1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận kinh tễ vi mô đề tài phân tích ngành xây dựng việt nam

22 713 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sản phẩm của xây dựng là phương tiện cho các hoạt động lao động sản xuất dịch vụ khác: nhà máy để sản xuất công nghiệp, cầu, đường là phương tiện của ngành giao thông, đê đập là phương t

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH 3

1.1 Chuyên ngành và các sản phẩm của ngành: 3

1.1.1 Chuyên ngành thủy lợi và thủy điện: 3

1.1.2 Chuyên ngành cảng, công trình biển: 3

1.1.3 Chuyên ngành cầu đường: 3

1.1.4 Chuyên ngành dân dụng và chuyên nghiệp: 3

1.1.5 Chuyên ngành xây dựng nông nghiệp: 3

1.1.6 Chuyên ngành cấp thoát nước đô thị: 3

1.1.7 Chuyên ngành môi trường: 3

1.2 Đặc thù của ngành: 3

CHƯƠNG 2: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGÀNH XÂY DỰNG 6

2.1 Nhân tố chính trị: 6

2.2 Nhân tố xã hội: 6

2.3 Nhân tố kinh tế: 7

2.4 Nhân tố công nghệ: 8

CHƯƠNG 3: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ TRIỂN VỌNG CỦA NGÀNH XÂY DỰNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 9

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ KINH DOANH ĐỊA ỐC HÒA BÌNH (HBC) 13

4.1 Giới thiệu công ty xây dựng và kinh doanh địa ốc hòa bình: 13

4.2 Phân tích SWOT: 13

4.3 Phân tích các hệ số tài chính: 14

CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH KỸ THUẬT 19

CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Ngày nay khi đời sống kinh tế của chúng ta ngày càng phát triển thì cuộc sống sinh hoạt của con người ngày càng được coi trọng hơn Việc thưởng thức cuộc sống không chỉ dừng lại ở việc đủ nữa mà bây giờ nhu cầu của con người sẽ nâng lên một tầm cao hơn sự đầy đủ là tính thẩm mĩ, mọi thứ phải đẹp, phải sang trọng Trong xây dựng, thì việc tạo dựng nhà cửa nói riêng cũng như công trình cao cấp nói chung, ngoài việc đầy đủ chức năng nó còn phải đẹp, phải có phong cách mới phù hợp với thời đại mới đáp ứng được nhu càu của khách hàng Nhà giờ đây không chỉ đơn giản là việc che mưa che nắng nữa mà nó còn thể hiện cái tôi của người ở và người sở hữu Ví như một người muốn xây một ngôi nhà cho gia đình mình ở thì ngoài việc thuê một một người thiết kế giỏi người đó sẽ tìm một công ty xây dựng tầm cỡ về khả năng xây dựng để đảm bảo cho ngôi nhà của họ được như họ mong muốn Chính vì vậy mà vai trò của ngành xây dựng ngày càng trở lên quan trọng hơn Nhu cầu về xây dựng ngày càng lớn mà ngành xây dựng là ngành có tính thời đại; mỗi năm, mỗi tháng lại có các công trình mới và nhu cầu của con người cũng được cập nhật liên tục theo sự phát triển đó

Khi quy mô và yêu cầu của thị trường thay đổi, nhà đầu tư luôn hướng tới việc tìm kiếm, lựa chọn cơ cấu đầu tư danh mục theo các ngành nghề trọng điểm, các doanh nghiệp đầu ngành, có lịch sử phát triển ổn định và có sức cạnh tranh cao Ngành xây dựng luôn có sự phát triển nhanh và ổn định, thu hút rất nhiều sự quan tâm và chiến lược dài hạn của các nhà đầu tư Để có thể nắm bắt quá trình và triển vọng phát triển của ngành xây dựng, chúng ta cần có sự tìm hiểu kỹ lưỡng cho sự lựa chọn của mình Bài tiểu luận dưới đây xin đưa ra những nhận định tổng quát nhất về thực trạng ngành xây dựng dựng cũng như triển vọng phát triển của ngành, các công ty trong ngành và một số cơ hội đầu tư, gồm những ý chính:

Trang 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH 1.1 Chuyên ngành và các sản phẩm của ngành:

