1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn triết học quan niệm về tam tòng tứ đức trong nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với phụ nữ việt nam hiện nay

57 3,3K 38

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 344,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, ta có thể thấy rằng Khổng Tử không phải làngười có thái độ khắt khe khinh rẻ phụ nữ mà chỉ sau khi Khổng Tử mất đi, nhữngngười kế tục ông điển hình là Đổng Trọng Thư đã không th

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 2

Chương 1: QUAN NIỆM VỀ “TAM TÒNG”, “TỨ ĐỨC” TRONG NHO GIÁO 5

1.1 Vấn đề người phụ nữ trong Nho giáo 5

1.1.1 Một vài nét về sự hình thành và phát triển của Nho giáo 5

1.1.2 Vị trí của người phụ nữ trong hệ thống triết học Nho giáo 8

1.2 Quan niệm về“Tam tòng”, “Tứ đức” trong Nho giáo 12

1.2.1 Nội dung của quan niệm về “Tam tòng”, “Tứ đức” trong Nho giáo 12

1.2.2 Quan niệm về “Tam tòng”, “Tứ đức” trong Nho giáo ở Việt Nam 16

Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA QUAN NIỆM VỀ “TAM TÒNG”, “TỨ ĐỨC” ĐỐI VỚI NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM HIỆN NAY 22

2.1 Ảnh hưởng của “Tam tòng” đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay 22

2.1.1 Ảnh hưởng của quan niệm về “Tam tòng” đối với người phụ nữ giai đoạn từ phong kiến Việt Nam độc lập đến năm 1945 22

2.1.2 Ảnh hưởng của quan niệm về “Tam tòng” đối với người phụ nữ giai đoạn từ năm 1945 đến nay 25

2.2 Ảnh hưởng của “Tứ đức” đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay 31

2.2.1 Công 31

2.2.2 Dung 36

2.2.3 Ngôn 40

2.2.4 Hạnh 42

2.3 Phương hướng và một số giải pháp cơ bản trong việc xây dựng người phụ nữ Việt Nam hiện nay 46

2.3.1 Phương hướng xây dựng người phụ nữ Việt Nam hiện nay 46

2.3.2 Một số giải pháp cơ bản trong việc xây dựng và phát huy vai trò của người phụ nữ Việt Nam hiện nay 49

KẾT LUẬN 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Nho giáo là một hệ thống tư tưởng chủ yếu bàn về chính trị, luân lý và đạo đức.Nho học vào Việt Nam và đã cùng đi hết một chặng đường dài của lịch sử dân tộc ta;trên chặng đường ấy, có lúc nó giữ vai trò thúc đẩy, có lúc nó kìm hãm sự phát triểnkinh tế, văn hóa, chính trị của xã hội Việt Nam Nhưng dù thúc đẩy hay kìm hãm, Nhogiáo đều góp phần làm nên truyền thống tư tưởng, văn hóa dân tộc; tạo nên nhữngbước tiến của xã hội và con người Việt Nam; xây dựng con người Việt Nam ngàn nămvăn hiến Trong đó, tư tưởng ảnh hưởng lớn nhất đến người phụ nữ Việt Nam chính làquan niệm về “Tam tòng”, “Tứ đức”

Các triều đại phong kiến Việt Nam đã tiếp thu, vận dụng phạm trù “Tam tòng”,

“Tứ đức” làm công cụ để giáo hóa về tâm lý, đạo đức nhằm xây dựng hình mẫu ngườiphụ nữ tiêu biểu cho xã hội cũ “Tam tòng”, “Tứ đức” là những chuẩn mực cơ bảnnhất đối với người phụ nữ xưa, là thước đo giá trị, tài năng, đức hạnh của người phụ

nữ Và quan trọng hơn cả là sự ăn sâu bén rễ của nó vào tư tưởng, tâm hồn, nhân cách,lối sống của mỗi người phụ nữ, là điều bản thân họ đặt vào tâm vào lòng để tự răn dạy

và hoàn thiện Từ đó, nét đẹp của người phụ nữ trong xã hội phong kiến kể cả về thểchất lẫn tâm hồn đều được khái quát bằng mấy chữ “Tam tòng”, “Tứ đức” ấy Yêuthương hết mực, hi sinh hết mình, tần tảo một nắng hai sương, cam chịu, nhẫn nại lànhững đức tính dệt nên cuộc đời người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến; dệtnên chân dung đậm nét của họ trong giai đoạn dài của lịch sử dân tộc

Lịch sử sang trang mới, Việt Nam cũng bước sang thời kì đổi mới, đổi mới khôngđơn giản chỉ là đổi mới về kinh tế mà nó còn kéo theo sự biến đổi toàn diện trên cáclĩnh vực khác như: chính trị, văn hóa, xã hội … và kể cả con người cũng đổi mới mộtcách sâu sắc Đảng và Nhà nước ta luôn xác định: Con người là yếu tố quan trọng hàngđầu trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, trong đó người phụ nữ là lựclượng đông đảo, nắm vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội Hồ Chí Minh đã chỉrõ: “Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội” Từ đó đã dẫn đến những thay đổi về yêu cầu,tiêu chí đánh giá của xã hội về người phụ nữ Người phụ nữ trong thời đại mới phảiđẹp toàn diện hơn, tài giỏi hơn, tích cực tham gia công tác xã hội, đảm đang việc gia

Trang 3

đình… Và bên cạnh những nét đẹp hiện đại, người phụ nữ cần giữ gìn những nét đẹptruyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam

Quan niệm về “Tam tòng”, “Tứ đức” bên cạnh những ảnh hưởng tiêu cực nó còngóp phần làm nên những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam Trong giaiđoạn hiện nay, người phụ nữ Việt Nam cần khắc phục tính tiêu cực của quan niệm

“Tam tòng” và tiếp thu vận dụng “Tứ đức” như thế nào để xây dựng hình ảnh ngườiphụ nữ hiện đại mà không mất đi những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc là mộtvấn đề có ý nghĩa thiết thực Xuất phát từ những yêu cầu thiết thực đó của thực tiễn và

để góp phần vào mục tiêu xây dựng và phát huy vai trò của người phụ nữ Việt Nam

hiện đại, em chọn đề tài: “Quan niệm về “Tam tòng”, “Tứ đức” trong Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với phụ nữ Việt Nam hiện nay”

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ:

Vấn đề ảnh hưởng của quan niệm về “Tam tòng”, “Tứ đức” trong Nho giáo đốivới phụ nữ Việt Nam ở mức độ ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp đã được một số tácgiả nghiên cứu từ rất sớm Chúng ta có thể kể đến một số công trình nghiên cứu vớinhững góc độ khác nhau của vấn đề này như:

- Trần Trọng Kim (1971) Nho giáo, Nhà Xuất Bản Giáo dục, Hà Nội

- Vũ Khiêu ( 1991) Nho giáo xưa và nay, Nhà Xuất Bản Khoa học xã hội, Hà

- Lê Minh (2000) Gia đình và người phụ nữ, Nhà Xuất Bản Lao Động, Hà Nội.

- Trần Quốc Vượng (2001) Truyền thống phụ nữ Việt Nam, Nhà Xuất Bản Văn

hóa, Hà Nội

- Vũ Khiêu (1996) Bàn về văn hiến Việt Nam, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã hội,

Hà Nội

- Nguyễn Tất San (2008) Công Dung Ngôn Hạnh xưa và nay, Nhà Xuất Bản Văn

Hóa Thông Tin, Hà Nội

Trang 4

Ngoài những công trình nghiên cứu này thì nhiều bài viết ở các báo, tạp chí khácnhau như: Báo Phụ nữ, Tạp chí Gia đình… cũng đề cập đến quan niệm về “Tam tòng”

“Tứ đức” ở nhiều khía cạnh khác nhau

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

3.1 Mục đích nghiên cứu:

- Làm rõ quan niệm về “Tam tòng”, “Tứ đức” trong Nho giáo và ảnh hưởng của

nó đối với phụ nữ Việt Nam hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Phân tích rõ nội dung của hai phạm trù “Tam tòng”, “Tứ đức” trong Nho giáo

ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam

+ Phân tích những ảnh hưởng của quan niệm này đối với phụ nữ Việt Nam.+ Đưa ra một số giải pháp góp phần vào việc xây dựng và phát huy vai trò củangười phụ nữ Việt Nam hiện nay

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là quan niệm về “Tam tòng”, “Tứ đức”trong Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với phụ nữ Việt Nam hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu là nội dung của quan niệm về “Tam tòng”, “Tứ đức” trongNho giáo

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Khóa luận thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chung nhất là phương phápbiện chứng duy vật và duy vật lịch sử Ngoài ra khóa luận còn sử dụng những phươngpháp khác như: phân tích, tổng hợp, so sánh, logic - lịch sử…

7 KẾT CẤU CỦA KHÓA LUẬN:

Ngoài phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo khóa luận gồm 2 chương và 5 tiết

Trang 5

NỘI DUNG

Chương 1: QUAN NIỆM VỀ “TAM TÒNG”, “TỨ ĐỨC” TRONG NHO GIÁO 1.1 Vấn đề người phụ nữ trong Nho giáo

1.1.1 Một vài nét về sự hình thành và phát triển của Nho giáo

Thời kì lịch sử Cổ - trung đại, Trung Quốc là một trong những trung tâm vănminh lớn của thế giới Giai đoạn này Trung Quốc có nhiều phát minh vĩ đại như: chữviết, giấy, nghề in, thuốc súng, thiên văn học… Cùng với Ấn Độ và các dân tộcphương Đông khác, Trung Quốc còn là quê hương của nhiều trường phái triết học lớn

Ở Trung Quốc, tư tưởng triết học có hệ thống được hình thành vào thời Xuân Thu,Chiến Quốc, đây là thời đại loạn lạc, đạo đế vương đời trước (nhà Chu) mờ tối, ngườiđời say đắm về đường công lợi, không ai thiết gì đến nhân nghĩa Nhưng cũng vì thếcục biến loạn, dân tình khổ sở mà ở thời đại này tư tưởng được giải phóng, tri thứcđược phổ cập, nhiều học giả xuất hiện và trình bày học thuyết của mình với mục đíchsửa đổi chế độ, mong muốn đem lại hạnh phúc, ấm no cho con người Số học giả ấykhông chỉ có một vài người và số tác phẩm được viết ra không phải chỉ có một vàicuốn mà con số ấy phải lên tới hàng chục, hàng trăm, cho nên mới gọi thời đại ấy làthời “Bách gia chư tử” Theo sách Hán thư, Thiên Nghệ Văn chí thì có 103 học pháitrong đó có 6 học phái chính là: Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Danh gia, Pháp gia và ÂmDương gia Có ảnh hưởng lớn nhất đối với tư tưởng, đời sống tinh thần của ngườiTrung Quốc lúc bấy giờ là ba học phái: Nho gia, Mặc gia và Đạo gia

