nĩi riêng cũng cần phải bắ đầu từ
về âm nhạc Phật giáo, âm nhạc hát Văn, âm nhạc trong tang lễ, ở hình thức này, chúng ta cũng cần mời những người làm cơng tác nghiên cứu chuyên mơn ở mỗi lĩnh
vực, sau đĩ tổ chức những buổi nĩi chuyện, tuyên truyền giúp người dân ( ở đây bao
g m cả những người thực hành các loại hình âm nhạc ở các nghi lễ ) cĩ những hiểu biế
để nêu cao ý thức bảo tồn những yêu tố cần được bảo tồn
Ba là, cán bộ làm cơng tác quản lý văn hĩa cần cĩ những hướng dẫn, định hướng cho các làng thường xuyên tổ chức lễ hội, các chùa diễn ra nhiều nghi lễ, trực tiếp là người
thực hiện hành lễ âm nhạc tại các đình, chùa, những “thợ kèn” đám tang đề cao ý thức
“bảo thủ” những cái mà họ đang cĩ theo phương châm “trống làng nào làng ấy đánh/ thánh làng nào làng ấy thờ” Như thế, khơng những Hà Nội bảo tồn được kho di sản theo phong cách của riêng mình mà cịn tham gia vào việc bảo tồn cho cả các địa phương khác nữa
Trang 17
www.100hanoi.com Văn Hoá phi vật thể
Các nhạc cụ dân tộc Việt Nam
Âm nhạc là một phần khơng thể thiếu trong cuộc sống mỗi con người chúng ta Nền âm
nhạc của Việt Nam mang đậm tính dân tộc, nĩ được phát triển và truyền từđời này sang
đời khác Từ các điệu quan họ Bắc Ninh cho tới những bài ca cổ Nam bộ đâu đâu cũng phát triển một nền âm nhạc riêng của từng vùng miền Và trong nền âm nhạc nước nhà, tuy phong phú đa dạng nhưng cũng khơng thể nào thiếu được sự gĩp mặt của các loại
Âm sắc Đàn Tranh trong trẻo, sáng sủa thể hiện tốt các điệu nhạc vui tươi, trong sáng
Đàn Tranh thường được sử dụng đểđộc tấu, hịa tấu, đệm cho ngâm thơ, hát, tham gia trong các dàn nhạc Tài Tử, phường Bát Âm, dàn Nhã Nhạc và các dàn nhạc dân tộc
tổng hợp
Trang 18
www.100hanoi.com Văn Hoá phi vật thể
Đ àn b u
Đàn Bầu cĩ tên chữ là Độc Huyền Cầm, là nhạc cụ đàn một dây của người Việt, gảy
b ng que hoặc miếng gảy Đàn cĩ hai loại là đàn thân tre và đàn hộp gỗ
Đàn thân tre: là đàn của những người hát Xẩm Thân đàn làm bằng 1 đ ạn tre hoặc
bương dài khoảng 120 cm, đường kính 12 cm Mặ đàn là chỗđã được lĩc đi một phần
cật thích hợp trên đ ạn tre hoặc bương
Đàn hộp gỗ là loại đàn cải tiến sau này, dùng cho các nghệ sĩ chuyên nghiệp Đàn hộp
g cĩ nhiều hình dáng, kích thước khác nhau Về hình dáng và chất liệu của hộp cộng
hưởng (tức Thân đàn) của hai loại đàn cĩ khác nhau, nhưng về cấu tạo, hai đàn hồn tồn giống nhau
Trang 19
www.100hanoi.com Văn Hoá phi vật thể
Dây đàn cĩ chiều dài chạy suốt thân đàn Thuở xưa dây đàn làm bằng tơ tằm se thành
sợi, về sau thay bằng dây sắt
Đây là một trong những cây đàn dài nhất do người Việt nam chế tác vào thời Lê (thế kỷ
XV-XVIII ) Ngày xưa nĩ cịn cĩ tên Vơ để cầm( đàn khơng đáy) hay cĩ người gọi là Đới
cầm…Trong lối hát Ảđào hay ca trù ,đàn đáy lá 1 nhạc cụ duy nhất cùng với phách và
trống đế.Đàn đáy rất hợp với loại thơ cổ âm thanh nỉ non buồn mát Với hệ thống gắn phím 7 cung chia đều nhau, do vậy khi người hát lên cao , xuống thấp một chút thì người nghệ sỹ khơng phải vặn dây lại mà chỉ cần đổi thế bấm một cách nhanh chĩng
Đàn Đáy cịn cĩ mộ độc đáo hơn những cây đàn gảy khác là cĩ thể ạo nên những ngĩn chùn khi bấm phím(Những đàn gảy khác chỉ cĩ nhấn cao mà thơi Nên Đàn Đáy bắ
chước giọng nĩi rất hay và rấ đa dạng trong cách đàn
Trang 20
www.100hanoi.com Văn Hoá phi vật thể
Đ àn T ỳ Bà
Tên gọi một nhạc cụ dây gẩy của người Việt Nhiều tài liệu đã cho biết, Tỳ Bà xuất hiện
