BÁO CÁO PHÂN TÍCH NGÀNH DƯỢC VIỆT NAMNgành dược là một ngành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, có chứcnăng sản xuất các loại thuốc phục vụ cho việc chữa bệnh, phục hồi và tăng cường
Trang 1BÁO CÁO PHÂN TÍCH NGÀNH DƯỢC VIỆT NAM
Ngành dược là một ngành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, có chứcnăng sản xuất các loại thuốc phục vụ cho việc chữa bệnh, phục hồi và tăng cườngsức khỏe con người
Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp dược phẩm được phân thành 2loại chính: sản xuất và phân phối thuốc
- Sản xuất:
Thống kê đến thời điểm cuối năm 2007, Việt Nam có khoảng 178 doanhnghiệp có sản xuất dược phẩm, bao gồm doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài
+ 17 công ty sản xuất thuốc trong nước với doanh thu lớn:
Dược Hậu Giang - Tp.Cần Thơ
Trang 2 Sing poong Daewoo - Hàn Quốc
Korea United Pharm - Hàn Quốc
- Phân phối:
Trang 3Tính đến năm 2007 có khoảng 800 doanh nghiệp có đăng ký chức năng kinhdoanh dược phẩm tại thị trường Việt Nam, trong đó có khoảng 370 doanh nghiệpnước ngoài chủ yếu hoạt động dưới hình thức văn phòng đại diện Hàn Quốc, Ấn
Độ và Pháp là những quốc gia có doanh nghiệp đăng ký nhiều nhất Doanh nghiệpphân phối dược phẩm tại thị trường Việt Nam được phân chia ra làm 2 loại:
+ Các doanh nghiệp tiền thân của nhà nước chuyên làm chức năng nhập khẩuhưởng phần tram hoa hồng và làm thêm các chức năng dịch vụ kho bãi, giao nhận.+ Các doanh nghiệp tập trung vào hoạt động tiếp thị và xây dựng các hệ thốngphân phối Các doanh nghiệp này làm dịch vụ nhập khẩu ủy thác nên doanh số báocáo thường rất lớn, doanh thu trên sổ sách từ vài trăm tỷ đến vài nghìn tỷ mỗi năm.Tuy nhiên phần doanh số này chủ yếu do các văn phòng đại diện các hãng tại ViệtNam và nhà phân phối của họ quản lý nên các doanh nghiệp nhập khẩu ủy thác chỉ
có được vài phần trăm hoa hồng cho doanh số trên (khoảng từ 1%-3%)
Các doanh nghiệp trong loại hình này bao gồm:
+ 7 công ty trong nước
Phyto Pharma (Cty Dược liệu TW2) - Tp.HCM
Coduphar (Cty Dược phẩm TW2) - Tp.HCM
Sapharco (Cty Dược phẩm Tp.HCM) - Tp.HCM
Vimedimex II (Cty XNK Y Dược TW II) - Tp.HCM
Vimedimex I (Cty XNK Y Dược TW I) - Hà Nội
Hapharco (Cty Dược phẩm Hà Nội) - Hà Nội
Dapharco (Cty Dược TBYT Đà Nẵng) - Đà Nẵng
+ 26 văn phòng đại diện các hãng dược quốc tế lớn trực tiếp tiếp thị tại Việt Nam
Glaxo Smith Kline - Anh
Astra Zeneca - Anh
Pfizer - Mỹ
Trang 4 Bristor Mayer Squyp - Mỹ
Trang 5đảo và mạnh nhất, doanh số của các doanh nghiệp này đạt từ 100 tỷ cho đến hơn
1000 tỷ hàng năm Lợi nhuận rất lớn, đây cũng chính là lực lượng gây ảnh hưởngnhiều nhất đến giá thuốc tại Việt Nam, đặc biệt là 3 hãng "đại gia": Zuellig Pharma
- Singapore, Mega Product - Thái Lan , Dietherm - Thụy Sĩ
III CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN NGÀNH DƯỢC VIỆT NAM
1. Sự ổn định về chính trị
Việt Nam được đánh giá là nước có môi trường chính trị, xã hội, an ninh ổnđịnh Chính phủ đã có những nổ lực trong việc thể chế hóa hệ thống luật pháp, cảicách hành chính tạo điều kiện tốt cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệptrong và ngoài nước nói chung, các doanh nghiệp trong ngành dược phẩm nóiriêng