Người sáng lập ra học thuyết Nho gia là Khổng Tử, ông sinh năm 551 trước Côngnguyên, tên là Khâu, tự là Trọng Ni Ông sinh ra trong một gia đình quan võ của triềuđình nước Lỗ Thời trẻ, Khổng Tử phải sống trong cảnh gia đình sa sút nên biết nhiềuviệc vất vả, nặng nhọc Theo sử sách còn ghi, thuở nhỏ Khổng Tử hay chơi trò bày đồcúng tế, ham học, thích nghiên cứu thi thư lễ nhạc đời trước Điều này thể hiện bảntính của Khổng Tử, luôn coi trọng những điều lễ nghĩa Năm 19 tuổi, ông thành giathất và nhận một chức quan nhỏ ở nước Lỗ Được gia đình dạy bảo chu đáo và đứngtrước hoàn cảnh xã hội biến loạn, đạo lý nhân luân xáo trộn, Khổng Tử muốn đem tàisức của mình giúp các thế lực cầm quyền bình thiên hạ Ông và các đệ tử đã đi chu ducác nước hơn 10 năm, đã đến các nước Vệ, Tống, Sái, Sở…, nhưng đều không thựchiện được chủ trương chính trị như điều ông mong muốn Cuối đời ông trở về nước Lỗ

Trang 6

tiếp tục dạy học và chỉnh lý các thư tịch cổ như: Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh

Lễ, Kinh Nhạc và soạn thảo Kinh Xuân Thu Việc làm này của Khổng Tử đã có cốnghiến lớn trong việc giữ gìn và truyền bá văn hóa cổ đại của Trung Quốc Ông không cótrước tác riêng truyền cho hậu thế, sách Luận ngữ chỉ là ghi chép lại lời Khổng Tử dohọc trò nhớ lại và chỉnh lý Tuy vậy trong lịch sử Trung Hoa, Khổng Tử có một vị tríhết sức quan trọng, ông được gọi là “vạn thế sư biểu”, là một nhà giáo dục văn hóa,một trí giả… Trên lĩnh vực tư tưởng, Khổng Tử giống như Socrate, không dạy học đểlấy lợi và không bán tri thức của mình, ông chú trọng vào bản tính của nhân loại, chođức nhân là ý nghĩa tối trọng yếu trong khả năng trị nhân Học trò của ông có đến hàngngàn người Sau khi ông mất, Nho gia được chia thành tám phái, trong đó quan trọngnhất là hai phái Mạnh Tử và Tuân Tử, đây chính là những người làm cho học thuyếtcủa Khổng Tử phát triển rực rỡ và trở thành học phái chính thống của Trung Hoa.Mạnh Tử (327 – 289 trước Công nguyên), ông ra sức bảo vệ đề cao vương đạo, đảkích bá đạo Ông đi sâu tìm hiểu bản tính con người trên cơ sở nhân học của Khổng

Tử Khổng Tử nói nhiều về nhân, phân biệt cặn kẽ giữa nghĩa và lợi nhưng lại chưalàm rõ nguyên nhân Mạnh Tử giải đáp câu hỏi đó và đề ra học thuyết tính thiện Mạnh

Tử cho rằng vũ trụ bên ngoài thuần túy là vũ trụ tâm linh, thiên mệnh quyết định nhân

sự Mạnh Tử hệ thống hóa triết học duy tâm của Nho gia trên phương diện thế giớiquan và nhận thức luận, tạo nên đầu mối của khuynh hướng duy tâm trong Nho giáosau này Về trước tác, Mạnh Tử có tập “Bảy thiên Mạnh Tử” đã cùng cuốn Luận Ngữ,Đại Học, Trung Dung hợp thành bộ Tứ Thư

Tuân Tử (313 – 238 trước Công nguyên), ông đã phát triển truyền thống trọng lễcủa Nho giáo, nhưng trái với Mạnh tử, ông coi con người vốn có tính Ác: “Nhân chitính ác, kì thiện giả ngụy giã”[16, tr.304].Tính của người là ác, những điều thiện là dongười đặt ra Ông chủ trương cho rằng thế giới khách quan có quy luật riêng Tuân tửcũng tin có trời nhưng ông cho rằng đạo trời không quan hệ gì đến đạo người và sứcngười có thể thắng trời Tư tưởng triết học của Tuân Tử rõ ràng mang màu sắc của chủnghĩa duy vật thô sơ, tạo nên đầu mối cho khuynh hướng duy vật của Nho giáo về sau.Nho giáo truyền đến đời Chiến Quốc thì gặp phải một thời trung suy, tình thế xãhội lúc ấy loạn lạc đến cực điểm: phong tục hủ bại, luân thường đổ nát, vua chúa cácnước chỉ chăm lo việc chiến tranh, hết nước này đánh nước kia, việc can qua không lúcnào ngừng nghỉ

Trang 7

Sau Tuân Tử thì trong Nho giáo chỉ còn một người trứ danh hơn cả là Hàn Phi Tử,song Hàn Phi Tử lại không phải là người chân Nho nữa, cho nên ta có thể nói Nhogiáo truyền đến đời nhà Tần là gián đoạn Hàn Phi Tử học theo Tuân Tử dùng lí trí màsuy luận cho đến tận cùng, tất phải thiên về mặt hình pháp và mặt công dụng, kết quả

là hình thành một chế độ chuyên chế độc tôn Theo sách Hàn Phi Tử thì biết Nho họcđến cuối đời Chiến Quốc đã suy lắm rồi Các học giả chỉ giữ cái lối thủ cựu, có việc gìlại lấy chuyện thánh hiền đời cổ ra mà bài bác chứ không hiểu cái tinh thần của đạothánh hiền phải tùy thời mà tiến thủ Bởi vậy mới gây thành nạn đốt sách chôn Nho ởđời nhà Tần

Khi Tần Thủy Hoàng mất, các nước chư hầu nổi lên đánh nhà Tần, trong thời cựcloạn như thế, người trong nước ai cũng mưu sự sinh tồn, việc học thuật bỏ hết cả Đếnkhi nhà Hán dẹp yên mối họa rồi dần dần chấn hưng lại nền văn hóa Nho giáo từ đómới thịnh lên trở lại Nho giáo từ thời Xuân Thu cho đến đời nhà Tần chỉ là một họcphái trong các học phái, tuy có cái tông chỉ quang minh chính đại nhưng vẫn không cócái địa vị nhất tôn như đời nhà Hán trở đi Vì có chế độ phong kiến quân chủ bảo hộcho nên Nho giáo mới có thế lực rất mạnh ở đời nhà Hán và mới lan ra khắp trong xãhội Trung Hoa Hán Nho có công sưu tập những sách cũ, giải thích các ý nghĩa và sắpđặt các loại kinh truyện lưu truyền ở đời Hậu thế nhờ đó mà biết được đạo của thánhhiền Song vì Hán Nho thiên về cái học chương cú, huấn hỗ, bỏ mất cái nghĩa lý sâu

xa, thành thử cái tinh thần của Nho giáo lại sai lầm đi nhiều Những sự sai lầm ấy gâythành cái lưu tệ rất lớn về sau Tuy nhiên, Hán Nho đối với văn hóa xã hội Trung Hoa

cổ có công rất lớn là lấy cái học “minh kinh” mà xây đắp thành cái nền văn hóa rấtvững vàng lâu bền xưa nay chưa từng có

Đến thời Tam Quốc, Lục triều, Nho giáo thường hay pha lẫn với Lão học, thịnh

về mặt từ hoa phù kinh, mà suy về đường nghĩa lý thiết thực Đó là một phần bởi tìnhtrạng xã hội của nước Trung Hoa lúc bấy giờ loạn li mãi, lòng người chán nản, muốnđem tinh thần tiêu dao ở chỗ siêu việt mà tránh cái khổ não ở đời Một phần bởi cái lỗicủa Hán học là làm cùn nhụt mất khí phách linh động của Nho giáo lúc ban đầu Quađời nhà Tùy và nhà Đường, Nho giáo có phần chấn hưng hơn trước nhưng chỉ thịnh vềđường văn chương, chứ về đường đạo lý vẫn không có gì khai sáng, phát minh ra thêmđược

Trang 8

Ở đời nhà Tống, Nho học hưng thịnh hẳn lên nhất là văn học Về đường học vấn

có những đại Nho như Thiệu Ung, Chu Đôn Di… xướng lên thuyết lý học; từ đó tinhthần Nho giáo có khác đi so với đời Hán và đời Đường, và trình độ triết học của Nhogiáo cao lên ngang với Lão giáo và Phật giáo Tống Nho tuy cũng có hấp thụ ảnhhưởng của Lão giáo và Phật giáo, nhưng đại để là thấy rõ cái đạo của thánh hiền hơnHán Nho và Đường Nho Tống Nho có công trong việc thấy được cái phần cao siêucủa Nho giáo, mài dũa cái danh tiết, cho nên Tống Nho có nhiều trung thần nghĩa sĩtuần tử về quốc nạn, quan tâm đến thế đạo và nhân tâm Nhưng đến cuối đời NamTống quốc thể đồi bại, giáo dục mục nát, các nho sư không có cái thực của sự giáo hối,các sinh đồ chỉ đắm chìm ở đường lợi lộc, cho nên nước mất dân hèn Tiếp theo là đếnthời trị vì của nhà Nguyên, Nho giáo đời nhà Nguyên tuy so với các đời trước thìkhông bằng, nhưng cũng có vẻ thịnh đạt Tuy nhiên ngoài sự học để giữ lấy cái danhtiết cho trong sạch thì không có ai phát triển được điều gì cao minh hơn nữa

Đến đời nhà Minh (1368 – 1648) Nho giáo không vượt ra ngoài phạm vi Tốnghọc, phái nào cũng thuộc về lý học cả Cái học ấy tuy chia ra làm nhiều phái nhưng kếtcục vẫn theo cái tông chỉ thiên địa vạn vật nhất thể; và về đường thiết thực vẫn cố giữcái khí tiết của học giả