1.1.1 Chuyên ngành thủy lợi và thủy điện:

Xây dựng các công trình dùng sức nước phục vụ sản xuất nông - ngư nghiệp và các mục đích khác Sản phẩm của xây dựng thủy lợi là hồ chứa nước, kênh dẫn nước,

trạm bơm tưới tiêu nước, đập chắn nước, nhà máy thủy lợi điện cung cấp điện năng

1.1.2 Chuyên ngành cảng, công trình biển:

Xây dựng cảng sông, cảng biển, các công trình ven sông, ven biển, tàu thuyền, phục vụ giao thông đường thủy

1.1.3 Chuyên ngành cầu đường:

Xây dựng cầu, đường, hầm xuyên núi, hầm sông, núi, làm nhà máy hoặc cho

các mục đích khác, đường sắt, sân bay, cầu đường thành phố

1.1.4 Chuyên ngành dân dụng và chuyên nghiệp:

Là lĩnh vực xây dựng khá phổ biến và đa dạng Ngành xây dựng dân dụng lại

có chuyên xây dựng nhà ở, chuyên xây dựng nhà công cộng Mỗi loại nhà có những yêu cầu công nghệ khác nhau nên phải có chuyên môn được đào tạo riêng Công trình nhà máy nhiệt điện khác với nhà máy hóa chất, nhà máy lọc dầu khác với nhà máy xi măng Do công nghệ khác nhau nên muốn thành thục tay nghề cần được đào tạo dể có

kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp riêng

1.1.5 Chuyên ngành xây dựng nông nghiệp:

Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp từ quá trình sản xuất đến cất giữ, bảo quản, chế biến sản phẩm nên xây dựng nông nghiệp cũng rất đa dạng: trại chăn nuôi,

cơ sở chế biến

1.1.6 Chuyên ngành cấp thoát nước đô thị:

Xây dựng hệ thống cấp nước đô thị, khu dân cư cũng như hệ thống thoát và xử

lý nước đã dùng, bảo đảm môi trường nước được sạch sẽ

1.1.7 Chuyên ngành môi trường:

Xây dựng điều kiện bảo đảm môi trường sinh hoạt và sản xuất đô thị và khu dân cư, sản phẩm là cây xanh cho đô thị ngăn tiếng ồn, ngăn bụi, tạo môi trường vi khí hậu, thông gió, các phân xưởng sản xuất, vận chuyển thu gom rác, xử lý rác thải sinh

hoạt và sản xuất

1.2 Đặc thù của ngành:

Lao động trong xây dựng cơ bản là lao động có nghề nghiệp làm theo định mức nhân công, được tổ chức theo khoa học Sản phẩm xây dựng ở mỗi nhóm nghề đều có mục đích sử dụng rất khác nhau đòi hỏi phải hình thành những kiến thức và kỹ năng ở

từng chuyên ngành

Trang 4

Công cụ trong sản xuất: công cụ phụ trợ, công cụ chính, công cụ chuyên chở Công cụ lại đa dạng từ công cụ cầm tay thô sơ hoặc hiện đại đến những máy móc đồ

sộ, cần cẩu có sức nâng đến hàng nghìn tấn, cao hàng chục mét, công nghệ xây dựng phát triển theo hướng cơ giới hóa để nâng cao chất lượng công trình và hiệu quả kinh

tế

Sản phẩm của xây dựng là phương tiện cho các hoạt động lao động sản xuất dịch vụ khác: nhà máy để sản xuất công nghiệp, cầu, đường là phương tiện của ngành

giao thông, đê đập là phương tiện của ngành thủy lợi…

Nhiều khi sản phẩm xây dựng còn là mục đích của phúc lợi: nhà ở, công trình công cộng

Đặc điểm của sản phẩm xây dựng: chiếm diện rộng làm cho việc bảo vệ,gìn giữ quá trình xây dựng gặp khó khăn, vật liệu thi công phải chuyển từ nơi khác đến địa

Đóng góp của ngành xây dựng là một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân, của quỹ tích lũy cùng với vốn đầu tư của nước ngoài So với các ngành sản xuất khác, ngành xây dựng có những đặc điểm về kinh tế - kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rất rõ nét

ở sản phẩm xây dựng và quá trình tạo ra sản phẩm của ngành Điều này đã chi phối đến công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh

nghiệp xây dựng

Sản phẩm xây dựng là những công trình xây dựng, vật kiến trúc có quy mô lớn, kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm xây lắp lâu dài Do đó, việc tổ chức quản lý và hạch toán sản phẩm xây dựng phải lập dự toán (dự toán thiết kế, dự toán thi công) Quá trình sản xuất xây dựng phải so sánh với dự toán, lấy dự toán làm thước đo, đồng thời để giảm bớt rủi ro phải mua bảo hiểm cho

phức tạp do ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời tiết và dễ mất mát hư hỏng

