Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Hòa Bình, bao gồm việc thực hiện các
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI QUỐC HOÀN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI QUỐC HOÀN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH HÒA BÌNH
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Nguyễn Thị Phương Châm
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa từng được sử dụng để công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc
Học viên
Bùi Quốc Hoàn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 8
1.1 Những vấn đề cơ bản về thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể 8
1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể 18
1.3 Chính sách bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam 20
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH 26
2.1 Tổng quan về Di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Hòa Bình 26
2.2 Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể ở tỉnh Hòa Bình 30
2.3 Kết quả thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 48
2.4 Đánh giá việc thực hiện chính sách Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 50
Chương 3 MỤC TIÊU, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ Ở TỈNH HÒA BÌNH 56
3.1 Quan điểm thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể ở tỉnh Hòa Bình 56
3.2 Mục tiêu thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể ở tỉnh Hòa Bình 58
3.3 Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể ở tỉnh Hòa Bình 60
3.4 Kiến nghị, đề xuất 70
KẾT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BTV : Ban Thường vụ
DSVH : Di sản văn hóa
HĐND : Hội đồng nhân dân
VHTTDL : Văn hóa, Thể thao và Du lịch
UBND : Ủy ban nhân dân
UNESCO : Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong một vài thập niên gần đây, quan niệm truyền thống về “di sản văn hoá” đã thay đổi một cách đáng kể, mà phần nhiều do tác động của các văn kiện
quốc tế của Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) “Di sản văn hoá phải được hiểu bao gồm tất cả các thành phần tự
nhiên và văn hoá, vật thể và phi vật thể…” (trích kết luận của Hội nghị liên Chính phủ về Chính sách văn hoá vì sự phát triển tổ chức tại Stockholm, Thuỵ Điển, tháng 4/1998) Việc UNESCO thông qua Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa phi
vật thể tại cuộc họp Đại hội đồng lần thứ 32 năm 2003 tại Paris, Pháp như một bước tiến quan trọng để xây dựng các chính sách mới trong lĩnh vực di sản văn hoá
và cũng tạo điều kiện cho chúng ta có cách tiếp cận tương đối toàn diện về loại hình di sản văn hóa này Điều này đã thể hiện cam kết mạnh mẽ của các nước phải
có những hành động khẩn trương, mạnh mẽ và đúng đắn để bảo vệ DSVH phi vật thể của các quốc gia trên thế giới
Ở Việt Nam, Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, khoá X kỳ họp thứ 9 thông qua đã khẳng định “Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của Di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” Đồng thời, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) của Đảng cũng đã khẳng định: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc,
là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị văn hóa mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian) văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa vật thể
và phi vật thể”
Qua đó, chúng ta thấy rằng, di sản văn hóa luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm và xác định là tài sản quan trọng của đất nước Di sản văn hóa nằm trong 3 mục tiêu lớn được xác định trong chiến lược xây dựng nền văn hóa Việt Nam hướng đến
Trang 7việc: bảo vệ di sản và khuyến khích hoạt động sáng tạo; đảm bảo sự tiếp cận bình đẳng của tất cả mọi người đối với văn hóa; tạo cơ hội cho tất cả mọi người tham gia vào sáng tạo, phổ biến và hưởng thụ văn hóa
Tỉnh Hòa Bình thuộc vùng miền núi Tây Bắc, nơi có nền văn hóa Hòa Bình đặc sắc và có đa dạng màu sắc văn hóa của các tộc người, trong đó chứa đựng cả kho tàng di sản văn hóa độc đáo và phong phú
Trong những năm qua, việc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa ở Hòa Bình, đặc biệt là các di sản văn hóa phi vật thể đã được chính quyền các cấp của tỉnh quan tâm nhưng chưa thực sự tạo ra được nguồn lực văn hóa xứng tầm cho phát triển từ các di sản văn hóa đó Chính vì vậy nhu cầu tìm hiểu, đánh giá về việc thực hiện các chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể đang đặt ra cấp thiết đối với sự phát triển của Hòa Bình
Xuất phát từ những vấn đề trên cùng với mong muốn góp một phần công sức của mình vào việc bảo vệ, lưu truyền cho thế hệ sau những giá trị đặc sắc của các di sản văn hóa phi vật thể của Hòa Bình, từ đó đưa các di sản văn hóa phi vật thể của địa phương trở thành nội lực góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
theo hướng bền vững, chúng tôi đã chọn đề tài “Thực hiện chính sách Bảo tồn và
phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình” cho luận
văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay đã có nhiều tài liệu nghiên cứu về vấn đề Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
Trên thế giới, vào khoảng nửa sau thế kỷ XX, các tổ chức quốc tế như tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO), chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) đều nỗ lực nghiên cứu đánh giá tiềm năng quá khứ của nhân loại, đặc biệt là về di sản văn hoá UNESCO chia di sản văn hoá
thành hai loại: di sản “văn hóa vật thể” và di sản “văn hoá phi vật thể”
Trong Hội nghị quốc tế “Bảo vệ di sản văn hoá vật thể và phi vật thể: Hướng đến Phương pháp tiếp cận tổng thể” tổ chức tại Nara, Nhật Bản từ 19 đến
Trang 823/10/2004, đã ra tuyên bố Yamato về phương pháp tiếp cận tổng thể trong bảo vệ
di sản văn hoá vật thể và phi vật thể đã được thông qua Với bản Tuyên bố này, các quan niệm về di sản văn hóa đã được nhân loại định nghĩa cụ thể trên phương diện
lý luận theo Công ước và Quy chế của UNESCO Đây là những quan niệm cụ thể nhằm giúp nhận diện một cách đúng đắn khoa học về di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trên thế giới
Ở nước ta, nghiên cứu về di sản văn hóa nói chung, văn hóa phi vật thể nói riêng trước tiên phải kể đến công trình “Việt Nam Văn hoá sử cương” của nhà văn hóa Đào Duy Anh từ năm 1938 với quan điểm: “Ta muốn trở thành một nước cường thịnh về vật chất, vừa về tinh thần thì phải giữ văn hoá cũ (di sản) làm thể (gốc, nền tảng); mà lấy văn hoá mới làm dụng nghĩa là phải khéo điều hòa tinh tuý của văn hoá phương Đông với những điều sở trường về khoa học của văn hoá phương Tây
Hay trong cuốn sách “Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hoá dân tộc” của GS,TS Hoàng Vinh hoàn thành năm 1997, tác giả đã đưa ra một hệ thống lý luận về di sản văn hóa, đồng thời bước đầu vận dụng nghiên cứu di sản văn hóa nước ta Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, tác giả đã đưa ra các nhóm giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc
Năm 2002, Luật Di sản văn hoá và văn bản hướng dẫn thi hành được coi là
văn bản pháp quy về di sản văn hóa Trong sách Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể
do Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch phát hành năm 2007, GS,TS Ngô Đức Thịnh (nguyên Viện trưởng viện Văn hoá dân gian) đã bàn đến Văn hóa phi vật thể: Bảo tồn và phát huy Trưởng Ban Di sản phi vật thể Văn phòng UNESCO Pari - Ông Rieks Smeets đã nghiên cứu về: Bối cảnh, nhận thức và quá trình xây dựng Công ước về bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể
Ngoài ra, cũng có nhiều bài báo, công trình ngiên cứu về vấn đề Bảo tồn và
phát huy di sản văn hóa phi vật thể Có thể kể đến như: Bài nghiên cứu “Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể ở nước ta hiện nay”của tác giả Nguyễn Chí Bền, đăng trên
Tạp chí cộng sản, năm 2007 Bài nghiên cứu bàn sâu về cách thức bảo tồn văn hóa
Trang 9phi vật thể ở nước hiện nay Hay bài nghiên cứu “Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể
- từ góc nhìn toàn cầu hóa” của tác giả Đặng Văn Bài, đăng trên Tạp chí Di sản văn
hóa số 21, năm 2007, đã bàn sâu về phương pháp tiếp cận di sản văn hóa phi vật thể
và đưa ra một số giải pháp Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể trong xu thế hội nhập quốc tế
Trên cơ sở kế thừa một số bài viết của các nhà nghiên cứu trên website Cục di sản văn hóa, Di sản văn hóa Mo mường Hòa Bình, Luận văn tốt nghiệp của tác giả
Nông Thủy Tiên, Học viện Khoa học xã hội, năm 2016 - “Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng”; Luận văn tốt
nghiệp của tác giả Trương Quốc Huy, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm
2014 - “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa hiện nay”… Các công trình nghiên cứu này đã viết khá kỹ về lý luận văn hóa, chính
sách bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể và thực tiễn khảo cứu tại một
số địa phương
