CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỦ ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Chủ động thi hành án dân sự là một trong các hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự nhằm mục đích thi hành bản án, quyết định
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Lớp: Tư pháp 1
Cần Thơ, tháng 11/2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đã hơn ba năm học tập và rèn luyện tại trường Đại học Cần Thơ tác giả đã học
tập được rất nhiều kiến thức không những về tri thức khoa học của quý thầy cô mang lại mà còn cả những kiến thức, kinh nghiệm sống Cho đến ngày hôm nay, để hoàn thành được đề tài nghiên cứu này tác giả đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của mọi người Lời nói đầu tiên tác giả xin chân thành gửi đến cha mẹ, người thân, bạn bè và quý thầy cô Khoa Luật trường Đại học Cần Thơ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ,
động viên cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt quá trình thực hiện đề tài này Tiếp đến tác giả xin chân thành cám ơn đến Thư viện Khoa luật và Trung tâm học liệu
trường Đại học Cần Thơ đã cung cấp một nguồn tài liệu, sách báo phục vụ cho công tác học tập cũng như nghiên cứu đề tài được tốt hơn
Điều đặc biệt tác giả muốn chân thành tri ân, chân thành gửi lời biết ơn sâu sắc đến Thầy Trương Thanh Hùng, người đã đưa tác giả đến với niềm đam mê nghiên cứu
khoa học, nghiên cứu đề tài Pháp luật về chủ động thi hành án dân sự để làm công trình nghiên cứu luận văn tốt nghiệp cũng như trang bị kiến thức cần có để sau này có thể tiếp tục hành trình nghiên cứu những đề tài khác khi ra trường Không chỉ vậy, trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài Thầy luôn tận tâm, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo những kiến thức, những định hướng quý báu để tác giả hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu của mình
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn và chúc tất cả mọi người dồi dào sức khỏe, thành công, hạnh phúc!
Sinh viên thực hiện
Tô Thị Ny
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Cần thơ, ngày 24 tháng 11 năm 2014
Trang 4NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
Cần thơ, ngày 24 tháng 11 năm 2014
Trang 5MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2
3 Mục đích nghiên cứu`và ý nghĩa ngiên cứu đề tài 2
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 3
6 Kết cấu của đề tài 4
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỦ ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 5
1.1 Một số khái niệm có liên quan 5
1.1.1 Khái niệm thi hành án dân sự 5
1.1.2 Khái niệm chủ động thi hành án dân sự 12
1.2 Vai trò, ý nghĩa và đặc điểm của chủ động thi hành án dân sự 14
1.2.1 Vai trò, ý nghĩa của chủ động thi hành án dân sự 15
1.2.2 Đặc điểm của chủ động thi hành án dân sự 16
1.2.2.1 Chủ động thi hành án dân sự là quyết định do Thủ trưởng cơ quan thi hành án ban hành 16
1.2.2.2 Căn cứ để chủ động thi hành án dân sự là bản án, quyết định của Tòa án trong một số trường hợp luật định 16
1.2.2.3 Chủ động thi hành án dân sự được tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định 17
1.2.2.4 Mục đích cuối cùng của chủ động thi hành án dân sự là bảo vệ quyền và lợi ích của các đương sự, nhà nước 17
1.3 Nguyên tắc chủ động thi hành án trong một số trường hợp 18
1.4 Lịch sử hình thành và pháp triển của chủ động thi hành án dân sự 19
1.4.1 Giai đoạn từ 1945 đến trước khi có Pháp lệnh 1993 19
1.4.2 Thời kỳ từ khi ban hành Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 đến trước khi có Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 21
Trang 61.4.3 Thời kỳ từ khi ban hành Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 đến trước
khi có Luật thi hành án dân sự năm 2008 23
1.4.4 Thời kì từ khi có Luật thi hành án dân sự năm 2008 đến nay 25
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHỦ ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 27
2.1 Những trường hợp chủ động thi hành án dân sự 27
2.1.1 Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí 28
2.1.2 Trả lại tiền, tài sản cho đương sự 30
2.1.3 Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu huỷ vật chứng, tài sản 31
2.1.4 Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước 32
2.1.5 Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 33
2.2 Thẩm quyền chủ động ra quyết định thi hành án dân sự 36
2.2.1 Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp huyện 38
2.2.2 Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp tỉnh 40
2.2.3 Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu 42
2.3 Trình tự, thủ tục trong chủ động ra quyết định thi hành án dân sự 43
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHỦ ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 49
3.1 Tòa án tuyên bản án, quyết định không rõ, thiếu tính khả thi 49
3.1.1 Những khó khăn, vướng mắc khi Tòa án tuyên bản án, quyết định không rõ, thiếu tính khả thi ảnh hưởng tới việc chủ động thi hành án dân sự 49
3.1.2 Đề xuất nhằm hạn chế việc Tòa án tuyên bản án, quyết định không rõ, thiếu tính khả thi gây khó khăn cho công tác chủ động thi hành án dân sự 53
3.2 Ra quyết định thi hành án đối với lệ phí Tòa án 54
3.2.1 Bất cập khi thi hành án đối với lệ phí Tòa án 54
3.2.2 Đề xuất hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về thi hành án đối với lệ phí Tòa án 56
3.3 Thẩm quyền ra quyết định thi hành án đối với hình phạt tiền 56
Trang 73.3.1 Bất cập của Luật khi quy định về thẩm quyền thi hành án đối với hình phạt tiền 56 3.3.2 Hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về thẩm quyền thi hành án đối với hình phạt tiền 59
3.4 Chuyển giao bản án, quyết định và chủ động thi hành án đối với quyết định
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại 59
3.4.1 Những bất cập trong vấn đề chuyển giao bản án, quyết định thi hành án 59 3.4.2 Hướng hoàn thiện về chuyển giao bản án, quyết định chủ động thi hành án khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại 61
3.5 Những vấn đề còn vướng mắt trong chủ động thi hành án dân sự cần có những giải pháp về lâu dài 63KẾT LUẬN 66
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thi hành án dân sự cũng như chủ động thi hành án dân sự có vai trò quan trọng trong hoạt động tư pháp nói chung và quá trình giải quyết vụ án nói riêng Bản án, quyết định của Toà án và các quyết định khác chỉ thực sự có giá trị khi được thi hành trên thực tế Hoạt động thi hành án là công đoạn làm cho bản án, quyết định của Toà
án được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của
bộ máy nhà nước
Chính vì nhận thấy sự quan trọng và cần thiết của công tác này mà từ rất sớm, sau Cách mạng tháng Tám thành công Đảng và Nhà nước đã bắt đầu ban hành những văn bản pháp luật và không ngừng sửa đổi, bổ sung đến ngày nay góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan thi hành án trong công tác tổ chức thi hành Vì thế đã góp phần tạo điều kiện cho công tác thi hành án dân sự được thi hành hiệu quả hơn, giảm lượng
án tồn đọng Trong nhiều văn bản được ban hành cho đến hiện nay phải kể đến Luật thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành Bên cạnh những
điểm mà Luật thi hành án và các văn bản tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan thi hành
án thì vẫn còn nhiều quy định trong Luật thi hành án còn nhiều bất cập, chưa thống nhất với các văn bản khác gây khó khăn cho công tác thi hành án Trong các quy định thì vấn đề chủ động thi hành án dân sự vẫn còn gặp nhiều khó khăn, gây thách thức lớn với những bất cập, tồn tại cần phải giải quyết kịp thời Chủ động thi hành án dân sự có nhiều quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn gây ra tình trạng khó triển khai công tác thi hành án, gây ra tình trạng khiếu nại, án tồn đọng Vì những lý do đó mà chủ động thi hành án dân sự cần được xem xét và chú trọng hơn để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thi hành án, giảm lượng án tồn đọng, mang lại niềm tin của nhân dân vào pháp luật, góp phần vào công cuộc hoàn thiện hệ thống pháp luật nước ta trong thời kì hội nhập
Về mặc thực tiễn thì chủ động thi hành án còn nhiều vấn đề tạo rào cảng, gây khó khăn cho công tác thi hành án, đó chính là ý thức pháp luật của người dân còn hạn chế, những quy định của pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo Ngoài ra còn vấn đề thiếu hợp tác, phối hợp của cơ quan thi hành án, Tòa án, Viện kiểm sát và Uỷ ban nhân dân…chính những nguyên nhân này đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác chủ động thi hành án trong những năm qua
Trang 9Để góp phần khắc phục những bất cập trên cũng như tạo điều kiện cho công tác
chủ động thi hành án dân sự được thuận tiện hơn, góp phần hạn chế lượng án tồn đọng cũng như hoàn thiện quy định của pháp luật về thi hành án nói chung, chủ động thi hành án nói riêng với sự giúp đỡ quý thầy cô Khoa luật trường Đại học Cần Thơ, đặc biệt là Thầy Trương Thanh Hùng và sự yêu thích của bản thân mình đối với lĩnh vực
này, người viết đã chọn đề tài “Pháp luật về chủ động thi hành án dân sự” để làm
đề tài nghiên cứu cho bản thân và góp phần làm tài liệu tham khảo cho các bạn sinh
viên có mong muốn tìm hiểu về đề tài này
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Thi hành án dân sự có vai trò rất quan trọng trong hoạt động tư pháp nói chung và trong vấn đề giải quyết vụ án nói riêng Chính vì thế những năm gần đây đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này như sách tham khảo của tiến sĩ Lê Thu Hà
Một số vấn đề về hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự (năm 2011), Trường Đại học
Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thi hành án dân sự Việt Nam (năm 2010), luận văn thạc
sĩ của tác giả Nguyễn Công Long: Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự, luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Xuân Hồng: Xã hội hóa thi hành án dân sự Việt Nam, …ngoài ra
còn nhiều giáo trình của các trường đào tạo luật, Tạp chí dân chủ và pháp luật, Tạp chí luật học, Tạp chí nhà nước và pháp luật, còn có những trang thông tin điên tử của cục thi hành án, của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án cũng đề cập đến vấn đề này Nhưng chưa công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách độc lập, cụ thể và sâu rộng vấn đề chủ động thi hành án dân sự Hiện nay vấn đề chủ động thi hành án dân sự còn tồn tại nhiều bất cập, gây khó khăn cho công tác thi hành án, có nhiều vấn đề tồn tại phát sinh Cho nên chủ động thi hành án dân sự là đề tài khá mới và cần được nghiên cứu để có những giải pháp giải quyết triệt để những vấn đề còn tồn đọng như hiện nay Chính vì thế tác giả đã nghiên cứu và đưa ra những giải pháp kiến nghị nhằm mục đích hoàn thiện quy định của pháp luật về chủ động thi hành án dân sự
3 Mục đích nghiên cứu`và ý nghĩa nghiên cứu đề tài
Chủ động thi hành án dân sự là đề tài tác giả đã lựa chọn để viết luận văn tốt nghiệp Thông qua việc tìm hiểu các vấn đề xoay quanh chủ động thi hành án dân sự tác giả tìm hiểu và phân tích các vấn đề lý luận, cũng như những quy định của pháp luật về chủ động thi hành án dân sự Từ việc tìm hiểu này tác giả đưa ra những điểm hợp lý và những điểm chưa hợp lý Với những vấn đề chưa hợp lý tác giả đưa ra những lý giải tại sao quy định như thế lại không hợp lý và qua đây tác giả cũng đưa ra những giải pháp kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về chủ động thi hành án dân sự Ngoài ra nghiên cứu đề tài còn có mục đích góp phần giảm lượng án