Vào đời nhà Thanh (1644 – 1911) Nho giáo tuy là thịnh, các học giả, sách vở rấtnhiều, sự nghiên cứu rất tường tận và rất đúng phương pháp khoa học, nhưng có mộtđiều là Nho giáo đời nhà Thanh chỉ có tư cách khoa học mà không có tinh thần triếthọc Những danh nho thời kì này đều là các nhà bác học, song không có mấy ngườihiểu biết chỗ uyên thâm của Nho giáo như đời nhà Tống và đời nhà Minh Đến đờiThanh mạt, Tây học dấy lên, có nhiều người muốn hủy hoại hết tinh thần của Nho giáo

để cho chóng bằng với các nước phương Tây Nền Tây học tuy làm lu mờ đi tầm cỡcủa Nho giáo nhưng cũng chính nó, bằng sự tiến bộ của mình, đã làm mất đi những cáihẩm nát, những điều hủ lậu của Nho giáo, để lộ ra những giá trị rực rỡ bội phần Đó làđiều mà cả thế giới ngày nay phải công nhận

1.1.2 Vị trí của người phụ nữ trong Nho giáo

Nho giáo là một học thuyết của xã hội phong kiến, đã giữ vai trò thống trị tronglịch sử tư tưởng Trung Quốc qua nhiều thế kỉ Vì vậy, những quan điểm, đường lối,phương pháp, chuẩn mực mà Nho giáo đề ra phục vụ đắc lực cho chính xã hội sinh ra

nó Nho giáo bàn đến nhiều vấn đề như quan điểm thế giới (đạo, thiên mệnh…), học

Trang 9

thuyết về luân lý đạo đức với các tư tưởng căn bản như: nhân, lễ, trí, dũng, … Trong

đó chữ “nhân” được đề cập đến với ý nghĩa sâu rộng nhất, nó được coi là tư tưởng chủyếu quy định bản tính con người và những quan hệ giữa con người với con người từtrong gia tộc đến ngoài xã hội Bên cạnh đó, Nho giáo còn bàn về quan điểm chính trị -

xã hội với các phạm trù “nhân trị”, “chính danh”, “thượng hiền”… Vấn đề con ngườicũng được Nho giáo bàn đến, vì muốn xây dựng thành công và giữ vị trí thống trị một

xã hội thì phải có người điều hành, tổ chức xã hội đó Điều này khiến cho vấn đề conngười được xã hội phong kiến cũng như Nho giáo rất quan tâm Vấn đề con người làvấn đề trung tâm của Nho giáo, nhưng nó không được bàn đến trong tất cả các mặt màchỉ chú trọng vào khía cạnh luân lý, đạo đức nhằm mục đích xoa dịu mâu thuẫn giaicấp và ổn định trật tự xã hội

Nhìn chung trong Nho giáo, người phụ nữ được đánh giá là một lực lượng cơ bản

để xây dựng xã hội, nhưng họ luôn ở vị trí phụ thuộc vào nam giới Họ chỉ tồn tại với

tư cách là một yếu tố cần, đủ cho trật tự gia đình, xã hội Trong Nho giáo, số phận củangười phụ nữ cũng giống như số phận con người nói chung Theo Khổng Tử, conngười có mệnh và không thể cưỡng lại mệnh; còn Mạnh Tử thì cho rằng, trời đã an bàiđịa vị xã hội của con người Đổng Trọng Thư thì cho rằng: trời là chủ tể của việcngười, người có công thì thưởng, có tội thì phạt, bắt khổ phải khổ, cho sung sướngđược sung sướng [16; tr.386] Quan niệm này được xây dựng trên lập trường của giaicấp thống trị, nó buộc con người nói chung và đặc biệt là người phụ nữ vào khuônphép nhất định của xã hội, nó xoa dịu mâu thuẫn giai cấp, sự bất công trong xã hộiphong kiến khiến cho người phụ nữ luôn cam chịu, nhẫn nhục, bằng lòng với số phậncủa mình

Tư tưởng của Khổng Tử về người phụ nữ không có nhiều, trong Luận ngữ chỉ cómột câu nhận xét về nữ giới: “Tử viết: Duy nữ tử dự tiểu nhân vi nan dưỡng dã Cậnchi tắc bất tôn, viễn chi tắc oán” Dịch là “Chỉ có đàn bà và tiểu nhân là khó đối xử.Nếu gần thì họ xấc xược, nếu xa thì họ oán” [4; tr.282] Có thể thấy rằng, Khổng Tửxếp phụ nữ chung hàng với tiểu nhân Vì vậy, chỉ có một cách khắc chế là khép họ vàokhuôn phép của lễ giáo Đó là sợi dây tư tưởng buộc chặt nhân dân nói chung hayngười phụ nữ nói riêng vào chế độ phong kiến, để kéo dài chế độ ấy từ đời này qua đờikhác Khổng Tử nghiêm khắc đòi hỏi phải tôn trọng những khuôn phép ấy trong mọiquan hệ vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè cũng như trong sinh hoạt hàng

Trang 10

ngày Tuy rằng Khổng Tử có thái độ không mấy thân thiện với phụ nữ nhưng ôngkhông phải là người không biết đến giá trị của nữ giới “Tử viết: Tài nan Bất kì nhiênhồ? Đường, Ngu chi tế, ư tư vi thạnh Hữu phụ nhân yên, cửu nhân nhi dĩ” Dịch là:Khổng tử viết “Bậc nhân tài khó được Lời ấy há chẳng đúng sao? Đời Đường của vuaNghiêu, đời Ngu của vua Thuấn là khoảng đời thịnh trị chỉ có được năm bậc nhân tài

mà thôi Đến đời nhà Chu của chúng ta, nhà vua khởi thủy là Võ Vương chỉ có đượcmười bậc nhân tài thôi Trong đó có một nữ nhân tài, thế thì nam nhân tài chỉ có chín

mà thôi”[4; tr.130 – 131]; người phụ nữ được Khổng Tử nhắc tới ở đây là bà ẤpKhương, vợ vua Võ Vương Như vậy, ta có thể thấy rằng Khổng Tử không phải làngười có thái độ khắt khe khinh rẻ phụ nữ mà chỉ sau khi Khổng Tử mất đi, nhữngngười kế tục ông điển hình là Đổng Trọng Thư đã không thấy được những tư tưởngcủa ông, hiểu nhầm dụng ý của ông, từ đó xây dựng nên những lễ giáo hà khắc, nghiệtngã để duy trì trật tự xã hội mà đặc biệt là đối với người phụ nữ nhằm xây dựng mẫungười phụ nữ biết thân biết phận Từ đời nhà Hán trở đi, tư tưởng khinh rẻ phụ nữ, coiphụ nữ là những kẻ khó dạy “Phụ nhân nan hóa” ngày càng được khắc sâu và đượcxây dựng thành những giáo lễ, giáo điều, chuẩn mực bắt buộc người phụ nữ phải thựchiện theo Từ đó cả xã hội phong kiến Trung Quốc nói chung luôn đặt người phụ nữ ởđịa vị thấp hèn và phụ thuộc vào người đàn ông

Xã hội phong kiến Trung Quốc là xã hội nam quyền, phụ nữ chỉ là công cụ, vàphụ thuộc vào nam giới trong gia đình (người cha, người chồng, người con trai (contrai trưởng)) Điều này được thể hiện qua các từ xưng hô với phụ nữ như “a đầu”, “phunhân”, “nội nhân” “Phu nhân” chẳng qua được hiểu là người của “trượng phu” (tức làngười chồng) Giá trị nhân sinh quan của người phụ nữ chỉ là người giúp chồng trongviệc dạy con, nấu cơm, quét dọn, giặt giũ, hoàn toàn không có tư cách phục vụ quốcgia và cộng đồng Phạm vi hoạt động của họ cũng chỉ dừng lại ở trước và sau nhà,không có quyền được ra ngoài xã hội Có nghĩa là phụ nữ chỉ có thể cai quản gia sựnhưng trong việc cai quản gia sự ấy họ phải thuận theo người chồng Có những câu tụcngữ như: “ Huynh đệ như thủ túc, thê tử như y phục” hay “Đánh vợ, mắng vợ, hết tiềnbán vợ” [35; tr.40] Những câu nói này thể hiện sắc thái chủ nghĩa nam quyền, phảnánh địa vị xã hội bị áp bức, bị ngược đãi của người phụ nữ trong xã hội phong kiếnTrung Quốc

Trang 11

Nho giáo Trung Hoa là triết học nam quyền, tư tưởng “Tam tòng”, “Tứ đức” làthuận theo yêu cầu thống trị của nam giới, đưa tư tưởng “Nam tôn, nữ ti” ăn sâu vào

hệ thống giá trị xã hội, để lại dấu ấn không thể phai mờ Sự kìm kẹp về lễ giáo thể hiệntrong cả những cử chỉ hành động nhỏ nhất như: “Hành bất động quần, tiếu bất lộ xỉ”tức là “đi không được rung váy, cười không được lộ răng” [35; tr.41] Hàng loạt nhữngyêu cầu, quy tắc cho phụ nữ bao gồm: lời ăn tiếng nói phải phải chuẩn mực, thái độphải cung kính lễ phép Họ coi người phụ nữ là những kẻ ngu muội, không có trí tuệ

và không cần có trí tuệ để làm gì, vì ngoài chuyện tuân phục, chăm sóc chồng con thìthiên chức của người phụ nữ nào có gì khác nữa Người đàn ông trong xã hội phongkiến Trung Quốc cần người phụ nữ ngu muội, vô tri để họ phải nhờ dựa vào sự đa tài,bác học của người đàn ông Cho dù người phụ nữ ấy có tài giỏi đến đâu đi nữa thìcũng phải vờ như không biết, như vậy mới thỏa nguyện được tính tự tôn của người đànông, mới nhận được sự yêu thương và che chở của họ Đã không được thể hiện conngười mình, người phụ nữ còn phải chịu sự gán gép cho những tính xấu như lắm lời,thích gây chuyện thị phi, dễ thay đổi, hay ghen ghét, lòng dạ độc ác, thâm hiểm khônlường Ngay cả sắc đẹp của người phụ nữ cũng là cái để người đời gieo rắc bao tiếngxấu Trong sử sách Trung Quốc đã có những nhan sắc làm cho khuynh thành đổ nướcnhư truyện về Trụ Vương, Đát Kỉ … Người ta đã có những câu chiêm nghiệm như:

“Triết phu thành thành, triết phụ ngiêng thành” tức là: “người đàn ông tài giỏi có thểgiúp quốc gia thịnh vượng, nhưng người phụ nữ xinh đẹp, tài giỏi thì lại có thể gây họamất nước” [35; tr.45]

Thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến Trung Quốc thật hẩm hiu,

cả cuộc đời họ là một chuỗi những bi kịch Với sự chi phối của người đàn ông, từ khisinh ra họ đã không được chào đón với tư tưởng “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”,người con gái không có quyền được hưởng thừa kế Người ta cho rằng, người con gáichỉ là thành viên tạm thời trong gia đình, khi lấy chồng thì là con người ta rồi Chế độhôn nhân trong xã hội phong kiến là do cha mẹ sắp đặt, con cái không được phépchống đối, bất luận người chồng ấy có như thế nào thì người vợ cũng phải theo Khi vềnhà chồng rồi thì ngay cả tên họ của mình cũng không được giữ, phải sử dụng họ tênchồng để xưng hô Để đảm bảo quyền thừa kế cho người chồng thì người vợ phải sinhđược con trai Theo quan niệm của người Trung Quốc trong xã hội phong kiến, trong 3tội bất hiếu, tội không có con trai để nối dõi tông đường, thờ cúng tổ tiên là tội nặng

Trang 12

nhất Vì thế nên người đàn ông có quyền có “năm thê bảy thiếp”, còn người phụ nữ đãlấy chồng thì chỉ được biết đến một người chồng ấy mà thôi Người đàn ông có vợ chết

mà đi bước nữa thì được coi là hợp với lẽ trời, còn người đàn bà có chồng chết thì phải

ở vậy “tòng tử”, thủ tiết suốt đời, nếu có đi bước nữa thì sẽ bị xã hội khinh ghét Theo

đó, người phụ nữ phải sống theo chữ “Lễ” để ngăn cấm đại dục, phải khép mình vàocái lễ giáo riêng của bản thân, coi đó như mục đích sống

Vấn đề về người phụ nữ trong Nho giáo không được bàn luận nhiều và không có

hệ thống Có thể nói trung tâm của vấn đề này chính là phạm trù “Tam tòng”, “Tứđức”, nó được coi là chuẩn mực cơ bản để xây dựng hình ảnh người phụ nữ trong xãhội phong kiến

1.2 Quan niệm về“Tam tòng”, “Tứ đức” trong Nho giáo

1.2.1 Nội dung của quan niệm về “Tam tòng”, “Tứ đức” trong Nho giáo

Nho giáo đặt ra một loạt những nguyên tắc lễ nghĩa như: “Tam cương”, “Ngũthường”, “Tam tòng”, “Tứ đức” để làm chuẩn mực cho mọi người trong xã hội thựchiện nhằm đạt tới mục đích an sinh xã hội Trong khi “Tam cương”, “Ngũ thường” làchuẩn mực đạo đức mà người đàn ông, người quân tử phải theo, thì “Tam tòng”, “Tứđức” là cái lẽ đạo đức người phụ nữ dù muốn hay không muốn cũng phải thuận theo

“Tư tưởng “Tam tòng”, “Tứ đức”được chép trong sách nghi lễ đời Hán mới xuất hiện”[23; tr.227]

Tam tòng là: - Tại gia tòng phụ

- Xuất giá tòng phu

- Phu tử tòng tử

Có thể hiểu: người phụ nữ khi còn là con gái ở trong nhà phải thuận theo cha; khilấy chồng thì phải theo chồng; khi chồng chết thì phải theo con (con trai trưởng)

Tứ đức là: Công – Dung – Ngôn – Hạnh

- Công là nữ công gia chánh, tề gia nội trợ Chữ “công” đã bao gồm cả giới hạn vàphạm vi công việc mà người phụ nữ được tham gia đó là công việc gia đình Ngườiphụ nữ phải khéo léo, biết làm việc một cách tỉ mỉ, có rèn luyện đến điệu nghệ

- Dung là vẻ đẹp hình thức, là dung mạo, dáng điệu, nét mặt, cách đi đứng, nói cườikết hợp với cách lựa chọn trang phục, trang điểm

- Ngôn là lời ăn tiếng nói, nói năng phải có ý tứ, nhã nhặn, kín đáo, âm thanh củalời nói phải nhỏ nhẹ, dễ nghe, thể hiện sự lịch sự lễ phép

Trang 13

- Hạnh là hạnh kiểm, đức hạnh, phẩm giá, là sự nết na, hành vi theo mực thước củangười phụ nữ, lòng nhân ái, sự tuân theo những lễ giáo, hiếu đễ với cha mẹ, giữ trọntrinh tiết với chồng.

Thời đại của Khổng Tử là thời đại mà “bá đạo” (đạo của các nước chư hầu) lấn át

“vương đạo” (đạo của nhà Chu), trật tự lễ nghĩa của nhà chu bị đảo lộn Trước tìnhhình đó, đứng trên lập trường của bộ phận cấp tiến trong tầng lớp quý tộc cũ, Khổng

Tử chủ trương lập lại kỉ cương cũ của nhà Chu Khổng Tử tập trung xây dựng mẫungười quân tử với chủ trương “đức trị”, là mẫu người lý tưởng để người đàn ông trong

xã hội phong kiến phấn đấu Về người phụ nữ, ông cũng cho rằng họ là một lực lượngđông đảo để xây dựng xã hội, sự ổn định trật tự xã hội cũng một phần nào nhờ vào họ,.Nhưng do quan niệm “trọng nam khinh nữ” nên ông hầu như không chú tâm xây dựngmẫu người phụ nữ cụ thể cho xã hội đương thời “Tam tòng”, “Tứ đức” là những quanniệm cơ bản nhất về người phụ nữ của ông Lý giải vấn đề này ta có một logic nhấtđịnh, vì người đàn ông được coi trọng, được xem là trụ cột của gia đình và xã hội, nênngười phụ nữ luôn phải phụ thuộc vào họ Nếu người đàn ông tu dưỡng đức tài để trởthành những bậc thánh nhân quân tử, những bậc đại trượng phu, thì tất yếu ở vị trí phụthuộc người phụ nữ phải đi vào khuôn phép

Mặt khác Khổng Tử luôn xem gia đình là tế bào của xã hội,”dục trị kí quốc giả,tiên tề kì gia”dịch là “muốn sửa trị việc nước, trước hết phải sắp xếp nhà cửa chochỉnh đã” [4; tr.8-9] Ông xây dựng nên những mối quan hệ chặt chẽ trong gia đình

“phụ phụ, tử tử, huynh huynh, đệ đệ, phu phu, phụ phụ, nhi gia chính đạo” dịch là “cha ra cha, con ra con, anh ra anh, em ra em, chồng ra chồng, vợ ra vợ” [18; tr.267].Con cái trong nhà, đặc biệt là con gái thì phải hết lòng tuân phục người cha, như thếmới được coi là có hiếu kính với cha mẹ Việc “tòng cha” của người con trai thì lại cónhững điều khác với người con gái Với người con trai, “tòng cha” là phải chăm chỉhọc tập kinh sách để biết điều phải trái, cái đáng làm và cái không đáng làm để có lúckhuyên can người cha, đó mới gọi là đạo hiếu Còn đối với người con gái việc “tòngcha” phải là hoàn toàn tuân phục, nghe lời, không có ý kiến gì xen vào quyết định củangười cha đối với mọi công việc trong gia đình và ngoài xã hội Khi đi lấy chồng rồithì người phụ nữ phải phục tùng chồng mình Mạnh Tử trong Đằng công văn thượng

có đoạn: “ Phụ tử hữu thân, quân thần hữu nghĩa, phu phụ hữu biệt, trưởng ấu hữu tự,bằng hữu hữu tín” Có nghĩa là: “ cha con có thân, vua tôi có nghĩa, vợ chồng có khác,

Trang 14

già trẻ có tôn ti, bạn bè có niềm tin” [4; tr.168] Trong đó, “phu phụ hữu biệt” có nghĩa

là sự khác biệt giữa vợ và chồng, người phụ nữ phải thuận theo chồng Sự vinh hoa,giàu sang, địa vị của họ chỉ dựa vào chồng con

Xuất phát từ cơ sở xã hội với tư tưởng coi trọng huyết thống và từ thái độ coikhinh phụ nữ khi xếp đàn bà và tiểu nhân cùng thuộc vào một hạng người khó nuôidạy, thì người phụ nữ chỉ biết sống ngoan ngoãn bên cạnh chồng, không có số phậnnào khác Nếu như người đàn ông có “năm thê bảy thiếp” thì người đàn bà không thể

có hai chồng được ví như kẻ trung thần không được thờ hai vua “trung thần bất sư nhịquân, liệt nữ bất giá nhị phu” [18; tr.269] Nếu chẳng may người chồng mất đi thìngười phụ nữ phải ở vậy nuôi con, nếu không như vậy sẽ bị coi là thất tiết, và bị xã hộikhinh rẻ Như vậy, theo đạo “Tam tòng” người phụ nữ trong suốt cuộc đời mình phảiphụ thuộc vào những người đàn ông đó là người cha, người chồng, người con (con traitrưởng)

“Tứ đức” là những khuôn mẫu để từ đó người phụ nữ rèn luyện bản thân vàokhuôn phép, tự biết kiềm chế, tước bỏ mọi ham muốn cá nhân, chịu thuần dưỡng đểvâng lời, để nhường nhịn, để kiên nhẫn chịu chịu đựng và hi sinh vô điều kiện Trongbốn đức nêu trên, Khổng Tử đặc biệt nhấn mạnh đức “hạnh” Theo ông, người phụ nữđạt đến đức hạnh điều căn bản là phải có tấm lòng “hiếu” nhưng phải dựa trên cơ sở

“ái”, “kính” Người có hiếu trước hết phải là người chăm sóc cha mẹ, chăm sóc nhưngphải “kính”, không “kính” là bất hiếu Trong đạo hiếu, Khổng Tử nhấn mạnh hai điều

“vô vi”, “vô cải” Vô vi là cách đối nhân xử thế với cha mẹ trong hoàn cảnh bìnhthường, thờ cha mẹ không trái lễ Vô cải là cách đối xử với cha mẹ trong cảnh biến,không thay lòng đổi dạ Với hai điều này, Khổng Tử muốn nhấn mạnh đến chữ “tòng”đối với cha mẹ của người con nói chung và của người phụ nữ nói riêng