Sản phẩm xây dựng từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình bàn giao đưa vào sử dụng thường kéo dài Nó phụ thuộc vào quy mô, tính phức tạp về kỹ thuật của từng công trình Quá trình thi công được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn lại chia thành nhiều công việc khác nhau, các công việc thường diễn ra ngoài trời chịu tác động rất lớn của các nhân tố môi trường như nắng, mưa, lũ lụt Đặc điểm này

Trang 5

đòi hỏi việc tổ chức quản lý, giám sát chặt chẽ sao cho bảo đảm chất lượng công trình đúng như thiết kế, dự toán Những đặc điểm trên đã ảnh hưởng rất lớn đến kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây dựng Công tác kế toán vừa phải đáp ứng yêu cầu chung về chức năng, nhiệm vụ kế toán của một doanh nghiệp sản xuất vừa phải đảm bảo phù hợp với đặc thù của loại hình doanh nghiệp xây

dựng

Trang 6

CHƯƠNG 2: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGÀNH XÂY DỰNG 2.1 Nhân tố chính trị:

Chế độ chính sách xây dựng trong những năm gần đây vẫn còn nhiều biến động, một trong những quy định hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng đó là “Quản lý dự

án đầu tư xây dựng công trình”! Luật Xây dựng ban hành ngày 26/11/2003 thì ngày 07/02/2005 Chính phủ ban hành Nghị định 16/2005/NĐ-CP về “Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình”, Nghị định này hướng dẫn thi hành Luật xây dựng về lập, thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình; hợp đồng trong hoạt động xây dựng; điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng và giám sát xây dựng công trình Nghị định 16/2005 thi hành được

1 năm 7 tháng 22 ngày thì lại ban hành Nghị định 112/2006/NĐ-CP sửa đổi, bổ xung một số điều của Nghị định 16/2005! Và rồi 5 ngày, 4 năm sau, ngày 12/2/2009 Nghị định 12/2009/NĐ-CP ( Nghị định này hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng về lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình; thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình; điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân trong hoạt động xây dựng) lại thay thế Nghị định 16/2005 và 112/2006

Như vậy chưa đầy 6 năm, công tác “Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình”

đã có tới 3 Nghị định của Chính phủ! “Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình” là một lĩnh vực qủan lý tổng thể của nhiều lĩnh vực khác, bên cạnh đó còn có những lĩnh vực quản lý cụ thể Một khi thay đổi chủ trương, chính sách thì nó kéo theo thay đổi nhiều mặt quản lý và kinh tế Ngành Xây dựng cần sớm nhấn mạnh luật lệ, chính sách

để mọi mặt trong xây dựng có thể ổn định chính sách cụ thể, cần nhanh chóng có kế hoạch rà soát lại các chế độ chính sách tổng thể và chế độ chính sách cụ thể liên quan đến “Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình”

Hiện nay ngày càng nhiều các hợp đồng xây dựng liên kết với nước ngoài, hợp tác để đòi hỏi công nghệ và hợp tác để cùng phát triển Vì vậy cần có những chính sách cũng như những văn bản hướng dẫn cụ thể để vấn đề đầu tư xây dựng cởi mở và thông thoáng hơn nhằm thu hút nhiều nhà đầu tư và chiến lược phát triển lâu dài cho ngành xây dựng

2.2 Nhân tố xã hội:

Nguồn nhân lực của ngành xây dựng là một vấn đề hiện nay vì hiện đang thiếu

lao động ngành, tình trạng “thừa thầy thiếu thợ” đang xảy ra

Thuận lợi đối với nguồn nhân lực cho ngành xây dựng là một ngành đang được đánh giá là hấp dẫn, có thể sử dụng và thu hút nhiều nhân lực từ trình độ phổ thông

đến kỹ sư, thạc sĩ…

Bên cạnh những thuận lợi, nguồn nhân lực xây dựng cũng đang có nhiều khó khăn: Một là, đa số lực lượng lao động trong ngành xây dựng đến từ nông thôn, nên nhiều lao động chưa qua đào tạo bài bản, thậm chí chưa qua đào tạo, sức khỏe không đồng đều, ý thức chấp hành kỷ luật công nghệ chưa cao, thiếu chu đáo cẩn thận, dễ