Những nghiên cứu trên góp phần cung cấp khung lý thuyết về thực hiện chinh sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, gợi mở những phương hướng xây dựng giải pháp trong luận văn Tuy nhiên, tất cả những những nghiên cứu trên chưa có công trình nào nghiên cứu về thực hiện chính sách bảo tồn
và phát huy DSVH phi vật thể từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình, cũng như đánh giá khái quát những tác động của chính sách bảo tồn, phát huy DSVH phi vật thể trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Những vấn đề này sẽ được đi sâu nghiên cứu
và làm rõ trong luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đặt mục đích nghiên cứu là chỉ rõ những thành công và hạn chế của việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Hòa Bình
để từ đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách cũng như triển khai thực hiện các chính sách hiệu quả hơn ở địa phương
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn đặt ra nhiệm vụ như sau:
Trang 10- Hệ thống hóa tài liệu lý thuyết về chính sách bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể trên thế giới và cách tiếp cận ở Việt Nam
- Chỉ rõ thực trạng việc thực hiện chính sách bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Hòa Bình nói riêng
- Đánh giá thành công và hạn chế của việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở tỉnh Hòa Bình
- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị hoàn thiện chính sách và thực hiện tốt hơn chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở tỉnh Hòa Bình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình thực hiện chính sách bảo tồn
và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Hòa Bình, bao gồm việc thực hiện các chính sách chung của nhà nước, việc ban hành và thực hiện các chính sách cụ thể của địa phương, hiệu quả của chính sách và những vấn đề đặt ra, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao kết quả thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể ở tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận văn tiến hành nghiên cứu, thu thập và phân tích số liệu trọng tâm là trên địa bàn tỉnh Hòa Bình Tuy nhiên, để đảm bảo tính khách quan trong nghiên cứu, tác giả cũng đã tham khảo số liệu ở một số địa phương khác
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng tổ chức thực hiện chính sách Bảo tồn và phát huy giá trị DSVH phi vật thể ở tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn từ năm 1991 đến nay Bởi vì, năm 1991, tỉnh Hòa Bình được tái lập sau 15 năm hợp nhất với tỉnh Hà Tây (năm 1976) thành tỉnh Hà Sơn Bình Khi đó các chính sách của Hòa Bình về kinh tế, văn hóa, xã hội và các mặt của đời sống con người mới được hình thành và phát triển
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận liên ngành, đa ngành với trọng tâm là các
Trang 11phương pháp phân tích chính sách công (phân tích chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách) Lý thuyết chính sách công được soi sáng qua thực tiễn giúp hoàn thiện các vấn đề về chính sách chuyên ngành
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau:
- Phương pháp thu thập nguồn tài liệu thứ cấp: Tập hợp và phân tích các nguồn tư liệu có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách bảo tồn di sản văn hóa tỉnh Hòa Bình Đồng thời, thu thập các số liệu của các tổ chức và học giả quốc tế liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành, quan sát: Tiến hành đi cơ sở khảo sát thực tế các lễ hội, di sản văn hóa phi vật thể, kết hợp với việc tiếp xúc phỏng vấn những người đang trực tiếp làm công tác quản lý văn hóa, người dân có liên quan để thu thập thông tin
- Phương pháp logic và lịch sử: Trên cơ sở những thông tin thu thập được, bằng phương pháp logic học, những thông tin ấy sẽ được kết nối chặt chẽ với nhau giúp cho kết quả nghiên cứu của luận văn có tính thuyết phục
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về mặt lý luận: Luận văn đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận để đảm bảo
căn cứ khoa học cho việc tiếp cận, nghiên cứu và luận giải về tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể
- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần bổ sung căn
cứ khoa học cho tỉnh Hòa Bình trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn
và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể đáp ứng yêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh theo hướng bền vững; Góp phần bổ sung thêm nguồn tài liệu tham khảo cho nghiên cứu và cơ sở khoa học cho các cơ quan, ban ngành trong quá trình hoạch
Trang 12định và thực thi chính sách bảo tồn Di sản văn hóa ở địa phương
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 03 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy
giá trị di sản văn hóa phi vật thể
Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản
văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
Chương 3 Mục tiêu, giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo tồn và
phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ
1.1 Những vấn đề cơ bản về thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể
1.1.1 Các khái niệm liên quan
1.1.1.1 Khái niệm Chính sách
Cho đến nay trên thế giới, đã có nhiều định nghĩa về chính sách hay chính sách công, thuật ngữ này ngày càng được sử dụng rộng rãi Có thể hiểu một cách đơn giản, chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay các nhà quản lý đề ra nhằm giải quyết một số vấn đề nào trong phạm vi thẩm quyền của mình
Trong từ điển Bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như
sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong thời gian nhất định, trên nhiều lĩnh vực cụ thể nào
đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa "
1.1.1.2 Khái niệm Chính sách công
Ở các nước phát triển và các tổ chức quốc tế, thuật ngữ “Chính sách công” được sử dụng rất phổ biến Với cách tiếp cận ở các góc độ khác nhau, các nhà khoa học đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau: Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó
(William Jenkin, 1978); “Chính sách công là tất cả những gì Nhà nước chọn làm hoặc không làm” (Thomas R Dye, 1984)
Ở nước ta cũng có một số tác giả nghiên cứu về chính sách công, đã đưa ra các định nghĩa chính sách công như: PGS.TS Lê Chi Mai (Học viện Hành chính Quốc gia) đưa ra khái niệm chính sách công với các nội hàm sau:
- Chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước, chính sách do Nhà nước
Trang 14ban hành nên chính sách công có thể coi là chính sách của Nhà nước
- Chính sách công là những quyết định hành động, bao gồm cả những hành
vi thực tiễn, chính sách công không chỉ thể hiện dự định của Nhà nước hoạch định chính sách về một vấn đề nào đó mà còn bao gồm những hành vi thực hiện dự định
đó Nếu không có việc thực thi chính sách để đạt được những kết quả nhất định thì những chủ trương đó chỉ là những khẩu hiệu mà thôi
- Chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề trong đời sống kinh tế- xã hội theo những mục tiêu xác định
Trong giáo trình “Hoạch định và phân tích chính sách công” của Học viện Hành chính Quốc gia xuất bản năm 2013 cũng đưa ra định nghĩa chính sách công:
“Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển”
PGS TS Đỗ Phú Hải (Học viện Khoa học xã hội) đưa ra khái niệm chính
sách công: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định”
Các khái niệm định nghĩa nêu trên có sự khác nhau trong chừng mực nhất định, nhưng đều có chung các nội dung nội hàm sau:
+ Chính sách công là chính sách của Nhà nước
+ Là một tập hợp các quyết định chính trị có mối liên hệ với nhau
+ Với những mục tiêu và giải pháp cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo ý chí của đảng cầm quyền
1.1.1.3 Khái niệm Di sản văn hóa
Di sản theo nghĩa Hán Việt: di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại; sản là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Di
sản là cái của thời trước để lại [20] Như vậy, di sản văn hóa được hiểu như là tài sản, là báu vật của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau, gồm các tác phẩm nghệ thuật dân gian, công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc, các loại hình văn hóa nghệ thuật,
Trang 15hệ thống phong tục tập quán, tín ngưỡng,
Luật Di sản văn hóa của Việt Nam đã xác định “di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”[34]
Tại điều 4, Luật Di sản văn hóa cũng đã đã nêu rõ khái niệm:
- Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá
nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác
- Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa
học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Cách phân chia di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cũng chỉ là tương đối Văn hoá vật thể là vật thể hoá tinh thần con người, ngược lại, không có thành tố văn hoá tinh thần nào mà không có yếu tố vật chất Chẳng hạn, ngôn ngữ là một thành
tố thuộc văn hoá phi vật thể, nhưng bên cạnh nội dung vẫn có vỏ vật chất âm thanh của ngôn từ, v.v Dù phân loại thế nào chăng nữa, các di sản văn hóa vẫn có những đặc điểm chung, đó là:
- Tính biểu trưng đại diện cho mỗi nền văn hóa của một quốc gia, một dân tộc;
