1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn triết học vấn đề con người và phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay thực trạng và giải pháp

63 1,3K 26

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 423,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Đây là vấn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu và học giả quan tâm như: Hồ Sỹ Quý 2007, Con người và phát triển con người, Nhà xuất bản Giáo dụcNguyễn Thành Trung

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 3

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGIÊN CỨU 3

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

5.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3

6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 3

7.KẾT CẤU CỦA KHOÁ LUẬN 3

NỘI DUNG 4

Chương 1 5

LÍ LUẬN CHUNG VỀ CON NGƯỜI 5

1.1 Quan điểm về con người trong triết học 5

1.1.1.Quan điểm về con người trong triết học trước Mác 5

1.1.2 Quan điểm về con người trong triết học Mác 11

1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về con người 19

1.2.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh 19

1.2.2.Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam 23

Chương 2 27

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 27

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 27

2.1 Thực trạng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay 27

2.1.1 Khái niệm nguồn lực, nguồn nhân lực 27

2.1.2 Chất lượng của nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 29

2.2 Một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam 36

2.2.1 Phát triển kinh tế 37

2.2.2 Phát triển khoa học và công nghệ 41

2.2.3 Phát triển văn hóa, xã hội 45

2.2.4 Phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao tay nghề 48

2.2.5 Phát huy quyền dân chủ của nhân dân lao động, nâng cao hiệu lực quản lí của Nhà nước 54

KẾT LUẬN 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Vấn đề con người luôn là chủ đề trung tâm của lịch sử triết học từ cổ đại đếnhiện đại Với nguồn tiềm năng trí tuệ vô tận, là nguồn lực quyết định, là mục tiêu vàđộng lực của sự phát triển thì trong thời đại nào con người vẫn luôn là lực lượng sảnxuất cơ bản, hàng đầu của xã hội, giữ vị trí trung tâm cho sự phát triển kinh tế - xã hội

Có thể thấy vấn đề triết học về con người là một nội dung lớn trong lịch sử triếthọc nhân loại Đó là những nội dung: Con người là gì? Bản tính, bản chất con người?Mối quan hệ giữa con người và thế giới? Con người có thể làm gì để giải phóng mình,đạt tới tự do? Đây cũng chính là nhân sinh quan - nội dung cấu thành thế giới quantriết học

Tùy theo điều kiện lịch sử của mỗi thời đại mà nổi trội lên khía cạnh này hoặckhía cạnh khác Đồng thời, tùy theo góc độ tiếp cận khác nhau mà các trường phái triếthọc, các nhà triết học trong lịch sử có những phát hiện, đóng góp khác nhau trong việc

lí giải về con người Do vậy, vấn đề con người là đề tài không mới nhưng luôn chứađựng những nội dung mới Quan hệ biện chứng giữa con người và lịch sử chỉ ra rằng,con người vừa là sản phẩm của lịch sử, vừa là chủ thể sáng tạo ra lịch sử Tất cả vấn đềtrên về thực chất là nhằm giải phóng con người, hướng tới vì mục đích con người, vìcon người – chủ thể của lịch sử - xã hội, thể hiện bản chất cách mạng và khoa học củatriết học Mác – Lênin

Trước lúc đi xa, Hồ Chí Minh đã để lại muôn vàn tình yêu thương và những lờicăn dặn với Đảng và Nhà nước là phải quan tâm đến mọi đối tượng trong xã hội Điều

này được thể hiện trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người nhấn mạnh “đầu tiên là công việc đối với con người” [20; tr.383].

Trong quá trình toàn cầu hóa như hiện nay, nền kinh tế nào dựa nhiều vào trithức sẽ tạo ra nhiều cơ hội phát triển, duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, sửdụng hiệu quả nguồn nhân lực, tạo nhiều công ăn việc làm, giải quyết tốt hơn các quan

hệ xã hội, cải thiện đời sống con người,v.v… Trong điều kiện mới đó, sự phát triểncủa mỗi quốc gia phụ thuộc nguồn nhân lực chủ yếu, thay vì dựa vào nguồn tàinguyên, vốn vật chất như trước đây Các lí thuyết tăng trưởng kinh tế gần đây cũng chỉ

ra rằng động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là yếu tố

Trang 3

con người, nguồn nhân lực cơ bản của sự phát triển Bởi lẽ, với nguồn tiềm năng trí tuệ

vô tận, là nguồn lực quyết định, là mục tiêu và động lực của sự phát triển thì trong thờiđại nào, con người vẫn luôn là lực lượng sản xuất cơ bản, hàng đầu của xã hội, giữ vịtrí trung tâm cho sự phát triển kinh tế - xã hội Con người ngày càng thể hiện rõ vai trò

là chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và tinh thần, nền văn minh củamỗi quốc gia Ngày nay, nhờ các tiến bộ của khoa học kĩ thuật, các máy móc thiết bị

và công nghệ hiện đại đã giải phóng phần nào sức lao động của con người, cả lao độngchân tay lẫn lao động trí óc

Vì vậy, mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người Chiếnlược kinh tế - xã hội đặt con người vào vị trí trung tâm, giải phóng sức sản xuất, khơidậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tập thể lao động và của cả cộng đồng dân tộc,động viên và tạo điều kiện cho mọi người Việt Nam phát huy ý chí tự lực tự cường,cần kiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ra sức làm giàu cho mình và cho đất nước Lợiích của mỗi người, của tập thể và của toàn xã hội gắn bó hữu cơ với nhau, trong đó lợiích cá nhân là động lực trực tiếp

Trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng thì ở phần nội dung thực hành dân chủ,phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và làmục tiêu của sự phát triển: Phải đảm bảo quyền con người, quyền công dân và các điềukiện để mọi người được phát triển toàn diện Nâng cao năng lực và tạo cơ chế để nhândân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ, nhất là dân chủ trực tiếp để phát huy mạnh mẽmọi khả năng sáng tạo và bảo đảm đồng thuận cao trong xã hội, tạo động lực phát triểnđất nước Phát huy lợi thế dân số và con người Việt Nam, nâng cao chất lượng nguồnnhân lực, chăm lo lợi ích chính đáng và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinhthần của mọi người dân, thực hiện công bằng xã hội

Như vậy, xuất phát từ vị trí xem con người là trung tâm, là nguồn lực quantrọng nhất trong sự phát triển kinh tế - xã hội thì vấn đề đặt ra là Đảng và Nhà nước ta

đã có những chính sách gì nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bên cạnh đó đã

sử dụng hợp lí nguồn nhân lực hay chưa Đó chính là lí do tôi chọn đề tài “Vấn đề con người và phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay – thực trạng và giải pháp”.

Trang 4

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Đây là vấn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu và học giả quan tâm như:

Hồ Sỹ Quý (2007), Con người và phát triển con người, Nhà xuất bản Giáo dụcNguyễn Thành Trung (2008), Vai trò của con người và vấn đề phát huy nguồnlực con người trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay, Tạp chí Triết học số 206

Nguyễn Văn Vĩnh (2005), Triết học chính trị về phần con người, Nhà xuất bảnchính trị Quốc gia Hà Nội

Trần Khánh Đức (2002), Giáo dục kĩ thuật – nghề nghiệp và phát triển nguồnnhân lực, Nxb Giáo dục

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu vấn đề con người theo quan điểm của chủ

nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh

Nhiệm vụ nghiên cứu: Tìm hiểu thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện

nay từ đó đề ra một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực Việt Nam

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề con người

Phạm vi: Thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam từ 2001 đến nay

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Phương pháp kết hợp lịch sử và logic

6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Giúp người đọc thấy được thực trạng phát triển nguồn nhân lực của Việt Namtrong những năm qua và hiện nay Khóa luận có thể dùng làm tài liệu tham khảo chonhững ai quan tâm đến vấn đề con người và phát triển nguồn nhân lực ở Việt Namhiện nay

7 KẾT CẤU KHOÁ LUẬN

Ngoài phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo, nội dung gồm có 2 chương và

4 tiết

Trang 5

NỘI DUNG Chương 1: LÍ LUẬN CHUNG VỀ CON NGƯỜI 1.1 Quan điểm về con người trong triết học

1.1.1 Quan điểm về con người trong triết học trước Mác

1.1.2 Quan điểm về con người trong triết học Mác

1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về con người

1.2.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh

1.2.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN

LỰC

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay

2.1.1 Khái niệm nguồn lực và nguồn nhân lực

2.1.2 Chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay

2.2 Một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam trong thời gian tới

2.2.1 Phát triển kinh tế

2.2.2 Phát triển khoa học và công nghệ

2.2.3 Phát triển văn hóa, xã hội

2.2.4 Phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao tay nghề

2.2.5 Phát huy quyền dân chủ của nhân dân lao động, nâng cao hiệu lực quản lý củaNhà nước

KẾT LUẬN

-

-Một số đề xuất và kiến nghị

Trang 6

Chương 1

LÍ LUẬN CHUNG VỀ CON NGƯỜI

1.1 Quan điểm về con người trong triết học

1.1.1.Quan điểm về con người trong triết học trước Mác

Quan điểm về con người trong triết học phương Đông

Sự phát triển của tư tưởng triết học phương Đông từ cổ đại đến đương đại, sựgiao lưu tư tưởng và văn hóa trong khu vực mang bản sắc độc đáo so với phương Tây.Những tư tưởng triết học phương Đông, cái nôi là ở Ấn Độ, Trung Quốc và triết họcphương Tây du nhập vào Việt Nam, dần dần hòa quyện vào tư tưởng và văn hóa dântộc Lịch sử triết học cho thấy rằng, cần xử lí đúng đắn mối quan hệ giữa cái dân tộc vàcái quốc tế, làm cho những tư tưởng triết học của dân tộc ngày càng phong phú hơn,sống động hơn trong các mối liên hệ chặt chẽ cùng với sự phát triển chung của thế giớinhằm đạt tới một nền văn minh hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc

Trong nền triết học Trung Hoa suốt chiều dài lịch sử trên hai ngàn năm cổ trung đại, vấn đề bản tính con người là vấn đề được quan tâm hàng đầu Giải quyết vấn

-đề này, các nhà tư tưởng của Nho gia và Pháp gia đã tiếp cận từ góc độ hoạt động thựctiễn chính trị, đạo đức của xã hội và bản tính người là Thiện (Nho gia) và bản tínhngười là Bất thiện (Pháp gia) Các nhà tư tưởng của Đạo gia, ngay từ Lão Tử thờiXuân Thu, lại tiếp cận giải quyết vấn đề bản tính người từ góc độ khác và đi đến kếtluận bản tính tự nhiên của con người Sự khác nhau về góc độ tiếp cận và với nhữngkết luận khác nhau về bản tính con người đã là tiền đề xuất phát cho những quan điểmkhác nhau của các trường phái triết học này trong việc giải quyết các vấn đề về quanđiểm chính trị, đạo đức và nhân sinh của họ Đặc biệt, với sự chi phối thế giới quanduy tâm hoặc duy vật chất phác, biểu hiện trong tư tưởng Nho giáo, Lão giáo, quanniệm về bản chất con người cũng thể hiện một cách phong phú

Khổng Tử (551 – 479 TCN), tên là Khâu, tự Trọng Ni, sinh ra ở nước Lỗ Ông

cho rằng, bản chất con người là “thiên mệnh” chi phối quyết định, đức “Nhân” chính là

giá trị cao nhất của con người, đặc biệt là người quân tử Bên cạnh đó, phẩm chất chất

phác, tình cảm chân thực là điều kiện cần thiết để trau dồi đức “Nhân” “Chính danh”

là con đường đạt tới điều Nhân (Ông nói: Sửa mình, khôi phục điều Lễ là người

Trang 7

Nhân) Học trò của Khổng Tử là Phàn Trì hỏi, thế nào là Nhân, Khổng Tử trả lời:

“Thương người” (Ái nhân), “Điều gì mà mình không muốn thì cũng đừng đem áp dụng cho người khác”, hoặc “Mình muốn lập thân thì giúp người khác lập thân, mình muốn thành đạt cũng giúp người khác thành đạt” (Kỉ dục lập nhi lập thân, kỉ dục đạt nhi đạt nhân) [26; tr.28], là nội dung cơ bản trong học thuyết “Nhân” của Khổng Tử Tuy nhiên, do hạn chế của lập trường giai cấp, học thuyết “Nhân” của Khổng Tử có nội

dung giai cấp rõ ràng Theo ông, chỉ có người quân tử ( tức giai cấp thống trị) mới có

thể có được đức “Nhân”, còn tiểu nhân (nhân dân lao động) không thể có được đức

“Nhân” (Quân tử nhi bất Nhân giả hữu hĩ, vị hữu tiểu nhân nhi Nhân giả dã) [27;

tr.29] Nghĩa là đạo Nhân chỉ là đạo của người quân tử, của giai cấp thống trị

Mạnh Tử (372 – 289 TCN), tự là Dư, người đất Châu nước Lỗ Mạnh Tử là họctrò của Tử Tư Ông quan niệm: con người sinh ra chính là tốt (thiện), do không biết tudưỡng, ảnh hưởng của phong tục, tập quán xấu mà con người bị nhiễm cái xấu, xa rờicái tốt đẹp Do vậy, con người cần tu dưỡng, rèn luyện để giữ được đạo đức của mình.Cũng như Khổng Tử, Mạnh Tử cho rằng phải lấy lòng nhân ái, quan hệ đạo đức để dẫndắt con người hướng tới các giá trị đạo đức tốt đẹp Thế nhưng, ông cho rằng nhận

thức cảm tính là cái “tiểu thể” Là của kẻ tiểu nhân, là nguồn gốc của những điều ác; nhận thức lí tính là cảm quan của cái Tâm, là cái “đại thể” riêng có của người quân tử Như vậy cũng có nghĩa là, theo ông, chỉ có người quân tử mới có thể đạt tới “Chí thành”, cộng thêm hòa hợp với trời đất Về quan niệm “tính người”, Mạnh Tử cho

rằng con người mới sinh ra trời phú cho đủ Nhân – Lễ - Nghĩa – Trí – Tín, đủ đức

Hiếu (với cha mẹ, người thân) – “Trung” với vua và “Kính” với bề trên) nhưng chỉ có

người quân tử là có khả năng giữ được đủ mà thôi

Tuân Tử (313 – 235 TCN ), tên là Huống, tự là Khanh, người nước Triệu, lànhà triết học duy vật kiệt xuất trong lịch sử triết học Tuân Tử cho rằng, con ngườikhác động vật ở chỗ sống tập thể theo xã hội mà tổ chức, có lễ nghĩa trên dưới và ông

đã chỉ ra hai nguyên nhân dẫn đến “loạn” do sống tập thể thành xã hội đưa lại là: Thứ nhất, con người sống hợp quần nhưng mỗi cá nhân chỉ có một khả năng riêng

nào đó mà thôi

Thứ hai, sản vật tự nhiên và của cải làm ra thì ít mà nhu cầu con người thì vô cùng, cho nên dẫn đến “tranh” “loạn” Do vậy, ông chủ trương phải tăng cường sản xuất,

Trang 8

tạo nhiều của cải, và thực hành tiết kiệm Đặc biệt, hạn chế dục vọng, lấy lễ nghĩa làm

cơ sở, làm nguyên tắc đạo đức để phân chia thứ bậc và cung cách giao tiếp xã hội

Hơn nữa, ông phản đối thuyết “Tính thiện” duy tâm của Mạnh Kha và đưa ra thuyết “Tính ác” (bản chất con người khi sinh ra vốn dĩ là ác), nhưng có thể cải biến

được đó là phải chống lại cái ác ấy Tuy hai quan điểm khác nhau nhưng có điểm

tương đồng là yêu cầu con người phải tu dưỡng để làm những điều lễ nghĩa Điểm khác nhau là: theo quan điểm tính thiện của Mạnh Tử thì con người phải được dẫn dắt

bằng đạo đức Còn theo quan điểm tính ác của Tuân Tử, thì phải lấy pháp luật mà ngăn

chặn cái ác Tuy nhiên, trong thuyết “Tính ác” của ông có những nhân tố hợp lí, quan niệm tiến bộ Ông đưa ra thuyết “Sửa tính quấy”, cho rằng đạo đức của con người là

do tập quán, qua quá trình học tập mà ra, cho nên có thể sửa được Tuân tử cho rằng sự

phân biệt giữa “Quân tử” và “Tiểu nhân” cũng như sự phân biệt “ Sĩ, nông, công, thương”, không phải là do trời phú cho, mà là kết quả lâu ngày…

Trong triết học phương Đông, còn có quan niệm duy tâm cho rằng trời và conngười còn có thể hòa hợp với nhau (thiên thân hợp nhất) Đổng Trọng Thư (179 – 117TCN), kế thừa Nho giáo theo khuynh hướng duy tâm cực đoan, quan niệm rằng trời vàcon người có thể thông hiểu lẫn nhau (thiên nhân cảm ứng) Nhìn chung, đây là quan

điểm duy tâm, quy cuộc đời con người vào vai trò quyết định của “thiên mệnh” vì con người bẩm sinh không phải “tính thiện” mà cũng không phải “tính ác”; hành vi

“thiện”, “ác” của con người là do hoàn cảnh tạo nên Ông cho rằng “muốn thi hành lễ nghĩa phải có đủ gạo ăn” [26; tr.69] Tuy nhiên, cũng có tư tưởng ngược lại, đó là

quan niệm thiên nhân bất tương quan của Tuân Tử Ông chủ trương về phương diệnsinh dưỡng thì người mang ơn trời, nhưng về phương diện trị loạn, thịnh suy thì đạotrời không quan hệ gì đến đạo người, trời không thể làm hại được người, mà cả trờicũng không thể giúp được người Tư tưởng triết học có mầm mống duy vật ấy củaTuân Tử có thái độ bị động của con người, khuyến khích con người có tinh thần tíchcực, dám tự mình giải quyết những vấn đề của mình

Lão Tử ( khoảng thế kỉ VI TCN), còn gọi là Lão Đam, họ Lý, tên Nhĩ Ông là

người mở đầu cho trường phái Đạo gia, cho rằng con người sinh ra từ “Đạo” Do vậy con người phải sống “vô vi”, theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không hành động một cách

giả tạo, gò ép trái với tự nhiên Quan điểm này biểu hiện tư tưởng duy tâm chủ quancủa triết học Đạo gia Không những thế, ông còn chủ trương con người cần phải trở lại

Trang 9

trạng thái tự nhiên chất phác của trẻ con, “cần phải có trái tim ngu” [26; tr.45] Ông chủ trương “học ở những người không học” [26; tr.45] và cho rằng “vứt bỏ thánh trí, nhân dân sẽ có lợi gấp trăm lần; vứt bỏ nghĩa, nhân dân sẽ trở lại hiếu từ” [26; tr.46].