Trang 7

dàng bằng với kết quả đạt được và cũng dễ bị sa ngã vào những tiêu cực, tệ nạn xã hội vốn đồng hành với nhiều công trường

Hai là, chế độ tiền lương chưa hợp lý Tuy tiền lương đã áp dụng cơ chế thị trường nhưng nếu so sánh thu nhập bình quân hàng tháng của lao động trong khu vực nhà nước của công nhân xây dựng với các ngành nghề khai thác mỏ và điện thì tiền lương của công nhân xây dựng chỉ bằng 2/3 hoặc 1/2, nên chưa có sức hút mạnh đối với người lao động, nhất là cán bộ kỹ thuật giỏi, công nhân có tay nghề cao

Ba là, công tác đào tạo nguồn nhân lực ban đầu cũng như đào tạo liên tục không theo kịp yêu cầu của thị trường và các tiến bộ khoa học kỹ thuật xây dựng Các hoạt động đào tạo và dạy nghề hiện nay chưa phối hợp và gắn bó mật thiết với doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ, chưa hội nhập nhiều với quốc tế, chưa liên kết các cơ sở thành mạng lưới đào tạo và dạy nghề xây dựng có gắn với thị

trường xây dựng

Ngoài ra, điều kiện làm việc, sinh hoạt cũng là một trong những trở ngại đối với lao động làm theo công trình Như nhà ở chỉ được dựng tạm với ít tôn và cây Môi trường ẩm thấp cùng với suốt ngày làm dưới trời nắng nên dễ dàng sinh bệnh tật Do

đó, để bền vững với nghề này đòi hỏi mỗi người phải có sức khỏe thật tốt, kiên trì với cái khó Làm việc trong điều kiện mưa nắng, vất vả, nặng nhọc, không phải người lao động nào cũng muốn gắn bó với nghề xây dựng, cho dù mức thu nhập không quá thấp

so với nhiều ngành nghề khác Theo các chủ thầu xây dựng thì bình quân thu nhập của

1 người làm nghề xây dựng từ 70-100.000 đ/ngày, những thợ có tay nghề cao có thể được trả 150.000 đ/ngày Thế nhưng hiện nay, nhiều công ty xây dựng đang rất thiếu

nhân lực mặc dù các doanh nghiệp đều thực hiện trả lương khá cao

Nhu cầu nhà ở ngày càng cao kèm theo sự phát triển của xã hội, đòi hỏi nhiều hơn nữa những công trình đồ sộ với kết cấu vững chắc và ngày càng hoàn thiện Ngành xây dựng cần phải tìm tòi cái mới, áp dụng khoa học công nghệ, các sáng chế

khoa học để chất lượng công trình ngày càng phát triển và hoàn hảo

2.3 Nhân tố kinh tế:

Các nguyên vật liệu, tư liệu sản xuất của ngành vật liệu xây dựng chủ yếu là những sản phẩm chịu ảnh hưởng rất lớn về vấn đề giá cả so với thị trường thế giới Chỉ một biến động nhỏ diễn ra trên thị trường thế giới ít nhiều cũng ảnh hưởng tới giá cả nguyên vật liệu trên thị trường Việt Nam Ngành xây dựng luôn bị ảnh hưởng bởi các biến động về tỉ giá và lạm phát Vì thế cần có sự bảo đảm về giá của Chính Phủ để giúp ngành xây dựng không có những biến động bất ngờ

Bên cạnh đó cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa diễn ra đã ảnh hưởng tới nền kinh tế nước ta nói chung và ngành xây dựng nói riêng Cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đã có những ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của các nước, trong đó có Việt Nam Do tính chất nghiêm trọng và phức tạp của cuộc khủng khoảng tài chính và suy thoái kinh tế nên nó đã tác động đến nhiều ngành nhiều lĩnh vực, trong đó có ngành xây dựng Vì vậy cần phân tích đánh giá một cách đầy đủ tác động và kiến nghị các giải pháp để hạn chế thiệt hại đến mức thấp nhất chống suy giảm kinh tế và duy trì phát triển kinh tế

Trang 8

Cần có các giải pháp giữ vững và bổ sung vốn đầu tư từ vốn nhà nước cho 2 lĩnh vực chủ yếu là hạ tầng cơ sở và nhà ở, và những công trình có hiệu quả cao Đặc biệt trong điều kiện hạ tầng cơ sở kinh tế nước ta còn rất yếu kém cần tập trung xây dựng để đảm bảo đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước Trong đó cần rà soát, kiên quyết đầu tư tập trung, dứt điểm chống dàn trải, kiên quyết đình hoãn các dự