Từ thời Mạnh Tử trở đi Nho giáo tồn tại ngang với Lão giáo, Mặc giáo, cuối thờiChiến Quốc, Nho giáo có phần suy tàn Đến cuối đời Tây Hán, Nho giáo dần dần thịnh

và chiếm vị trí độc tôn Hán Nho có công sưu tầm những kinh sách cũ, giải thích các ýnghĩa và sắp đặt ra các kinh truyện lưu truyền ở đời Nhưng Hán Nho lại thiên về cáihọc chương cú huấn hỗ, bỏ mất cái nghĩa lý sâu xa, thành thử tinh thần ban đầu củaNho giáo đã bị sai lệch đi rất nhiều

Một đại biểu tiêu biểu của Hán Nho là Đổng Trọng Thư (180 – 105 trước Côngnguyên), dưới danh nghĩa là tiếp thu tư tưởng của Nho giáo nhưng trên thực tế Đổng

Trang 15

Trọng Thư đã khuếch trương những yếu tố duy tâm, thần bí trong học thuyết củaKhổng Tử Tư tưởng triết học của Đổng Trọng Thư được coi như là hệ tư tưởng chínhthống, là khuôn mẫu đạo đức xã hội cho các triều đại phong kiến Trung Quốc Tưtưởng triết học và tư tưởng chính trị của ông thể hiện mục đích phục vụ cho vươngquyền của chế độ phong kiến Cũng như những danh nho đời trước, Đổng Trọng Thưcũng cho rằng trong quan hệ giữa con người với con người có ba mối quan hệ cơ bản:vua tôi, cha con, vợ chồng, với “tam cương, ngũ thường”, “tam tòng, tứ đức”, nhưngông đã tước đi yếu tố nhân văn, nhân ái, tiến bộ của Khổng Tử và thay vào đó lànhững quan niệm có tính nghiệt ngã, cứng nhắc, những quy tắc phi đạo đức:

“Quân xử thần tử, thần bất tử bất trungPhụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu” [16; tr.394]

Từ đây có thể suy ra rằng, tình thế của người phụ nữ là phải tuyệt đối tuân lệnh,người chồng nói dù đúng dù sai thì người phụ nữ không có quyền tham gia bình luậnhay phản kháng Đạo lý làm người đã trở thành quy định khắt khe, bề tôi phải trungvới vua, con phải hiếu với cha mẹ, vợ phải giữ đạo tòng với chồng Người phụ nữ lạicàng phải phục tùng một cách tuyệt đối hơn nữa với người cha, người chồng của mình;giam mình trong vòng cương tỏa của “ Tam tòng, tứ đức” mà rèn luyện nhân cách, rènluyện kĩ năng, rèn luyện tính nhẫn nhục, chịu đựng để làm một người con có hiếu, mộtngười vợ biết phục tùng, một người mẹ biết chăm lo cho gia đình, con cái Đó chính làthiên chức thiêng liêng định sẵn cho người phụ nữ

“ Tam tòng”, “Tứ đức” là hai pham trù cơ bản, là chuẩn mực để xây dựng mẫungười phụ nữ phong kiến của Nho giáo, giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ không thểtách rời Điểm chung giữa hai phạm trù này là chúng đều là những quy tắc, lễ nghĩa,chuẩn mực bắt buộc đối với người phụ nữ trong xã hội phong kiến Trung Hoa Cả haiphạm trù này đều được giai cấp thống trị phong kiến sử dụng ngày một triệt để nhưmột công cụ đắc lực để giáo hóa người phụ nữ với mục đích: ổn định xã hội, bảo vệquyền lợi của giai cấp thống trị và chế độ phụ quyền

Tuy nhiên, giữa chúng cũng có nét khác biệt ở phạm vi, đối tượng đề cập Phạmtrù “Tam tòng” chỉ mối quan hệ giữa người phụ nữ với nam giới trong gia đình đó làmối quan hệ với người cha, người chồng và người con trai Nó đề cao sự phục tùngmột chiều, sự chung thủy của họ với người đàn ông Còn phạm trù “Tứ đức” lại chútrọng và sự tu dưỡng của chính bản thân người phụ nữ Tu dưỡng công, dung, ngôn,

Trang 16

hạnh để đạt được “Tam tòng”, đó chính là điều kiện cần có để thực hiện tốt đạo tòngcha, tòng chồng và tòng con Ngược lại, “Tam tòng” lại là minh chứng cho “Tứ đức”,cho phẩm hạnh của người phụ nữ Trong bản thân phạm trù “Tứ đức”, các yếu tố cũng

có mối quan hệ với nhau; đó là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức “Hạnh” là nộidung, “công, dung, ngôn” là hình thức Một người phụ nữ biết học hỏi chăm chỉ đểlàm việc, biết sửa soạn cho nhan sắc gọn gàng, thanh lịch, biết nói ra những lời lẽ taonhã, ý nghĩa, đó chính là những điều kiện để cho đức “hạnh” của người ấy được vẹntoàn Cả bốn yếu tố của “Tứ đức” bổ sung cho nhau và được thể hiện thông qua nhau Khi hiểu được mối quan hệ giữa các phạm trù, cũng như mối quan hệ của các yếu

tố trong một phạm trù, chúng ta sẽ có được thái độ khách quan, biện chứng khi xemxét ảnh hưởng của chúng đối với người phụ nữ Việt Nam

1.2.2 Quan niệm về “Tam tòng”, “Tứ đức” trong Nho giáo ở Việt Nam.

Nho giáo có vị trí quan trọng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam Đạo Nho đượctruyền bá vào Việt Nam không phải bằng con đường giao lưu văn hóa, cũng khôngphải bằng con đường di cư của người bản xứ mà bằng con đường xâm lược của phongkiến phương Bắc vào thế kỉ thứ II sau Công nguyên, tức là ngay từ thời Tây Hán Việchai thái thú Tích Quang và Nhâm Biên dựng học hiệu để dạy lễ nghĩa ở Giao Chỉ đãđánh dấu sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam Nho giáo du nhập vào Việt Namthời Bắc thuộc không còn là Nho giáo của thời nguyên sơ mà là Nho giáo đã được HánNho, trước nhất là Đổng Trọng Thư cải tạo cho thích hợp với chế độ phong kiến trungương tập quyền Nho giáo thời kì đó vừa phục vụ cho trật tự của bộ máy quan liêu, vừađược thần học hóa để kết hợp với Đạo giáo và dễ lợi dụng yếu tố mê tín của nhân dân.Nho giáo lúc này là công cụ của bọn xâm lược mang theo nhằm mục đích đồng hóa,thống trị lâu dài dân tộc ta Sự áp đặt này mâu thuẫn gay gắt với thế giới quan chấtphác, với truyền thống cộng đồng và ý thức độc lập tự chủ của người Việt Nam Vìvậy bên cạnh việc chống áp bức bóc lột của bọn xâm lược, người Việt còn phải chịu sựthống trị về mặt tư tưởng Nhìn tổng thể thì trong hơn một nghìn năm Bắc thuộc, mặc

dù chính quyền phong kiến phương Bắc ra sức truyền bá đạo Nho nhưng Nho giáo vẫnchưa có vai trò gì đáng kể trong xã hội Việt Nam Từ đời nhà Hán, người nước ta họctập Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo như bên Trung Quốc, nhưng Nho giáo vẫn chưathâm nhập sâu được ở trong dân gian vì Nho giáo gắn liền với gót chân của những kẻxâm lược Hơn nữa, đạo Nho rất khó học vì phải biết chữ Hán; còn Phật giáo và Đạo

Trang 17

giáo với những triết lý bình dị, đứng về phía quần chúng đau khổ nên ưu thế vẫn thuộc

về phía Phật giáo và Đạo giáo

Khi quân xâm lược bị đánh đuổi, nền độc lập được xây dựng, giai cấp phong kiếnViệt Nam bắt đầu củng cố nền thống trị trên mọi lĩnh vực Cùng với việc thiết lập nhànước phong kiến với bộ máy quan lại rộng khắp, giai cấp phong kiến Việt Nam cũng

đã bắt đầu chú tâm vào việc tổ chức lại nền giáo dục, truyền bá cả Nho giáo, Phật giáo

và Đạo giáo Chế độ phong kiến ngày càng được củng cố và phát triển, nhà nướcphong kiến cần những người có năng lực để phục vụ cho nó Phật giáo và Đạo giáokhông thể đảm nhiệm được việc ấy Nho giáo với cả một hệ thống tư tưởng tuyêntruyền và cổ vũ cho việc tôn thờ nhà vua mới có tác dụng tích cực bảo vệ chế độphong kiến và tôn ti trật tự của nó Chính vì thế, các đời vua chúa tiếp theo mới dầndần quan tâm đặc biệt và tích cực phát triển Nho giáo hơn Từ thời nhà Lý, Trần trở điNho giáo được coi trọng và và có điều kiện phát triển mạnh mẽ Ở triều Lý, năm 1070vua Lý Thánh Tông (1034 – 1072) đã xây dựng văn miếu thờ Chu Công, Khổng Tử và

72 người học trò của Khổng Tử Quốc Tử Giám được thành lâp để làm nơi học tập chocon em của tầng lớp quý tộc, quan lại, nền đại học Việt Nam bắt đầu được hình thành

từ đó Năm 1096, Lý Nhân Tông (1073 – 1127) mở khoa thi tam trường để lựa chọnhiền tài

Sang đời nhà Trần, do yêu cầu củng cố chế độ phong kiến, bộ máy nhà nước cầnđược tăng cường để củng cố quyền lực, Nho giáo đã được giai cấp quý tộc phong kiếnphát triển coi như là hệ tư tưởng chính thống Đại bộ phận quan lại trong bộ máy nhànước đều xuất thân từ giới nho sĩ Cuối đời Trần, xu thế Tống Nho đã thể hiện khá rõ ởnhững nhà Nho như Chu Văn An, Trương Hán Siêu…

Đầu thế kỉ XV, khi Lê Lợi đánh thắng quân xâm lược nhà Minh, thành lập nhànước phong kiến triều Lê sơ thì chế độ phong kiến Việt Nam đã đi vào giai đoạn pháttriển cao nhất Nho giáo chiếm địa vị độc tôn trong thượng tầng kiến trúc phong kiến.Trên cơ sở thuyết chính danh và đạo “nhân” của Nho giáo, nhà nước phong kiến đời