Tức là Lão Tử phủ định mọi quan hệ luân lí, quan niệm tốt xấu và mọi thứ văn hóa

tinh thần của xã hội hiện thực mà trở lại với cái chất phác “vô danh”, trở lại với cái ý thức trẻ con, không phân biệt tốt xấu, phải trái Có thể thấy, “Đạo” của Lão Tử là một

thứ rất huyền bí, thoát trần, không thể dùng ngôn ngữ, khái niệm để nói và nhận thức

Như vậy, với nhiều hệ thống triết học khác nhau, triết học phương Đông biểuhiện tính đa dạng và phong phú, thiên về vấn đề con người và đạo đức Nhìn chung,con người trong triết học phương Đông biểu hiện yếu tố duy tâm, có pha trộn tính chấtduy vật chất phác trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội

Quan niệm về con người trong triết học phương Tây

Trong suốt chiều dài lịch sử triết học phương Tây từ Cổ đại Hy Lạp trải qua giaiđoạn Trung cổ, Phục hưng và Cận đại đến nay, những vấn đề triết học về con ngườivẫn là một đề tài tranh luận chưa chấm dứt

Thực tế lịch sử đã cho thấy, góc độ tiếp cận giải quyết các vấn đề triết học vềcon người trong nền triết học phương Tây có nhiều điểm khác với triết học phươngĐông Nhìn chung, các nhà triết học theo lập trường triết học duy vật đã lựa chọn góc

độ khoa học tự nhiên để lí giải về bản chất con người và các vấn đề khác có liên quan

Các trường phái triết học tôn giáo phương Tây, đặc biệt là Kitô giáo nhận thức

về vấn đề con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí Kitô giáo nhận thức vấn

đề con người do đấng tối cao an bài, sắp đặt; về bản chất con người là có tội Conngười bao gồm hai phần: thể xác và linh hồn Thể xác sẽ mất đi nhưng linh hồn thì tồntại vĩnh cửu Linh hồn là giá trị cao nhất của con người Do vậy phải biết chăm sóclinh hồn để hướng đến thiên đường vĩnh cửu

Trang 10

Triết học Hi Lạp và La Mã cổ đại khi bàn về vấn đề con người đều tập trung ở

số phận, nỗi khổ đau, niềm hạnh phúc của con người Đặc biệt là triết học Hy – La coitrọng vấn đề con người Mặc dù giữa các nhà triết học vẫn còn nhiều bất đồng về vấn

đề này nhưng nhìn chung họ đều khẳng định con người là tinh hoa cao quý nhất củatạo hóa Tư tưởng ấy được thể hiện rõ qua luận điểm nổi tiếng của Pitago: Con người

là thước đo tất thảy mọi vật Triết học Sôcrát đánh dấu một bước ngoặc trong sự pháttriển tư tưởng triết học ở Hy Lạp và La Mã cổ đại, từ chỗ chủ yếu bàn về căn nguyên,bản chất của thế giới và nhận thức chúng với việc coi triết học và tự ý thức của conngười về chính bản thân mình Từ đây, những vấn đề thiết thực của cuộc sống conngười trở thành một trong những đề tài chính của triết học Tuy nhiên, con người thời

cổ đại được nhìn nhận dưới góc độ cá thể và giá trị con người chủ yếu chỉ được bànđến ở khía cạnh đạo đức, giao tiếp, nhận thức luận Hoạt động thực tiễn của con ngườihầu như không được bàn đến

Ngay từ thời Cổ đại, các nhà triết học duy vật đã từng đưa ra quan niệm về bảnchất vật chất tự nhiên của con người, coi con người cũng như vạn vật trong giới tựnhiên không có gì thần bí, đều được cấu tạo nên từ vật chất Tiêu biểu là Đêmôcrit vềbản tính vật chất nguyên tử cấu tạo nên thể xác và linh hồn của con người Đây cũng làtiền đề phương pháp luận của quan điểm nhân sinh theo đường lối Êpiquya Nhữngquan điểm duy vật như vậy đã được tiếp tục phát triển trong nền triết học thời Phụchưng và Cận đại mà tiêu biểu là các nhà duy vật nước Anh và Pháp thế kỉ XVIII; nócũng là một trong những tiền đề lý luận cho chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc.Trong một phạm vi nhất định, đó cũng là một trong những tiền đề lý luận của quanniệm duy vật về con người trong triết học Mác

Đối lập với các nhà triết học duy vật, các nhà triết học duy tâm trong lịch sửtriết học phương Tây lại chú trọng góc độ hoạt động lý tính của con người Tiêu biểucho góc độ tiếp cận này là quan điểm của Platôn thời Cổ đại Hy Lạp, Đêcáctơ trongnền triết học Pháp thời cận đại và Hêghen trong nền triết học Cổ điển Đức Do khôngđứng trên lập trường duy vật, các nhà triết học này đã lý giải bản chất lý tính của conngười từ góc độ siêu tự nhiên Với Platôn, đó là bản chất bất tử của linh hồn thuộc thếgiới ý niệm tuyệt đối, với Đêcáctơ đó là bản tính phi kinh nghiệm (apriori) của lý tính,còn đối với Hêghen, thì đó là bản chất lý tính tuyệt đối…

Trang 11

Triết học duy tâm khi bàn về con người thường gắn với tín ngưỡng tôn giáo Họkhông thấy được vị trí và vai trò của con người trong thế giới Họ cho rằng con người

bị chi phối bởi sức mạnh vô hình Con người sống với thần và thực hiện các chức năngtheo sự định đoạt của thần tức là kẻ đại diện cho định mệnh Ví như Pitago (571 – 479TCN), ông cho rằng con người phải tuân theo uy linh của thần thánh Quan điểm duytâm đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển tư tưởng tiến bộ của xã hội lúc đó.Bởi vì, khi con người gặp bất hạnh, khổ đau thì lối thoát duy nhất của họ là tìm đếnthần thánh Giai cấp thống trị thường lấy đó làm công cụ tinh thần nhằm khống chếquần chúng nhân dân, làm cho họ không dám đấu tranh chống lại giai cấp thống trị vớimục đích là bảo vệ giai cấp chủ nô quý tộc thời bấy giờ Tuy nhiên, đối với các nhàtriết học duy vật, họ đã giải quyết vấn đề con người theo quan điểm tiến bộ và khoahọc Các nhà duy vật quan niệm về thế giới tuy có ngây thơ, chất phác nhưng cơ bản làđúng vì họ đã lấy các nguyên tố vật chất làm cơ sở để giải thích tự nhiên và con người.Đại diện cho trường phái triết học này là Đêmôcơrit ( 460 – 370 TCN), ông đã đề caovai trò trí tuệ của con người và cho rằng con người không phải do thần thánh tạo ra mà

là kết quả của quá trình biến đổi tự nhiên Ông nhận định, chỉ có trí tuệ mới giúp conngười nhận thức được bản chất đích thực của sự vật Khi bàn về xã hội loài người, ông

đã đưa ra quan niệm đạo đức xã hội có ý nghĩa tiến bộ Ông nhấn mạnh, mục tiêu củacon người là hạnh phúc, dân chủ và tự do Tuy nhiên, ở ông lại có hạn chế lớn khidung hòa lợi ích giai cấp và việc coi nhu cầu ý muốn của con người là yếu tố quyếtđịnh tất cả đời sống vật chất và tinh thần của con người

Nhà triết học Prôtagor (490 – 420 TCN) thuộc trường phái Xôphixtơ đã coi conngười là thước đo của vũ trụ đang tồn tại Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử nhânloại, trường phái triết học này đã đưa ra quan điểm bình đẳng giữa người với người.Theo họ, Thượng đế tạo ra mọi người đều tự do, tự nhiên không ai biến thành nô lệ cả

Tư tưởng nhân đạo đó trở thành phương châm tư tưởng cho các nhà triết học thời kìPhục Hưng noi theo

Triết học thời kì Phục Hưng gắn liền với vấn đề về con người và giải phóng conngười, chứng minh sức mạnh của con người, xem con người là thước đo vạn vật, cácgiá trị văn hóa, nghệ thuật của con người được đặc biệt quan tâm Nicôlai Kudan(1401 – 1464) coi con người là sản phẩm tối cao và tinh túy nhất trong sự sáng tạo củaThượng đế Lêôna Đơvanxi (1452 – 1529) khẳng định con người là vũ trụ vĩ đại nhất

Trang 12

của tạo hóa, con người biết dựa trên các sự vật tự nhiên để sáng tạo ra các sự vật mớiphục vụ cho cuộc sống của mình

Trong nền triết học phương Tây hiện đại, nhiều trào lưu triết học vẫn coi nhữngvấn đề triết học về con người là vấn đề trung tâm của những suy tư triết học mà tiêubiểu là chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa Phơrớt…

Triết học cổ điển Đức với các đại diện tiêu biểu như: Cantơ (1724 – 1804),Hêghen (1770 – 1831) đã phát triển quan niệm về con người theo khuynh hướng chủnghĩa duy tâm Hêghen, với cách nhìn của một nhà duy tâm khách quan, thông qua sựvận động của ý niệm tuyệt đối, thông qua quá trình tự ý thức tư tưởng của con người

đã đưa con người trở về với giá trị tinh thần, giá trị về bản thể Ông đã trình bày mộtcách có hệ thống về các quy luật của quá trình tư duy con người, làm rõ cơ chế của đờisống tinh thần cá nhân trong hoạt động con người Dù cho con người được nhận thứcdưới góc độ duy tâm khách quan nhưng Hêghen là người khẳng định vai trò chủ thểcủa con người với lịch sử, đồng thời là sự phát triển của lịch sử