Trang 10tồn động, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thi hành án dân sự và một vấn đề quan trọng không kém đó là đưa ra những vấn đề luật còn chồng chéo, góp phần hạn chế tình trạng trên Cũng như nâng cao hiểu biết của bản thân và đây cũng là một tài liệu tham khảo cho các sinh viên khóa sau muốn tìm hiểu đề tài này Trong quá trình khảo sát nghiên cứu thì tác giả thấy rằng chưa có một công trình nghiên cứu nào khảo sát một cách độc lập tất cả các vấn đề của đề tài cũng như nghiên cứu một cách sâu rộng vấn đề Cho nên đây là đề tài khá mới và cần phải được đầu tư nghiên cứu một cách sâu rộng để có thể giải quyết triệt để các vấn đề còn chưa được giải quyết, gây khó khăn cho công tác thi hành án dân sự
4 Phạm vi nghiên cứu
Hiện nay, thi hành án dân sự là chủ đề còn nhiều bàn luận “Pháp luật về chủ động thi hành án dân sự” là đề tài mang tính khái quát, nội dung rộng, phong phú cũng như rất phức tạp Vì vậy, trong đề tài luận văn tốt nghiệp cử nhân luật học, tác giả tập chung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn công tác chủ động thi hành án dân sự Qua
đó phần nào đánh giá thực trạng công tác thi hành án dân sự và đưa ra những giải pháp
hoàn thiện quy định về chủ động thi hành án dân sự góp phần hoàn thiện quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự trong điều kiện đất nước ta
đang từng bước đổi mới Trong đề tài này tác giả chủ yếu nghiên cứu một số văn bản
pháp luật như: Luật thi hành án dân sự năm 2008 và một số quy định tại nghị định 58/2009/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự và một số quy định có liên quan Đồng thời có liên hệ đến một số văn bản như Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa
đổi, bổ sung năm 2011) và một số văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Phương pháp nghiên cứu xuyên suốt đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật
Các biện pháp cụ thể được sử dụng kết hợp đó là : phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài các phần lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chương như sau:
Chương 1: Lý luận chung về chủ động thi hành án dân sự
Trang 11Ở chương này tác giả trình bày các vấn đề xoay quanh chủ động thi hành án dân sự
như khái niệm chủ động thi hành án dân sự, vai trò và ý nghĩa của chủ động thi hành
án, đặc điểm Bên cạnh đó tác giả còn trình bày nguyên tắc và lịch sử hình thành và phát triển của chủ động thi hành án Các vấn đề lý luận tạo nền tảng cho việc nghiên cứu các quy định của pháp luật dễ dàng hơn
Chương 2: Những quy định của pháp luật về chủ động thi hành án
Pháp luật về chủ động thi hành án dân sự được quy định khá nhiều vấn đề nhưng ở chương này tác giả tập trung chủ yếu vào các vấn đề như những trường chủ động thi hành án dân sự do luật quy định, thẩm quyền chủ động thi hành án và cuối cùng là trình tự, thủ tục ra quyết định chủ động thi hành án dân sự Cùng với việc trình bày các quy định của pháp luật hiện hành tác giả cũng so sánh đối chiếu với dự thảo sửa đổi,
bổ sung một số điều của luật thi hành án dân sự năm 2008
Chương 3: Một số bất cập và hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về chủ động thi hành án dân sự
Chương cuối tác giả đưa ra những hạn chế hiện tại của các quy định pháp luật gây khó khăn cho công tác thi hành án dân sự và cũng là nguyên nhân làm cho án tồn đọng ngày càng nhiều Từ đó, đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật góp phần hạn chế án tồn đọng, cũng như tạo điều kiện cho công tác thi hành án dễ dàng, thuận lợi và giảm tình trạng luật chồng chéo nhau góp phần tạo lòng tin của nhân dân vào pháp luật
Trang 12CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỦ ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Chủ động thi hành án dân sự là một trong các hoạt động của cơ quan thi hành
án dân sự nhằm mục đích thi hành bản án, quyết định của các cơ quan tài phán được chấp hành nghiêm chỉnh, góp phần tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự, nhà nước… Đây là hoạt động mở đầu cho công tác thi hành án dân sự, cũng chính quyết định chủ động thi hành án dân sự làm căn cứ để các hoạt động thi hành án tiếp theo trong quy trình thi hành án dân sự tiếp tục được triển khai thi hành Để có thể hiểu rõ các vấn đề về chủ động thi hành án dân
sự trong Chương 1 tác giả sẽ trình bày và phân tích các vấn đề lý luận chung về chủ
động thi hành án dân sự Tác giả sẽ trình bày và phân tích cụ thể các vấn đề về khái
niệm thi hành án dân sự, khái niệm chủ động thi hành án dân sự, vai trò, ý nghĩa và
đặc điểm của chủ động thi hành án dân sự Bên cạnh đó tác giả cũng sẽ trình bày và
phân tích đặc điểm, nguyên tắc của chủ động thi hành án dân sự Cuối cùng để hiểu
được chủ động thi hành án dân sự bắt đầu được quy định từ lúc nào? Và thay đổi ra
sao từ khi bắt đầu cho đến ngày nay tác giả sẽ trình bày và phân tích về lịch sử hình thành và phát triển của chủ động thi hành án dân sự Tìm hiểu các vấn đề lý luận ở Chương 1 này để có thể hiểu rõ hơn về chủ động thi hành án dân sự trước khi tìm hiểu các quy định cụ thể của pháp luật ở Chương sau
1.1 Một số khái niệm có liên quan
Thi hành án dân sự là giai đoạn tiếp theo sau hoạt động xét xử của cơ quan tài phán Vậy thi hành án dân sự là gì? Khái niệm thi hành án dân sự bắt đầu trở thành vấn
đề tranh luận sôi nổi trong giới pháp lý từ khi Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993
ra đời Vậy cuối cùng thì khái niệm này được hiểu như thế nào? Và để hiểu chủ động thi hành án dân sự thì điều đầu tiên chúng ta cần làm là hiểu khái niệm thi hành án dân
sự là gì?
1.1.1 Khái niệm thi hành án dân sự
Để bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự theo
pháp luật Việt Nam có nhiều cách giải quyết khác nhau được ghi nhận trong Bộ luật dân sự năm 2005 Thông thường khi có tranh chấp xảy ra thì các chủ thể có thể tự thỏa thuận với nhau, chỉ khi không thể thỏa thuận được thì các chủ thể mới yêu cầu Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh bảo vệ quyền và lợi chính đáng của họ
Trang 13bằng một phán quyết (Bản án, quyết định) Bản án, quyết định chính là căn cứ để cơ quan thi hành án có thể khôi phục lại hiện trạng ban đầu về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể Theo quy định của pháp luật để thi hành bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có thể thi hành theo ba thủ tục thi hành án khác nhau Đó chính là thi hành án hình sự, thi hành án hành chính và cuối cùng là thi hành
án dân sự Theo Luật thi hành án dân sự năm 2008 thì những bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự được quy định tại Điều 1 và Điều 2 1bao gồm:
- Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nhân dân là những bản án, quyết định của Tòa án được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, bao gồm:
+ Bản án, quyết định về dân sự của Tòa án nhân dân là những bản án, quyết định do Tòa án tuyên khi giải quyết các tranh chấp dân sự và các yêu cầu dân sự quy định tại Điều 25, Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự
+ Bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân là những bản án, quyết định do Tòa án tuyên khi giải quyết các tranh chấp về hôn nhân
và gia đình, các yêu cầu về hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 27, Điều 28 Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)
+ Bản án, quyết định về kinh doanh, thương mại của Tòa án nhân dân là những bản án, quyết định do Tòa án tuyên khi giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại và các yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại Điều 29, Điều 30
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)
+ Bản án, quyết định về lao động của Tòa án nhân dân là những bản án, quyết định do Tòa án tuyên khi giải quyết các tranh chấp lao động và các yêu cầu về lao động quy định tại Điều 31, Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)
- Các quyết định về dân sự, phạt tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí trong bản án, quyết định của Tòa án về vụ việc hình sự
- Các quyết định về tài sản, quyền tài sản trong bản án, quyết định của Tòa án hành chính Các quyết định đó có thể là quyết định buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép đối với nhà ở, công trình kiến trúc kiên cố, quyết định tịch thu tài sản, nhận người lao động trở lại làm việc, trưng mua, trưng dụng tài sản, án phí,
- Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh là quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh giải quyết các tranh chấp theo Điều 39 Luật cạnh tranh năm 2004 mà sau
1
Xem Điều 1 và Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008
Trang 1430 ngày kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa án
- Quyết định của Trọng tài thương mại Việt Nam là quyết định do Trọng tài Việt Nam tuyên về giải quyết tranh chấp pháp sinh từ các quan hệ pháp luật thương mại Theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam, quyết định của Trọng tài Việt Nam được bảo đảm thi hành giống như các bản án, quyết định dân sự khác của Tòa án Việt Nam
- Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Theo khoản 1 Điều 342 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)
thì: "Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài là bản án, quyết định về dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài và bản án, quyết
định khác của Tòa án nước ngoài mà theo pháp luật của Việt Nam được coi là bản án,
quyết định dân sự" 2 Không phải mọi bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài
đều có thể được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Tòa án có thẩm quyền của
Việt Nam chỉ xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài phù hợp theo điều ước quốc tế giữa các nước với Việt Nam hoặc theo nguyên tắc có đi, có lại
- Bản án, quyết định khác do pháp luật quy định
Như vậy, bản án, quyết định được thi hành theo Luật thi hành án dân sự năm
2008 là những bản án, quyết định của Tòa án về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, quyết định về tài sản, quyền tài sản trong bản án, quyết
định về hành chính, vụ việc hình sự, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng
xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 30 ngày kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa án, quyết định của Trọng tài thương mại Việt Nam, bản án, quyết định của Trọng tài nước ngoài, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam và bản án, quyết định khác do pháp luật quy
Trang 15lực pháp luật và những bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay
Bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên chỉ có ý nghĩa thực sự khi nó được thi hành trên thực tế Vì vậy, phải bảo đảm tính hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa
án Bảo đảm tính hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án không chỉ đối với các
đương sự (tức là công dân hoặc tổ chức có liên quan) mà còn cần phải có hiệu lực đối
với mọi thành viên khác trong xã hội Bởi quyền và lợi ích hợp pháp của người dân chỉ thực sự được bảo vệ khi bản án, quyết định đó được đưa ra thi hành Hơn thế bản án, quyết định của Tòa án là do Tòa án nhân danh nhà nước đưa ra trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự nên việc tôn trọng các bản án, các quyết định của Tòa án cũng là tôn trọng tính pháp chế xã hội chủ nghĩa Chính vì thế, tại Điều 106 Hiến pháp
2013 cũng đã ghi nhận "Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật
phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành"3 Để đảm bảo rằng nguyên tắc trên của Hiến pháp được mọi người tôn trọng triệt để và thật sự bảo vệ được quyền và nghĩa vụ của các đương
sự thì đòi hỏi bản án, quyết định của Tòa án phải thực sự được thi hành trên thực tế Thi hành bản án, quyết định của Tòa án chính là giai đoạn thi hành án do cơ quan thi hành án tiến hành Vậy thi hành án là gì?