2. Chính sách
Ngành dược là ngành chịu tác động mạnh bởi các chính sách quản lý của Nhànước, gồm 5 vấn đề lớn:
+ Chính sách của Nhà nước về Dược
+ Quản lý kinh doanh thuốc
+ Quản lý chất lượng thuốc
+ Sử dụng thuốc
+ Cơ quan quản lý về Dược
Ngày 19/04/2007, Bộ Y Tế ban hành Quyết định số 27/2007/QĐ-BYT về lộtrình triển khai nguyên tắc “Thực hành tốt sản xuất thuốc” (GMP) và “Thực hànhtốt bảo quản thuốc” (GSP) được thực hiện Theo quyết định này, kể từ ngày01/07/2008, doanh nghiệp sản xuất không đạt tiêu chuẩn GMP theo khuyến cáocủa Tổ chức Y tế thế giới (GMP WHO) và doanh nghiệp xuất nhập khẩu và kinhdoanh dược có hệ thống kho bảo quản không đạt tiêu chuẩn GSP sẽ phải ngừng sảnxuất và ngừng xuất nhập khẩu trực tiếp Đây sẽ là cuộc thanh lọc các doanh nghiệp
Trang 6trong ngành dược Tính đến năm 2007, trong số 178 doanh nghiệp sản xuất dượcphẩm chỉ có 31 doanh nghiệp đạt GMP-WHO Các doanh nghiệp còn lại khi đếnthời hạn nếu không đạt được GMP-WHO sẽ phải thu hẹp phạm vi sản xuất vàchuyển sang gia công cho các doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn Hiện tại Bộ Y Tế đangxúc tiến triển khai đề án Phát triển công nghiệp dược và xây dựng mô hình hệthống cung ứng thuốc của Việt Nam giai đoạn 2007-2015 và tầm nhìn đến 2020.
Đề án đề cập đến những nội dung sau:
+ Trong giai đoạn 2007-2015, ngành dược sẽ đầu tư xây dựng một số nhàmáy sản xuất nguyên liệu hóa dược vô cơ, nhà máy sản xuất tá dược thông thường
và tá dược cao cấp nhằm đáp ứng khoảng 80% nhu cầu tá dược phục vụ sản xuấtthuốc
+ Giai đoạn sau năm 2015 đến năm 2020, tập trung nâng cao năng lực sảnxuất, mở rộng công suất của các nhà máy sản xuất nguyên liệu hóa dược đã đượcxây dựng Đầu tư xây dựng thêm mới một số nhà máy sản xuất các nguyên liệukháng sinh thế hệ mới đáp ứng khoảng 60% nhu cầu về nguyên liệu trong nước,nguyên liệu thuốc kháng ung thư, hạ nhiệt, giảm đau, tiểu đường và vitamin, nộitiết, tim mạch,
3. Các đạo luật liên quan
Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh, Luật Thương mại và Luật
Sở hữu trí tuệ cũng đã được Quốc hội thông qua, được kỳ vọng sẽ tạo môi trườngđầu tư - kinh doanh - cạnh tranh thông thoáng, minh bạch, bình đẳng và lành mạnhcho các doanh nghiệp Trong giai đoạn hoàn thiện khung pháp lý, các thay đổi củaluật và văn bản dưới luật có thể tạo ra rủi ro về luật pháp cho các doanh nghiệptrong ngành dược
4. Vị thế của cơ quan đầu ngành
Cơ quan trực tiếp quản lý ngành dược là Cục quản lý Dược được thành lập vào
Trang 7năm 1996 theo Quyết Định số 547/TTg Đây là cơ quan quản lý chuyên ngànhthuộc Bộ Y tế, giúp Bộ trưởng Bộ Y tế thực hiện chức năng quản lý Nhà nước vàthực thi pháp luật, điều hành các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ về lĩnh vựcdược và mỹ phẩm trên phạm vi cả nước Cục quản lý Dược Việt Nam có tư cáchpháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng, có trụ sở làm việc tại thành phố Hà Nội.Kinh phí hoạt động của Cục do ngân sách Nhà nước cấp và các nguồn kinh phí hợppháp khác.