- Tính lịch sử với những đặc trưng của thời đại và đại diện cho thời đại sinh
ra chúng, nền văn minh và kỹ thuật tái tạo chúng;
- Tính truyền thống lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, không chỉ bản thân di sản mà cả những giá trị phi vật thể đi cùng với chúng cũng được truyền sang thế hệ sau bằng mô phỏng, phát triển và sáng tạo mới trên nền của di sản cũ;
- Tính nhạy cảm, dễ bị ảnh hưởng dưới các tác động khác nhau, dễ dàng bị
hư hỏng, bị phá hủy và bị mai một đi do những tác động khác nhau của con người, của điều kiện thời tiết, các phản ứng hóa học… Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã sáng tạo và để lại hàng nghìn di tích có giá trị
Trang 161.1.1.4 Khái niệm Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó Bảo tồn là giữ lại, không để mất đi, không để bị thay đổi, biến hóa hay biến thái
Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa luôn gắn kết chặt chẽ biện chứng Đó là hai lĩnh vực thống nhất, tương hỗ, chi phối ảnh hưởng qua lại trong hoạt động giữ gìn tài sản văn hóa Bảo tồn di sản văn hóa thành công thì mới phát huy được các giá trị văn hóa Phát huy cũng là một cách bảo tồn di sản văn hóa tốt nhất (lưu giữ giá trị di sản trong ý thức cộng đồng xã hội)
Đối tượng bảo tồn (tức là các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể) cần thỏa mãn hai điều kiện:
Một là, nó phải được coi là tinh hoa, là một giá trị đích thực được thừa nhận minh bạch, không có gì phải hồ nghi hay bàn cãi
Hai là, nó phải hàm chứa khả năng, chí ít là tiềm năng, đứng vững lâu dài với thời gian, là cái giá trị của nhiều thời (tức là có giá trị lâu dài) trước những biến đổi tất yếu về đời sống vật chất và tinh thần của con người, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra cực kỳ sôi động
Trong bài nghiên cứu “Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa hiện nay”
của tác giả Nguyễn Toàn Thắng, đăng trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 345, đã chia công tác Bảo tồn thành hai dạng: Bảo tồn nguyên vẹn (bảo tồn trong dạng tĩnh)
và Bảo tồn trên cơ sở kế thừa (bảo tồn trong dạng động)
Bảo tồn nguyên vẹn (bảo tồn trong dạng tĩnh)
Bảo tồn nguyên vẹn văn hóa vật thể ở dạng tĩnh là vận dụng thành quả khoa học kỹ thuật công nghệ cao, hiện đại đảm bảo giữ nguyên trạng hiện vật như vốn có
về kích thước, vị trí, chất liệu, đường nét, màu sắc, kiểu dáng Khi cần phục nguyên, cần sử dụng hiệu quả các phương tiện kỹ thuật như: đồ họa kỹ thuật vi tính công
nghệ 3D theo không gian ba chiều, chụp ảnh, băng hình video, xác định trọng
lượng, thành phần chất liệu của di sản văn hóa vật thể Sau khi bảo tồn nguyên vẹn, phải so sánh đối chiếu số liệu với nguyên mẫu đã được lưu giữ chi tiết để không làm
Trang 17biến dạng
Bảo tồn văn hóa phi vật thể ở dạng tĩnh là điều tra sưu tầm, thu thập các dạng thức văn hóa phi vật thể như nó hiện có theo quy trình khoa học nghiêm túc chặt chẽ, giữ chúng trong sách vở, các ghi chép, mô tả bằng băng hình (video), băng tiếng (audio), ảnh Tất cả các hiện tượng văn hóa phi vật thể này có thể lưu giữ trong các kho lưu trữ, các viện bảo tàng
Bảo tồn trên cơ sở kế thừa (bảo tồn trong dạng động)
Bảo tồn động, tức là bảo tồn các hiện tượng văn hóa trên cơ sở kế thừa Các
di sản văn hóa vật thể sẽ được bảo tồn trên tinh thần giữ gìn những nét cơ bản của di tích, cố gắng phục chế lại nguyên trạng bằng nhiều kỹ thuật công nghệ hiện đại
Đối với các di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn động là bảo tồn các hiện tượng văn hóa đó ngay chính trong đời sống cộng đồng Bởi lẽ, cộng đồng không những là môi trường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa phi vật thể mà còn là nơi tốt nhất để giữ gìn, bảo vệ, làm giàu và phát huy chúng trong đời sống xã hội Các hiện tượng văn hóa phi vật thể tồn tại trong ký ức cộng đồng, nương náu trong tiếng nói, hình thức diễn xướng, nghi lễ, nghi thức, quy ước dân gian Văn hóa phi vật thể luôn tiềm ẩn trong tâm thức và trí nhớ của những con người đặc biệt mà chúng ta
thường mệnh danh là những nghệ nhân hay là những báu vật nhân văn sống Do đó
bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể còn đồng nghĩa với việc bảo vệ
những báu vật nhân văn sống Đó là việc xã hội thừa nhận các tài năng dân gian,
tôn vinh họ trong cộng đồng, tạo điều kiện tốt nhất để họ sống lâu, khỏe mạnh, phát huy được khả năng trong quá trình bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Cần phải phục hồi các giá trị một cách khách quan, sáng suốt, tin cậy, khoa học chứ không thể chủ quan, tùy tiện Tất cả những giá trị phải được kiểm chứng qua nhiều phương pháp nghiên cứu có tính chất chuyên môn cao, có giá trị thực chứng thuyết phục thông qua các dự án điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản các dấu tích di sản văn hóa phi vật thể
Bảo tồn theo quan điểm phục hồi nguyên dạng chính là phương thức lý tưởng nhất Nếu không thể bảo tồn nguyên dạng thì có thể bảo tồn theo hiện dạng đang có
Trang 18Bởi theo quy luật của thời gian thì các di sản văn hóa phi vật thể ngày càng có xu hướng xa dần nguyên gốc Nếu không thể khôi phục được nguyên gốc thì bảo
tồn hiện dạng là điều khả thi nhất Tuy nhiên hiện dạng phải có mối liên hệ chặt chẽ với nguyên dạng Theo đó, cần xác định rõ thời điểm bảo tồn để sau này khi có
thêm tư liệu tin cậy thì sẽ tiếp tục phục nguyên ở dạng gốc di sản văn hóa
1.1.2 Các bước thực hiện chính sách Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể
Quá trình tổ chức thực hiện chính sách Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể diễn ra trong thời gian dài và có liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân, vì thế để chính sách mang lại kết quả và hiệu quả như mong muốn của chủ thể ban hành chính sách cũng như các đối tượng chính sách thì quá trình tổ chức thực hiện cần phải được thực hiện theo một quy trình khoa học, hợp lý và phù hợp với những điều kiện khách quan của quá trình chính sách Vận dụng lý thuyết chính sách công được học, chúng tôi cho rằng, quá trình tổ chức thực hiện chính sách Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể gồm các bước sau:
1.2.1.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách
Đây là bước đầu tiên, cũng là bước quan trọng nhất trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách Để đảm bảo cho chính sách nhanh chóng và dễ dàng đi vào đời sống xã hội, chúng cần phải được cụ thể hóa bằng những Kế hoạch hành động
cụ thể để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện một cách chủ động và có kết quả, hiệu quả
Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị DSVH phi vật thể được xây dựng trước khi đưa chính sách vào đời sống xã hội Trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình, các
cơ quan có trách nhiệm triển khai thực hiện chính sách từ trung ương đến địa phương đều phải xây dựng các Kế hoạch triển khai thực hiện Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị DSVH phi vật thể bao gồm những nội dung cơ bản như: kế hoạch về tổ chức, điều hành; kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực; kế hoạch thời gian triển khai thực hiện; kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực hiện
Trang 19chính sách; dự kiến những nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành; các biện pháp khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong tổ chức thực hiện chính sách
Kế hoạch thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị DSVH phi vật thể ở cấp nào sẽ do cơ quan chủ trì của cấp đó xây dựng Sau khi được quyết định thông qua, kế hoạch thực hiện chính sách sẽ mang giá trị pháp lý, được các chủ thể triển khai thực hiện chính sách và cả đối tượng của chính sách nghiêm chỉnh thực hiện
1.2.1.2 Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách
Sau khi bản kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị DSVH phi vật thể được thông qua, các cơ quan nhà nước tiến hành tổ chức triển khai thực hiện theo kế hoạch Việc trước tiên cần làm trong quá trình này là tuyên truyền vận động nhân dân, các tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị DSVH phi vật thể Đây là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa lớn với cơ quan nhà nước và các đối tượng thực hiện chính sách Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt giúp cho các đối tượng chính sách và mọi người dân hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách và tính khả thi của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước Đồng thời phổ biến, tuyên truyền chính sách còn giúp cho mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhận thức được đầy đủ tính chất, quy mô của chính sách cũng như vai trò của chính sách bảo tồn, phát huy giá trị DSVH phi vật thể đối với đời sống xã hội để họ chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực hiện có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao
Phổ biến, tuyên truyền, vận động thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị DSVH phi vật thể được thực hiện thường xuyên, liên tục, kể cả khi chính sách đang được thực hiện, để mọi đối tượng cần tuyên truyền luôn được củng cố lòng tin vào chính sách và tích cực tham gia vào thực hiện chính sách Phổ biến, tuyên truyền chính sách bằng nhiều hình thức như trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với các đối tượng là người lưu giữ di sản (những ông thầy mo Mường, nghệ nhân chiêng Mường, người uy tín trong công đồng, người tổ chức lễ hội…) qua các phương tiện
Trang 20thông tin đại chúng v.v Tuỳ theo yêu cầu của các cơ quan quản lý, tính chất của chính sách và điều kiện cụ thể mà có thể lựa chọn hình thức tuyên truyền, vận động sao cho đạt hiệu quả cao nhất
1.2.1.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách
Chính sách bảo tồn, phát huy giá trị DSVH phi vật thể khi được tổ chức thực hiện cần có sự chung tay thực hiện của nhiều cấp, nhiều ngành ở nhiều lĩnh vực khác nhau, chứ không chỉ dành riêng cho lĩnh vực văn hóa Vì thế các chủ thể tham gia vào quá trình này rất phong phú, bao gồm các đối tượng của chính sách, các cơ quan trong bộ máy nhà nước, các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị - xã hội, thậm chí là các nhà khoa học và các đối tượng khác trong xã hội.v.v Bởi vậy, muốn tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị DSVH phi vật thể có hiệu quả cần phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yếu tố tham gia thực hiện chính sách
Trong phân công nhiệm vụ cần đặc biệt chú ý đến khả năng, trình độ năng lực chuyên môn và thế mạnh của từng tổ chức, cá nhân, hạn chế tình trạng trùng chéo nhiệm vụ và không rõ trách nhiệm Việc phân công, phối hợp nhịp nhàng giữa các tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện chính sách thể hiện năng lực tổ chức điều hành của người lãnh đạo, người quản lý trong triển khai thực hiện kế hoạch đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống
1.2.1.4 Duy trì chính sách
Để duy trì chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH phi vật thể trong điều kiện thực tế của địa phương thì nhất quán các cơ quan nhà nước, các cấp có thẩm quyền và đơn vị liên quan phải đồng tâm, hợp lực với nhau; phải có liên hệ mật thiết với nhân dân trong việc thường xuyên quan tâm tuyên truyền, vận động người dân và toàn dân tích cực tham gia thực hiện chính sách Trong một chừng mực nào đó, để đảm bảo lợi ích chung của xã hội, các cấp có thẩm quyền có thể kết hợp sử dụng biện pháp hành chính để duy trì chính sách Bên cạnh đó, người dân, đặc biệt là những người nắm giữ di sản cần có trách nhiệm tham gia thực hiện yêu cầu của nhà nước và vận động lẫn nhau tích cực nâng cao tính tự giác chấp hành
Trang 21chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của cơ quan nhà nước
Để thực hiện tốt việc duy trì thực hiện chính sách cần phải đảm bảo một số nội dung sau:
- Cụ thể hóa nội dung triển khai bằng các văn bản mang tính pháp lý - qui định rành mạch, hợp lý trách nhiệm, quyền hạn của các chủ thể thực hiện; tránh tình trạng lẫn lộn quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể thực hiện
- Tổ chức phối hợp thống nhất, hiệu quả, đồng bộ (giữa cơ quan chủ trì với
cơ quan khác; giữa cơ quan nhà nước với nhân dân)
- Đảm bảo các điều kiện về nhân lực, vật lực và các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ
- Đảm bảo kế hoạch hóa về thời gian và qui trình thủ tục thực hiện
- Đảm bảo thông suốt về thông tin (mệnh lệnh và phản hồi) trong quá trình thực hiện, triển khai, duy trì chính sách
- Đảm bảo sự thống nhất giữa việc kiên trì mục tiêu chính sách công với việc sáng tạo trong khi sử dụng các biện pháp, hình thức, chương trình hành động cụ thể thích hợp với điều kiện cụ thể của địa phương
1.2.1.5 Điều chỉnh việc thực hiện chính sách
Điều chính chính sách là một hoạt động cần thiết diễn ra thường xuyên trong tiến trình tổ chức thực thi chính sách Nó được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cho chính sách ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế Theo quy định, cơ quan nào ban hành chính sách thì được quyền điều chỉnh
bổ sung chính sách, nhưng trên thực tế việc điều chính các biện pháp, cơ chế chính sách diễn ra rất năng động, linh hoạt, vì thế cơ quan nhà nước các ngành, các cấp chủ động điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách để thực hiện có hiệu quả chính sách, miễn là không làm thay đổi mục tiêu chính sách
Một nguyên tắc cần phải chấp hành khi điều chỉnh chính sách là: để chính sách tiếp tục tồn tại chỉ được điều chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu, hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu theo yêu cầu thực tế Nếu điều chỉnh làm thay đổi mục tiêu, nghĩa là làm thay đổi chính sách, thì coi như chính sách không tồn tại
Hoạt động điều chỉnh chính sách đòi hỏi phải chính xác, hợp lý, nếu không
Trang 22sẽ làm sai lệch, biến dạng chính sách, làm cho chính sách trở nên kém hiệu quả, thậm chí không tồn tại được Muốn đáp ứng những đòi hỏi chính đáng trên đây, cơ quan Nhà nước các ngành, các cấp phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra đôn đốc thực thi mới kịp thời phát hiện những chênh lệch, sai sót để điều chỉnh, bổ sung
1.2.1.6 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách
Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy DSVH phi vật thể diễn ra trên địa bàn tương đối rộng và do nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia Các điều kiện
về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường ở các vùng, địa phương không giống nhau, cũng như trình độ, năng lực tổ chức điều hành của cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước không đồng đều, do vậy các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tiến hành theo dõi kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách Qua kiểm tra, đôn đốc thường xuyên sẽ giúp cho cơ quan quan nhà nước có thẩm quyền nắm bắt được tình hình thực hiện chính sách, từ đó đánh giá được một cách khách quan về những điểm mạnh, điểm yếu của công tác tổ chức thực hiện chính sách; giúp phát hiện những thiếu sót trong công tác lập kế hoạch tổ chức thực hiện để điều chỉnh; tạo điều kiện phối hợp nhịp nhàng các hoạt động giữa các cơ quan, đối tượng thực hiện chính sách; kịp thời khuyến khích những mô hình bảo tồn di sản phi vật thể phù hợp, mang lại kết quả để tạo ra những phong trào thiết thực cho việc thực hiện mục tiêu lớn của chính sách bảo tồn và phát huy DSVH phi vật thể
Chủ thể tham gia kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy DSVH phi vật thể là các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến cơ sở Tuy nhiên, để đảm bảo tính khách quan và chính xác về kết quả kiểm tra đánh giá, quá trình này còn cần có sự tham gia của các tổ chức đoàn thể nhân dân, thậm chí là của chính đối tượng chính sách Có như vậy mới bảo đảm được tính dân chủ trong quá trình thực hiện chính sách
1.2.1.7 Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách
Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm là bước cuối cùng trong các bước thực hiện chính sách, bước này giúp chúng ta hệ thống lại một quá trình thực hiện chính sách, rút ra những việc làm tốt, việc chưa phù hợp, chưa đúng, đồng thời có thêm
Trang 23những kinh nghiệm thực hiện chính sách
Đánh giá, tổng kết việc thực hiện chính sách là quá trình xem xét, kết luận về
sự chỉ đạo, điều hành tổ chức thực hiện chính sách của chủ thể thực hiện chính sách (các cơ quan, tổ chức và đội ngũ cán bộ công chức có chức năng thực hiện chính sách) và việc cháp hành thực hiện của các đối tượng thụ hưởng chính sách Thước
đo đánh giá kết quả thực hiện chính sách là: tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách; ý thức chấp hành các quy định về cơ chế, biện pháp thực hiện mục tiêu chính sách trong từng điều kiện về không gian và thời gian
Cùng với việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo điều hành, thực hiện của các
cơ quan nhà nước, của đội ngũ cán bộ công chức còn phải xem xét, đánh giá kết quả việc thực hiện của các đối tượng thụ hưởng trực tiếp và gián tiếp từ chính sách Thước đo, căn cứ để đánh giá kết quả thực hiện chính sách của các đối tượng này là tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách, ý thức chấp hành những quy định về
cơ chế, biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thực hiện mục tiêu và các quy định cụ thể của chính sách
1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể
Trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH phi vật thể có nhiều yếu tố ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến quá trình này Trong số những yếu tố đó có cả những yếu tố thuộc về nhà nước, yếu tố thuộc về chính các đối tượng của chính sách và những yếu tố kinh tế, xã hội khác
Thứ nhất: Năng lực tổ chức, quản lý của nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức ở các cấp trong công tác bảo tồn và phát huy DSVH Đây là yếu tố có vai trò
quyết định đến kết quả tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy DSVH Năng lực tổ chức, quản lý của nhà nước và của đội ngũ cán bộ, công chức trong thực hiện chính sách là thước đo bao gồm nhiều tiêu chí phản ánh về đạo đức công