Lê sơ đã ra sức ổn định và củng cố các quan hệ phong kiến với những thứ bậc, tôn tichặt chẽ Đặc biệt ở đời vua Lê thánh Tông, đạo Nho đã đạt đến điểm cực thịnh.Những tư tưởng của Nho giáo thời kì này vừa mang sắc thái của đạo Nho, vừa thấmnhuần chủ nghĩa yêu nước, đây là nét đặc sắc trong truyền thống tư tưởng của dân tộcViệt Nam

Trang 18

Từ thế kỉ XVI trở đi, xã hội Việt Nam có nhiều biến động, Nho giáo từ đó cũngbộc lộ những yếu kém và tiêu cực Trước sự bất lực của Nho giáo trong việc lãnh đạođất nước, nhà nước phong kiến Việt Nam đã viện đến Phật giáo, Đạo giáo, tạo nên cáithế “Tam giáo đồng nguyên” như là một sự bổ trợ cho sự phát triển của Nho giáo.Sang thế kỉ XIX, Nguyễn Ánh lật đổ chính quyền Tây Sơn lập nên triều Nguyễn, đâycũng là thời kì chiến tranh liên miên, kinh tế trì trệ, đời sống nhân dân cực khổ Để duytrì bộ máy thống trị phong kiến, nhà Nguyễn đã chủ trương độc tôn Nho giáo, coi Nhogiáo là một công cụ đắc lực trong việc cai trị Nhưng lúc bấy giờ Phật giáo và Đạogiáo đang phát triển rất mạnh, cộng thêm sự thâm nhập ngày càng mạnh mẽ của ThiênChúa giáo đã làm cho ý định này không thể thực hiện được Thực dân Pháp xâm lượcnước ta và thiết lập nền thống trị của chúng, Nho giáo bị gạt sang một bên với dấu mốc

là việc chấm dứt thi cử từ năm 1917 Nhưng sau đó, thực dân Pháp lại tiếp tục sử dụngNho giáo nhằm ràng buộc nhân dân ta bằng trật tự và lễ giáo phong kiến

Nho giáo đã đi cùng với lịch sử nước ta trên một chặng đường dài, trên chặngđường ấy, Nho giáo đã để lại những ảnh hưởng rất sâu đậm đến tư tưởng của dân tộcViệt Nam Điều đáng chú ý là ở Việt Nam trong suốt thời kì phong kiến, mặc dù Nhogiáo chiếm một vị trí quan trọng, có khi là vị trí độc tôn trong đời sống tinh thần, tưtưởng nhưng chưa bao giờ Nho giáo là rập khuôn, thuần túy như trên quê hương đãsản sinh ra nó, mà nó mang đậm màu sắc Việt Nam

Để giữ vững vị tri thống trị của mình, vấn đề đầu tiên mà nhà nước phong kiến đặt

ra là xây dựng con người phục vụ cho xã hội phong kiến Việt Nam độc lập Để làmđược điều này, nhà nước phong kiến Việt Nam đã sử dụng Nho giáo làm hệ tư tưởngthống trị, làm công cụ giáo huấn nhân dân và đối với người phụ nữ thì quan niệmvề”Tam tòng, tứ đức” chính là cái chuẩn mực để cho họ làm theo Đây chính là cơ sở

xã hội, là điều kiện cơ bản nhất để cho quan niệm về “Tam tòng, tứ đức” tồn tại đượctrong xã hội Việt Nam Tuy nhiên ở Việt Nam, quan niệm này được tiếp thu, vận dụngmột cách sáng tạo chứ không phải bê nguyên xi nội dung của “Tam tòng”, “Tứ đức”trong Nho giáo của Trung Quốc

Nhân dân Việt nam có truyền thống tôn trọng phụ nữ, ngay từ buổi hồng hoangcủa dân tộc ta, người phụ nữ đã giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong xã hội Điều đóđược thể hiện hết sức đậm nét trong kho tàng thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ca dao,tục ngữ Việt Nam Mỗi người dân Việt Nam đều ghi nhớ huyền thoại về tổ tiên, gốc

Trang 19

gác của mình đó là truyền thuyết con rồng, cháu tiên với cha là Lạc Long Quân, mẹ là

Âu Cơ Từ đó có biết bao nhiêu sự tích, truyền thuyết đều có nói đến người phụ nữ vớitấm lòng tôn kính Người anh hùng làng Gióng có mẹ mà “không cần” có cha, Sọ Dừacũng chỉ biết mẹ… Sau đó, hình ảnh người cha xuất hiện nhưng vẫn không thể vượtqua được vai trò của người mẹ Khi chuyển từ chế độ mẫu hệ sang chế độ phụ hệ, cácthế hệ người Việt vẫn kế thừa và bảo lưu truyền thống tốt đẹp này Tín ngưỡng thờMẫu của người Việt Nam đâu cũng có Đó cũng là những minh chứng xác đáng đểchứng minh cho việc người Việt Nam rất coi trọng người phụ nữ dù họ ở cương vị nàoNho giáo được truyền vào Việt Nam với tất cả những tư tưởng về triết học, chínhtrị, đạo đức của nó Mặc dù, những tư tưởng thống trị có phần khắc nghiệt đó không ănsâu vào trong dân gian Việt Nam nhưng nó cũng đã có phần ảnh hưởng vào đời sốngvăn hóa của dân tộc ta Nội dung quan niệm về “Tam tòng”, “Tứ đức” ở Việt Namnhìn chung không có gì khác biệt so với nội dung quan niệm về “Tam tòng”, “Tứ đức”

Một là, do tác dụng của người phụ nữ Việt Nam không chỉ đóng khung trong nội

bộ gia đình Họ có thể tham gia một số hoạt động kinh tế xã hội và sản xuất kinhdoanh như: mở hiệu buôn, mở hàng ăn, làm xưởng gia công … Việc chợ búa, buônbán phần nhiều do phụ nữ đảm nhiệm nên kinh tế gia đình phần nhiều do phụ nữ quản

lý Trong sản xuất nông nghiệp lại càng không thể thiếu phụ nữ Có thể thấy phụ nữViệt Nam không đứng ngoài hoạt động xã hội

Hai là, trong gia đình, người phụ nữ Việt Nam không phải mọi việc đều nghe lờinam giới Trái lại họ có quyền có tiếng nói trong công việc gia đình; đối với nhữngcông việc trọng đại, cả vợ lẫn chồng đều cùng nhau bàn bạc Tục ngữ Việt Nam cócâu: “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”

Ba là, trong việc hôn nhân, người phụ nữ Việt Nam có chút bình đẳng hơn so vớingười phụ nữ Trung Quốc Hay trong việc thừa kế, quyền lợi của người phụ nữ Việt

Trang 20

Nam cũng được bảo vệ Trong Bộ luật Hồng Đức có những điều luật cụ thể quy định

rõ ràng quyền lợi và nghĩa vụ của người phụ nữ

Ngoài ra, trong xã hội phong kiến Việt Nam, phụ nữ thuộc tầng lớp xã hội nàochịu ảnh hưởng tư tưởng Nho gia càng lớn thì thì sự trói buộc của lễ giáo phong kiến

mà cụ thể là quan niệm “Tam tòng”, “Tứ đức” đối với họ càng nặng nề, như trong cácgia đình hoàng tộc, quan lại, nho sĩ Còn người phụ nữ trong các gia đình bình dân dochịu ảnh hưởng tu tưởng Nho gia tương đối ít, nên sự trói buộc của lễ giáo phong kiếnđối với họ cũng tương đối ít

Hơn nữa, bản thân người phụ nữ Việt Nam từ xưa đã thực hiện rất tốt những yêucầu trong nội dung của “Tam tòng”, “Tứ đức” nên việc tiếp thu cũng trở nên nhanhchóng, còn việc thực hiện thì thiên về tính tự nguyện nhiều hơn Với truyền thống tôntrọng người phụ nữ có từ lâu đời thì nội dung của “Tam tòng”, “Tứ đức” khi đi vàothực hiện trong xã hội Việt Nam đã bớt phần khắt khe hơn

Tuy nhiên, ta cũng không thể không kể đến những hệ lụy mà Nho giáo để lại sauhàng nghìn năm phong kiến Trung Quốc đô hộ nước ta Đó là việc nảy sinh ra cácquan niệm, phong tục cổ hủ, lạc hậu trong xã hội gây ảnh hưởng không nhỏ đến ngườiphụ nữ Có thể kể đến những tư tưởng như “trọng nam khinh nữ”, “nam tôn nữ ty”,

“nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, “trai năm thê bảy thiếp” Từ đó mới sinh ra các

hủ tục lạc hậu như tục tảo hôn, cưỡng hôn, đa thê Người phụ nữ không thể tham giakhoa cử, không thể làm quan, không thể tham gia các hoạt động cúng tế Có thể thấynhững quan niệm, phong tục lạc hậu này vốn không có trong xã hội Việt Nam mà doảnh hưởng từ những tư tưởng trong Nho giáo du nhập vào Việt Nam, nó đã để lạinhiều hậu quả đáng buồn và đè nặng lên tâm lý người phụ nữ Việt Nam, tạo nhiều bấtcông đối với người phụ nữ trong xã hội phong kiến

Ngày nay, chúng ta lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nềntảng cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội Nho giáokhông còn giữ vai trò chi phối trong hệ tư tưởng của người dân Việt Nam, nhưng nóvẫn còn ảnh hưởng trong sinh hoạt và nếp nghĩ của người Việt Nam; cụ thể đối vớingười phụ nữ là quan niệm về “Tam tòng”, “Tứ đức” Xuất phát từ những cơ sở trênchúng ta sẽ nghiên cứu ảnh hưởng của quan niệm về “Tam tòng”,”Tứ đức” đối vớingười phụ nữ Việt Nam hiện nay để có được cái nhìn tổng thể, có thái độ khách quantrong việc đánh giá về giá trị tích cực cũng như hạn chế của nó

Trang 22

Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA QUAN NIỆM VỀ “TAM TÒNG”, “TỨ ĐỨC”

ĐỐI VỚI NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Ảnh hưởng của “Tam tòng” đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay

2.1.1 Ảnh hưởng của quan niệm về “Tam tòng” đối với người phụ nữ giai đoạn

từ phong kiến Việt Nam độc lập đến năm 1945.