Sự phát triển của nền kinh tế cùng với nhu cầu chăm lo đến sức khỏe của ngườidân ngày càng cao sẽ tác động tốt đến sự phát triển của ngành dược Tuy nhiên,trong năm 2008, nền kinh tế vĩ mô Việt Nam có nhiều dấu hiệu bất ổn:
- Lạm phát tăng Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 2/2008 tăng với tốc độ kỷlục 3,56% đưa CPI của 2 tháng đầu năm lên mức 6,02% trong khi mục tiêu cả năm
là kiểm soát CPI dưới 8,5%
- Chính sách thắt chặt tiền tệ được ban hành khiến nhiều ngân hàng rơi vàotình trạng thiếu thanh khoản, lao vào cuộc đua tăng lãi suất
Trang 8- Thị trường chứng khoán sụt giảm trong một khoản thời gian dài Năm 2008
là năm mà nền kinh tế Việt Nam đứng trước sự lựa chọn rất nghiệt ngã là ưu tiênthúc đẩy tăng trưởng kinh tế hay kiểm soát lạm phát, khi hai mục tiêu này trở thànhhai vấn đề mâu thuẫn nhau
Trong bối cảnh đó, các ngành trọng điểm của nền kinh tế đều bị ảnh hưởng.Ngành xây dựng đang bị đe dọa bởi sự phá sản do giá nguyên vật liệu (xi măng,sắt, thép, gạch xây dựng, ) tăng mạnh trong khi nguồn vốn đổ vào các dự án làvốn vay ngân hàng Ngành thủy sản thu hẹp quy mô sản xuất do tỷ giá biến độngtheo chiều hướng bất lợi cho hoạt động xuất khẩu Ngành ngân hàng đối mặt vớitình trạng thiếu thanh khoản khi chính phủ đưa ra các biện pháp thắt chặt tiền tệ.Ngành bất động sản gặp khó khăn trước chính sách thắt chặt cho vay bất động sản.Trong khi đó, ngành dược là ngành ít bị tác động bởi đây là ngành thiết yếu, ngườidân vẫn có nhu cầu về các sản phẩm thuốc cho dù nền kinh tế có suy thoái và hiệnnay dịch bệnh ở người và gia súc vẫn đang tiếp diễn tại các thành phố lớn và cácđịa phương
6.Văn hóa – xã hội
Trang 9người/năm Việt Nam hiện là nước đông dân thứ 14 trên thế giới và xếp thứ 3 trongkhu vực (chỉ sau Indonesia và Philippines) và dự báo dân số có thể sẽ tăng lên 93,7triệu người vào năm 2015 Việt Nam với dân số đông, khoảng 85 triệu người, với94.3% dân số ở độ tuổi lao động, tỉ lệ sinh duy trì ở mức cao nên nhu cầu về thuốcchữa bệnh là rất lớn Ngoài ra, tăng trưởng GDP hàng năm của Việt Nam vàokhoảng 8%/năm, mức sống người dân ngày càng nâng cao nên nhu cầu với các loạithuốc bổ dưỡng, vitamin, tăng cường sức khỏe là cần thiết Đây sẽ là những nhân
Tỷ trọng (%)
Giá trị (tr.người)
Tỷ trọng (%)
8 Thói quen sử dụng hàng hóa của người tiêu dùng:
Phần lớn người tiêu dùng Việt Nam dùng thuốc không cần kê toa của bác sĩđối với các bệnh thông thường Bệnh nhân khi bị nhức đầu, sổ mũi, đau bụng tựmua thuốc uống, hoặc uống theo đơn và bệnh của người khác Nhiều người chỉ khiuống thuốc vài ngày không khỏi hoặc khi bệnh rất nặng, mới đi khám bác sỹ Nếu
Trang 10lần sau bị ốm mà có những triệu chứng giống lần trước, họ sẽ lấy đơn cũ đi mua.Hầu hết bệnh nhân ngại vào bệnh viện khi mắc các bệnh thông thường Họ chorằng nếu vào bệnh viện để lấy đơn thuốc vì những bệnh thông thường thì vừa mấtthời gian vừa tốn tiền Khi bị nhức đầu, sốt nhẹ, tiêu chảy thì họ ra hiệu thuốc tâykhai bệnh Người bán đưa thuốc gì thì uống thuốc đó Cũng có khi người bệnh muathuốc theo hướng dẫn của một người hàng xóm từng có bệnh tương tự Nắm đượcthói quen này của người tiêu dùng, các công ty sản xuất dược phẩm đã dùng độingũ trình dược viên tác động đến các hiệu thuốc dưới hình thức hoa hồng do sự tưvấn và kê toa của nhà thuốc ảnh hưởng lớn đến quyết định mua thuốc của ngườibệnh Ngoài ra, khi mức sống