rất sớm ở Trung Quốc với tên gọi PiPa, rồi ở Nhật Bản với tên gọi BiWa
Người ta chế tác Tỳ Bà bằng gỗ Ngơ Đồng Cần đàn và thùng đàn liền nhau cĩ dáng
như hình quả lê bổđơi Mặ đàn bằng gỗ nhẹ, xốp, để mộc Phía mặt cuối thân đàn cĩ
một bộ phận để mắc dây gọi là ngựa đàn Đầu đàn (hoặc thủ đàn) cong cĩ chạm khắc
rất cầu kỳ, khi là hình chữ thọ, khi là hình con dơi Nơi đầu đàn gắn bốn trục gỗđể lên dây
Tồn bộ chiều dài của thân đàn cĩ sốđo từ 94 - 100 cm Phần cần đàn cĩ gắn 4 miếng ngà voi cong vịm lên gọi là Tứ Thiên Vương Tám phím chính làm bằng tre hoặc gỗ gắn
ở phần mặ đàn cho các cao độ khác nhau Thuở xưa dây đàn se bằng tơ tằm rồi đem
vuốt sáp ong cho mịn, ngày nay người ta thay dây tơ bằng dây nilon
Mặc dù đàn Tỳ Bà cĩ xuất xứ từ các nước khác, nhưng qua thời gian dài sử dụng nĩ đã
được bản địa hĩa và trở thành cây đàn của Việt Nam, thể hiện sâu sắc, đậm đà những
b n nhạc mang phong cách của dân tộc Việt Nam trong lĩnh vực khí nhạc
Trang 21
www.100hanoi.com Văn Hoá phi vật thể
Đ àn nguy t
Hay cịn gọi là đàn Kìm, được sử dụng rộng rãi trong dịng nhạc dân gian cũng như cung
đình bác học cổ truyền của người Việt Xuất hiện trong mỹ thuật Việt Nam từ thế kỷ XI, cho tới nay nĩ vẫn giữ một vị trí rất quan trọng trong sinh hoạt âm nhạc của người Việ
những cuộc hát văn lơi cuốn, những lễ tang bùi ngùi xúc động cũng như những cuộc hồ
tấu thính phịng thanh nhã với những hình thức diễn tấu khác nhau: đệm cho hát, hồ
tấu và độc tấu
Trang 22
www.100hanoi.com Văn Hoá phi vật thể
Cây đ n cị (nh )
Đã cĩ mặt trong nền âm nhạc truyền thống Việt Nam từ lâu đời, đã trở nên thân quen và
g n gũi với mọi người dân Việt Nam, nĩ được trân trọng quí báu như cổ vật gia bảo
Đờn cị đĩng gĩp một vai trị vơ cùng quan trọng và đắc lực khơng thể thiếu trong các dàn nhạc dân tộc Việt Nam ta từ xưa đến nay
Người dân Nam bộ gọi là “đàn cị” vì hình dáng giống như con cị, trục dây cĩ đầu quặp
xuống như mỏ cị- Cần đờn như cổ cị - thân đờn như con cị - tiến đờn nghe lảnh lĩt
như tiếng cị Trong các dàn nhạc phường bát âm, ngũ âm, nhã nhạc, chầu văn, sắc bùa, nhặc tài tử, cải lương dàn nhạc dân tộc tổng hợp, dân ca… đều cĩ đờn cị.Ngày nay đàn nhị cĩ mặt hầu hết trong các dàn nhạc Việt nam, các trung tâm băng nhạc ngày nay cũng khai thác âm thanh đàn nhị trong những nhạc phẩm về quê hương hay những
ca khúc buồn
Trang 23
www.100hanoi.com Văn Hoá phi vật thể
Tam thâp l c
Là nhạc khí dây, chi gõ của dân tộc Việt Đàn cĩ 36 dây nên được gọi là Tam Thập Lục
Đàn Tam thập lục hình thang cân, mặ đàn hơi phồng lên ở giữa, làm bằng gỗ nhẹ, xốp,
Đàn tam cĩ âm sắc khơng giống các đàn khảy dây khác nhưđàn tỳ bà, đàn nguyệt hay
đàn tứ Điều này cĩ lẻ chịu ảnh hưởng phần nào bởi mặt bầu vang bịt da trăn Đàn tam
cĩ màu âm vang, ấm, sáng sủa, thích hợp rộn rã Tuy nhiên khi ở quãng thấp âm sắc
đàn tam hơi đục, dùng để thể hiện những giai điệu trầm hùng, khỏe khoắn
Trang 24
www.100hanoi.com Văn Hoá phi vật thể
Đ àn S n
Đàn Sến là nhạc khí dây gảy loại cĩ dọc (cần đàn), một số các nước khác ở Châu Á
cũng cĩ Ðàn Sến được nhập vào Việt Nam và trở thành đàn Việt Nam Đàn Sến là nhạc khí khá phổ biến trong Dân tộc Việt, đặc biệt là ở miền Nam
Màu âm Ðàn Sến trong trẻo, tươi sáng gần với Ðàn Nguyệt nhưng ít ngân vang hơn
Đàn Sến thường được sử dụng trong Dàn nhạc Sân khấu Tuồng, Cải Lương