Dân tộc ta từ lâu đời đã xây dựng những tình cảm sâu sắc và thủy chung giữa cha

mẹ với con cái và trong tình nghĩa vợ chồng, anh em bè bạn Đó là những tình cảm tựnhiên, bình đẳng và lành mạnh Nhưng từ khi Nho giáo thâm nhập vào những mốiquan hệ đó thì truyền thống đạo đức của nhân dân ta đã bị cải biến đi nhiều và nhiềulúc nó trở thành xiềng xích nô lệ Từ khi bước lên vũ đài lịch sử, các triều đình phongkiến Việt Nam đã dần dần áp dụng triệt để những quy tắc, những chuẩn mực trong nộidung của Nho giáo để từng bước ổn định trật tự xã hôi, phục vụ cho công cuộc thốngtrị của mình đối với xã hội Chủ trương duy trì đạo “Tam tòng” đối với người phụ nữ

là để duy trì quyền lực của người đàn ông, đảm bảo tôn ti trật tự từ trong gia đình rangoài xã hội

Người con gái khi chưa lấy chồng, khi còn được ở nhà với cha mẹ thì phải nghelời cha mẹ Trong chuyện hôn nhân, nhân dân ta vốn có truyền thống lành mạnh “traikhôn tìm vợ, gái lớn gả chồng” Tuy nhiên, từ khi lễ giáo Nho học thâm nhập vào cuộcsống của nhân dân, với tư tưởng “nam nữ thụ thụ bất thân” người phụ nữ không cóquyền tự do yêu đương, lựa chọn bạn đời mà phải phụ thuộc vào sự quyết định của cha

mẹ, thế nên mới xảy ra những cảnh ngang trái:

“Thân em mười sáu tuổi đầuCha mẹ gả ép làm dâu nhà ngườiNói ra sợ chị em cườiNăm ba chuyện thảm, chín mười chuyện cay”

Khác với lễ giáo phong kiến, quan hệ vợ chồng ở Việt Nam trước kia là quan hệbình đẳng “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”, họ là những người bạnchiến đấu đồng tâm đồng ý với nhau, họ là những người hợp tác với nhau trong sảnxuất:

“Trên đồng cạn dưới đồng sâuChồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”

Trang 23

Dưới ách thống trị hàng nghìn năm của chế độ phong kiến, lễ giáo phong kiếncũng có những tác động vào suy nghĩ của nhân dân ta, địa vị của người phụ nữ cũng vìthế mà dần dần bị hạ thấp Người phụ nữ phải chịu rất nhiều đau khổ Nhưng họ vẫn lànhững người vợ thủy chung, hình tượng “hòn vọng phu” và câu chuyện về nó là mộtminh chứng cụ thể nhất.

Từ khi Việt Nam trở thành một nước độc lập, các triều đình phong kiến Việt Nam

đã từng bước đưa Nho giáo vào làm hệ tư tưởng chính thống để cai trị đất nước Quanniệm về “Tam tòng” được coi là lý tưởng sống của những người phụ nữ trong xã hộiphong kiến Cả cuộc đời họ phải sống phụ thuộc vào người đàn ông, đây cũng chính làmột trong những cách để giữ cho xã hội trật tự, ổn định Các triều đình phong kiếnluôn có những quy định rất chặt chẽ để đảm bảo mỗi người phụ nữ trong xã hội phảilàm tròn đạo “tòng” và bảo vệ quyền của người đàn ông Pháp luật phong kiến chophép người chồng có thể bỏ vợ nếu như người vợ phạm vào một trong bảy tội “thấtxuất” là: không có con, dâm dật, không thờ cha mẹ chồng, lắm miệng, trộm cắp, ghentuông, có ác tật [2; tr.12] Lễ giáo phong kiến có những hình phạt rất dã man nếungười phụ nữ lỡ phạm tội; lễ giáo ấy cạo đầu bôi vôi những người con gái trót khôngchồng mà chửa, đóng bè chuối thả trôi sông những người vợ ngoại tình, trong khingười chồng “năm thê bảy thiếp” lại là việc bình thường và được pháp luật bảo vệ.Người đàn bà có chồng chết thì cứ phải ở vậy, đi lấy chồng khác là thất tiết và sẽ bị xãhội chê cười Giai cấp phong kiến đã nâng chữ “tòng tử” thành một nguyên tắc, chuẩnmực để đánh giá phẩm chất của người phụ nữ Người phụ nữ nào suốt đời ở vậy thờchồng, nuôi con thì sẽ được phong tặng cho bốn chữ “Tiết hạnh khả phong” Dư luận

xã hội đối với những người phụ nữ đó là kính trọng, là ngưỡng mộ Điều này đã hìnhthành nên thói quen tâm lý rất lớn trong việc đánh giá tiết hạnh của người phụ nữ trong

xã hội Việt Nam

Tuy nhiên, khác với các triều đại phong kiến Trung Quốc, ở Việt Nam đặc biệt là

ở triều Lê trong bộ Luật Hồng Đức đã có những điều luật bênh vực bảo vệ quyền lợicủa người phụ nữ Điều 322 trong bộ Luật Hồng Đức quy định: con gái hứa gả chồng

mà chưa thành hôn, nếu người con trai có ác tật hay phạm tội hay phá tán gia sản thìcho phép người con gái được kêu quan mà trả đồ lễ [26; tr.126] Điều luật này đã đảmbảo cho người phụ nữ khi hứa hôn không bị ràng buộc, nhất là khi người đàn ông đókhông thể đảm bảo hạnh phúc cho người vợ sau này

Trang 24

Khi đã thành hôn, mặc dù xã hội cũ người đàn ông có quyền “năm thê bảy thiếp”nhưng điều 308 của luật Hồng Đức quy định: Phàm chồng đã bỏ lửng vợ 5 thángkhông đi lại (vợ được trình với quan sở tại và xã quan làm chứng) thì mất vợ, nếu vợ

đã có con thì cho hạn một năm Vì việc quan phải đi xa thì không theo luật này Nếu

đã bỏ vợ mà lại ngăn cản người khác lấy vợ cũ thì phải tội biếm [26; tr.122] Quy địnhnày không có trong bất cứ bộ luật nào của Trung Quốc cũng như các văn bản cổ luậttrước và sau triều Lê

Trong quyền thừa kế tài sản, con gái cũng có phần như con trai Điều 388 của luậtHồng Đức viết: cha mẹ mất cả, có ruộng đất, chưa kịp để lại chúc thư mà anh chị em

tự chia nhau thì lấy 1/20 số ruộng đất là hương hỏa, giao cho người con trai trưởnggiữ, còn lại thì chia nhau Còn điều 373 – 374 quy định: người phụ nữ có quyền sở hữu

về tài sản, gặp trường hợp phải phân chia tài sản giữa vợ và chồng thì luật pháp côngnhận cho người phụ nữ có quyền sở hữu với tài sản riêng của mình do cha mẹ cho khi

đi lấy chồng và có quyền hưởng thụ bình đẳng, chia đôi với tài sản do hai vợ chồngchung sức gây dựng nên [26; tr.139] Ở điều 310 quy định: ngay cả khi người vợphạm vào tội “thất xuất”, người chồng cũng không thể bỏ vợ khi ở trong một trong batrường hợp sau: người vợ đã để tang nhà chồng ba năm, khi lấy nhau nghèo mà bâygiờ giàu có, khi lấy nhau vợ còn họ hàng mà khi bỏ nhau lại không có bà con để trở

về [26; tr.123]

Như vậy, bộ Luật Hồng Đức đã có những điều luật hết sức tiến bộ để bảo vệquyền lợi của người phụ nữ trong phạm vi của “Tam tòng”, điều này thể hiện sự ápdụng có sáng tạo, đổi mới lễ giáo phong kiến của Trung Quốc vào nước ta

Trong bộ Luật Gia Long của triều đình nhà Nguyễn cũng có một số điều quy địnhphần nào chú ý đến quyền lợi và thân phận của người phụ nữ Luật Gia Long nghiêmcấm và có những hình phạt đối với những hành vi lừa gạt để kết hôn Quyển 7 Hộ luậthôn nhân điều 12 Cưỡng chiếm lương gia thê nữ viết rằng : cưỡng đoạt vợ, con gái nhàlành bán cho vương phủ, cho nhà huân công hào thích thì đều bị xử giam chờ thắt cổ.Hay điều 15 Xuất thê viết rằng: nếu chồng bỏ vợ đi biệt ba năm, trong thời gian ấykhông báo quan biết rồi bỏ đi thì phạt 80 trượng, tự ý cải giá thì phạt 100 trượng [15;tr.56]

Quan niệm về “Tam tòng” và việc thực thi nó trong thực tế xã hội phong kiến đãcho thấy chế độ phục tùng được nhà nước phong kiến ra sức củng cố bằng pháp luật,

Trang 25

luân lý, dư luận xã hội Cái thòng lọng gia trưởng, phụ quyền đó ngày càng được thắtchặt đối với người phụ nữ, làm cho họ trở thành những người bị áp bức nhất trongnhững người bị áp bức Các triều đại phong kiến của Việt Nam một mặt đưa ra nhữngđiều luật để bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ, mặt khác lại phổ biến sâu rộng lễ giáophong kiến nhằm đạt được mục đích ổn định xã hội để dễ bề cai trị.