ngày một cao, hiện tượng lạm dụng thuốc bổ trongthói quen sử dụng thuốc của người tiêu dùng ngày một phổ biến Cuộc sống ngàycàng bận rộn với nhiều áp lực, nhu cầu bổ sung vitamin và khoáng chất để duy trìsức khỏe cho cơ thể ngày càng được quan tâm Do vậy, thị trường thuốc bổ cungcấp vitamin và khoáng chất đang phát triển rất nhanh, là “miếng bánh” tương đốilớn cho các doanh nghiệp dược phẩm để mắt tới Hiện nay, trong danh mục sảnphẩm cung ứng ra thị trường của các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm hầu nhưđều có các loại thuốc bổ dưới các hình thức như: viên sủi bọt, viên, siro,
9 Công nghệ :
Ở bất kỳ quốc gia nào, khoa học và công nghệ đều được xem là lĩnh vực tốiquan trọng, quyết định năng lực cạnh tranh cũng như hiệu quả tăng trưởng của nềnkinh tế quốc dân Thực tế cho thấy Việt Nam là một nước có trình độ công nghệlạc hậu và ngành dược Việt Nam không nằm ngoài sự đánh giá đó Trình độ kỹthuật, công nghệ sản xuất thuốc còn thấp và chưa được đầu tư đúng đắn, đang diễn
ra tình trạng đầu tư dây chuyền trùng lặp Tại các nước phát triển, hoạt độngnghiên cứu và phát triển (R&D) trong ngành dược rất được chú trọng Từ năm
2002, các công ty dược phẩm đa quốc gia có xu hướng triển khai hoạt động R&D ở
Trang 11nước ngoài nhiều hơn, đặt biệt các nước trong khu vực Châu Á và các nước đangphát triển trở thành điểm đến của hoạt động R&D ở nước ngoài của các công tynày do chi phí nhân công rẻ Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước thu hút hoạt độngR&D nhiều nhất hiện nay, kế đến là Singapore Tuy nhiên, mặc dù Việt Nam làmột nước đang phát triển với chi phí nhân công rẻ nhưng đầu tư nước ngoài tronghoạt động R&D tại Việt Nam chưa tương xứng với tiềm năng của ngành Nguyênnhân là do quy định về đầu tư và sản xuất đối với ngành dược phẩm vẫn tồn tạimột số rào cản đối với của các nhà đầu tư như: các DN dược 100% vốn nước ngoàivẫn chưa được phép thành lập trước 1/1/2009, trừ khi đã có nhà máy sản xuất tạiViệt Nam hoặc liên doanh với một DN dược nội địa; hạn chế việc các công tynghiên cứu và phát triển dược phẩm hoạt động một cách toàn diện; một số quyđịnh về thử nghiệm lâm sàng trước khi đăng ký thuốc mới, giấy chứng nhận dượcphẩm cùng với việc kiểm định vắc xin và sinh phẩm y tế nhập khẩu vào Việt Nam,bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ…chưa phù hợp với quy định chung của quốc tế,…
10 Cam kết WTO trong ngành dược:
Việt Nam gia nhập WTO có những ảnh hưởng to lớn đến ngành dược, gồmnhững thuận lợi, khó khăn sau:
a Thuận lợi:
- Môi trường đầu tư: Việt Nam gia nhập WTO sẽ mang lại cho các ngànhkinh tế nói chung và ngành dược nói riêng một môi trường đầu tư, kinh doanhthông thoáng, minh bạch và thuận lợi hơn Được tiếp cận với nhiều thị trường lớn,
đa dạng với các điều kiện kinh doanh, cạnh tranh công bằng
- Công nghệ: Ngành dược Việt Nam sẽ có nhiều thuận lợi trong tiếp cận vớicác đối tác kinh doanh để hợp tác sản xuất, chuyển giao công nghệ do các doanhnghiệp dược nước ngoài được phép mở chi nhánh tại Việt Nam
- Vốn: Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, công nghiệp dược phẩm là một
Trang 12lĩnh vực thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với số lượng doanh nghiệpđăng ký hoạt động tăng mạnh Do vậy, ngành dược sẽ đón một lượng vốn đầu tưlớn từ sự gia nhập của các tập đoàn dược phẩm nước ngoài vào Việt Nam.