Vượt qua những hạn chế của triết học Hêgghen, nhà triết học duy vật Phoiơbăc(1804 – 1872) đã phê phán tính chất siêu tự nhiên, phi vật thể, phi thể xác về bản chấtcon người trong triết học Hêghen, đồng thời khẳng định con người do sự vận động củathế giới vật chất tạo nên Con người là kết quả của sự phát triển của thế giới tự nhiên,giữa con người và tự nhiên có sự thống nhất không rời Ông đã đề cao vai trò và trí tuệcủa con người với tính cách là những cá thể người Đó là những con người cá biệt, đadạng, phong phú Quan điểm này dựa trên nền tảng duy vật, đề cao yếu tố tự nhiên,cảm tính nhằm giải phóng con người, tách con người khỏi những điều kiện lịch sử cụthể Quan niệm của Phoiơbắc về con người là phi lịch sử, phi giai cấp và trừu tượng

Nhìn chung, các quan điểm triết học trước Mác và ngoài mácxít còn có một hạnchế cơ bản và phiến diện trong phương pháp tiếp cận lý giải các vấn đề triết học về conngười, cũng do vậy trong thực tế lịch sử đã tồn tại quan niệm lâu dài quan niệm trừutượng về bản chất con người và những quan niệm phi thực tiễn trong lý giải nhân sinh,

xã hội cũng như những phương pháp hiện thực nhằm giải phóng con người Nhữnghạn chế đó đã được khắc phục và vượt qua bởi quan niệm duy vật biện chứng của triếthọc Mác – Lênin về con người

1.1.2 Quan điểm về con người trong triết học Mác

Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh học với mặt xã hội

Trang 13

Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học, đồng thờikhẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội.

Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự tồn tại của con người là giới tự nhiên Do

đó, bản tính tự nhiên của con người bao hàm trong nó tất cả bản tính sinh học, tính loàicủa nó Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại củacon người

Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học, tính loài Yếu tốsinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người Vì

vậy, giới tự nhiên là “thân thể vô cơ của con người” [8; tr.135].

Con người là bộ phận của tự nhiên, là kết quả của quá trình phát triển và tiếnhóa lâu dài của môi trường tự nhiên Con người phải tìm kiếm mọi điều kiện cần thiếtcho sự tồn tại trong đời sống tự nhiên như thức ăn, nước uống, hang động để ở Đó làquá trình con người đấu tranh với tự nhiên để sinh tồn

Trải qua hàng chục vạn năm, các giai đoạn mang tính sinh học mà con ngườitrải qua được sinh thành, phát triển và mất đi quy định bản tính sinh học trong đờisống con người

Tuy nhiên, điều cần khẳng định mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhấtquyết định bản chất con người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thếgiới loài vật là phương diện xã hội của nó

Trong lịch sử đã có những quan niệm khác nhau phân biệt con người với loàivật, như con người là động vật sử dụng công cụ lao động, là một động vật có tính xãhội, hoặc con người là động vật có tư duy Những quan niệm trên đều phiến diện chỉ vìnhấn mạnh một khía cạnh nào đó trong bản chất xã hội của con người mà chưa nêu lênđược nguồn gốc của bản chất xã hội ấy

Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề conngười một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà trước

hết là lao động sản xuất ra của cải vật chất “Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Bản thân con người bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình – đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình” [14; tr.29].

Trang 14

Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người đã làm thay đổi, cải biến toàn

bộ giới tự nhiên: “Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên” [8; tr.137].

Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất; hoạtđộng sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con người Thôngqua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần,phục vụ cho đời sống của mình, hình thành và phát triển ngôn ngữ tư duy, xác lậpquan hệ xã hội Do vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội củacon người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội

Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển củacon người luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau, nhưng thống nhấtvới nhau Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật sự phù hợp cơ thể với môitrường, quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền, biến dị, biến hóa… quy định phươngdiện sinh học của con người Hệ thống các quy luật tâm lý ý thức hình thành và vậnđộng trên nền tảng sinh học của con người như hình thành tình cảm, khát vọng, niềmtin, ý chí Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người

Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động, tạo nên thể thống nhất trong đời sốngcon người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống cácnhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở;nhu cầu tái sản xuất xã hội; nhu cầu tình cảm; nhu cầu thẩm mĩ và hưởng thụ các giátrị tinh thần

Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ giữa mặtsinh học và xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong mỗi con người

là thống nhất Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội làđặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật Nhu cầu sinh học phải đượcnhân hóa để mang giá trị văn minh con người, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội khôngthể thoát ly khỏi nhu cầu sinh học Hai mặt trên thống nhất với nhau, hòa quyện vàonhau để tạo thành con người viết hoa, con người tự nhiên – xã hội

Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội

Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con người vượt lênthế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với

xã hội và quan hệ với chính bản thân con người Cả ba mối quan hệ đó, suy đến cùng,

Trang 15

đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa người với người là quan hệ bảnchất, bao trùm tất cả các quan hệ khác và mọi hoạt động chuẩn mực không liên quanđến con người.

Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên luận

đề nổi tiếng trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” [5, tr.11].

Luận đề trên khẳng định, không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điềukiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội Con người luôn luôn cụ thể, xác định, sống trong mộtđiều kiện lịch sử nhất định, một thời đại nhất định Trong điều kiện lịch sử đó, bằnghoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần đểtồn tại và phát triển cả về thể lực và tư duy trí tuệ Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ

xã hội đó (như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ

cá nhân, gia đình và xã hội…) con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình

Điều cần lưu ý bản chất xã hội của con người không có nghĩa là phủ nhận mặt

tự nhiên trong đời sống con người Song, ở con người, mặt tự nhiên, tồn tại trong sựthống nhất với mặt xã hội; ngay cả việc thực hiện những nhu cầu sinh vật ở con ngườicũng đã mang tính xã hội Quan niệm bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ

xã hội mới giúp chúng ta nhận thức đúng đắn, tránh khỏi cách hiểu thô thiển về mặt tựnhiên, cái sinh vật của con người

Luận điểm đó của Mác hoàn toàn không phủ nhận vai trò của các yếu tố sinhhọc và đặc điểm sinh học của con người Quan điểm của Mác cần chỉ rõ mặt xã hộitrong bản chất của con người Đó là không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điềukiện, hoàn cảnh cụ thể, xác định sống trong thực tiễn của mình, con người tạo ranhững giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ.Tính hiện thực của con người thể hiện sự tồn tại khách quan trong hoạt động thực tiễncủa con người Và hoạt động lao động xã hội quyết định đời sống của con người nênbản năng sinh vật được thu hút và hội nhập vào bản năng lao động – xã hội là đặc thùcủa con người

Ở đây, Mác đã phân biệt sự khác nhau giữa con người và con vật, đã khắc phục

sự thiếu sót của các nhà triết học trước Mác đã không thấy bản chất xã hội của conngười Và khi xác định bản chất của con người, Mác đã nêu bật cái chung, cái không

Trang 16

thể thiếu và có tính chất quyết định làm cho con người trở thành một con người xã hội.Trong đó, cái bản chất với ý nghĩa là cái phổ biến, cái mang tính quy luật chứ khôngthể là cái duy nhất Vì thế, cần phải thấy được các biểu hiện riêng biệt, phong phú và

đa dạng của mỗi cá nhân về phong cách, nhu cầu và lợi ích trong cộng đồng xã hội.Trong đó, cái bản chất với ý nghĩa là cái phổ biến, cái mang tính quy luật chứ khôngthể là cái duy nhất Vậy nên, cần phải thấy được các biểu hiện riêng biệt, phong phú và

đa dạng của mỗi cá nhân về phong cách, nhu cầu và lợi ích trong cộng đồng xã hội

Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử

Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người.Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của giới hữu sinh.Nhưng điều quan trọng là con người luôn là chủ thể của lịch sử - xã hội C.Mác khẳng

định: “Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục… cái học thuyết ấy quên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục”.[5, tr.10].

Như vậy, với tư cách là một thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tácđộng vào tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động và phát triển của lịch sử xã hội.Con người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình để làm phong phú thêmthế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình Ănghen đã

viết: “Thú vật cũng có một lịch sử, chính là lịch sử nguồn gốc của chúng và lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và không phải do ý muốn của chúng Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu” [6, tr.476].

Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình Conngười là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bảnthân con người Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của conngười, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt của xã hội Trên cơ sởnắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con người thông qua hoạt động vật chất và tinhthần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu con

Trang 17

người đặt ra Không có hoạt động của con người thì cũng không tồn tại quy luật xãhội, và do đó, không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người.

Trong tác phẩm Biện chứng tự nhiên, Ăngghen cho rằng: “Chỉ có con người là mới đạt được đến chỗ in cái dấu của mình lên giới tự nhiên, không chỉ bằng cách di chuyển các loài thực vật và động vật từ chỗ này sang chỗ khác, mà còn làm biến đổi

cả diện mạo, khí hậu của nơi họ ở, thậm chí còn làm biến đổi cả cây cỏ và các thú vật tới một mức độ mà kết quả hoạt động của họ chỉ mất, khi nào toàn bộ trái đất tiêu vong” [6, tr.475].