án công trình chưa cấp bách, hiệu quả đầu tư kém

2.4 Nhân tố công nghệ:

Việt Nam ta đang trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa, vì vậy vấn đề phát triển và áp dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật luôn mang đến những thành công nhất định Có khoa học công nghệ mới chúng ta sẽ bắt kịp với tốc độ tăng trưởng của thế giới về kinh tế nói chung và xây dựng nói riêng Trong xu thế hội nhập hiện nay, các hoạt động thông tin phục vụ cho công tác tư vấn, chuyển giao công nghệ rất cần thiết cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp giảm thiểu các chi phí và rủi ro trong các hoạt động giao dịch mua - bán công nghệ Nhằm hỗ trợ thiết thực các doanh nghiệp trong quá trình mua - bán chuyển giao công nghệ, trang bị các công nghệ, thiết

bị mới hiện đại hoá sản xuất, cung cấp thông tin về các thiết bị công nghệ, cung cấp thông tin về các thiết bị công nghệ mà doanh nghiệp cần tìm mua, các thông tin cho phép doanh nghiệp có thể so sánh, đối chiếu giữa tính toán trên các dự án và thực tế giá cả thị trường, từ đó giúp cho doanh nghiệp có thể ra quyết định phù hợp trong việc đầu tư đổi mới công nghệ và trang thiết bị

Đáp ứng theo từng yêu cầu cụ thể: trang thiết bị đơn lẻ, các dây chuyền sản xuất đồng bộ, trong nước hoặc nước ngoài, tư vấn chuyển giao công nghệ.- Tư vấn, xây dựng dự án đầu tư công nghệ và thiết bị, đàm phán, soạn thảo, kiểm tra hợp đồng mua bán, chuyển nhượng quyền Sở hữu công nghiệp hoặc hợp đồng góp vốn liên doanh bằng quyền sở hữu công nghiệp

Trong ngành xây dựng, chúng ta cần đánh giá công nghệ, lựa chọn công nghệ

và phương thức chuyển giao công nghệ thích hợp, định giá trị công nghệ, xác định phương thức, điều kiện thanh toán, phí chuyển giao công nghệ, đàm phán, soạn thảo hợp đồng chuyển giao công nghệ

Ngoài ra cần có hoạt động giám sát quá trình chuyển giao công nghệ, hỗ trợ công tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, cung cấp thông tin về công nghệ hỗ trợ công tác nghiên cứu và chế tạo, hỗ trợ các đơn vị tham gia giới thiệu tuyên truyền về các sản phẩm của các đơn vị thông qua các kênh hội chợ triển lãm, hội nghị, chợ mạng.Các doanh nghiệp xây dựng cần có sự giúp đỡ về tư vấn và đại diện pháp lý trong việc đăng ký xác lập quyền đối với các đối tượng Sở hữu trí tuệ tại Việt Nam và nước ngoài, bao gồm: sáng chế và giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá và nhãn hiệu dịch vụ

Trang 9

CHƯƠNG 3: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ TRIỂN VỌNG CỦA NGÀNH

XÂY DỰNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Ngành xây dựng đạt tốc độ tăng trưởng khá tốt

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện chín tháng năm 2012 theo giá hiện hành ước tính đạt 708,6 nghìn tỷ đồng, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước và bằng 35,8% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước 263,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 37,2% tổng vốn

và tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước 275 nghìn tỷ đồng, chiếm 38,8% và tăng 11,8%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 170 nghìn tỷ đồng, chiếm 24% và tăng 1,6%

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành 9 tháng năm 2012

tỷ đồng

Cơ cấu (%)

So với cùng kỳ năm trước (%)

Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước

Trong vốn đầu tư thực hiện khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước chín tháng ước tính đạt 142,2 nghìn tỷ đồng, bằng 68,5% kế hoạch năm và tăng 7,6% so với cùng kỳ năm 2011, gồm có:

Vốn trung ương quản lý đạt 36,1 nghìn tỷ đồng, bằng 70,9% kế hoạch năm và tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải là 5485 tỷ đồng, bằng 73,5% và tăng 11,6%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 3286 tỷ đồng, bằng 68% và tăng 6,4%; Bộ Xây dựng 1220 tỷ đồng, bằng 67% và tăng 8,2%; Bộ Y tế 802 tỷ đồng, bằng 72,1% và tăng 7,5%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 678 tỷ đồng, bằng 72,9% và tăng 5,7%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 466

tỷ đồng, bằng 73,6% và tăng 5,6%; Bộ Công Thương 322 tỷ đồng, bằng 71,5% và tăng 8,2%

Vốn địa phương quản lý đạt 106,1 nghìn tỷ đồng, bằng 67,7% kế hoạch năm và tăng 7,9% so với cùng kỳ năm 2011 Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 13797 tỷ đồng, bằng 57,9% kế hoạch năm và tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2011; thành phố

Hồ Chí Minh 10881 tỷ đồng, bằng 67,7% và tăng 9,9%; Đà Nẵng 6664 tỷ đồng, bằng 96,7% và tăng 26,5%; Quảng Ninh 2899 tỷ đồng, bằng 69,8% và giảm 3,6%; Thanh Hóa 2825 tỷ đồng, bằng 75,3% và tăng 6,4%; Bình Dương 2113 tỷ đồng, bằng 57,2%

và tăng 1,8%; Bà Rịa-Vũng Tàu 2099 tỷ đồng, bằng 55,5% và tăng 19,2%

Trang 10

Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm

20/9/2012 đạt 9526,4 triệu USD, bằng 72,1% cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn đăng

ký của 775 dự án được cấp phép mới đạt 6108,4 triệu USD, bằng 82,6% số dự án và bằng 61% số vốn cùng kỳ năm 2011; vốn đăng ký bổ sung của 314 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước là 3418 triệu USD Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện chín tháng năm 2012 ước tính đạt 8,1 tỷ USD, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm

2011

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chín tháng năm nay tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với 6243,9 triệu USD, chiếm 65,5% tổng vốn đăng ký; ngành kinh doanh bất động sản đạt 1806 triệu USD, chiếm 19%; các ngành còn lại đạt 1476,5 triệu USD, chiếm 15,5%

Trong chín tháng, cả nước có 47 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự

án đầu tư trực tiếp nước ngoài cấp phép mới, trong đó Bình Dương có số vốn đăng ký lớn nhất với 1480,5 triệu USD, chiếm 24,2% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hải Phòng 1042 triệu USD, chiếm 17,1%; Đồng Nai 610,6 triệu USD, chiếm 10%; Hà Nội 570,9 triệu USD, chiếm 9,3%; thành phố Hồ Chí Minh 415,2 triệu USD, chiếm 6,8%; Quảng Ninh 390,4 triệu USD, chiếm 6,4%; Ninh Bình 187,1 triệu USD, chiếm 3,1%; Khánh Hòa 180,3 triệu USD, chiếm 3%

Trong số 47 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư cấp phép mới vào Việt Nam chín tháng, Nhật Bản tiếp tục là nhà đầu tư lớn nhất với 3722,9 triệu USD, chiếm 60,9% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 432,4 triệu USD, chiếm 7,1%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 431,8 triệu USD, chiếm 7,1%; Xin-ga-po 429,1 triệu USD, chiếm 7%; Síp 375,6 triệu USD, chiếm 6,1%; CHND Trung Hoa 141,6 triệu USD, chiếm 2,3%; Đài Loan 97,3 triệu USD, chiếm 1,6%

Ngành xây dựng Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014

Ngoài ra thị trường vật liệu xây dựng được dự báo có xu thế ổn định về giá Hai mặt hàng chủ lực của thị trường này là ximăng và thép đều có nguồn cung dồi dào trong khi nhu cầu ở mức thấp

Theo tính toán của Hiệp hội Thép Việt Nam, ước tổng sản lượng thép xây dựng được sản xuất trong chín tháng đầu năm đạt 3.351.573 tấn, tổng mức thép tiêu thụ chỉ đạt mức 3.242.150 tấn

Tương tự với thép, mặt hàng ximăng cũng chịu tình trạng sức cầu bị hạn chế Trong chín tháng, tổng sản lượng sản xuất ximăng của toàn ngành đạt khoảng 34,11 triệu tấn, sản lượng tiêu thụ đạt khoảng 34,034 triệu tấn