- Nguồn nguyên liệu: 90% nguyên liệu của ngành dược được nhập khẩu từnước ngoài chỉ để sản xuất các loại thuốc thông thường Do vậy, sự biến động củagiá nguyên liệu, bất ổn về chính trị,…ở nước ngoài sẽ tác động đến giá thuốc, từ đóảnh hưởng nhiều đến giá thành sản xuất và khả năng sinh lời của các công ty dược
Do vậy, khi Việt Nam mở cửa, các doanh nghiệp dược phẩm trong nước có cơ hộilựa chọn nguồn nguyên phụ liệu dược với chi phí hợp lý
b Khó khăn:
- Năng lực cạnh tranh: Năng lực cạnh tranh của ngành dược Việt Nam cònthấp, đang ở cấp độ 2,5 – 3 theo cấp độ phân loại ngành dược của WHO Cấp độcao nhất theo phân loại này là 4 (Sản xuất được nguyên liệu và phát minh thuốcmới), ngành dược Việt Nam chỉ mới sản xuất được thuốc gốc, xuất khẩu được một
số dược phẩm, đa số phải nhập khẩu
- Các quy định về sở hữu trí tuệ: Sở hữu trí tuệ cũng là một thách thức chongành dược khi Việt Nam gia nhập WTO Tự do hóa sẽ làm gia tăng các nguy cơtranh chấp pháp lý về quyền sở hữu công nghiệp giữa các doanh nghiệp trong nước
và các doanh nghiệp nước ngoài Khi gia nhập WTO, ngành dược Việt Nam phảicam kết bảo mật dữ liệu thử nghiệm lâm sàng có trong hồ sơ đăng ký của các thuốcmới trong thời hạn 5 năm
- Vốn: Tiền thân của các doanh nghiệp dược là các xí nghiệp với quy môvừa và nhỏ Khi Việt Nam gia nhập WTO, các doanh nghiệp này sẽ phải đối đầuvới các tập đoàn dược phẩm nước ngoài với tiềm lực tài chính mạnh
- Kỹ thuật công nghệ: Trình độ kỹ thuật công nghệ sản xuất thuốc của ViệtNam còn thấp, vẫn dựa vào bào chế các thuốc gốc là chủ yếu, chưa có khả năng
Trang 13sản xuất thuốc có hàm lượng công nghệ cao
- Hàng rào thuế quan: Khi chính thức gia nhập WTO sẽ giảm thuế suất nhậpkhẩu, việc giảm thuế suất thuế nhập khẩu một số dòng thuế sẽ là thách thức chocác doanh nghiệp sản xuất dược phẩm trong nước trong việc cạnh tranh với thuốcnhập khẩu từ nước ngoài
IV PHÂN TÍCH NGÀNH DƯỢC VIỆT NAM
1 Lịch sử hình thành và phát triển ngành dược Việt Nam:
- Giai đoạn 1975 – 1990 (Ngành dược Việt Nam trong giai đoạn thời baocấp): Ngành dược Việt Nam giai đoạn này chủ yếu bao gồm các doanh nghiệp nhànước, sản xuất không đáng kể, mỗi tỉnh có một xí nghiệp liên hợp dược và mỗihuyện có một công ty dược cấp 3 Mức tiêu thụ bình quân thuốc trên đầu ngườithời kỳ này đạt vào khoảng 0,5-1USD/năm Do thuốc trong thời kỳ này khan hiếmnên tiêu chuẩn chất lượng thuốc trong sử dụng chưa được chú trọng
- Giai đoạn 1991-2005 (ngành dược bước vào thời kỳ đổi mới, thực hiện sựchuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường): Các doanh nghiệp nhà nướctrong lĩnh vực sản xuất thuốc được thu hẹp về số lượng và thay đổi cơ cấu để tậptrung đầu tư về chiều sâu, nâng cấp nhằm thực hiện các quy định về thực hành tốtsản xuất thuốc Hàng loạt xí nghiệp, công ty dược nhà nước được cổ phần hóa,mạnh dạn đầu tư sản xuất Số thuốc sản xuất trong nước được đăng ký ngày càngnhiều, từ 175 hoạt chất (năm 1997) lến đến 384 hoạt chất (năm 2002)