Như thế, với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn tác độngvào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của lịch sử xã hội,của thế giới loài vật dựa vào sự phong phú của thế giới loài vật dựa vào sự phong phúcủa thế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình Sản xuấtngày càng phát triển theo tính chất xã hội hóa ngày càng tăng, việc tiến hành sản xuấttập thể bằng lực lượng của toàn xã hội và sự phát triển mới của nền sản xuất do nómạng lại sẽ cần đến những con người hoàn toàn mới Trong quá trình cải biến tựnhiên, con người cũng đồng thời làm ra lịch sử của mình

Con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, là yếu tố hàngđầu đóng vai trò quan trọng quyết định trong lực lượng sản xuất của xã hội mà hơnnữa, con người còn đóng vai trò là chủ thể của quá trình hoạt động lịch sử Thông quahoạt động sản xuất vật chất, con người sáng tạo ra lịch sử của mình, lịch sử của xã hộiloài người Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của con người,vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt của xã hội

Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai đoạnphát triển nhất định của xã hội Do vậy, bản chất của con người, trong mối quan hệ vớiđiều kiện lịch sử xã hội luôn vận động và biến đổi, cũng phải thay đổi cho phù hợp.Mặc dù là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, nhưng con người có vai trò tích cực trongtiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể sáng tạo

Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải làm chohoàn cảnh này càng mang tính người nhiều hơn Hoàn cảnh đó chính là toàn bộ môitrường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynh hướng phát triển nhằmđạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa định hướng giáo dục Thôngqua đó, con người tiếp nhận hoàn cảnh một cách tích cực và tác động trở lại hoàn cảnh

Trang 18

trên nhiều phương diện khác nhau: hoạt động thực tiễn, quan hệ ứng xử, hành vi conngười, sự phát triển của sản phẩm trí tuệ và năng lực tư duy, các quy luật nhận thứchướng con người tới hoạt động vật chất Đó là biện chứng của mối quan hệ giữa conngười và hoàn cảnh trong bất kì giai đoạn nào của lịch sử xã hội loài người Bên cạnh

đó, với tư cách là con người xã hội, là con người của hoạt động thực tiễn thì một điềuchắc chắn rằng con người không chỉ biết cải tạo tự nhiên mà còn cải tạo lịch sử chomình Con người không những là sản phẩm của xã hội mà còn là chủ thể cải tạo chúng.Bằng hoạt động lao động sản xuất con người sáng tạo ra toàn bộ nền văn hóa vật chất

và tinh thần; bằng những hoạt động cách mạng, con người đã đánh dấu thêm nhữngtrang sử mới cho chính mình Lúc này có thể khẳng định rằng nếu không có con ngườivới tư cách là chủ thể sinh động nhất của xã hội, không thể có sự vận động của xã hội

Quan hệ giữa cá nhân và xã hội

Khái niệm cá nhân được phân biệt với khái niệm con người vì con người là kháiniệm dùng để chỉ tính phổ biến trong bản chất người của tất cả các cá nhân Ở đây, cánhân là khái niệm chỉ con người cụ thể sống trong một xã hội nhất định với tư cách là

cá thể, mỗi thành viên trong xã hội ấy được phân biệt với các cá thể khác thông quatính đơn nhất và tính phổ biến của nó Mỗi cá nhân có đời sống riêng, có quan hệ xãhội riêng, nhưng điều đó không loại trừ tính chung trong mỗi cá nhân là thành viên của

xã hội và mang bản chất của xã hội

Xã hội do cá nhân tạo nên Các cá nhân sống và hoạt động theo nhóm, cộngđồng và tập đoàn xã hội khác nhau, mang tính lịch sử xác định Yếu tố xã hội là đặctrưng cơ bản để hình thành cá nhân

Như vậy, cá nhân là một chỉnh thể đơn nhất, vừa mang tính cá biệt, vừa mangtính phổ biến, là chủ thể của lao động, của mọi quan hệ xã hội và của nhận thức nhằmthực hiện chức năng cá nhân và chức năng xã hội trong một giai đoạn phát triển nhấtđịnh của lịch sử xã hội

Để phân biệt cá nhân cần chú ý đến nhân cách của cá nhân đó Nhân cách làkhái niệm chỉ bản sắc độc đáo, riêng biệt của mỗi cá nhân, là nội dung và tính cáchbên trong của mỗi cá nhân Bởi vậy, nếu cá nhân là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa cáthể với giống loài thì nhân cách là khái niệm chỉ sự khác biệt của các cá nhân Cá nhân

là phương thức biểu hiện của giống loài còn nhân cách vừa là nội dung, vừa là cáchthức biểu hiện của mỗi cá nhân riêng biệt Nhân cách là khái niệm chỉ bản sắc độc đáo,

Trang 19

riêng biệt của mỗi cá nhân Bởi vậy, nếu cá nhân là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa cáthể với giống loài còn nhân cách vừa là nội dung, vừa là cách thức biểu hiện của mỗi

cá nhân riêng biệt Ngoài ra, nhân cách còn biểu hiện cái tôi giữa các cá nhân, là sựtổng hợp giữa các yếu tố sinh học, tâm lí, xã hội, tạo nên đặc trưng riêng của mỗi cánhân, đóng vai trò chủ thể tự ý thức, tự đánh giá, tự khẳng định và tự điều chỉnh mọihoạt động của mình Hơn nữa, nhân cách không phải là cái bẩm sinh, sẵn có mà đượchình thành và phát triển phụ thuộc vào ba yếu tố sau đây:

Thứ nhất, nhân cách phải dựa trên tiền đề sinh học và tư chất di truyền học, một cá

thể sống phát triển cao nhất của giới hữu sinh

Thứ hai, môi trường xã hội là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển của

nhân cách thông qua sự tác động biện chứng của gia đình, nhà trường và xã hội củamỗi cá nhân

Thứ ba, hạt nhân của nhân cách là thế giới quan cá nhân, bao gồm toàn bộ các yếu

tố như quan điểm, lí luận, niềm tin, định hướng giá trị

Dựa trên nền tảng thế giới quan cá nhân để hình thành các thuộc tính bên trong

về năng lực, về phẩm chất xã hội như năng lực trí tuệ, chuyên môn, phẩm chất giá trị,đạo đức, pháp luật, thẩm mĩ

Một xã hội tiến bộ là một xã hội mà mỗi cá nhân phát triển nhân cách của mìnhtheo hướng tích cực, phát huy vai trò động lực, chủ thể sáng tạo của mỗi cá nhân

Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, xã hội giữ vai trò quyết định đối với

cá nhân Quan hệ giữa cá nhân và xã hội là vấn đề có ý nghĩa lớn được đề cập mộtcách toàn diện và sâu sắc trên cơ sở chủ nghĩa duy vật lịch sử

Trong bất cứ giai đoạn nào, cá nhân cũng không tách rời xã hội Là một hiệntượng lịch sử, quan hệ cá nhân – xã hội luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển, sựthay đổi về chất chỉ diễn ra khi có sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội này với hìnhthái kinh tế - xã hội khác Bởi vậy, thực chất của việc tổ chức xã hội là giải quyết cácquan hệ lợi ích nhằm tạo khả năng cao nhất cho mỗi cá nhân tác động vào quá trìnhkinh tế, xã hội, cho sự phát triển được thực hiện Xã hội càng phát triển thì cá nhâncàng có điều kiện để tiếp nhận ngày càng nhiều những giá trị vật chất và tinh thần Mặtkhác, mỗi cá nhân trong xã hội càng phát triển thì càng có điều kiện để thúc đẩy xã hộitiến lên Vì vậy, thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu và lợi ích chính đáng của cá nhân

là mục tiêu và động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội

Trang 20

Nếu vấn đề chăm sóc và phát triển những nhu cầu và năng lực phong phú, đadạng của mỗi cá nhân hoàn toàn không mâu thuẫn với sự phát triển của xã hội, đồngthời nhân cách của mỗi cá nhân trong xã hội ngày càng phát triển thì càng có điều kiện

để thúc đẩy xã hội tiến lên Do đó, cá nhân tác động đến xã hội tùy thuộc vào trình độcủa cá nhân Những cá nhân có đạo đức và tài năng thường đóng góp tích cực và xứngđáng vào sự phát triển của xã hội Ở đây, mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích

xã hội do sự quy định về mặt khách quan và chủ quan Mặt khách quan biểu hiện ởtrình độ phát triển và năng suất lao động Mặt chủ quan biểu hiện ở khả năng nhậnthức và vận dụng quy luật xã hội phù hợp với mục đích của con người

Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội và ngay cả dưới chế độ xã hội chủnghĩa, những mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội vẫn còn đang tồn tại Do đó cần giảiquyết đúng đắn quan hệ cá nhân – xã hội, cần nên tránh những thái độ cực đoan nhưchỉ thấy cá nhân mà không thấy xã hội hoặc ngược lại

Ở nước ta hiện nay, nền kinh tế thị trường đang thúc đẩy sự phát triển củalượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, tạo cơ sở vật chất và văn hóa tinh thầnngày càng đa dạng và phong phú Lợi ích cá nhân ngày càng được chú ý, tạo ra cơ hộimới để phát triển cá nhân Tuy nhiên cơ chế này có thể dẫn đến tuyệt đối hóa lợi íchkinh tế, dẫn đến phân hóa giàu nghèo trong xã hội, chứa đựng những khả năng đối lậpgiữa cá nhân và xã hội Do đó, chúng ta cần khắc phục mặt trái của cơ chế thị trường,phát huy vai trò nhân tố con người, thực hiện chiến lược con người của Đảng ta là mộtmục tiêu có ý nghĩa quyết định để giải quyết tốt mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội

Theo tinh thần nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chỉra: Xây dựng con người Việt Nam có tinh thần yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội, có ýthức tự cường dân tộc, trách nhiệm cao trong lao động, có lương tâm nghề nghiệp, cótác phong công nghiệp, có ý thức cộng đồng, tôn trọng nghĩa tình, có lối sống văn hóa,quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội

1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về con người

1.2.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh

Mỗi thời đại, mỗi giai cấp có sự nhìn nhận khác nhau về con người Hồ ChíMinh thường nói tới con Lạc cháu Hồng, Người đã có cảm nhận thiêng liêng về hai

tiếng “đồng bào” Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và qua hoạt động thực

Trang 21

tiễn, Hồ Chí Minh sử dụng khái niệm: người bản xứ bị bóc lột; người mất nước; người

da đen; người cùng khổ; người vô sản,

Đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, từ khi về nước lãnh đạo nhân

dân đấu tranh giành chính quyền cách mạng, Hồ Chí Minh đụng đến khái niệm: đồng bào; quốc dân… Khi miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Người dùng thêm nhiều khái niệm như: công nhân; trí thức; lao động chân tay;…

Từ thập kỉ bốn mươi của thế kỉ XX, Hồ Chí Minh bàn đến chữ “người” vớinhiều nghĩa và phạm vi khác nhau.Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, không có con người

trừu tượng Người viết “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn Nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng hơn là cả loài người” [19; tr.644] Như vậy, có

thể thấy, Hồ Chí Minh xem xét con người trong các quan hệ xã hội của nó Cách tiếpcận vấn đề con người như vậy là phù hợp với cách tiếp cận chủ nghĩa Mác

Chủ nghĩa Mác – Lênin được Hồ Chí Minh tiếp thu và truyền bá vào trongnước đã nâng cao truyền thống dân tộc về con người, góp phần hình thành một cáchhoàn chỉnh tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh, khẳng định thêm những tư tưởng màNgười đã tiếp thu truyền thống của dân tộc chung quanh vấn đề con người Đối với HồChí Minh, con người vừa tồn tại với tư cách cá nhân, vừa là thành viên của gia đình vàcộng đồng, có cuộc sống tập thể và cuộc sống cá nhân hài hòa, phong phú

Bao giờ Hồ Chí Minh cũng nói đến con người cụ thể, lịch sử Chưa bao giờ thừanhận con người một cách chung chung, trừu tượng Tùy theo từng thời điểm lịch sử cụ thểgắn liền với từng thời kì cách mạng, Người dùng khái niệm này hay khái niệm khác để chỉ

“con người” và xem xét nó trên những bình diện, những chiều khác nhau.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, con người Việt Nam đã trở thành người tự docùng với toàn thể nhân dân làm chủ đất nước Hồ Chí Minh thường dùng các khái

niệm: đồng bào; nhân dân; quốc dân; dân;… và qua đó đặt con người trong quan hệ

gắn bó với khối thống nhất của cộng đồng dân tộc

Cách tiếp cận cơ bản nhất của Hồ Chí Minh là thống nhất lập trường giai cấpvới lập trường dân tộc, cũng như cách tiếp cận xuyên suốt tư tưởng Hồ Chí Minh và là

sự vận dụng sáng tạo lập trường giai cấp vô sản vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam

Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không tồn tại như một phạm trù bản thểluận có tính trừu tượng hóa và khái quát hóa, mà được đề cập đến một cách cụ thể, đó

là nhân dân Việt Nam, những con người lao động nghèo khổ bị áp bức cùng cực dưới

Trang 22

ách thống trị của bọn thực dân phong kiến Trong tư tưởng Hồ Chí Minh con ngườiđược nhìn nhận là mục tiêu của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, vừa là

động lực của chính sự nghiệp đó Người viết: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng, ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng Đối với những người có thói hư tật xấu, trừ hạng người phản bội Tổ Quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho các phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời” [19; tr.558].

Hồ Chí Minh chỉ dùng khái niệm “CON NGƯỜI” trong một số trường hợp hãn

hữu Trong Tuyên ngôn của Hội liên hiệp thuộc địa, Người viết rằng nhân dân thuộc địa bị tước đoạt mất các quyền lợi gắn liền với phẩm giá con người Và trong bản bổ sung cho Di chúc, Người viết: “Đầu tiên là công việc đối với con người” [20; tr.383].

Con người với những đặc điểm nói trên cốt lõi của tư tưởng nhân văn Hồ ChíMinh và thể hiện ở ba nội dung:

Thứ nhất, sự cảm nhận, cảm thông hết sức sâu sắc mọi niềm đau khổ của con người

nô lệ và con người cùng khổ Có thể thấy rõ điều này qua các bài viết của Người tố cáotội ác mà chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và chế

độ tư bản chủ nghĩa gây ra cho con người

Thứ hai, quyết tâm hy sinh chiến đấu để giải phóng con người Người viết: Tôi chỉ

có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân tađược hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành

Thứ ba, tin tưởng vào khả năng tự giải phóng của con người và không ngừng rèn

luyện, phát huy khả năng ấy

Mục tiêu cách mạng của Hồ Chí Minh là giải phóng dân tộc, giải phóng giaicấp, thực hiện độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Khi đất nước còn nô lệ, lầm than thì mục tiêu trước hết phải là giải phóng dântộc, giành độc lập dân tộc Sau khi chính quyền đã về tay nhân dân, thì mục tiêu ăn,mặc, ở, đi lại, học hành được ưu tiên hơn Bởi Người cho rằng, nếu nước độc lập màdân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lí gì; vì vậy, chúng

ta cần thực hiện ngay: làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở,làm cho dân được học hành

Trang 23

Khẳng định con người là mục tiêu, là động lực của cách mạng thì điều quantrọng là mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Chính phủ đều vì lợi íchchính đáng của con người Có thể đó là lợi ích lâu dài, lợi ích trước mắt; lợi ích của cảdân tộc và lợi ích của bộ phận, giai cấp, tầng lớp và cá nhân.

Con người là động lực của cách mạng được nhìn nhận trên phạm vi cả nước,toàn thể đồng bào, song trước hết là ở giai cấp công nhân và nông dân Điều này có ýnghĩa to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội

Tuy nhiên, không phải mọi con người ai cũng trở thành động lực, mà phải lànhững con người được thức tỉnh, giác ngộ, giáo dục, định hướng và tổ chức Họ phải

có trí tuệ và bản lĩnh, văn hóa, đạo đức, được nuôi dưỡng trên truyền thống lịch sử vàvăn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam

Con người là động lực chỉ có thể thực hiện được khi hoạt động có tổ chức, cólãnh đạo

Vì vậy, vai trò của Đảng cách mạng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tưtưởng là vô cùng quan trọng Qua các phong trào cách mạng quần chúng, Đảng sẽnhân sức mạnh của con người lên gấp bội

Trong khi nhận thức sâu sắc, đầy đủ vai trò động lực của con người thì phảithấy mối quan hệ biện chứng giữa con người với mục tiêu và con người với động lực.Càng chăm lo cho con người và mục tiêu tốt bao nhiêu thì sẽ phát huy con người vàđộng lực tốt bao nhiêu Ngược lại, tăng cường được sức mạnh của con người và độnglực thì sẽ nhanh chóng đạt được mục tiêu cách mạng

Hồ Chí Minh nêu bật ý nghĩa của chiến lược xây dựng con người mới Trên cơ

sở khẳng định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng, Hồ ChíMinh rất quan tâm tới sự nghiệp giáo dục, đào tạo, rèn luyện con người Người nói tới:lợi ích trăm năm, và mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội là những quan điểm mangtầm vóc chiến lược, cơ bản lâu dài, nhưng cũng rất cấp bách

Như vậy, con người phải được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển Nó vừanằm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước với nghĩa rộng, vừa nằmtrong chiến lược giáo dục – đào tạo theo nghĩa hẹp

Người khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” [19; tr.310].

Trang 24

Con người xã hội chủ nghĩa đương nhiên phải do chủ nghĩa xã hội tạo ra.Nhưng ở đây trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội thì cần có những con người xãhội chủ nghĩa Điều này cần được hiểu là ngay từ đầu phải đặt ra nhiệm vụ xây dựngcon người có những phẩm chất cơ bản, tiêu biểu cho con người xã hội chủ nghĩa, làmgương, lôi cuốn xã hội Công việc này là quá trình lâu dài không ngừng hoàn thiện,nâng cao và thuộc về trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, gia đình, cá nhân mỗi người.

Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người xã hội chủ nghĩa có hai mặt gắn bóchặt chẽ với nhau

Một là, kế thừa những giá trị tốt đẹp của con người truyền thống (Việt Nam và

phương Đông)

Hai là, hình thành những phẩm chất mới như: có tư tưởng xã hội chủ nghĩa; có đạo

đức cách mạng; có trí tuệ và bản lĩnh để làm chủ; có tác phong xã hội chủ nghĩa; cólòng nhân ái, vị tha, độ lượng

Tóm lại, trong tư tưởng Hồ Chí Minh con người được nhìn nhận vừa là mụctiêu của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, vừa là động lực của chính sựnghiệp đó Tư tưởng đó được thể hiện triệt để và cụ thể trong lí luận chỉ đạo cáchmạng dân tộc dân chủ nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

1.2.2.Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời làđội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thànhlợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc

Trong xã hội hiện đại, nguồn tài nguyên đích thực và quý giá nhất của mỗi quốcgia chính là con người của quốc gia đó Do vậy, mục đích phát triển kinh tế – xã hộixét đến cùng là vì con người, để được như vậy chúng ta cần tạo môi trường thuận lợi

để con người có cuộc sống hạnh phúc, có sức khỏe và có cơ hội phát huy mọi năng lựcsáng tạo

Tuy nhiên trên thực tế, không phải quốc gia nào cũng nhận thức được điều đó,ngoài việc dựa trên sự phát triển về kinh tế, còn phụ thuộc vào bản chất chính trị cũngnhư sự nhận thức của lực lượng lãnh đạo xã hội về vị trí, vai trò của con người trong

sự phát triển của xã hội

Trang 25

Trong quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, thực chất của tiến trình lịch sử xã hội

vì con người, vì cuộc sống ngày càng hạnh phúc và tốt đẹp cho con người, vì cuộcsống của con người và sự phát triển toàn diện của con người

Ở Việt Nam, trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc

và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức ngày càng đầy

đủ, đúng đắn hơn về nhân tố con người cũng như tầm quan trọng của việc phát triểncon người

Phát triển con người, thường xuyên chăm lo cho hạnh phúc của mỗi người, mỗigia đình luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam đặt lên hàng đầu với khẩu hiệu: gia đình

là tế bào của xã hội Điều này hoàn toàn phù hợp với tôn chỉ của Đảng luôn được xácđịnh ngay từ khi mới thành lập và giữ vững trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng:ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam không

có lợi ích nào khác

Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, đặc biệt trong công cuộc đổi mới toàndiện đất nước, Đảng nhận thức, bổ sung và phát triển ngày càng đầy đủ hơn, đúng đắnhơn những tư tưởng sâu sắc, có ý nghĩa chỉ đạo và định hướng về vấn đề con ngườitrong lí luận của những mục tiêu của công việc xây dựng chủ nghĩa xã hội với nhữngbước đi thiết thực và những nội dung cơ bản nhất

Trong thời kì đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định rằng, nguồn lựcquý báu nhất, có vai trò quyết định nhất là con người Việt Nam Nhân tố con ngườichính là nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam

Đối với một nước chủ động lựa chọn và kiên trì con đường phát triển theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam trong thời kì đổi mới thực sự xuất phát từ conngười, vì mục tiêu phát triển con người Thật vậy, đường lối phát triển kinh tế - xã hội,

Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định, chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ xã hội “do nhân dân lao động làm chủ”,“con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc,

có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân” [20, tr.66].

Vì thế, phương hướng và mục tiêu lớn nhất của chính sách xã hội, như Đảng

Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ là “phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân, kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa đáp ứng những nhu

Trang 26

cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài, giữa các cá nhân với tập thể và cộng đồng

xã hội” [9; tr.13]

Tại Đại hội VIII, Đảng đã khẳng định “tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện ở khâu phân phối hợp lí tư liệu sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình” [11; tr.113] Thể

hiện quan điểm của Đảng lấy con người là trung tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội.Nói cách khác, thực hiện công bằng xã hội trên các phương diện kinh tế, chính trị, vănhóa, xã hội và trong từng chính sách phát triển chính là biện pháp tích cực nhất để pháttriển toàn diện con người

Với việc kế thừa các Đại hội trước, Đại hội X đã chỉ rõ “Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta cần nâng cao hơn nữa chất lượng nguồn nhân lực con người, cần xây dựng hoàn thiện giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lí tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam” [12; tr.106].

Trong báo cáo tổng kết một số vấn đề lí luận – thực hiện qua 20 năm đổi mới

(1986 – 2006), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định “con người là vốn quý nhất, phát triển con người với tư cách vừa là động lực vừa là mục tiêu của cách mạng, của sự nghiệp đổi mới đất nước; gắn vấn đề nhân tố con người với tinh thần nhân văn nhằm tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện, sống trong xã hội công bằng nhân ái, với những quan hệ xã hội lành mạnh Con người và sự phát triển con người được đặt vào vị trí trung tâm của chiến lược kinh tế - xã hội, mở rộng cơ hội, nâng cao điều kiện cho con người phát triển” [10, tr.79] Những kết quả to lớn và quan

trọng đó trong vấn đề con người ở nước ta suốt thời gian qua mang nhiều ý nghĩa tíchcực: thể hiện một cách sinh động, hiện thực quan điểm của Đảng coi con người là mụctiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội; đó còn là phương thức đầu tư chiến lược phùhợp với xu thế phát triển kinh tế - xã hội; đó còn là phương thức đầu tư chiến lược phùhợp với xu thế phát triển của thời đại – đầu tư cho con người với tư cách nguồn lực cơbản nhất của sự phát triển bền vững

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, vấn đề con người không chỉ là chăm lo cuộcsống vật chất và tinh thần ngày càng tốt hơn cho nhân dân với tư cách mục tiêu của sựphát triển xã hội, mà còn bồi dưỡng toàn diện về thể chất, trí tuệ, đạo đức và nhân cách

Trang 27

con người nhằm tạo tiền đề cho sự phát huy nguồn lực này với tư cách động lực quantrọng và căn bản nhất cho sự phát triển toàn diện, từ đó tạo nên nguồn nhân lực có chấtlượng cao cho xã hội không thể chỉ dựa vào giáo dục – đào tạo, mặc dù đây là giảipháp căn bản Sự phát triển toàn diện của con người cũng như sự hiện hữu của nguồnnhân lực có chất lượng cao chỉ có thể là kết quả tổng hợp của kinh tế, chính trị, vănhóa và xã hội; đồng thời, đó là sản phẩm của sự nỗ lực, chung sức, đồng lòng và đầytrách nhiệm của nhiều cấp, nhiều ngành, của toàn xã hội.

Tóm lại, đất nước ta ngày càng lớn mạnh Thế giới đang thay đổi rất nhanh Vìvậy, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩymạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trởthành nước công nghiệp hiện đại Nhân dân ta phải được hưởng cuộc sống ấm no, tự

do, hạnh phúc

Đại hội XI của Đảng nêu cao ý chí sắt đá của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta,triệu người như một, năng động và sáng tạo, nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức,quyết tâm đổi mới toàn diện và mạnh mẽ theo con đường xã hội chủ nghĩa, nhằm thựchiện cho bằng được mục tiêu cao cả, xây dựng đất nước ta dân giàu, nước mạnh, dânchủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, sánh vai cùng các nướctrên thế giới trong nhịp bước khẩn trương của thời đại

Trang 28

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Thực trạng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay

2.1.1 Khái niệm nguồn lực, nguồn nhân lực

Khái niệm nguồn lực: Nguồn lực là tất cả những gì tạo ra sức mạnh cho các

hoạt động của con người và cho sự phát triển

Thông thường nguồn lực được chia thành 3 loại: nguồn nhân lực, tài lực và vậtlực Đây cũng là một cách chia có tính tương đối trên thực tế các nguồn lực tồn tạidưới nhiều dạng khác nhau Có những thứ xuất hiện từ quá khứ Nó vẫn phát huy sứcmạnh của nó trong một lịch sử nhất định và giờ đây nó đang tồn tại như một hệ thống.Cái truyền thống đó cũng có sức mạnh của nó và nó được xem là một nguồn lực tạo đàcho sự phát triển Do đó, nguồn lực không chỉ là nguồn lực con người, nguồn lực về tàichính hay là cơ sở vật chất mà bao gồm cả những giá trị truyền thống nằm trong lịch

sử, nằm trong văn hóa, còn là những năng lực tiềm ẩn

Tóm lại, tất cả những gì đã, đang và sẽ tạo ra cơ hội; tạo ra thế, lực cho các hoạtđộng, cho sự phát triển nói chung Trong số các nguồn lực thì nguồn lực con người làquan trọng nhất và có vai trò quyết định đối với sự phát triển

Khái niệm nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực tức là nguồn lực con người Đó là

tất cả những gì thuộc về con người mà có thể tạo ra sức mạnh cho sự phát triển củamột tổ chức, một địa phương, một vùng miền, một quốc gia

Trong lí thuyết phát triển, nguồn nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu theonguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của cácnguồn lực có khả năng huy động, tổ chức quản lí để tham gia quá trình phát triển kinh

tế - xã hội như nguồn lực vật chất (Physical Resources), nguồn lực tài chính (FinancialResources)

Nguồn nhân lực là yếu tố hàng đầu quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia

Vì vậy, cần xây dựng và xây dựng một nguồn nhân lực có chất lượng Đặc biệt là xâydựng một đội ngũ lao động có chất lượng Các nhà kinh tế học đang lo lắng về mộtcuộc khủng hoảng nhân sự trong phạm vi toàn cầu Và Việt Nam hiện nay đang đứngtrước những thách thức rất to lớn về nguồn nhân lực, chất lượng, chưa đáp ứng được

Trang 29

những yêu cầu của sự phát triển, đặc biệt là trình độ tay nghề của người lao động, trình

độ tiếp cận khoa học công nghệ của người lao động

Tuy nhiên, trong bước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơchế thị trường với xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa cộng với toàn cầu hóa, vìviệc hội nhập kinh tế vừa là cơ hội nhưng cũng vừa là thách thức đối với ta, đặc biệt lànguồn nhân lực quốc gia, nhiều nhà khoa học đã dự báo rằng nếu không chăm lo pháttriển nguồn nhân lực quốc gia thì nguy cơ tất yếu của Việt Nam là thua trên sân nhà

Do vậy, nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực được xem xét dưới góc lao động

Nguồn nhân lực là lực lượng chính tham gia vào quá trình lao động, tạo ra củacải cho xã hội và thúc đẩy sự đi lên của xã hội Do đòi hỏi của quá trình công nghiệphóa – hiện đại hóa nên nguồn lực này cũng có năng lực tương xứng: Có đức có tài,ham học hỏi thông minh sáng tạo, làm việc quên mình vì Tổ quốc, được chuẩn bị tốt

về kiến thức văn hóa, được đào tạo thành thạo về kĩ năng nghề nghiệp, về năng lực sảnxuất kinh doanh điều hành vĩ mô nền kinh tế toàn xã hội, có trình độ khoa học kĩ thuậtvươn lên ngang tầm thế giới…