Kể từ khi Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 ra đời đã quy định về việc bàn giao công tác thi hành án từ Tòa án nhân dân các cấp sang cơ quan của Chính phủ (ở đây là cơ quan thi hành án) thì vấn đề khái niệm thi hành án trở thành đề tài tranh luận trong giới pháp lý Cho đến khi Luật thi hành án dân sự năm 2008 ra đời thì vấn
đề này vẫn là đề tài tranh luận sôi nổi Trong rất nhiều quan điểm tranh luận thì nổi lên
hai quan điểm cơ bản, trong đó có quan điểm xem thi hành án là giai đoạn cuối của quá trình tố tụng và quan điểm xem thi hành án là hoạt động hành chính tư pháp Ở mỗi quan điểm thì có cách lí giải và góc độ khai thác vấn đề khác nhau tuy nhiên các quan điểm đều có sự hợp lý riêng của nó Cụ thể các quan điểm được lí giải như sau:
Theo quan điểm thứ nhất, thi hành án là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố
tụng Theo quan điểm trên thì thi hành án nằm trong quá trình giải quyết vụ án Nếu như trước khi xét xử là giai đoạn chuẩn bị xét xử thì sau khi xét xử là giai đoạn thực thi phán quyết của Tòa án nhân dân trên thực tế, đây là giai đoạn làm cho phán quyết của Tòa án nhân dân thực sự đi vào thực tế không còn là lý thuyết trên giấy nữa Phán quyết của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực là căn cứ pháp lý duy nhất để thi hành án Trong quá trình thi hành án thì vai trò của Tòa án nhân dân gắn chặt với hoạt động thi
3
Xem Điều 106 của Hiến pháp 2013
Trang 16hành án của cơ quan thi hành án, thể hiện ở việc Tòa án có quyền ra quyết định tạm hoãn thi hành án và có nghĩa vụ giải thích những điểm chưa rõ có sai sót hoặc sai lầm
về số liệu trong bản án, quyết định của mình khi cơ quan thi hành án có yêu cầu… Chính vì Tòa án có quyền tạm hoãn quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án để xem xét vấn đề kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định nên có thể kết quả thi hành án cũng thay đổi theo hay làm thay đổi cách tiến hành án của cơ quan thi hành án Tính lệ thuộc của thi hành án vào công tác xét xử được thể hiện ở việc khẳng định xét xử là tiền đề của thi hành án
Với quan điểm như trên thì thi hành án được hiểu là giai đoạn kết thúc trình tự
tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử làm cho phán quyết của Tòa
án có hiệu lực pháp luật trên thực tiễn
Theo quan điểm thứ hai, thi hành án là hoạt động của hành chính - tư pháp Ta
thấy rằng thi hành án là một dạng hoạt động chấp hành nhưng ở đây là chấp hành bản
án, quyết định của Tòa án với cách thức và biện pháp khác nhau nhằm mục đích bảo
đảm các phán quyết của Tòa án được thực thi trên thực tế Còn quá trình tố tụng với
mục đích là tìm ra sự thật của vụ án một cách khách quan, đúng như những gì sự việc diễn ra trên thực tế Ta thấy rõ ràng rằng ở đây quá trình tố tụng và thi hành án có mục
đích hoàn toàn khác nhau Hơn thế khi Tòa án tuyên án và đưa ra bản án có hiệu lực
thì quá trình tố tụng đã chấm dứt ở đây Tuy nhiên hoạt động thi hành án không chỉ là hoạt động chấp hành bản án, quyết định của Tòa án, tuân theo những thủ tục, trình tự nhất định mang bản chất hành chính mà nó còn mang bản chất tư pháp Bản chất tư
pháp của hoạt động thi hành án thể hiện ở nhiều điểm Thứ nhất, nó do cơ quan tư
pháp (theo nghĩa rộng) tiến hành cụ thể đây là hoạt động do cơ quan thi hành án tiến hành (cơ quan thuộc Bộ tư pháp), ngoài ra còn có sự phối hợp của các cơ quan khác như Công an, Tài chính, Ủy ban nhân dân các cấp tiến hành trong quá trình thi hành
án Thứ hai, hoạt động thi hành án chủ yếu là thông qua vai trò của cá nhân tiến hành
như Chấp hành viên, Thẩm tra viên và khi thực hiện nhiệm vụ họ chỉ tuân theo pháp
luật thể hiện tính độc lập rất cao trong nghiệp vụ thi hành án Thứ ba, cơ sở để tiến
hành thi hành án là quy định của pháp luật, các bản án, quyết định của Tòa án và nó có mục đích làm cho bản án, quyết định trên được thực thi trên thực tế
Ở mỗi quan điểm thì đều có cách lập luận và cơ sở khoa học riêng, nhưng riêng
tác giả thì tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai coi thi hành án là hoạt động hành chính-tư pháp có nhiều điểm hợp lí hơn Vì thi hành án không chỉ là giai đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng Mà bản chất của thi hành án thể hiện cả hai đặc điểm rất
rõ đó là tính hành chính và tính tư pháp trong hoạt động thi hành án Từ những quan
điểm trên ta có thể tổng hợp khái niệm "Thi hành án là hoạt động hành chính - tư
Trang 17pháp, do các cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục luật định nhằm bảo đảm thi hành các bản án, quyết định của tòa án trên thực tế"
Thi hành án dân sự là một trong các hoạt động của thi hành án, coi thi hành án dân sự mang bản chất hành chính-tư pháp là quan điểm hợp lý hơn cả Bởi vì, thi hành
án dân sự không đơn thuần là hoạt động mang tính tư pháp, hay là giai đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng Mà bản chất của hoạt động thi hành án dân sự thể hiện cả hai
đặc điểm rất rõ đó là tính hành chính và tính tư pháp trong hoạt động của mình Vì thế,
nên coi Thi hành án dân sự là hoạt động hành chính-tư pháp
Thi hành án dân sự thể hiện tính hành chính- tư pháp cụ thể như sau:
- Thi hành án dân sự với những đặc điểm của hoạt động quản lý hành chính Thi hành án dân sự là một hoạt động diễn ra sau quá trình xét xử của Tòa án Các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở để tiến hành các hoạt động thi hành án Do đó, không có kết quả của hoạt động xét xử thì không có hoạt
động thi hành án dân sự Là một dạng hoạt động hành chính nhà nước, thi hành án thể
hiện tính chấp hành, quản lý rất rõ bởi thi hành án dân sự là hoạt động mang tính chấp hành Nhưng chấp hành ở đây là chấp hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án với các cách thức và biện pháp khác nhau nhằm mục đích đảm bảo các phán quyết của Tòa
án được thực thi trên thực tế Hoạt động thi hành án dân sự bắt đầu bằng một quyết
định của Thủ trưởng cơ quan thi hành án và quyết định này bắt buộc các chủ thể có
trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan tới thi hành án dân sự phải chấp hành và phối hợp thực hiện Bên cạnh đó, công tác thi hành án dân sự có các chủ thể lớn tham gia như Tòa án, Viện kiểm sát còn có các chủ khác tham gia như UBND địa phương nơi người phải thi hành án dân sự cư trú, cơ quan, tổ chức nơi phải thi hành án đang làm việc…
Trong quá trình thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự tác động tới đối tượng phải thi hành án để họ tự giác thi hành hoặc cơ quan thi hành án dân sự áp dụng các biện pháp buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án, quyết định khác theo quy định của pháp luật Qua đó, giáo dục họ và những người xung quanh về ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng lợi ích của tập thể và
cá nhân, kỷ cương của nhà nước Để thực hiện được điều đó, yêu cầu của hoạt động thi hành án dân sự phải có tính kế hoạch, tổ chức, đôn đốc, kiểm tra, đó là những tính chất của hoạt động quản lý
Đối với thi hành án dân sự, phương pháp giáo dục, thuyết phục là cần thiết
nhưng phương pháp mệnh lệnh – phục tùng, bắt buộc phải thực hiện lại mang tính đặc trưng (đặc biệt là trong cưỡng chế thi hành án) Trong hoạt động cưỡng chế thi hành
án dân sự về bán đấu giá tài sản khác hoàn toàn với lĩnh vực thương mại bởi vì hoạt
Trang 18động này được thực hiện thông qua cơ quan thi hành án dân sự (cơ quan nhà nước)
Hoạt động có sự tham gia của cơ quan nhà nước nên đảm bảo tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người mua được tài sản bán đấu giá Sau quá trình bán đấu giá nếu như chủ thể phải thi hành án đang sử dụng, quản lý tài sản mà không chịu giao tài sản thì
cơ quan thi hành án dân sự sẽ áp dụng thủ tục cưỡng chế để đảm bảo giao tài sản cho người mua
Tuy nhiên thi hành án dân sự không chỉ đơn thuần mang tính chất hành chính
mà nó còn thể hiện rất rõ tính hành pháp
- Thi hành án dân sự với những đặc điểm của hoạt động tư pháp
Thi hành án dân sự chủ yếu do cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng) tiến hành công tác thi hành án dân sự Có nhiều cơ quan tham gia vào công tác thi hành án dân
sự, nhất là trong việc tổ chức thi hành các Bản án, quyết định của Tòa án phức tạp ảnh hưởng đến an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội Để tiến hành hoạt động thi hành
án dân sự phần lớn thông qua vai trò của các cá nhân có chức danh tư pháp như Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án…họ là những người được nhà nước giao trách nhiệm thi hành những bản án, quyết định của Tòa án Khi thi hành nhiệm vụ họ chỉ tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ Điều đó, thể hiện tính độc lập rất cao trong hoạt động nghiệp vụ thi hành án dân sự
Cơ sở để tiến hành các hoạt động thi hành án dân sự, bao gồm các quy định của pháp luật (được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật) và các bản án, quyết
định của Tòa án và các quyết định khác theo quy định của pháp luật (văn bản áp dụng
pháp luật) Mục đích của hoạt động thi hành án dân sự là đảm bảo cho nội dung của các bản án, quyết định nói trên được thực thi trên thực tế
Xuất pháp từ tất cả các đặc điểm nêu trên của thi hành án dân sự, có thể hiểu
"Thi hành án dân sự là hoạt động hành chính - tư pháp của Nhà nước, do cơ quan thi
hành án dân sự tiến hành theo một trình tự, thủ tục luật định, nhằm đảm bảo thi hành các bản án, quyết định dân sự của Tòa án hoặc phán quyết khác của cơ quan có thẩm quyền đươc thi hành trong thực tiễn"4
4
Bộ Tư Pháp, tài liệu tập huấn nghiệp vụ thi hành án hành chính và thi hành phần dân sự trong bản án hình sự,
Nxb Bộ tư pháp, năm 2012
Trang 191.1.2 Khái niệm chủ động thi hành án dân sự
Quyết định thi hành án dân sự bao gồm những quyết định nào? Chủ động thi
hành án dân sự được hiểu như thế nào?