2.1.2 Ảnh hưởng của quan niệm về “Tam tòng” đối với người phụ nữ giai đoạn

từ năm 1945 đến nay.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đánh đổ chế độ thực dân xâm lược của thựcdân Pháp và chế độ phong kiến đã tồn tại hàng trăm năm, đưa đất nước đi theo conđường mới, con đường xã hội chủ nghĩa Chế độ xã hội phong kiến, mà trong đó Nhohọc làm nền tảng tư tưởng đã không còn cơ sở để tiếp tục tồn tại Tuy nhiên, ảnhhưởng của Nho giáo nói chung và quan niệm về “Tam tòng”, “Tứ đức”nói riêng vẫncòn tồn tại và có thể phát huy tác dụng tích cực trong việc xây dựng hình mẫu ngườiphụ nữ trong thời kì mới

Sau cách mạng tháng Tám và sự sụp đổ của thành trì phong kiến, người phụ nữđược giải phóng, họ được đưa lên địa vị làm chủ xã hội, có quyền bình đẳng với namgiới và có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Từ năm

1945 đến năm 1975, đất nước ta vẫn còn chìm trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, đạo

“Tam tòng” đối với người phụ nữ trong thời chiến đã mang những nội dung mới, nổibật là tấm lòng thủy chung chờ đợi của họ Nhiều người phụ nữ hết tiễn chồng rồi lạitiễn con vào chiến trường Từ đó, cuộc đời họ là những tháng ngày chờ đợi mòn mỏi

Sự gặp gỡ và hạnh phúc của người phụ nữ với chồng với con của họ có khi chỉ đượctính bằng giờ, bằng phút Triệu triệu người phụ nữ Việt Nam đã hi sinh tất cả tuổi trẻ,tình yêu, niềm hạnh phúc và cả những khát vọng của bản thân cho sự bình yên của Tổquốc như vậy Người phụ nữ luôn bị coi là phái yếu, luôn cam chịu, an phận Nhưngtrong hoàn cảnh đất nước đang bị quân thù giày xéo, mỗi làng quê trên đất nước ViệtNam là một pháo đài, thì mỗi người phụ nữ cũng trở thành một người chiến sĩ, họtham gia vào lực lượng thanh niên xung phong, phá đá, mở đường, tải đạn, đóng gópsức mình giành lại độc lập cho đất nước Có những tấm gương những người phụ nữ đãtrở thành huyền thoại như: mười cô gái thanh niên xung phong tại Ngã ba Đồng Lộc,

nữ anh hùng lưc lựng vũ trang Nguyễn Thị Chiên, Trần Thị Lý … Nhà thơ Tố Hữu đã

có những vần thơ ca ngợi sự anh dũng của người phụ nữ:

Trang 26

“O du kích nhỏ giương cao súng

Thằng Mĩ lênh khênh bước cúi đầu

Ra thế! To gan hơn béo bụngAnh hùng đâu cứ phải mày râu”.[33; tr.120]

Nhưng đau khổ hơn cả là những người mẹ Việt Nam anh hùng, họ đã hi sinh tuổithanh xuân để tham gia bảo vệ Tổ quốc, lại mất luôn cả những người thân yêu nhất

Mẹ Nguyễn Thị Thứ ở huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam có mười hai người thântrong gia đình là liệt sĩ, trong đó có chín người con trai, một người con rể, và hai cháungoại

Giai đoạn mới của lịch sử dân tộc đã thay đổi vị thế cũng như mục đích sống củangười phụ nữ; đạo “Tam tòng” không còn bó hẹp trong phạm vi gia đình, không cònmang tính chất ép buộc mà có nội dung rộng lớn hơn, cao cả và tự nguyện là tòngchồng, tòng con vì đất nước, những sự hi sinh ấy đã góp phần trong các chiến thắnglẫy lừng của dân tộc, đem lại hòa bình tự do cho Tổ quốc

Năm 1975 đất nước hoàn toàn được giải phóng, người dân Việt Nam bắt tay vàocông cuộc xây dựng, tái thiết và đổi mới đất nước Người phụ nữ Việt Nam thực sự đã

có quyền bình đẳng với nam giới Thực ra, quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam đãđược pháp luật công nhận từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Hiến pháp đầu tiêncủa nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ghi rõ trong điều 9: “Tất cả quyền bình đẳngtrong cả nước là của nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, trai gái, giàunghèo, giai cấp, tôn giáo” và “đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”.[24; tr.39 - 40] Quyền bình đẳng của phụ nữ được công nhận, quan trọng hơn là nó đã

đi vào cuộc sống, thay đổi cách nghĩ cách nhìn nhận về vị thế của người phụ nữ trong

xã hội Điều này có ý nghĩa rất lớn, vì dù cho phái nữ có cố gắng đến đâu nhưng khôngđược sự góp sức của nam giới, của xã hội thì quyền bình đẳng này cũng không thểđược thực hiện Người phụ nữ Việt Nam trong thời đại mới đã khẳng định được bảnthân mình trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống, nghề nghiệp, tài năng Xã hội và giađình đã tạo điều kiện cho họ thực hiện, phát huy tài năng, khát vọng, ước mơ của của

cá nhân Vì vậy, sự ràng buộc, cam chịu trong vòng cương tỏa của đạo “Tam tòng” củangười phụ nữ chỉ còn là dư âm của chế độ xã hội cũ Nhưng việc người phụ nữ cóquyền bình đẳng không đồng nghĩa với việc phủ nhận tất cả những khía cạnh đạo đứctốt đẹp mà đạo “Tam tòng” đã có Điều đó yêu cầu chúng ta phải có cái nhìn khách

Trang 27

quan trong việc đánh giá những hạn chế và giá trị tích cực của quan niệm về “Tamtòng”, góp phần xây dựng hình mẫu người phụ nữ trong thời đại mới Vấn đề được đặt

ra là phải vận dụng đạo “Tam tòng” như thế nào cho thích hợp với xu thế phát triểncủa thời đại

Chúng ta không thể phủ nhận giá trị tích cực của đạo “Tam tòng” vì nó hình thànhtrật tự trong gia đình và thái độ tôn trọng, kính nể nhau giữa các thành viên trong giađình, trong gia tộc; ta có thể hiểu rộng ra là mối quan hệ trong họ hàng, làng xóm vàđất nước Gia đình là một tế bào của xã hội, tế bào có khỏe mạnh thì cơ thể xã hội mớikhỏe mạnh, có sức “đề kháng” cao với các tệ nạn xã hội Một gia đình có nề nếp sẽđem lại cho xã hội những công dân có nếp sống lành mạnh và ngược lại

Trong sự phát triển của đời sống xã hội, bên cạnh những mặt tích cực thì nhữngtác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường, văn hóa và lối sống phương Tây đã thâmnhập vào từng gia đình, từng cá nhân Điều này khiến cho người phụ nữ có nhữngquan niệm mới về lối sống, đạo đức, mục tiêu phấn đấu, ít nhiều làm mai một văn hóatruyền thống Hiện nay, vị trí độc tôn của người đàn ông không còn tồn tại nhưng dù ởthời đại nào thì họ vẫn đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của gia đình và

xã hội Người phụ nữ đang ngày càng có nhiều điều kiện, cơ hội để khẳng định mìnhnên nhiều người có xu hướng bất phục tùng ý kiến của cha mẹ, người lớn tuổi tronggia đình Các gia đình trẻ ngày càng muốn sống độc lập, không muốn sống chung cùng

bố mẹ Không ít người phụ nữ hiện đại cho rằng: pháp luật có quy định rõ về quyền vànghĩa vụ của con cái, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, như vậy sự phục tùng của con cáiđối với cha mẹ là không cần thiết Họ không nhận thấy một điều rằng: cha mẹ dạy concái không chỉ bằng pháp luật, con cái cũng không thể chỉ theo pháp luật đơn thuần màtrưởng thành Cha mẹ sinh ra con cái, nuôi nấng dạy dỗ con cái không chỉ bằng phápluật mà còn bằng cả trái tim, tình yêu thương, kinh nghiệm sống, có khi phải đánh đổi

cả cuộc đời của cha mẹ mới có được Tục ngữ, ca dao đã có câu:

“Công cha như núi Thái SơnNghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”

Vì vậy, những điều răn dạy của cha mẹ với con cái, nhất là đối với người con gái

có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là những hành trang đầu tiên, vô cùng quý báu trongcuộc sống đầy biến động ngày nay Tuy nhiên, trong gia đình Việt Nam hiện naythường có một hiện thực là con cái có trình độ học vấn cao hơn cha mẹ, vì thế hay có

Trang 28

sự mâu thuẫn giữa nếp nghĩ truyền thống của cha mẹ với lối suy nghĩ hiện đại của concái Nhưng chúng ta cũng hiểu rằng, không phải bất cứ điều gì của cuộc đời đều cótrong sách vở Không phải con cái cứ có trình độ học vấn cao, bằng cấp nhiều là có thểgiải quyết được mọi điều, mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống Có những điều đượccha mẹ truyền đạt lại cho con cái không có trong sách vở mà là kết quả của sự trảinghiệm Để giữ đúng đạo làm con thì trước hết những ý kiến đóng góp của cha mephải được tôn trọng, sau đó mới phân tích đúng sai rồi đưa ra lựa chọn thích hợp Nhưvậy, đạo “tòng” cha mẹ nhìn dưới góc độ tích cực vẫn có những yếu tố cần thiết chocuộc sống gia đình hiện nay Điều này lại càng quan trọng với người phụ nữ, vì họ cóvai trò rất lớn trong gia đình, là người giáo dục con cái, là người lưu giữ, kế thừanhững giá trị đạo đức của dân tộc Tuy nhiên, trên một phương diện nào đó, đạo

“tòng” cha vẫn còn những ảnh hưởng tiêu cực trong xã hội Việt Nam Trong thời đạimới vẫn còn những đàn ông gia trưởng, độc đoán, ích kỉ, có nhiều người “cha không racha”, không giữ trọn đạo làm cha, ép uổng con mình làm những điều sai trái Trongtrường hợp này người con không thể cứ thế nghe theo, không thể buông xuôi; với tưcách là con cái thì đấu tranh với những sai lầm của cha mẹ cũng là một nội dung mớicủa đạo “tòng” trong thời đại mới Trong gia đình hiện đại, sở thích, khả năng cá nhâncủa người phụ nữ đã được phát huy tối đa nhưng không vì thế mà người con gái sống

tự do theo tất cả những ý muốn của mình mà phải luôn luôn rèn luyện nhân phẩm củamình dưới sự giáo dục của cha me, nhà trường, xã hội để được xã hội thừa nhận vớinhững phẩm chất tốt đẹp nhất

Xã hội phong kiến coi trọng người đàn ông, người vợ trong cuộc đời họ chỉ làngười “nâng khăn sửa túi”, người đàn ông có quyền “năm thê bảy thiếp”, còn “gáichính chuyên chỉ có một chồng” Xã hội hiện đại đã có cái nhìn khác và đã phê phán,lên án những quan niệm lạc hậu đó Đạo “tòng phu” thực ra vẫn còn tồn tại, người phụ

nữ lấy chồng vẫn phải theo chồng Nhưng người vợ không còn phải phục tùng ngườichồng một cách tuyệt đối nữa Hạnh phúc và sự thịnh vượng của gia đình đòi hỏinhững phẩm chất, những chuẩn mực đạo đức và sự cố gắng từ cả hai vợ chồng Chữ

“tòng” phải được cả hai cùng thực hiện trên cơ sở bình đẳng giới Người xưa đã cócâu: “Thuận vợ, thuận chồng tát biển Đông cũng cạn” Để đạt được điều đó thì vợchồng không chỉ yêu đương đơn thuần mà phải thực sự hiểu nhau, tôn trọng nhau, sẵnsàng chia sẻ niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống Trong xã hội phong kiến, nhiều cuộc

Ngày đăng: 17/04/2015, 17:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w