Cục Quản lý Dược đã tiến hành nghiên cứu, xây dựng, tham mưu cho Chínhphủ và Bộ Y tế ban hành một loạt vǎn bản pháp quy về quản lý lưu thông, phânphối, xuất nhập khẩu, đǎng ký chất lượng thuốc Trong đó quan trọng nhất là
"Chính sách quốc gia về thuốc Việt Nam", một vǎn bản pháp lý do ngành xây dựng
và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Nghị quyết số 37/CP ngày 20/6/1996nhằm bảo đảm cung cấp thường xuyên và đủ thuốc thiết yếu có chất lượng tốt đến
Trang 14nhân dân, bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và có hiệu quả, nâng cao chấtlượng chǎm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, xây dựng định hướng, phát triểnngành Dược Việt Nam theo hướng CNH, HĐH.
Ngày 14/06/2005, Luật Dược số 34/2005/QH11 được Quốc hội hội thôngqua, có hiệu lực kể từ ngày 01/10/2005 quy định việc kinh doanh thuốc, đăng ký,lưu hành thuốc, sử dụng thuốc, cungứng thuốc, thông tin, quảng cáo thuốc, thửthuốc trên lâm sàng, quản lý thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần, tiền chấtdùng làm thuốc và thuốc phóng xạ, tiêu chuẩn chất lượng thuốc và kiểm nghiệmthuốc Đây là cơ sở pháp lý cao nhất điều chỉnh toàn bộ hoạt động trong lĩnh vựcdược đểngành Dược Việt Nam được hoạt động trong một môi trường pháp lý hoànchỉnh và đồng bộ Luật Dược được ban hành thể hiện sự quan tâm của Nhà nướcđối với ngành dược, tạo điều kiện pháp lý cho việc phát triển ngành Dược thànhmột ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn
- Giai đoạn 2006-2007 (ngành dược tiếp tục phát triển với tốc độ cao,khoảng 18-20%/năm Việt Nam gia nhập WTO mang lại những thuận lợi cũng nhưkhó khăn cho ngành dược): Năm 2006-2007, ngành dược đạt được tốc độ tăngtrưởng cao trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển Cùng với
sự phát triển của thị trường chứng khoán trong giai đoạn này, các công ty dượcphẩm đã huy động được một lượng vốn lớn qua kênh này để đầu tư cho các hoạtđộng nâng cao năng lực sản xuất Cổ phiếu của 3 doanh nghiệp Dược Hậu Giang,Imexpharm, Domesco đang được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TPHCMcũng như cố phiếu của một số công ty dược trên thị trường OTC như: Mekophar,Vidipha, Bidipha, OPC, Traphaco đã thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư tổchức cũng như cá nhân, đánh dấu một bước phát triển lớn của ngành dược Đâycũng là giai đoạn mà các công ty dược phẩm đã đạt được chứng nhận GMP-ASEAN đẩy mạnh đầu tư GMP-WHO thông qua các phương án tăng vốn do Quyết