Để biết được quyết định thi hành án dân sự gồm những quyết định nào thì điều đầu tiên chúng ta cần biết đó là quyết định thi hành án dân sự là gì? Trước hết chúng ta
không được hiểu một cách đơn thuần quyết định thi hành án dân sự là quyết định thi hành án dân sự Ở đây quyết định thi hành án dân sự bao gồm các quyết định do Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ban hành và các quyết định do Chấp hành viên ban hành trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự Trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự thì có những quyết định thi hành án do Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
ra quyết định như quyết định hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ, trả đơn yêu cầu thi hành án dân sự…còn về Chấp hành viên là người được Thủ trưởng cơ quan thi hành án giao nhiệm vụ trực tiếp tổ chức thi hành án Vì vậy mà trong lúc tổ chức thi hành án, pháp luật cho phép chấp hành viên cũng có quyền ban hành một số quyết định về thi hành
án như quyết định cưỡng chế, quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự…như vậy, quyết định thi hành án dân sự có phạm vi rất rộng nó bao gồm tất cả các quyết định phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự từ khi ra quyết định cho đến khi kết thúc thi hành án dân sự và do hai chủ thể có thẩm quyền ký, ban hành
đó là Thủ trưởng cơ quan thi hành án và Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự
Tóm lại thì quyết định thi hành án dân sự bao gồm tất cả các quyết định pháp sinh trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự và được quy định theo mẫu quy định tại Thông tư số 09/2011/TT-BTP ngày 30 tháng 5 năm 2011 của Bộ tư pháp Theo đó thì
có 57 mẫu quyết định thi hành án dân sự ở cấp tỉnh và cơ quan thi hành án cấp huyện
có 54 mẫu quyết định thi hành
Căn cứ vào tính chất chủ động hay thụ động của cơ quan thi hành án khi ra quyết định thi hành án mà quyết định thi hành án dân sự có hai loại Đó là: quyết định thi hành án dân sự chủ động và quyết định thi hành án dân sự theo đơn yêu cầu Chủ
động thi hành án dân sự ở đây là một trong những quyết định về thi hành án dân sự và
người có thẩm quyền ban hành đó là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự Trong một số trường hợp luật định thì thủ trưởng cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án mà không cần phải có đơn yêu cầu thi hành án từ phía các đương sự Nhằm mục đích bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các đương sự Nhưng trong trường hợp chủ
động thi hành án dân sự chủ yếu là bảo vệ quyền và lợi ích của nhà nước, tập thể …
khác với quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu chủ yếu là bảo vệ quyền lợi của cá nhân các đương sự nên các đương sự có quyền tự làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án
Trang 20thi hành bản án, quyết định của Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích của mình Để chủ
động thi hành án dân sự đúng pháp luật, tạo cơ sở cho các công tác thi hành án dân sự
sau này được thuận lợi thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án phải nghiên cứu bản án, quyết định kỹ lưỡng trước khi ra quyết định Trước khi ra quyết định chủ động thi hành án dân sự Thủ trưởng cơ quan thi hành án cần phải xem xét các vấn đề như về thời hạn nhận bản án, quyết định do Tòa án chuyển giao, cơ quan thi hành án có thuộc thẩm quyền thi hành bản án, quyết định không? Các tài liệu kèm theo có đầy đủ không? Kiểm tra về hiệu lực thi hành của bản án, quyết định? Thời hạn và nội dung quyết định thi hành án?
Căn cứ duy nhất để Thủ trưởng cơ quan thi hành án ban hành quyết định chủ
động thi hành án dân sự là bản án, quyết định của Tòa án Trong trường hợp chủ động
thi hành án thì Tòa án có nhiệm vụ chuyển giao bản án, quyết định sang cơ quan thi hành án dân sự Đây là trách nhiệm của Tòa án nhưng Thủ trưởng cơ quan thi hành án cũng cần phải quan tâm để có cách xử lý hợp lý khi tiếp nhận đơn yêu cầu thi hành án
về các khoản chủ động thi hành án mà Tòa án chưa chuyển giao bản án, quyết định đó Tại Điều 381 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) và Điều
28 Luật thi hành án dân sự năm 2008 thì đối với mỗi loại bản án, quyết định thời hạn chuyển giao của Tòa án cũng khác nhau, cụ thể như sau:
- Đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Theo quy định tại khoản 1
Điều 28 luật thi hành án dân sự năm 2008: “Đối với bản án, quyết định quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 2 của Luật này thì Toà án đã ra bản án, quyết định phải chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật” Bản án, quyết định quy
định tại điểm a,b,c, và d khoản 1 Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 đó chính là
những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, bao gồm: bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án Bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành ở việt Nam
- Đối với những bản án, quyết định tuy chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được
thi hành ngay Theo quy định tại khoản 2 Điều 28 Luật thi hành án dân sự: “Đối với
bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 của Luật này thì Toà án đã ra bản án, quyết định phải chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân
sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra bản án, quyết định” Bản án, quyết định quy
định tại điểm a khoản 2 Điều 2 luật thi hành án dân sự đó là những bản án, quyết định
về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc làm, trợ cấp mất việc làm,
Trang 21trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất
tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc
- Đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Theo quy định tại
khoản 3 Điều 28 luật thi hành án dân sự năm 2008: “Đối với quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời thì Toà án đã ra quyết định phải chuyển giao cho cơ quan thi
hành án dân sự ngay sau khi ra quyết định”
Sau khi đã nhận bản án, quyết định Thủ trưởng cơ quan thi hành án cần xem xét
lại một số vấn đề trước khi soạn thảo quyết định thi hành án Đầu tiên, là cần kiểm tra
điều kiện ra quyết định thi hành án, xác định thời hạn ra quyết định thi hành án Tiếp
theo cần xác định nội dung quyết định chủ động thi hành án Xác định nội dung quyết
định chủ động thi hành án nhằm xác định được các khoản thuộc diện chủ động thi
hành án và xác định xem những khoản đó cần ra mấy quyết định thi hành án Và cuối
cùng là soạn thảo quyết định thi hành án dân sự và phân công chấp hành viên tổ chức
thực hiện công tác thi hành án
Từ các phân tích ở trên ta có thể khái quát: Chủ động thi hành án dân sự là một
trong các quyết định thi hành án dân sự do thủ trưởng cơ quan thi hành án ban hành
căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án trong một số trường hợp, tiến hành theo
trình tự, thủ tục do luật định Nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích của các đương
sự, của Nhà nước được tốt hơn
1.2 Vai trò, ý nghĩa và đặc điểm của chủ động thi hành án dân sự
Các quy định của pháp luật được ban hành đều có những vai trò và ý nghĩa
riêng của nó, chủ động thi hành án dân sự cũng thế Chủ động thi hành án dân sự mang
vai trò và ý nghĩa chung của hoạt động thi hành án dân sự, ngoài ra nó còn mang vai
trò và ý nghĩa riêng biệt Vậy nó mang vai trò và ý nghĩa ra sao? Một trong những vấn
đề cần tìm hiểu về chủ động thi hành án đó chính là đặc điểm Chính đặc điểm này mà
ta thấy được nét đặc trưng của chủ động thi hành án dân sự
1.2.1 Vai trò, ý nghĩa của chủ động thi hành án dân sự
Chủ động thi hành án dân sự là căn cứ để chấp hành viên triển khai công tác thi
hành án dân sự tiếp theo Nếu như chủ động thi hành án dân sự có căn cứ duy nhất là
bản án, quyết định của Tòa án thì chủ động thi hành án dân sự là căn cứ để Chấp hành
viên tiến hành triển khai công tác thi hành án dân sự Sau khi ra quyết định thi hành án
thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải phân công Chấp hành viên tổ chức thi
hành, chính quyết định này đã cho thấy rằng bản án, quyết định của Tòa án đã bắt đầu
có hiệu lực trên thực tế chứ không chỉ về mặt lý thuyết nữa
Trang 22Chủ động thi hành án đảm bảo những bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực trên thực tế trong cuộc sống Bởi vì kết quả xét xử của Tòa án là bản án, quyết định nhưng nó chỉ có ý nghĩa trên mặt lý thuyết mà thôi, chính vì thế chủ động thi hành án
sẽ bảo đảm cho nó có hiệu lực thực sự trên thực tiễn Khi ban hành quyết định chủ
động thi hành án thì công tác thi hành án cũng bắt đầu triển khai, Chấp hành viên nhận được sự phân công từ Thủ trưởng cơ quan thi hành án phải có trách nhiệm triển khai
công tác thi hành án trên thực tế để bảo đảm quyền và lợi ích của Nhà nước của tập thể, cá nhân
Chủ động thi hành án góp phần bảo vệ quyền lợi của các đương sự, bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước tốt hơn Các trường hợp chủ động thi hành án chủ yếu
là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tập thể nên cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định và tiến hành thi hành án dân sự mà không cần phải có
đơn yêu cầu từ phía các đương sự, trong trường hợp khẩn cấp tạm thời thì ra quyết định ngay để đảm bảo tốt hơn quyền và nghĩa vụ của các đương sự, tránh trường hợp
tẩu tán tài sản