Nguồn nhân lực cũng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau:

Trong lí luận về lực lượng sản xuất thì con người được xem là lực lượng sảnxuất hàng đầu là yếu tố quan trọng và quyết định năng suất lao động Như vậy, nguồnnhân lực được xem xét dưới dạng lao động dưới góc độ lao động

Trong lí luận về vốn con người thì con người được coi như một loại vốn có thểđầu tư để phục vụ cho quá trình phát triển

Theo Ngân hàng Thế giới thì vốn đó bao gồm 3 phương diện: trí lực, thể lực, kĩnăng nghề nghiệp

Như vậy, nguồn nhân lực được nhìn nhận dưới dạng tiềm năng như là một loạivốn đầu tư cho sự phát triển

Theo định nghĩa của Liên Hợp quốc, nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, làkiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hoặc tiềm năng kinh tế - xã hộitrong cộng đồng

Nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp và để có thể lượng hóa được trong công tác kếhoạch hóa ở nước ta được quy định là một bộ phận của dân số, bao gồm những ngườitrong độ tuổi lao động có khả năng lao động theo quy định của Bộ Luật Lao động ViệtNam (Nam đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ đủ 15 đến hết 55 tuổi)

Trang 30

Trên cơ sở đó, một số nhà khoa học Việt Nam đã xác định nguồn nhân lực haynguồn lực con người bao gồm lực lượng lao động và lao động dự trữ Trong đó lựclượng lao động được xác định là người lao động đang làm việc và người trong độ tuổilao động có nhu cầu nhưng không có việc làm ( người thất nghiệp) Lao động dự trữbao gồm học sinh trong độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động nhưng không

có nhu cầu lao động

Nguồn nhân lực trong một chừng mực nhất định nó còn được thể hiện qua dân

số, qua cơ cấu dân số và chất lượng của dân số

Như vậy, chúng ta thấy có nhiều góc độ tiếp cận khác nhau về nguồn nhân lực

Từ đó có nhiều cách hiểu khác nhau về nguồn nhân lực Tuy nhiên, qua các cách hiểunêu trên chúng ta rút ra một số nhận xét về nguồn nhân lực như sau:

Nguồn nhân lực thể hiện lực lượng lao động của xã hội kể cả những năng lựctiềm ẩn, giá trị truyền thống và khả năng lao động hiện tại

Nguồn nhân lực thể hiện qua dân số, qua số lượng, qua cơ cấu và chất lượngcủa dân số

Nguồn nhân lực biểu hiện chủ yếu qua chất lượng của con người thể hiện qua cácmặt về thể lực về các khả năng, tính năng động thích ứng với yêu cầu của sự phát triển

2.1.2 Chất lượng của nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay

Dù thời đại nào, nguồn nhân lực cũng luôn là yếu tố quan trọng nhất quyết địnhsức mạnh của một quốc gia Bởi chúng ta biết rằng mọi của cải vật chất đều được làmnên từ bàn tay và trí óc của con người

Trong quá trình toàn cầu hoá như hiện nay, nền kinh tế nào dựa nhiều vào trithức sẽ tạo ra nhiều cơ hội phát triển, duy trì được tốc độ phát triển kinh tế cao, sửdụng hiệu quả mọi nguồn lực, tạo nhiều công ăn việc làm, giải quyết tốt hơn các quan

hệ xã hội, cải thiện đời sống con người,… Trong điều kiện mới đó, sự phát triển củamỗi quốc gia phụ thuộc vào nguồn nhân lực chủ yếu, thay vì dựa vào nguồn tàinguyên, vốn vật chất như trước đây Các lí thuyết về tăng trưởng kinh tế gần đây cũngchỉ ra rằng động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là yếu

tố con người, nguồn nhân lực

Đối với Việt Nam, một nước còn nhiều hạn chế về nguồn lực tài chính, vànguồn tài nguyên chưa được sử dụng hiệu quả thì nguồn lực con người đóng vai tròquyết định So với nhiều nước trên thế giới thì Việt Nam có lợi thế dân số đông Nếu

Trang 31

được đào tạo thì đó sẽ là nguồn nhân lực có tác động tích cực trực tiếp đến tốc độ tăngtrưởng kinh tế Do vậy, hơn bất cứ nguồn lực nào khác, nguồn nhân lực chiếm vị trítrung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Đây là nguồn lực của mọi nguồnlực, là nhân tố quan trọng bậc nhất để đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệpphát triển.

Theo nguồn Niên giám thống kê, Hà Nội, 2008: Việt Nam chúng ta đang cónguồn nhân lực dồi dào với dân số cả nước gần 86 triệu người (Tính đến ngày1/4/2009, dân số Việt Nam: 85.789.573 người), nước đông dân thứ ba trong khu vực.Trong đó, số người trong độ tuổi lao động tăng nhanh và chiếm một tỉ lệ cao khoảng67% dân số cả nước Cơ cấu Dân số vàng ở nước ta bắt đầu xuất hiện từ năm 2010 vàkết thúc vào năm 2040, kéo dài khoảng 30 năm Rõ ràng Việt Nam đang có thế mạnhlớn về nguồn lực lao động nhưng tại sao chúng ta vẫn đang gặp nhiều khó khăn trongviệc thúc đẩy kinh tế đi lên? Có nhiều nguyên nhân lí giải cho vấn đề này, trong đóchất lượng nguồn nhân lực hiện nay của nước ta được xem là nguyên nhân mấu chốt

Như chúng ta đã biết, trong gần 86 triệu người ở Việt Nam thì nông dân chiếmgần khoảng 73% dân số cả nước Điều này cho thấy nông dân vẫn là lực lượng laođộng xã hội chiếm tỉ lệ cao nhất Nông dân ta bao đời nay vẫn lấy nghề trồng lúa nước

là nghề chính Họ vẫn đang sản xuất một cách tự phát, manh mún Họ vẫn nghĩ rằngtrồng lúa là nghề dễ nhất, không cần học vẫn làm được, thế là cứ truyền qua muôn đời.Nhìn vào thực tế, sản xuất của nông dân ta thấy rằng dù mấy nghìn năm phát triển xãhội nhưng cách trồng lúa của người Việt hôm nay cũng chưa tiến bộ hơn cách trồnglúa của người Việt xưa là mấy, vẫn còn tồn tại cảnh: con trâu đi trước, cái cày đi sau.Mặc dù bây giờ đã có sự liên kết nhà khoa học với nhà nông nhưng cũng chưa tạođược những đột phá đem lại hiệu quả Hiện nay, nông dân đã mở ra nhiều ngành nghề

để tạo việc làm và thu nhập nhưng hiệu quả kinh tế vẫn chưa cao nguyên nhân là cònthiếu áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất vẫn nặng cái kiểu tư duy: lấy công làm lãihoặc không thua chị kém em Rõ ràng nguồn lực nông dân dồi dào nhưng chất lượngvẫn còn yếu kém

Bên cạnh đó, do dân số tăng nhanh trong nhiều năm (gần bằng 2%) nên nguồnnhân lực nước ta có cơ cấu trẻ Nhóm tuổi từ 16 – 35 chiếm 65,2% nguồn nhân lựctrong đó đặc biệt là nhóm tuổi 16 – 24 là nhóm ưu thế về trình độ văn hóa, chuyênmôn về thể lực, có sức tiếp thu nhanh các tiến bộ khoa học – công nghệ, năng động

Ngày đăng: 16/04/2015, 22:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Khác
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Giáo trình Triết học Mác_Lênin, Nxb chính trị quốc gia Hà Nội Khác
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb chính trị quốc gia Hà Nội Khác
4. C.Mác và Ph.Ăngghen (1980), Tuyển tập (tập 1), Nxb Sự thật Hà Nội Khác
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Ban chấp hành trung ương, Ban tổng kết chỉ đạo lí luận: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lí luận – thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986 – 2006), Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Khác
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Khác
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Khác
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Khác
14. Đặng Chuẩn, Con người là gì? Báo Quốc tế, số 9, ngày 15 – 10- 2000 Khác
15. Hoàng Thanh Sơn (2008), Nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển con người trong thời kì đổi mới, Tạp chí Triết học số 206 Khác
17. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập (tập 4), Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội 18. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập (tập 1), Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội 19. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập (tập 5), Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội 20. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập (tập 12), Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Khác
21. Hội đồng lí luận Trung ương (2004), Giáo trình triết học Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Khác
22. Hội đồng lí luận Trung ương (2008), Giáo trình triết học Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Khác
23. Khoa Giáo dục chính trị, trường Đại học sư phạm Tp. HCM (2008), Hỏi và đáp môn tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ Khác
24. Kỷ yếu Hội thảo khoa học (1999), Thực trạng và nhu cầu phát triển nhân lực Khoa học – Công nghệ trong lĩnh vực công nghệ sinh học ở nước ta thời kì công nghiệp hóa và hiện đại hóa, Viện NCPTGD Hà Nội Khác
25. Nguyễn Thành Trung (2008), Vai trò của con người là vấn đề phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay, Tạp chí Triết học số 206 26. Nguyễn Hữu Vui (2006), Lịch sử triết học, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Khác
27. Trần Khánh Đức (2002), Giáo dục kĩ thuật – nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực, Nxb Giáo dục Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w