vụ, về năng lực thiết kế tổ chức, năng lực phân tích, dự báo để có thể chủ động ứng phó được với những tình huống phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách v.v Các cán bộ, công chức trong cơ quan công quyền khi được giao nhiệm vụ
Trang 24tổ chức thực hiện chính sách, cần nêu cao tinh thần trách nhiệm và chấp hành tốt kỷ luật công vụ trong lĩnh vực này mới đạt hiệu quả thực hiện Tinh thần trách nhiệm
và ý thức kỷ luật được thể hiện trong thực tế thành năng lực thực tế Đây là một yêu cầu rất quan trọng đối với mỗi cán bộ, công chức để thực hiện việc chuyển tải ý đồ chính sách của nhà nước vào cuộc sống Nếu thiếu năng lực thực tế, các cơ quan có thẩm quyền tổ chức thực hiện chính sách sẽ đưa ra những kế hoạch không bám sát với thực tế, dẫn đến lãng phí nguồn lực được huy động, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của chính sách, thậm chí còn làm biến dạng chính sách trong quá trình tổ chức thực hiện v.v Năng lực thực tế và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức còn thể hiện ở thủ tục giải quyết những vấn đề trong quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với cá nhân và tổ chức trong xã hội
Thứ hai: Công tác vận động tuyên truyền về chính sách Công tác tuyên
truyền về chính sách bảo tồn và phát huy DSVH phi vật thể nhằm nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, công chức và cho các đối tượng của chính sách để họ chủ động, tự giác tham gia vào quá trình chính sách của nhà nước, sớm đưa các di sản phi vật thể của địa phương vào danh mục DSVH phi vật thể cấp quốc gia, phát huy được giá trị to lớn của các DSVH phi vật thể
Trong thực hiễn thực hiện chính sách về bảo tồn và phát huy DSVH phi vật thể
ở nước ta hiện nay, công tác vận đồng tuyên truyền về chính sách còn bị xem nhẹ và được thực hiện mang tính máy móc, hình thức nên kết quả vận động tuyên truyền chưa cao, chưa làm cho các đối tượng của chính sách chủ động, tích cực tham gia vào công cuộc kiểm kê di sản, bảo tồn các DSVH phi vật thể của nhà nước
Thứ ba: Điều kiện kinh tế và nguồn lực để thực hiện chính sách của nhà nước
Để tổ chức triển khai thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy DSVH phi vật thể đạt được kết quả và hiệu quả trong điều kiện hiện nay, nhà nước luôn phải tăng cường các nguồn lực vật chất để phục vụ cho việc triển khai thực hiện chính sách Tuy nhiên, thực
tế hiện nay trong hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị DSVH phi vật thể là công tác xã hội hóa còn thiếu sự định hướng, thiếu những chính sách, chế tài cụ thể để khuyến khích, kêu gọi sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân Các nguồn lực do dân đóng góp
Trang 25chưa được qui tụ dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước một cách chặt chẽ nên không được định hướng để sử dụng một cách có hiệu quả nhất
Thứ tư: Nguồn nhân lực Cụ thể ở đây là đối tượng của chính sách, là những
nghệ nhân dân gian, người am hiểu sâu sắc và đang nắm giữ linh hồn của các di sản Đội ngũ này từ xưa vốn đã ít, hiếm hoi, nay lại càng hiếm vì phần lớn đã qua đời hoặc tuổi cao, trong khi đó lớp trẻ hiện nay ít hiểu biết và không tâm huyết nhiều đối với những nghệ thuật biểu diễn dân gian này, dẫn đến công tác truyền dạy, kế thừa gặp nhiều khó khăn, một số DSVH phi vật thể đang đứng trước nguy cơ bị thất truyền nếu không có các biện pháp bảo tồn
1.3 Chính sách bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam
Ngay sau khi giành được độc lập, ngày 23/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
ký và công bố sắc lệnh số 65/SL về bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam Trong sắc lệnh này, thuật ngữ “cổ tích” được hiểu với nghĩa DSVH, bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Từ đó đến nay, nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành
Hiến pháp 1992 đã quy định trách nhiệm của Nhà nước, các tổ chức và nhân dân về bảo vệ phát huy DSVH dân tộc Đặc biệt là Quyết định số 25/TTg ngày 19/1/1993 của Thủ tướng chính phủ về một số chính sách nhằm xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn hóa, nghệ thuật, trong đó nêu rõ: “Đầu tư 100% cho công tác sưu tầm, chỉnh lý, biên soạn, bảo quản lâu dài, phổ biến các sản phẩm văn hóa tinh thần như: Văn hóa dân gian, các điệu múa, các làn điệu âm nhạc của các dân tộc, giữ gìn các nghề thủ công truyền thống, các loại nhạc cụ dân tộc Đầu tư 100% kinh phí cho việc xây dựng tiết mục, luyên tập thường xuyên và trang bị cho các đơn vị nghệ thuật dân tộc: tuồng, chèo, dân ca, cải lương, múa rối Nhà nước khuyến khích và dành một khoảng kinh phí đễ hỗ trợ các tập thể hoặc gia đình tổ chức hoạt động biểu diễn nghệ thuật và truyền dạy trên cơ sở khai thác, phổ biến nghệ thuật truyền thống, các loại hình nhạc cụ cổ truyền, xét khen thưởng xứng đáng cho những người có công sưu tầm các giá trị văn hóa dân gian, các hiện vật bảo tàng có giá trị,
Trang 26những người có công bảo tồn các giá trị văn hóa tinh thần, bao gồm cả các bí quyết ngành nghề thủ công truyền thống”
Ngày 16-7-1998, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đã ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nghị quyết ra đời nhanh chóng được các cấp ủy đảng, chính quyền trong cả nước triển khai, nhân dân đồng tình hưởng ứng Nghị
quyết đã khẳng định “Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới
để không ngừng hoàn thiện mình, văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc”
Với nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, Luật DSVH đã được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 14/6/2001 được xem là văn bản hoàn chỉnh nhất từ trước đến nay về vấn đề giữ gìn và phát huy DSVH ở nước ta Nội dung của Luật gồm 7 chương, 74 điều quy định những nội dung chủ yếu như khái niệm, nội dung của DSVH; phạm vi, đối tượng điều chỉnh của luật; chính sách biện pháp chủ yếu của Nhà nước nhằm bảo vệ DSVH; trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân và của toàn bộ xã hội trong việc bảo vệ DSVH; giải thích các từ ngữ
về DSVH và bảo vệ, phát huy các DSVH; xác định quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý và các hình thức sở hữu khác đối với DSVH; những mục đính của việc sử dụng và phát huy DSVH; các điều cấm nhằm bảo vệ DSVH
Đối với việc giữ gìn và phát huy DSVH phi vật thể, Luật DSVH quy định: Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu DSVH phi vật thể nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và làm giàu kho tàng DSVH của cộng đồng các dân tộc Việt Nam [8]
Luật DSVH quy định những nội dung: Chính sách của Nhà nước đối với việc nghiên cứu, sưu tầm và phát huy giá trị DSVH phi vật thể; trách nhiệm của Bộ văn hóa Thông tin và UBND cấp tỉnh trong việc quản lý chỉ đạo lập hồ sơ khoa học về
Trang 27DSVH phi vật thể; chính sách của Nhà nước trong việc khuyến khích sưu tầm, biên soạn, dịch thuật, thống kê, phân loại DSVH phi vật thể; khuyến khích và tạo điều kiện bảo vệ và phát triển tiếng nói, chữ viết của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt; khuyến khích việc duy trì, phục hồi và phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống có giá trị tiêu biểu, những kinh nghiệm, bài thuốc cổ truyền dân tộc, đặc sản văn hóa ẩm thực và các tri thức văn hóa dân gian khác; tạo điều kiện cho việc duy trì và phát huy giá trị văn hóa của các lễ hội truyền thống; bài trừ các hủ tục và chống các biểu hiện tiêu cực và thương mại hóa trong việc tổ chức và hoạt động lễ hội; Nhà nước tôn vinh và có chính sách đãi ngộ đối với tổ chức, nghệ nhân nắm giữ, có công phổ biến bí quyết nghề nghiệp; nghệ thuật và kỹ thuật truyền thống có giá trị đặc biệt; quy định việc nghiên cứu, sưu tầm DSVH phi vật thể ở Việt Nam của tổ chức cá nhân nước ngoài
Khi Luật DSVH chính thức có hiệu lực ngày 11/11/2002, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành nghị định số 92/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật DSVH Chính sách của Nhà nước ta về bảo tồn và phát huy DSVH được thể hiện:
1 Xây dựng và thực hiện chương trình mục tiêu bảo tồn DSVH tiêu biểu
2 Khen thưởng các tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa; thực hiện các chính sách ưu đãi về tinh thần và vật chất đối với nghệ nhân, nghệ sĩ nắm giữ và công bố phổ biến nghệ thuật truyền thống, bí quyết nghề nghiệp có giá trị đặc biệt
3 Nghiên cứu, áp dụng các thành tựu khoa học- công nghệ các hoạt động sau đây:
+ Thăm dò, khai quật khảo cổ; bảo quản, tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích + Thẩm định, bảo quản hiện vật và chỉnh lý, đổi mới nội dung trưng bày, hình thức thông tin bảo tàng
+ Sưu tầm, lưu giữ và phổ biến giá trị DSVH phi vật thể, thành lập ngân hàng giữ liệu về DSVH phi vật thể
4 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn trong lĩnh vực bảo vệ và
Trang 28phát huy giá trị DSVH
5 Khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đóng góp về tinh thần và vật chất hoặc trực tiếp tham gia các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH
6 Mở rộng các hình thức hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; xây dựng và thực hiện các dự án hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật
Ngoài ra, Nhà nước ta còn chỉ ra các biện pháp cụ thể, cần thiết để giữ gìn và phát huy DSVH phi vật thể, từ đó xem xét thực tiễn của công tác này để thấy được những thành tựu cũng như bất cập đặt ra hiện nay như:
1 Tổ chức thực hiện các dự án nghiên cứu, sưu tầm, thống kê, phân loại các DSVH phi vật thể trong phạm vi toàn quốc;
2 Tiến hành sưu tầm, thống kê, phân loại thường xuyên và định kỳ về DSVH phi vật thể;
3 Tăng cường việc truyền dạy, phổ biến, xuất bản, trình diễn và phục dựng các loại hình DSVH phi vật thể;
4 Đầu tư và hổ trợ kinh phí cho các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH phi vật thể, ngăn chặn nguy cơ làm mai một, thất truyền DSVH phi vật thể;
5 Mở rộng các hình thức xã hội hóa trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị DSVH phi vật thể;
6 Thực hiện thẩm quyền miễn phí, hướng dẫn nghiệp vụ và hỗ trợ lưu giữ, bảo quản di sản văn hóa phi vật thể theo đề nghị của các tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu DSVH phi vật thể đó [8]
Chiến lược phát triển văn hóa việt Nam đến năm 2020 (ban hành theo Quyết định số 581 QĐ/TTg, ngày 06/5/2009 của Thủ tướng chính phủ) đã thể hiện sự coi
trọng công tác giữ gìn và phát huy DSVH, cho rằng: Bảo tồn và phát huy DSVH dân tộc là nhiệm vụ then chốt của Chiến lược phát triển văn hoá Tập trung điều tra toàn diện, nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hoá
và văn hoá phi vật thể; các loại hình nghệ thuật cổ truyền đặc sắc, văn hoá dân gian
Trang 29của từng địa phương, từng vùng văn hoá, từng vùng dân tộc; nghề thủ công truyền thống, lễ hội tiêu biểu, kho tàng Hán Nôm Kết hợp hài hoà việc bảo tồn và phát huy giá DSVH với các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch bền vững
Đặc biệt, trên cơ sở kế thừa những thành tưu, đồng thời nhìn nhận, đánh giá, phân tích sâu sắc, làm rõ nguyên nhân tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII), ngày 9/6/2014, Ban Chấp hành trung ương Đảng
đã ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
XI (Nghị quyết số 33-NQ/TW) về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” Nghị quyết đã thể hiện rõ, sâu sắc các chủ trương và quan điểm chỉ đạo: Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội;
là mục tiêu, động lực và nguồn lực nội sinh quan trọng của sự phát triển bền vững đất nước; nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với các đặc trưng tiêu biểu là dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Trong xây dựng văn hoá, lấy chăm lo thường xuyên việc xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, lành mạnh làm cốt lõi, trọng tâm; xây dựng môi trường văn hoá một cách đồng bộ, trong đó có vai trò rất quan trọng của gia đình và cộng đồng, văn hoá trong chính trị, văn hoá trong kinh tế; xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ giữ vai trò quan trọng; là sự nghiệp lâu dài cần được tiến hành đồng bộ, sáng tạo và kiên trì
Có thể nói, trong những năm qua, vấn đề giữ gìn và phát huy các DSVH nói chung và DSVH phi vật thể nói riêng đã có những sự thay đổi từ nhận thức cho đến hành động, từ các cấp chính quyền cho đến người dân Nhiều di sản văn hoá được bảo vệ và phát huy giá trị, các nghệ nhân được tôn vinh, công tác xã hội hoá được tăng cường, thu hút được đông đảo các tổ chức và cá nhân tham gia vào hoạt động bảo tồn di sản văn hoá Mọi người đều ý thức được rằng giữ gìn và phát huy các giá trị DSVH là chúng ta đang lưu giữ cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai
Như vậy, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước Việt Nam đã có tác dụng chỉ đạo công tác giữ gìn và phát huy DSVH, ngăn chặn tình trạng xuống cấp,
Trang 30mai một của DSVH, tác động mạnh mẽ đến sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước theo hướng phát triển nhanh và bền vững
Kết luận chương 1
Chương 1 đã phân tích về lý luận chung về chính sách, thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Từ việc làm rõ một số khái niệm công cụ liên quan đến nội dung của luận văn (chính sách văn hóa, di sản văn hóa, văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể), chúng tôi bàn về chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH phi vật thể của Việt Nam từ chính sách đến các vấn đề triển khai trong thực tế Thực tế trong những năm qua, các chính sách về bảo tồn, phát huy
di sản văn hóa dân tộc đã thu được những thành tựu quan trọng, vấn đề bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể đã được toàn xã hội quan tâm, ý thức của người dân, của cộng đồng trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể được tăng lên rất nhiều.Trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế mạnh mẽ như hiện nay, việc bảo
vệ các giá trị DSVH là một mục tiêu quan trọng trong chính sách văn hóa Việt Nam
Đặc biệt, chương 1 đã đưa ra được khung phân tích việc thực hiện chính sách
rõ ràng với bảy bước: (1) xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách, (2) phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách; (3) Phân công, phối hợp thực hiện chính sách; (4) Duy trì chính sách; (5) Điều chỉnh việc thực hiện chính sách; (6) Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách; (7) Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách
Trang 31Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HÒA BÌNH
2.1 Tổng quan về di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Hòa Bình
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội
Hoà Bình là tỉnh miền núi phía Tây Bắc của Tổ quốc, giáp ranh Thủ đô Hà Nội, với diện tích tự nhiên là 4.662,53km2, gồm 10 huyện và 1 thành phố, có nhiều
cư dân các dân tộc anh em cùng chung sống Sau khi được tái lập (tháng 10-1991), Hoà Bình đã trở thành cửa ngõ giao lưu giữa các tỉnh Tây Bắc, đồng bằng châu thổ sông Hồng và tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh thông qua mạng lưới giao thông đường bộ (quốc lộ 6, đường Hồ Chí Minh, quốc lộ 12B, quốc lộ 15) và đường sông (sông Đà, sông Bôi) Ngoài vị trí địa lý khá thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, Hòa Bình còn có vị trí quan trọng trong chiến lược phòng thủ của khu vực và cả nước
Hòa Bình có dân số trên 83 vạn người và là địa bàn sinh sống tập trung lâu đời của đồng bào dân tộc Mường và các dân tộc Thái, Tày, Dao, Kinh, Mông Hòa Bình là một trong bốn tỉnh của Việt Nam mà trong đó có người Việt (Kinh) không chiếm đa số, đồng thời Hòa Bình cũng được coi là thủ phủ của người Mường, vì phần lớn người dân tộc Mường sống tập trung chủ yếu ở đây (người dân tộc Mường chiếm 63,3% dân số)
Mỗi dân tộc có một sắc thái văn hóa đặc sắc riêng Đồng bào Mường có Lễ
hội cồng chiêng, Nghi lễ mo Mường, có trường ca Đẻ đất, đẻ nước Đồng bào Thái
có chữ viết riêng từ lâu đời với trường ca Sống chụ sôn sao Tiếng sáo cùng những
làn điều dân ca Mông say đắm Sắc thái văn hóa của mỗi dân tộc thể hiện đậm nét trên nhiều mặt: Trong kho tàng văn học dân gian, trong các lễ hội truyền thống, qua trang phục, những nếp váy áo với những màu sắc, hoa văn mang đậm nét riêng của dân tộc mình,
Trang 32Những nét riêng đó tạo cho Hòa Bình sự phong phú, đa dạng về văn hóa của một tỉnh miền núi, góp phần vào sự phong phú, đa dạng của nền văn hóa Việt Nam
2.1.2 Di sản văn hóa phi vật thể ở Hòa Bình
Hoà Bình là một tỉnh miền núi nằm ở cửa ngõ vùng Tây Bắc có truyền thống văn hóa đa dạng và phong phú, giàu bản sắc dân tộc và quần thể di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh có giá trị
Thực hiện Luật Di sản văn hoá và Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/6/2010 của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về việc kiểm kê di sản văn hoá phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hoá phi vật thể đưa vào danh mục di sản phi vật thể quốc gia Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành kế hoạch kiểm kê di sản văn hoá phi vật thể các dân tộc tỉnh Hoà Bình và chỉ đạo thực hiện từ năm 2012 - 2014 Kết quả kiểm kê di sản văn hoá phi vật thể các dân tộc trên địa bàn 11 huyện, thành phố trong tỉnh đối với 5 dân tộc thiểu số gồm các loại hình: tiếng nói, chữ viết, ngữ văn dân gian, nghệ thuật trình diễn dân gian, tập quán xã hội; lễ hội truyền thống; nghề thủ công truyền thống và tri thức dân gian Tổng cộng đã kiểm kê được 786 di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc trong tỉnh [1] Đây là những di sản văn hóa đặc sắc của Hòa Bình, là nguồn lực quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế
- xã hội của tỉnh trong những năm vừa qua
Về văn học dân gian, các dân tộc cùng chung sống trên mảnh đất Hoà Bình đều có một kho tàng văn học, nghệ thuật dân gian phong phú Những giá trị đó được chắt lọc, sáng tạo nên từ cuộc sống của người Mường, người Thái, người Dao… từ bao đời Những giá trị quý báu đó được lưu truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này đến thế hệ khác chủ yếu bằng phương pháp truyền miệng, rất ít được ghi chép lại