Trang 11

Hai mặt hàng này được dự báo tiếp tục ổn định giá trong những tháng cuối năm

Tuy vậy ngành cũng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức

Trở ngại từ chính sách: Nhiều chính sách và nghị định mới ra đời gây khó khăn cho ngành BĐS, đây được xem là ngành tạo cầu cho ngành xây dựng Trong đó, phải

kể đến nghị định 69, 71 và thông tư 13, 19 Với việc áp giá đền bù, trả tiền sử dụng đất theo giá thị trường và nâng hệ số rủi ro cho vay BĐS lên 250%, nhiều chủ đầu tư thiếu vốn đã phải tạm ngưng hoặc giãn tiến độ thi công dự án và phần nào gây đình trệ trong lĩnh vực xây dựng Thời điểm hiện tại chính phủ cũng chủ trương giảm tỷ trọng nợ cho vay đối với các ngành phi sản xuất trong đó có ngành BĐS xuống 22% giữa năm 2011

và 16% cuối năm 2011 sẽ ảnh hưởng đến tiến độ thi công dự án

Khó khăn xuất phát từ nền kinh tế, đó là sự đóng băng của thi trường BĐS trong thời gian qua, để giải quyết vấn đề này Bộ trưởng Trịnh Đình Dũng cũng đã có buổi tiếp xúc với các doanh nghiệp bất động sản để bàn nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong đó, đáng chú ý, Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Trịnh Đình Dũng đã chỉ đạo việc xem xét chuyển đổi những dự án nhà ở kinh doanh, thương mại sang nhà ở xã hội.Chủ trương mới của Bộ Xây dựng nhanh chóng nhận được sự quan tâm và kỳ vọng của nhiều doanh nghiệp bất động sản và cả người dân Nhiều chuyên gia lĩnh vực này hi vọng chủ trương này sẽ vừa cứu được thị trường bất động sản lại vừa giải quyết được nhu cầu nhà ở cho người thu nhập thấp

Như đã đề cập ở trên, đa số lực lượng lao động trong ngành xây dựng đến từ nông thôn, nên nhiều lao động chưa qua đào tạo bài bản, thậm chí chưa qua đào tạo, ý thức chấp hành kỷ luật công nghệ chưa cao Đây cũng là một vấn đề quan trọng cần được chú trọng trong thời gian tới Do đó, ngày 02/11, Bộ Xây dựng đã có Quyết định 1018/QĐ-BXD về việc thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Quy hoạch phát triển nhân lực của ngành Xây dựng giai đoạn 2011-2020 Ban Chỉ đạo có các nhiệm vụ chỉ đạo việc

tổ chức triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển nhân lực của ngành Xây dựng giai đoạn 2011 - 2020, theo các nội dung cụ thể được quy định tại Quyết định số 838/QĐ-BXD ngày 13/9/2012 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng

Ngoài ra, điều kiện làm việc, sinh hoạt cũng là một trong những trở ngại đối với lao động làm theo công trình Do đó, thực hiện Chương trình Quốc gia về ATVSLĐ giai đoạn 2011-2015, ngày 2.11, Bộ Xây dựng (XD) và CĐXD VN tổ chức Hội thảo

“Bàn biện pháp, phương án cải thiện điều kiện lao động trong các DN ngành XD” Theo hội thảo, tổng số vụ tai nạn LĐ nghiêm trọng, chết người của các đơn vị trực thuộc, trong 3 năm qua (2009-2011) đã xảy ra 43 vụ tai nạn LĐ chết người, làm chết

47 người (bình quân trên 15 người chết/năm); số người mắc nghề nghiệp được khám

và phát hiện hằng năm từ 10-12 người…Bởi vậy, hội thảo đã tập trung thảo luận về những vấn đề: Làm thế nào để cải thiện nơi ở và làm việc cho CNLĐ trên các công trường xây dựng thi công nhà cao tầng; phương án, giải pháp cấp cứu, ứng cứu khi xảy

ra sự cố, tai nạn LĐ; giải pháp cải thiện trong thi công xây lắp cầu đường bộ, đường hầm, khai thác đá…

Ngày đăng: 27/06/2015, 10:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 5.1 Đồ thị candlestick - tiểu luận kinh tễ vi mô đề tài phân tích ngành xây dựng việt nam
Hình 5.1 Đồ thị candlestick (Trang 19)
Hình 5.2 Chỉ báo kỹ thuật RSI, Stochastic, MACD - tiểu luận kinh tễ vi mô đề tài phân tích ngành xây dựng việt nam
Hình 5.2 Chỉ báo kỹ thuật RSI, Stochastic, MACD (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w