Thông qua chủ động thi hành án, cơ quan thi hành án có thể phát hiện những sai sót của Tòa án trong quá trình áp dụng pháp luật Để ra được quyết định thi hành án chủ động đảm bảo đúng pháp luật và tạo thuận lợi cho cơ quan thi hành án sau này thì thủ trưởng cơ quan thi hành án cần phải xem xét kỹ nội dung bản án, quyết định của Tòa án Quá trình xem xét xoay quanh các vấn đề như việc thi hành án có thuộc thẩm quyền không, xem xét bản án, quyết định của Tòa án có còn thời hiệu thi hành án không, xem xét bản án, quyết định có tuyên rõ ràng hay không,…từ vấn đề xem xét kỹ nội dung bản án, quyết định của Tòa án như vậy thì có thể trong lúc xem xét phát hiện những sai sót của Tòa án về nội dung áp dụng pháp luật hay về hình thức…qua đây có thể kiến nghị Tòa án có thẩm quyền kịp thời xem xét, hướng dẫn áp dụng pháp luật và
từ đó có thể đưa ra những ý kiến kiến nghị trong quá trình lập pháp
Chủ động thi hành án có ý nghĩa quan trọng nhằm tránh tình trạng tùy tiện Chủ
động thi hành án đã quy định khá rõ về những trường hợp nào cần chủ động ra quyết định và thẩm quyền ra quyết định thuộc về Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nên
tránh tình trạng tùy tiện khi ra quyết định Qua đây đặt ra trách nhiệm cho Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự phải xem xét kỹ nội dung bản án, quyết định của Tòa án để
ra quyết định đúng pháp luật và thuận tiện cho Chấp hành viên tiến hành các giai đoạn thi hành án dân sự tiếp theo được thuận tiện hơn
1.2.2 Đặc điểm của chủ động thi hành án dân sự
Trang 231.2.2.1 Chủ động thi hành án dân sự là quyết định do Thủ trưởng cơ quan thi hành án ban hành
Một trong những quyết định rất quan trọng để có thể bắt đầu thủ tục thi hành
án dân sự đó là quyết định chủ động thi hành án Đây là quyết định do Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ban hành theo thủ tục, trình tự luật định Chính quyết định chủ
động thi hành án dân sự do Thủ trưởng cơ quan thi hành án ban hành làm cơ sở phân
công chấp hành viên thực hiện các công tác thi hành án dân sự tiếp theo Từ quyết định chủ động thi hành án dân sự đã cho thấy rằng trách nhiệm của cơ quan thi hành án trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, nhà nước thật sự đang
được thực thi trên thực tế chứ không phải còn nằm trên giấy nữa Những quyết định
này mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa
vụ liên quan đến việc thi hành án Các cơ quan, tổ chức, công dân, trong phạm vi trách nhiệm của mình có nghĩa vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để thi hành án đạt hiệu quả;
1.2.2.2 Căn cứ để chủ động thi hành án dân sự là bản án, quyết định của Tòa án trong một số trường hợp luật định
Hoạt động thi hành án dân sự là hoạt động chấp hành nhưng ở đây là chấp hành bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Chính vì thế, căn cứ để chủ động thi hành án dân sự là bản án, quyết định của Tòa án trong số trường hợp luật định Các trường hợp luật định về chủ
động thi hành án dân sự cụ thể là “hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí; trả lại tiền, tài sản cho đương sự; tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời” Như vậy, các trường
hợp chủ động ra quyết định thi hành án dân sự là buộc người phải thi hành án dân sự thực hiện một nghĩa vụ nhất định về tài sản Khoản thu về tài sản này chủ yếu là nộp ngân sách nhà nước và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự Còn về các quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là để bảo vệ lợi ích cấp thiết cho các
đương sự cũng như để đảm bảo công tác xét xử và thi hành án dân sự sau này được
tiến hành thuận tiện hơn, tránh vấn đề các đương sự tẩu tán tài sản và các rắc rối có thể phát sinh trong công tác về sau
1.2.2.3 Chủ động thi hành án dân sự được tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định
Thi hành án dân sự nhằm mục đích bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án
được chấp hành nghiêm chỉnh, góp phần tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật,
bảo vệ quyền và lợi ích của các đương sự, nhà nước, qua đó góp phần giữ vững ổn
Trang 24định chính trị-xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước Chính vì thế
mà tại Ðiều 106 của Hiến pháp 2013 đã quy định “Bản án, quyết định của Toà án
nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” Để đảm bảo rằng cơ
quan thi hành án nghiêm chỉnh chấp hành công tác thi hành án dân sự, cụ thể là chủ
động thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thì Luật thi hành án dân
sự năm 2008 đã quy định rất rõ về thẩm quyền, các trường hợp chủ động ra quyết
định Do đó, các trình tự, thủ tục để chủ động thi hành án dân sự cũng được quy định
chặt chẽ bởi pháp luật giống như những thủ tục tố tụng trước đó vì đều liên quan đến quyền con người, quyền công dân Hơn nữa, yêu cầu đặt ra đối với những người tiến hành các trình tự, thủ tục thi hành án về chủ động thi hành án dân sự cũng không thấp hơn những người tiến hành tố tụng trước đó là phải độc lập và tuân theo các trình tự, thủ tục luật định Để bảo đảm quyết định chủ động thi hành án đúng pháp luật và để công tác thi hành án dân sự tiếp theo được tiến hành thuận lợi
1.2.2.4 Mục đích cuối cùng của chủ động thi hành án dân sự là bảo vệ quyền và lợi ích của các đương sự, nhà nước
Bản chất của hoạt động chủ động thi hành án là dạng hoạt động chấp hành nhưng là chấp hành phán quyết của cơ quan xét xử với các cách thức và biện pháp khác nhau nhằm buộc người có nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án phải thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình Mục đích cuối cùng của chủ động thi hành án là bảo đảm cho các quyết định của Tòa án được ghi trong bản án, quyết
định được thực thi trên thực tế chứ không phải là ra văn bản áp dụng pháp luật hoặc
quyết định có tính điều hành - nét đặc trưng của hoạt động hành chính Chủ động thi hành án là một hoạt động của thi hành án dân sự, nó cũng có mục đích là bảo đảm cho các quyết định của Tòa án được ghi trong bản án, quyết định được thực thi trên thực tế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp các đương sự, nhà nước Các khoản thu trong chủ
động thi hành án chủ yếu là để bảo vệ tài sản nhà nước “hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí; tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước” Các khoản thu này được nộp vào ngân sách nhà nước và thuộc quyền sở hữu,
quản lý của Nhà nước chứ không thuộc về tổ chức hay cá nhân Đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp, tạm thời trong 24 giờ kể từ khi Tòa án chuyển giao hoặc
đương sự giao trực tiếp thủ trưởng cơ quan phải ra quyết định thi hành án là để đảm
bảo cho lợi ích cấp thiết của các đương sự cũng như đảm bảo cho công tác xét xử và thi hành án sau này được thuận lợi hơn
Trang 251.3 Nguyên tắc chủ động thi hành án trong một số trường hợp
Theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 5 của Nghị định 58/2009/NĐ-CP5 thì:
- Về nguyên tắc chung Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết
định thi hành án chung cho các khoản thuộc diện chủ động thi hành trong một bản án,
quyết định;
- Trường hợp trong bản án, quyết định có các khoản về trả lại tiền, tài sản thì
đối với mỗi người được thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một
quyết định thi hành án;
- Trường hợp trong một bản án, quyết định có nhiều người phải thi hành án phải thi hành nhiều khoản thì đối với mỗi người phải thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án chung cho các khoản mà người đó phải thi hành;
- Trường hợp thi hành quyền, nghĩa vụ liên đới: Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án chung cho những người có quyền, nghĩa vụ liên
đới
Trường hợp có nhiều người phải thực hiện nghĩa vụ liên đới thì nếu người được thi hành án yêu cầu một hoặc một số người trong những người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ liên đới thi hành toàn bộ nghĩa vụ thì cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án đối với người đó Đối với các bản án, quyết định có tuyên tổng hợp hình phạt tiền trong đó có khoản tiền đã được giải quyết tại bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và đang được tổ chức thi hành, thì cơ quan thi hành án không ra quyết định thi hành án mà có văn bản kiến nghị người có thẩm quyền xem xét lại theo thủ tục giám
đốc thẩm đối với bản án, quyết định có tuyên tổng hợp hình phạt tiền được quy định
tại Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC, hướng dẫn một
số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân
sự
Một quyết định thi hành án được tính là một việc thi hành án Và quyết định thi hành án hay việc thi hành án này ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tổng kết, báo cáo của các Chấp hành viên hay của Chi Cục, Cục thi hành án dân sự đối với các quyết
định khen thưởng thi đua của các chấp hành viên hay của các Chi Cục, Cục thi hành án
dân sự
Dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm
2008 ngày 28 tháng 8 năm 2014 tại Điều 3 khoản 9 có quy định “Mỗi quyết định thi
5
Xem Điều 5 của Nghị định 58/2009/NĐ-CP
Trang 26hành án được xác định là một việc thi hành án” Như vậy, dự thảo cụ thể hóa quy định
này thành điều luật cụ thể tránh tình trạng hiểu sai về vấn đề này ảnh hưởng đến quá trình thi đua, khen thưởng cũng như trong công tác báo cáo kết quả thi hành án dân sự của các cơ quan thi hành án Vì trên thực tiễn vẫn có những cơ quan thi hành án xem một bản án là một vụ việc mà trong bản án thì có thể có nhiều quyết định Đó có thể là quyết định chủ động thi hành án hoặc quyết định theo đơn yêu cầu, đều này dẫn đến những khác nhau trong quá trình báo cáo, thi đua khen thưởng Thiết nghĩ dự thảo quy
định cụ thể trong điều luật là hợp lý, đáp ứng được tình hình thực tiễn
1.4 Lịch sử hình thành và pháp triển của chủ động thi hành án dân sự
Qua các giai đoạn hình thành và phát triển khác nhau, công tác thi hành án dân
sự đã có nhiều đóng góp đáng kể cho sự nghiệp cách mạng và công cuộc xây dựng phát triển đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa Nhìn lại chặng đường lịch sử phát triển của công tác thi hành án dân sự nói chung công tác chủ động ra quyết định thi hành án dân sự nói riêng có thể chia quá trình phát triển như sau:
1.4.1 Giai đoạn từ 1945 đến trước khi có Pháp lệnh 1993
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành ngay Sắc lệnh 13/SL ngày 24/01/1946, quy định cách tổ chức các Toà án và các ngạch thẩm phán trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Qua Sắc lệnh trên đã khẳng định
sự quan tâm của đảng và nhà nước ta trong công tác xét xử và thi hành án dân sự Sắc
lệnh số 13 có 114 điều, ở khoản 3 Điều 3 của sắc lệnh quy định “Ban tư pháp xã có
quyền thi hành những mệnh lệnh của các thẩm phán cấp trên”6 Đây chính là văn bản pháp lý đầu tiên đánh dấu sự ra đời về tổ chức và hoạt động của ngành thi hành án dân
sự trong chế độ mới Để cụ thể hóa thẩm quyền và thể thức thi hành án trong công tác thi hành án dân sự ngày 19/7/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 130/SL quy định về thể thức thi hành mệnh lệnh hoặc bản án của Tòa án Tiếp theo sau đó có nhiều Sắc lệnh về công tác thi hành án dân sự tiếp tục được ban hành và áp dụng vào thực tiễn
Trên cơ sở tại Điều 100 và Điều 137 của Hiến Pháp 1980 có quy định “Các bản
án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu
hành án dân sự - một hình thức có hiệu lực pháp lý cao nhất, lần đầu tiên được ban hành, đặt cơ sở pháp lý cho việc tăng cường, hoàn thiện tổ chức và hoạt động thi hành
Trang 27án dân sự Pháp lệnh do Hội đồng nhà nước ban hành có 43 Điều, có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 1990 Với việc ban hành Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989, cơ chế thi hành án dân sự đã có bước thay đổi căn bản Theo pháp lệnh thì cơ chế kết hợp tự
định đoạt của đương sự với sự chủ động của cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành
viên đã tạo ra sự pháp triển mới trong công tác thi hành án dân sự Lần đầu tiên quy
định về chủ động ra quyết định thi hành được quy định cụ thể tại Điều 15 của pháp
lệnh thi hành án dân sự năm 1989 như sau: Chánh án Toà án chủ động ra quyết định thi hành án Những bản án, quyết định được Chánh án Toà án chủ động ra quyết định
thi hành bao gồm: “Bản án, quyết định nói tại khoản 2 Điều 3 của Pháp lệnh này; Bản
án, quyết định về trả lại tài sản hoặc bồi thường thiệt hại tài sản xã hội chủ nghĩa, phạt tiền, tịch thu tài sản và án phí”8 Pháp lệnh thi hành án dân sự 1989 đã quan tâm
đến chủ động thi hành án để bảo vệ quyền lợi cho nhà nước, quyền và lợi ích của tập
thể và công dân Về thẩm quyền ra quyết định chủ động thi hành án được giao cho chánh án Tòa án Thẩm quyền ra quyết định thi hành án cũng có thể ủy quyền trong một số trường hợp như Chánh án Toà án đã xử sơ thẩm ra quyết định thi hành án hoặc
uỷ thác cho Chánh án Toà án nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc hoặc có tài sản liên quan đến việc thi hành án, ra quyết định thi hành Đối với bản án, quyết định
sơ thẩm đồng thời là chung thẩm thì Chánh án Toà án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc hoặc có tài sản liên quan đến việc thi hành án, ra quyết định thi hành Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh có thể uỷ thác cho Chánh án Toà án nhân dân cấp dưới nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc hoặc có tài sản liên quan đến việc thi hành án,
ra quyết định thi hành Chánh án Toà án quân sự có thể uỷ thác cho Chánh án Toà án nhân dân nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc hoặc có tài sản liên quan đến việc thi hành án, ra quyết định thi hành đối với dân thường bị xét xử tại Toà án quân sự hoặc đối với người phải thi hành án là cán bộ, chiến sĩ Lực lượng an ninh nhân dân hoặc Quân đội nhân dân bị toà án quân sự xét xử mà không còn ở trong lực lượng vũ trang nhân dân Toà án nhận uỷ thác có nhiệm vụ thực hiện uỷ thác và thông báo kết quả thi hành án cho Toà án đã uỷ thác
Để thực hiện pháp lệnh năm 1989, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân
dân tối cao và Bộ tư pháp đã có thông tư liên ngành số 06-89/TTLN ngày 07 tháng 12 năm 1989 hướng dẫn thực hiện một số quy định của pháp lệnh năm 1989 Tại phần I của thông tư liên ngành đã quy định rất cụ thể về ra quyết định thi hành án
8
Xem Điều 15 của pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989
Trang 281.4.2 Thời kỳ từ khi ban hành Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 đến trước khi có Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004
Đầu những năm 1990, công cuộc đổi mới nói chung và cải cách bộ máy Nhà
nước nói riêng đã được tiến hành một cách khá tích cực, khẩn trương Hiến pháp năm
1992 và các Luật về tổ chức bộ máy Nhà nước được Quốc hội khoá IX thông qua vào tháng 10/1992, đã đặt ra những nguyên tắc nền tảng cho quá trình cải cách Tư pháp, trong đó công tác thi hành án dân sự được đổi mới một cách cơ bản Khác với Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992 không quy
định thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc thi hành án Trong khi đó Luật Tổ
chức Chính phủ năm 1992 lần đầu tiên đã xác định việc “quản lý công tác thi hành án”
là một trong những nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong lĩnh vực pháp luật và hành chính tư pháp Để thực hiện quy định của các đạo luật trên đây về công tác thi hành án, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa IX ngày 6/10/1992 đã thông qua Nghị quyết về việc bàn giao công tác thi hành án từ Tòa án nhân dân các cấp sang các cơ quan của Chính phủ “chậm nhất vào tháng 6/1993” Ngày 17 tháng 4 năm 1993 Uỷ ban thường vụ quốc hội đã ban hành Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993 thay thế Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993 có tất cả 50 điều
và chính thức có hiệu lực ngày 01 thang 06 năm 1993 thay thế Pháp lệnh thi hành án
1989
Tại Điều 20 của Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993 quy định về quyết định chủ
động thi hành án dân sự như sau “Thủ trưởng cơ quan thi hành án chủ động ra quyết
định thi hành án Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án,
quyết định chuyển giao của Toà án, thủ trưởng cơ quan thi hành án chủ động ra quyết
định thi hành bản án, quyết định về trả lại tài sản hoặc bồi thường thiệt hại tài sản xã
hội chủ nghĩa, phạt tiền, tịch thu tài sản và án phí; các quyết định khẩn cấp tạm thời
để bảo đảm lợi ích cấp thiết của đương sự, bảo đảm cho việc xét xử và thi hành án”9
Ở Pháp lệnh thi hành án dân sư này thì thẩm quyền ra quyết định thi hành án chủ động
không còn thuộc về thẩm phán như trước mà do thủ trưởng cơ quan thi hành án quyết
định Sở dĩ công tác thi hành án dân sự được chuyển giao từ Tòa án sang cơ quan
thuộc chính phủ vì ở giai đoạn Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 Chánh án với tư cách là người chịu trách nhiệm về tổ chức và hoạt động xét xử phải đồng thời là người chỉ đạo công tác thi hành án dân sự từ đó dẫn đến tình trạng quá tải về công việc, chưa giải quyết kịp thời yêu cầu công tác thi hành án đặt ra Ngoài ra, ở những năm 1989 đã xuất hiện nhiều ý kiến trái chiều về trách nhiệm quản lý Tòa án địa phương, sự phối hợp giữa Bộ tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao trong công tác quản lý Tòa án địa
9
Xem Điều 20 của pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993
Trang 29phương diễn ra không thuận lợi như trước đây…Chính vì để khắc phục những nguyên nhân trên nên Nghị quyết của Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ nhất ngày 6-10-1992 về việc bàn giao công tác thi hành án từ Toà án nhân dân các cấp sang các cơ quan của Chính phủ Để thực thi nghị quyết trên thì Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ban Tổ chức- Cán bộ Chính phủ, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã cùng nhau ban hành Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 26 tháng 5 năm 1993 hướng dẫn các địa phương thực hiện việc bàn giao công tác thi hành
án dân sự Từ đây, công tác thi hành án dân sự đã được bàn giao sang các cơ quan của Chính phủ, nên thẩm quyền ra quyết định thi hành án cũng đã thay đổi theo Thêm
điểm mới trong quyết định chủ động thi hành án dân sự ở Pháp lệnh thi hành án dân sự
năm 1993 là đã quy định thời gian cụ thể trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận
được bản sao bản án, quyết định chuyển giao của Toà án, thủ trưởng cơ quan thi hành
án chủ động ra quyết định thi hành bản án, quyết định về trả lại tài sản hoặc bồi thường thiệt hại tài sản xã hội chủ nghĩa, phạt tiền, tịch thu tài sản và án phí; các quyết
định khẩn cấp tạm thời để bảo đảm lợi ích cấp thiết của đương sự, bảo đảm cho việc
xét xử và thi hành án Chỉ một thay đổi nhỏ trong chủ động ra quyết định thi hành án dân sự cũng thấy được sự quan tâm chú trọng hơn trong công tác thi hành án dân sự của Đảng và Nhà nước
1.4.3 Thời kỳ từ khi ban hành Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 đến trước khi có Luật thi hành án dân sự năm 2008
Như vậy, cùng với việc hình thành hệ thống cơ quan thi hành án dân sự, một cơ chế phối hợp về thi hành án dân sự cũng đã được xác lập Trong điều kiện thực tế hiện nay phải đặt công tác thi hành án dân sự trong tổng thể hoạt động triển khai các nhiệm
vụ giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội thì mới thấy hết ý nghĩa của cơ chế phối hợp này Sự kết hợp chặt chẽ giữa vai trò chủ động, phát huy trách nhiệm của chấp hành viên, cơ quan thi hành án và sự chỉ đạo sát sao, kịp thời của UBND các cấp, sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức có liên quan, tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao ý thức trách nhiệm của cả cộng đồng trong hoạt động thi hành án dân sự