thành văn bản Bên cạnh những áng Mo tuyệt vời của người Mường là “Ẳm Ệt” của
người Thái, tiếng khèn của người Mông hay những bài dân ca, hát ru của người Dao… tạo nên một bức tranh sinh động của văn học, nghệ thuật dân gian Hòa Bình
Về kho tàng truyện cổ, các dân tộc anh em ở Hoà Bình có hệ thống truyện
cổ khá phong phú về các đề tài cổ tích sự vật, hiện tượng thiên nhiên, thế sự, ngụ ngôn Nếu như người Mường có những truyện cổ thế sự phê phán lang Mường thì
Trang 33người Thái có các truyện cổ lên án các phìa tạo, còn người Mông có các truyện vạch trần bộ mặt gian ác của các thống lý hay những nhân vật như thế ở người Dao, người Tày… Về cơ bản, nội dung truyện cổ của các dân tộc đều phản ánh thực trạng
xã hội khác nhau ở phong tục, tập quán, tư duy, quan niệm của mỗi dân tộc do điều kiện địa lý và xã hội của họ quyết định Sự phong phú, đa dạng của từng mảng nội dung của hệ thống truyện cổ của các dân tộc cũng có sự khác nhau Sự phong phú
ấy phụ thuộc vào số lượng dân số của mỗi dân tộc sống trên mảnh đất Hoà Bình Vì vậy, có thể ở mảng nội dung này, truyện cổ của dân tộc này trội hơn truyện cổ của dân tộc khác, nhưng ở mảng nội dung khác lại có phần ít nổi trội hơn dân tộc kia Người Mường là dân tộc sống chủ yếu ở Hoà Bình, còn các dân tộc khác chỉ chiếm một bộ phận không lớn Điều đó giải thích vì sao có sự khác nhau về số lượng truyện cổ của các dân tộc
Về tập quán xã hội và tín ngưỡng: Ở Hòa Bình, mỗi dân tộc đều có nếp sinh hoạt riêng cùng với các quy định nghi lễ của vòng đời con người từ khi sinh ra cho đến khi khuất núi Ví dụ như nghi lễ ma chay, đám cưới của dân tộc Mường khác với nghi lễ của người Thái, người Dao,…Ngoài ra, các ngày lễ tết hằng năm phong phú, đa dạng, gần như tháng nào cũng có Điển hình như: Tết nhảy của người Dao, Tết Mông của dân tộc Mông, lễ mừng cơm mới, tết “Cơm đe” của dân tộc Mường, Xên bản xên Mường của người Thái Hầu hết các dân tộc đều thờ cúng tổ tiên, thổ công thành hoàng làng, thần bếp, gốc cây, hòn đá theo quan niệm vạn vật nghiệm linh Các dân tộc này còn có phong tục làm Lễ cấp sắc (phong tục này dành cho nam giới đã có vợ con phải làm lễ cấp sắc để chứng tỏ người đó đã trưởng thành, có
vị thế trong xã hội và cũng nhằm đặt tên âm cho người con trai đó)
Tiêu biểu trong tập quán xã hội và tín ngưỡng này là Mo Mường – Di sản văn
hóa phi vật thể cấp quốc gia (được công bố tại Quyết định số 246/QĐ-BVHTTDL, ngày 19 tháng 01 năm 2016 của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) Mo Mường là một chỉnh thể nguyên hợp bao gồm nhiều thành tố văn hóa: Phong tục tập quán, tín ngưỡng, nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật tạo hình, lối sống, ngôn ngữ, văn chương, diễn xướng … phản ánh nét đặc trưng cũng như bản sắc văn hóa của người Mường
Trang 34Về nghệ thuật biểu diễn, Ở Hòa Bình có một số loại hình biểu diễn nghệ thuật đặc trưng như nhảy sạp (của người Thái, người Mường…), hát then của người Tày… và đặc biệt là nghệ thuật biểu diễn cồng chiêng của người Mường Bên cạnh
đó, các dân tộc ở Hòa Bình cũng có những làn điệu dân ca đặc trưng, mang đậm bản sắc Thông thường, chúng ta hay gặp nhất là các thể loại dân ca của người Mường
Có thể tạm phân dân ca Mường ra thành bốn loại chính như: Thể loại hát giao ên; Thể loại hát ru; Thể loại hát Mo, Mỡi; Thể loại hát kể Trong các thể loại dân ca của dân tộc Mường, nổi bật hơn cả là hát giao duyên (tiếng Mường gọi là hát “Rằng thường”) Không gian diễn xướng của thể loại hát Rằng thường rất phong phú, họ
duy-có thể hẹn hò để hát với nhau ở bất kỳ một không gian nào, duy-có thể là ngoài trời hay trong nhà, có thể lúc đang lao động sản xuất, trong ngày vui, mừng đám cưới, mừng nhà mới hay trong các ngày hội, ngày lễ, ngày tết…
Tiêu biểu trong lĩnh vực biểu diễn này là Nghệ thuật Chiêng Mường Chiêng của người Mường là một nhạc cụ truyền thống đặc sắc, gắn bó với mỗi người Mường
từ khi lọt lòng mẹ đến khi qua đời Chiêng là nhạc cụ được sử dụng trong các dịp lễ, tết, trong đám cưới, tang lễ Đặc biệt là dùng cho các phường sắc bùa đi chúc phúc đến các gia đình vào đầu năm mới Chiêng và âm nhạc chiêng Mường đã trở thành sức mạnh tiềm ẩn trong tâm hồn, tâm thức, là ngôn ngữ giao tiếp xã hội, giao tiếp với trời, đất, thần linh được cả cộng đồng dân tộc yêu quý, trân trọng giữ gìn và phát huy Những phương thức trình tấu, trình diễn hay, chuẩn mực của âm nhạc chiêng Mường đã trở thành giá trị văn hóa của người Mường Âm nhạc và dàn chiêng có vị trí và giá trị quan trọng góp sức tạo nên nền văn hóa Hòa Bình giàu bản sắc
Về lễ hội, theo thống kê của Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Hòa Bình, trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, hàng năm có hàng trăm điểm tổ chức lễ hội, trong
đó có 38 lễ hội đang được bảo tồn và phát huy, trong đó một số lễ hội nổi tiếng được tổ chức vào dịp đầu năm mới như các lễ hội cồng chiêng, Chùa Tiên, Khai hạ Mường Bi, Đền Bờ, Xên bản Xên Mường Các lễ hội truyền thống của các dân tộc Hòa Bình đều gắn với đặc điểm cụ thể về địa lý, tự nhiên và đời sống xã hội của
Trang 35cộng đồng dân cư tồn tại từ lâu đời như các lễ hội khai hạ “xuống đồng”, cầu mưa,
đi săn, đánh cá gắn với tín ngưỡng tại các đền, chùa
Có thể nói, Hòa Bình là vùng đất đa dạng về văn hóa với sự tụ hội của văn hóa người Mường, người Thái, người Tày, người Dao và người Kinh Các dân tộc tuy sống đan xen và chịu ảnh hưởng lẫn nhau về các phong tục, tập quán, song vẫn bảo lưu những nét riêng trong văn hóa truyền thống Mỗi dân tộc đều có những di sản văn hóa đặc thù, tiêu biểu mang tính đại diện, làm nên bản sắc cộng đồng
2.2 Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể ở tỉnh Hòa Bình
Trong nội dung này, tác giả luận văn tiến hành đánh giá tình hình tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH phi vật thể dựa trên quy trình tổ chức thực hiện chính sách (mà tác giả đã trình bày trong chương 1) bao gồm các bước: ban hành văn bản và kế hoạch tổ chức thực hiện; phổ biến tuyên truyền
về chính sách; phân công phối hợp thực hiện; Duy trì và điều chỉnh chính sách; theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách; đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm chính sách Từ những nghiên cứu, đánh giá đó tác giả chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế làm cơ sở cho việc xây dựng các giải pháp, kiến nghị ở chương 3
2.2.1 Ban hành văn bản và kế hoạch tổ chức thực hiện
Hòa Bình là một tỉnh miền núi, điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, tham gia quá trình hội nhập và phát triển với nguồn lực còn thiếu thốn, do vậy phải tìm ra hướng
đi riêng cho mình bằng phát huy tối đa nguồn nội lực và thu hút ngoại lực Trong bối cảnh đó, tỉnh Hòa Bình đã xác định con đường phát triển là đi lên từ văn hóa
Trên cơ sơ khung chính sách về bảo tồn và phát huy giá trị DSVH của Đảng, Nhà nước, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hòa Bình trong nhiều năm qua cũng đã có nhiều chiến lược cho vấn đề giữ gìn và phát huy các DSVH, tạo điều kiện để làm sống lại mọi tiềm năng văn hóa, xem đó là nguồn lực nội sinh mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội Nhiều quyết định quan trọng nhằm chỉ đạo công tác này của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hòa Bình được ban hành như:
Trang 36- Ngày 30 tháng 01 năm 2007, UBND tỉnh Hòa Bình đã ban hành Quyết định
số 02/2007/QĐ-UBND, về việc ban hành Quy chế quản lý Di sản văn hoá phi vật thể trên địa bàn tỉnh Hoà Bình Quy chế qui định các hoạt động về quản lý và bảo
vệ di sản văn hoá phi vật thể trên địa bàn tỉnh Hoà Bình; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và mối quan hệ giữa các cơ quan Nhà nước trong việc quản
lý và bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể
- Quyết định số 20/2007/QĐ-UBND ngày 05 tháng 10 năm 2007 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hoà Bình về việc ban hành Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội trong địa bàn tỉnh Hòa Bình Trong đó nội dung về tổ chức lễ hội được quy định cụ thể ở 3 điều: 11,12 và 13, Chương 3 của Quy chế
- Quyết định số 676/QĐ-UBND, ngày 26 tháng 4 năm 2011 về việc Thành lập Ban kiểm kê di sản văn hoá phi vật thể tỉnh Hoà Bình Quyết định ban hành nhằm thực hiện Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL, ngày 30/6/2010 của Bộ Văn hóa – Thể Thao và Du lịch về “Kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia” Đây có thể nói là đợt kiểm kê có quy mô lớn nhất từ trước đến nay của tỉnh Hòa Bình, đợt kiểm kê này sẽ giúp ngành văn hóa có cái nhìn tổng quan về hiện trạng của DSVH phi vật thể ở địa phương hiện nay cũng như lập hồ sơ khoa học để bảo tồn và phát triển
- Chương trình hành động số 27-CTr/TU, ngày 03/10/2014 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hòa Bình về thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đề ra mục