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của đất nước, chức năng và nhiệm vụ của tổ chức thi hành án dân sự đang ngày càng mở rộng và tăng cường, đồng thời thực tế hoạt
động thi hành án cũng đặt ra những vấn đề mới, yêu cầu mới có tính cấp bách cần giải
quyết Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 được ban hành đã phục vụ cho việc thi hành Nghị quyết của Quốc hội về việc bàn giao công tác thi hành án dân sự từ Tòa án sang các cơ quan của Chính phủ Do Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 còn giữ nguyên các quy định của Pháp lệnh năm 1989, chỉ sửa đổi một phần nội dung cơ bản dẫn đến tình trạng pháp luật không được chấp hành nghiêm chỉnh, gây nên tình trạng
Trang 30án tồn đọng, kéo dài nhiều năm không thi hành được Mặt khác, sau khi Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 ra đời, Nhà nước cũng đã ban hành một loạt văn bản pháp luật mới có liên quan đến công tác thi hành án dân sự như Bộ luật dân sự, Bộ luật lao
động, Luật đất đai, Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật công ty Đặc biệt với việc ban
hành Luật phá sản doanh nghiệp, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao động, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, cơ quan thi hành án đã được giao thêm các loại việc mới, có tính đặc thù như thi hành quyết định tuyên bố phá sản, thi hành án kinh tế, lao động, hành chính làm cho công tác thi hành án không còn mang tính chất dân sự thuần tuý như trước đây Ngoài
ra, các cơ quan thi hành án dân sự còn đang đứng trước những khó khăn về lực lượng cán bộ, về cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động Đồng thời, các cơ sở pháp lý về tổ chức
và hoạt động thi hành án đang đòi hỏi phải được hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu đặt
ra trong công cuộc cải cách tư pháp nói chung và đổi mới công tác thi hành án nói riêng theo tinh thần các Nghị quyết Trung ương đã đề ra
Qua hơn 10 năm thi hành, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 đã bộc lộ nhiều bất cập trước những đòi hỏi của quá trình đổi mới, cải cách hành chính, cải cách
tư pháp Nhiều vướng mắc về cơ chế quản lý, mô hình tổ chức, thủ tục thi hành án dân
sự chưa được tháo gỡ kịp thời, dẫn đến t́nh trạng án tồn đọng có xu hướng gia tăng, đòi hỏi pháp luật thi hành án dân sự cần có sự bổ sung, hoàn thiện kịp thời để nâng cao
hiệu quả công tác thi hành án dân sự Vì vậy, ngày 14/01/2004 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh thi hành án dân sự sửa đổi thay thế Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 Pháp lệnh thi hành án dân sự 2004 có tất cả là 43 Điều, có hiệu lực ngày 01 tháng 07 năm 2004 Ở Điều 22 quy định về chủ động ra quyết định
thi hành án như sau “Thủ trưởng Cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành
phần bản án, quyết định sau đây: án phí, lệ phí Toà án, trả lại tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án; Hình phạt tiền; Tịch thu tài sản, truy thu thuế, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính; Xử lý vật chứng, tài sản đã thu giữ; Thu hồi đất theo quyết định của Toà án; Quyết định về biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án Thời hạn ra quyết định thi hành án là năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định; đối với quyết
định về biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải ra ngay quyết định thi hành án”10
So với Pháp lệnh năm 1993 thì ở pháp lệnh thi hành án dân sự lần này đã quy định cụ thể hơn
về thời hạn ra quyết định chủ động thi hành án, nếu ở Pháp lệnh thi hành án dân sự trước là bảy ngày thì ở pháp lệnh này quy định thời gian giảm xuống còn năm ngày và quy định thêm thời gian ra quyết định về biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải ra ngay quyết định thi hành án Qua quy định trên, quyết định chủ động thi hành án dân sự đã
10
Xem Điều 22 của pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004
Trang 31được quy định một cách chặt chẽ hơn, hợp lý hơn, bảo vệ quyền và lợi ích của các
đương sự tốt hơn Theo từ điển Tiếng việt thì khẩn cấp có nghĩa “Cần được tiến hành,
được giải quyết ngay, không chậm trễ Có tính chất nghiêm trọng, đòi hỏi phải có
ngay những biện pháp tích cực để đối phó, không cho phép chậm trễ” 11 Đối với quyết
định về biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải ra ngay quyết định thi hành án, từ chính
quy định này mới thấy được hết ý nghĩa của hai từ khẩn cấp mà luật quy định Thêm một điểm mới về chủ động ra quyết định là đã thu hẹp phạm vi các trường hợp chủ
động ra quyết định thi hành án dân sự Lý do thay đổi như trên là vì trước đây ở Pháp
lệnh thi hành án năm 1993 thì đã quy định số lượng tương đối lớn các bản án, quyết
định thuộc diện cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án là các cơ quan,
tổ chức nhà nước Quy định này đã thể hiện sự bất bình đẳng giữa các chủ thể là người
được thi hành án với nhau Cụ thể là người được thi hành án là cá nhân với người được
thi hành án là cơ quan, tổ chức Do đó, để đảm bảo sự đối xử công bằng giữa những người được thi hành án, đảm bảo việc thi hành án nghiêm túc và kịp thời các khoản thu nộp ngân sách nhà nước Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 đã thu hẹp phạm
vi và quy định cụ thể hơn các trường hợp cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án
Ngày 02 tháng 6 năm 2005, Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW
về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Nghị quyết này đã chỉ thị: “Chuẩn bị điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để giao cho Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất
quản lý công tác thi hành án Xác định rõ trách nhiệm của uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn và các cơ quan chuyên môn của uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trong việc thi hành các hình phạt không phải hình phạt tù để thực hiện nghiêm túc các bản án của Toà án Từng bước thực hiện việc xã hội hoá và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan Nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án” 12
Qua chỉ thị trên thì đội ngũ thi hành hành án dân sự ngày càng hoàn thiện, cơ sở vật chất, kinh phí được tăng cường nhờ đó mà công tác thi hành án ngày càng chuyển biến tích cực, giảm tình trạng án tồn đọng, góp phần đảm bảo kết quả thi hành án của các đương sự, giữ vững an ninh, trật tự tang cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản
Trang 321.4.4 Thời kì từ khi có Luật thi hành án dân sự năm 2008 đến nay
Để tiếp tục củng cố và hoàn thiện về tổ chức, bộ máy và cơ sở pháp lý để thúc
đẩy công tác thi hành án dân sự ngày càng hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích của các đương sự, ngày 14 tháng 11 năm 2008, Quốc hội khóa 12 đã thông qua Luật thi hành
án dân sự năm 2008 Luật thi hành án dân sự năm 2008 có 183 Điều, có hiệu lực ngày
01 tháng 7 năm 2009 Tại khoản 1 Điều 36 của luật thi hành án dân sự 2008 quy định
về chủ động thi hành án “Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành đối với phần bản án, quyết định sau đây: Hình phạt tiền, truy thu tiền,
tài sản thu lợi bất chính, án phí; Trả lại tiền, tài sản cho đương sự; Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu huỷ vật chứng, tài sản; Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước; Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời do Toà án chuyển giao hoặc do đương sự giao trực tiếp, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành”13 Nhìn chung thì các quy định về chủ động thi hành án dân sự được quy định tại Luật thi hành
án dân sự năm 2008 không khác mấy so vơi Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 Ở Luật thi hành án dân sự năm 2008 quy định về quyết định chủ động thi hành án đã bỏ
đitrường hợp lệ phí, truy thu thuế, quy định về cụ thể hơn quyết định thu hồi đất có
thêm phần thu hồi các tài sản khác Đặc biệt, lần này về thời hạn ra quyết định khẩn cấp tạm thời đã xác định cụ thể hơn trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được quyết
định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời do Toà án chuyển giao hoặc do đương sự
giao trực tiếp, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành Quy định lần này về biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể hơn và bảo vệ tốt hơn quyền và nghĩa vụ của các đương sự, cũng như giúp cho công tác triển khai thi hành án dân sự tiếp theo được thuận tiện hơn
Qua Chương đầu tiên tác giả đã nghiên cứu các vấn đề lý luận xoay quanh chủ
động thi hành án từ đó thấy được bản chất của chủ động thi hành án dân sự để có thể
dễ dàng hơn khi tìm hiểu những quy định của pháp luật về chủ động thi hành án dân
sự Qua Chương đầu tiên tác giả đã phân tích và trình bày các ván đề về khái niệm,
đặc điểm, vai trò và ý nghĩa, cũng như các vấn dề về nguyên tắc và lịch sủa phát triển
của chủ động thi hành án dân sự Chính việc tìm hiểu các vấn đề lý luận trên đã góp làm cho việc nghiên cứu Chương 2những quy định của pháp luật về chủ động thi hành
án dân sự được thuận tiện hơn
13
Xem Điều 36 của luật thi hành án dân sự năm 2008
Trang 33CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
định của Luật thi hành án dân sự năm 2008 và cùng trình bày, so sánh đối chiếu với dự
thảo số 5 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2008) ngày 28 tháng 8 năm 2014
2.1 Những trường hợp chủ động thi hành án dân sự
Hoạt động thi hành án dân sự được triển khai thực hiện qua nhiều công đoạn, thủ tục khác nhau Một trong những thủ tục đầu tiên và quan trọng của hoạt động thi hành án dân sự là nhận bản án, quyết định, nhận đơn yêu cầu và ra quyết định thi hành
án Có những trường hợp ra quyết định thi hành án dân sự nhưng không cần phải có