tiêu: “Bảo tồn, phát huy, phát triển các giá trị văn hóa tiêu biểu của các dân tộc trong tỉnh; gắn kết bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa với phát triển du lịch, ”, và giải pháp: “Tăng cường công tác quản lý và bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể của các dân tộc trong tỉnh; phấn đấu trong những năm tới có một số di sản được công nhận là di sản văn hóa Quốc gia và đề cử di sản văn hóa phi vật thể Mo Mường đề nghị UNESCO công nhận ”
Trang 37- Chỉ thị số 08- CT/TU, ngày 20/01/2016 của BTV Tỉnh ủy Hòa Bình về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị Di sản văn hóa Mo Mường trên địa bàn tỉnh Hòa Bình Chỉ thị nhằm tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng trong việc thực hiện nghiêm túc Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009, Nghị định số 98/2010/NĐ-CP, ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá các quy định của Trung ương và của tỉnh về công tác bảo tồn và phát huy giá trị của Di sản văn hóa, trong đó đặc biệt chú trọng đến Di sản văn hóa Mo Mường
- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lần thứ XVI, nhiệm kỳ
2015-2020 (ban hành ngày 16/9/2015) cũng đã nêu rõ: “Chú trọng việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể các dân tộc; tuyên truyền, giới thiệu, quảng
bá tiềm năng, lợi thế về thiên nhiên, con người, bản sắc văn hóa các dân tộc, tổng hợp kết quả kiểm kê, lập hồ sơ DSVH trình Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch quyết định công nhận Mo Mường, Chiêng Mường là di sản văn hóa cấp quốc gia; xây dựng lộ trình lập hồ sơ khoa học trình UNESCO công nhận Sử thi Mo Mường là DSVH phi vật thể của nhân loại”
- UBND tỉnh Hòa Bình đã thành lập Ban Chỉ đạo Mo Mường Hòa Bình; xây dựng kế hoạch lập Hồ sơ khoa học di sản văn hóa Mo Mường Hòa Bình trình Bộ
VH -TT&DL đưa vào danh mục di sản cấp quốc gia, tiến tới đề nghị Chính phủ trình UNESCO công nhận Mo Mường là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại Ngày 19/1/2016, Bộ trưởng Bộ VHTTDL đã có Quyết định số 246/QĐ-BVHTTDL đưa Mo Mường vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
Bên cạnh đó, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hòa Bình còn chú trọng đến việc đầu tư ngân sách địa phương cho công tác giữ gìn và phát huy DSVH, kịp thời chỉ đạo phân công, phân cấp các ngành các cấp địa phương cùng phối hợp triển khai đồng
bộ công tác giữ gìn và phát huy các giá trị DSVH
Trang 38Ở cấp huyện Trước khi đưa chính sách vào cuộc sống, UBND huyện đều
tiến hành xây dựng kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện Nhiệm vụ xây dựng kế hoạch thực hiện ở cấp huyện được giao cho Phòng Văn hóa và Thông tin thực hiện
Kế hoạch tổ chức thực hiện thường được xây dựng vào đầu quý I hàng năm trên cơ
sở văn bản chỉ đạo của tình và tình hình thực tiễn tại địa phương mình Sau khi kế hoạch thực hiện được UBND huyện phê duyệt, kế hoạch đó sẽ được gửi đến các cơ quan có liên quan thuộc UBND huyện và UBND cấp xã trong huyện UBND cấp xã căn cứ vào kế hoạch đó để xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện cho xã mình
Kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy DSVH còn được gửi đến các tổ chức chính trị - xã hội trong huyện để phối hợp thực hiện Các tổ chức đoàn thể xã hội trong huyện sau khi nhận được kế hoạch của huyện cũng phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và những điều kiện hiện có của cơ quan, đơn vị mình để xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện cho phù hợp với cơ quan, tổ chức mình
Ở cấp huyện đã ban hành một số chính sách bảo tồn và phát huy DSVH phi vật thể tiêu biểu như:
- Huyện Lạc Sơn - vùng đất cổ có tên gọi Mường Vang là một trong bốn vùng Mường lớn của tỉnh Hòa Bình (nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động) Đây
là địa phương duy nhất của tỉnh có sáng kiến thành lập Cụm văn hóa Mường Vang
từ tháng 10/1999, với mục đích nhằm tập hợp các nghệ nhân văn hóa dân gian, phát hiện, bồi dưỡng các tài năng trẻ và thúc đẩy phong trào văn hóa, văn nghệ dân tộc tại các xóm, bản ở 7 xã trong vùng Từ khi được thành lập đến nay, cụm văn hóa Mường Vang đã thu hút đông đảo nhân dân đến tham gia Và đến thời điểm hiện tại, Lạc Sơn đã kiểm kê được 30 địa chỉ các phong tục, tập quán, tín ngưỡng và lễ hội các dân tộc; lưu giữ được 1.200 chiếc cồng chiêng; tổ chức sưu tầm và phục dựng 2
lễ hội dân gian của người Mường (Lễ hội Rước Bụt Khụ Dúng và lễ hội Đình Cổi)
- Huyện Tân Lạc – Mường Bi, một trong 4 vùng Mường cổ của tỉnh với nhiều nét văn hoá, phong tục, tập quán, tín ngưỡng truyền thống riêng Trong nhưng năm qua, hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa ngày càng được cấp
Trang 39ủy, chính quyền huyện tăng cường Huyện đã triển khai thực hiện quy chế bảo tồn
và phát huy các giá trị di tích, danh thắng và quy chế phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của UBND tỉnh đến cơ quan, đơn vị, xã, thị trấn và toàn thể nhân dân Tổ chức các hoạt động nghiên cứu, kiểm kê, sưu tầm, đầu tư cho bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa vật thể; chú trọng giáo dục truyền thống lịch sử, truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, đồng thời làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục việc bảo tồn, phát huy những giá trị mới về văn hóa Thường xuyên tổ chức các hội thi, hội diễn, liên hoan văn hóa, văn nghệ và trang phục dân tộc Khuyến khích khai thác, phát triển văn hóa dân gian các dân tộc, tiết mục mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc để củng cố, duy trì, phát triển Nghiên cứu, sưu tầm các giá trị văn hoá dân gian được các cấp, ngành đặc biệt quan tâm Tính đến năm 2016, toàn huyện đã rà soát quản lý trên 700 chiếc cồng chiêng còn được lưu giữ trong nhân dân và các tổ chức trên địa bàn huyện Những giá trị văn hoá truyền thống của người Mường được lưu giữ như tiếng nói, trang phục váy Mường, phong tục, tập quán sinh hoạt ẩm thực, các đồ dùng, vật dụng trong sản xuất và sinh hoạt Người dân các xã, thị trấn trong huyện còn lưu giữ được nhiều nét văn hoá truyền thống đặc sắc, độc đáo của dân tộc mình như: mo Mường, cồng chiêng, rằng thường, hát ví Các lễ hội như: Khai
hạ Mường Bi, đánh cá suối Lỗ Sơn, lễ hội chùa Kè đều được tổ chức theo đúng quy định, lành mạnh, không lợi dụng lễ hội để hành nghề mê tín dị đoan hoặc truyền đạo trái phép
Từ những kết quả và thực trang công tác Bảo tồn và phát huy giá trị DSVH trên địa bàn, UBND huyện Tân Lạc đã xây dựng và trình UBND tỉnh Hòa Bình phê duyệt Đề án Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Mo Mường, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình
Huyện Cao Phong – Mường Thàng Trong những năm qua, huyện đã ban hành đề án về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa - thể thao các dân tộc giai đoạn
2007 - 2010 và định hướng đến năm 2015 Trong đó, đề án đã đưa ra những biện pháp nâng cao sự lãnh đạo của Đảng, quản lý Nhà nước các cấp chính quyền từ huyện đến cơ sở; Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí đối với sự nghiệp văn
Trang 40hóa, thể thao, thông tin và hoạt động bảo tồn, phát huy bản sắc; Huy động toàn dân tham gia xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; tổ chức sưu tầm, phục dựng lại lễ hội Mường Thàng tại xã Dũng Phong và tổ chức truyền dạy hát “Thường Đang”, “Bọ Mẹng” từ các nghệ nhân cho thế hệ trẻ
Huyện Mai Châu – Là huyện có đông đồng bào dân tộc Thái, các hoạt động giữ gìn bản sắc, xây dựng nếp sống văn hóa Thái lành mạnh được huyện đặc biệt quan tâm Huyện xây dựng khu trưng bày các hiện vật, cổ vật dân tộc Thái Từng bước khôi phục, hoàn thiện lễ hội “Xên bản, Xên Mường”, lễ hội chá chiêng và được coi là điểm nhấn văn hóa tiêu biểu của huyện Thành lập CLB bảo tồn và phát triển văn hoá Thái Mai Châu với hơn 30 thành viên Khuyến khích nhân dân tự tìm hiểu, truyền cho nhau cách học, đọc và mở lớp dạy học chữ viết Thái Tích cực tham gia chương trình bảo tồn tri thức bản địa vì sự phát triển bền vững miền núi
Đã có 15 lớp dạy tiếng, chữ Thái được mở, thu hút nhiều người học Việc dịch sách
cổ được quan tâm, trong đó, tác phẩm “Ẳm ệt Luông” đã ra mắt bạn đọc Nghề thủ công truyền thống được duy trì, đặc biệt là dệt thổ cẩm đã tạo thành những sản phẩm hàng hoá được du khách trong, ngoài nước ưa thích Toàn huyện hiện còn gần 3.000 khung cửi đang hoạt động, trên 4.000 người tham gia thêu ren, thêu hàng thổ cẩm Các trò chơi dân gian được bảo tồn như: kéng lóng, tó lẻ, ném còn Các hoạt động văn hoá, thể thao truyền thống được tổ chức hàng năm Dân ca, dân vũ, lời giao tiếp, những áng mo được các nghệ nhân truyền lại Toàn huyện có 160 đội văn nghệ xóm bản, 1 đội văn nghệ xung kích, 10 nghệ nhân biết khắp, hát đối, hát giao duyên thành thạo Trang phục dân tộc được trân trọng thông qua các hoạt động sinh hoạt văn hoá truyền thống, trong các dịp cưới, lễ hội
Các văn bản, kế hoạch hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác Bảo tồn giá trị DSVH phi vật thể đã được các cấp chính quyền của tỉnh Hòa Bình quan tâm xây dựng để đưa chính sách vào đời sống thực tiễn Tiến độ ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách và các kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện, nhìn chung là kịp thời, bám sát với mục tiêu và nội dung của chính sách