đơn yêu cầu của đương sự đó là chủ động thi hành án dân sự Những trường hợp nào
thì cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ban hành quyết định chủ động thi hành
án dân sự?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 36 Luật thi hành án dân sự năm 2008 thì các
trường hợp chủ động thi hành án dân sự bao gồm: “Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài
sản thu lợi bất chính, án phí; trả lại tiền, tài sản cho đương sự; tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời” 14 Các trường hợp chủ động thi hành án dân sự trên sẽ được làm rõ như sau:
14
Xem Điều 36 của luật thi hành án dân sự năm 2008
Trang 342.1.1 Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí
Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí là những khoản thu
có mục đích nộp vào ngân sách nhà nước Chính vì vậy nên trong trường hợp này Luật thi hành án dân sự năm 2008 quy định Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải chủ
động ra quyết định mà không cần phải có đơn yêu cầu từ phía đương sự Trong các
trường hợp này luật quy định cơ quan thi hành án chủ động thi hành án dân sự nhằm mục đích bảo vệ tốt hơn quyền lợi của nhà nước
Theo quy định tại Điều 26 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm
2009) thì “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm
tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Toà án quyết định”15 Hình phạt tiền là một trong các hình phạt do luật hình sự quy định Theo quy định tại Điều 28 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì hình phạt tiền ở đây vừa có thể là hình phạt chính, cũng có thể là hình phạt bổ sung Cụ thể theo quy định tại Điều 30 Bộ luật hình sự
năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì “Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công
cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm khác do Bộ luật này quy định” Và
“Phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung đối với người phạm các tội về tham
nhũng, ma tuý hoặc những tội phạm khác do Bộ luật này quy định”16 Hình phạt tiền
có mục không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người
có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt tiền còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Mặc khác, hình phạt tiền là một hình phạt tác động trực tiếp đến kinh tế của người phạm tội nhưng nhà nước không áp dụng hình phạt tiền với mục đích làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà nguồn thu này chỉ là hệ quả của việc áp dụng hình phạt tiền Ngoài ra khi
bị áp dụng hình phạt tiền ở đây người phạm tội không chỉ chịu trách nhiệm là dân sự
mà còn phải chịu trách nhiệm hình sự đó là chịu án tích trong một khoảng thời gian nhất định
Truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính thuộc diện chủ động thi hành án dân sự
Đối với tiền, tài sản thu lợi bất chính do hành vi vi phạm hành chính, hành vi phạm tội
mà có sẽ bị truy thu nộp vào ngân sách nhà nước Tiền, tài sản thu lợi bất chính thường là do các đối tượng chiếm dụng, làm thất thoát hoặc gây thiệt hại về tiền, tài
Trang 35sản của nhà nước nên các khoản này không cần làm đơn, mà cơ quan thi hành án tự ra quyết định để bảo vệ tiền, tài sản của nhà nước được tốt hơn
Án phí bao gồm những loại nào? Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh
Án phí, lệ phí tòa án 10/2009/UBTVQH12 ngày 27 tháng 02 năm 2009 "Án phí bao
gồm các loại sau đây: Án phí hình sự; Án phí dân sự, gồm có các loại án phí giải quyết vụ án tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao
động; Án phí hành chính"17
Án phí, lệ phí Tòa án trong lúc thu, nộp cần tuân theo nguyên tắc như án phí, lệ phí Tòa án được thu bằng đồng Việt Nam, Cơ quan có thẩm quyền thu tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí Tòa án phải sử dụng chứng từ thu do Bộ Tài chính phát hành Hai nguyên tắc trên bắt buộc cơ quan có thẩm quyền thu án phi, lệ phí phải tuân theo Án phí là một trong các trường hợp cơ quan thi hành án dân sự phải chủ động thi hành án
Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Pháp lệnh án phí, lệ phí của Toà án ngày 27/2/2009 thì Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thu các khoản lệ phí Toà án
sau: “Lệ phí giải quyết việc dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 6 Điều 26, các
khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 7 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; Lệ phí nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản; Lệ phí xét tính hợp pháp của cuộc đình công; Kháng cáo quyết
định của Tòa án đối với yêu cầu quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 43 Pháp
lệnh án phí, lệ phí Toà án, nếu yêu cầu kháng cáo của họ không được chấp nhận (điểm
d khoản 1 Điều 43)” 18 Tuy nhiên căn cứ vào Điều 36 của Luật Thi hành án dân sự
năm 2008, Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án dân sự không biết mình có thẩm quyền ra quyết định thi hành án đối với khoản lệ phí Toà án hay không? Nếu có thì ra quyết
định chủ động hay theo đơn yêu cầu Đây cũng là vấn đền hiện nay đang có hai quan điểm khác nhau
Quan điểm thứ nhất cho rằng, Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án không có thẩm quyền Vì Luật thi hành án dân sự năm 2008 chỉ nói đến án phí Toà án mà không hề
đề cập đến lệ phí Toà án Mặc dù Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án có giao thẩm quyền
thu lệ phí trong trường hợp này thuộc về Cơ quan thi hành án dân sự nhưng về mặt pháp lý nó có hiệu lực thấp hơn Luật thi hành án dân sự Nếu có thẩm quyền thu thì cũng thu theo thủ tục hành chính chứ không ra quyết định thi hành án
Quan điểm thứ hai cho rằng, Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền
ra quyết định Vì Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án đã xác định thẩm quyền cho Cơ quan thi hành án, hơn nữa, mặc dù Luật thi hành án dân sự không có điều khoản nào đề cập
Trang 36đến lệ phí Toà án nhưng cũng không có điều khoản nào mâu thuẫn với quy định của
Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án Vấn đề đặt ra ở đây là ra quyết định thi hành án chủ
động hay theo đơn đối với khoản lệ phí trên
Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai vì trước đây, tại điểm a, khoản 1 Điều
22 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 cũng đã quy định khoản lệ phí Toà án thuộc trường hợp Cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án Trên cơ sở quy định tại Điều 36 Luật thi hành án dân sự năm 2008, chúng ta thấy nếu căn cứ vào khoản 1 thì khoản lệ phí Toà án không có Điều đó có nghĩa là khoản lệ phí Toà án không thuộc trường hợp chủ động ra quyết định thi hành án Nếu khoản 1 không có thì tất nhiên phải căn cứ vào khoản 2 (theo tính chất loại trừ của điều luật) để ra quyết
định thi hành án theo đơn đối với khoản lệ phí Toà án Đây là điều không thể xem xét
như vậy được Bởi như đã nói ở trên, bản chất của khoản lệ phí là thu cho ngân sách nhà nước nên Cơ quan thi hành án phải chủ động ra quyết định thi hành án, hơn nữa nếu ra quyết định theo đơn yêu cầu thi hành án thì ai sẽ làm đơn yêu cầu thi hành án khoản lệ phí Toà án này? Vì bản chất lệ phí Tòa án cũng như án phí đều có mục đích nộp vào ngân sách nhà nước nên phần này cơ quan thi hành án ra quyết định chủ động thi hành là hợp lý hơn
2.1.2 Trả lại tiền, tài sản cho đương sự
Quy định của bản án, quyết định tuyên trả lại tiền, tài sản cho đương sự cũng thuộc diện cơ quan thi hành chủ động thi hành bởi xuất phát từ quan niệm rằng, việc tạm giữ, thu giữ những tài sản đó là do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trước đó với mục đích phục vụ cho việc điều tra, truy tố, xét xử, bảo đảm thi hành án, nay theo quy định của pháp luật được tuyên trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp thì nhà nước phải chủ động trả lại mà không đợi đương sự phải làm đơn yêu cầu Mục đích là bảo vệ tốt hơn quyền lợi của công dân Có một số trường hợp như người phạm tội trộm cắp, chiếm đoạt tiền, tài sản của đương sự, tiền và tài sản sản ấy vốn dĩ là tiền và tài sản của
đương sự do hành vi của người phạm tội nên khi phát hiện và quá trình xét xử cơ quan điều tra, cơ quan xét xử, thi hành án tạm giữ để làm vật chứng cho quá trình xét xử
Trả lại tiền, tài sản cho đương sự cũng có thể là khoản tạm ứng án phí nay theo bản án, quyết định của Tòa án tuyên trả lại tiền tạm ứng án phí cho đương sự Trả lại tài sản cho đương sự ở đây cũng có thể là trả lại tài sản trong trường hợp đương sự chứng minh tài sản không thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án Vì vậy, cơ quan thi hành án dân sự phải chủ động trả lại tài sản hợp pháp cho đương sự chính từ việc làm này đã tạo lòng tin của nhân dân vào nhà nước và pháp luật Nhân dân sẽ có tâm lý yên tâm hơn khi được nhà nước bảo vệ tài sản hợp pháp của họ bị đánh cắp, bị chiếm giữ bất hợp pháp mà không cần làm thủ tục rườm rà, phức tạp để nhận lại Chính vì thế
Trang 37Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã quy định trong trường hợp này thủ trưởng có quan thi hành án chủ động ra quyết định mà không bắt đương sự phải làm đơn yêu cầu
2.1.3 Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu huỷ vật chứng, tài sản
Tịch thu sung quỹ nhà nước có thể là tịch thu tài sản hoặc tịch thu tiền để sung vào quỹ nhà nước trong một số trường hợp do luật dự liệu
Vậy tịch thu tài sản là gì? Và đối tượng nào bị áp dụng biện pháp này? Tại Điều
40 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì “Tịch thu tài sản là tước
một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án sung quỹ nhà nước Tịch thu tài sản chỉ được áp dụng đối với người bị kết án về tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng trong trường hợp do Bộ luật này quy
định Khi tịch thu toàn bộ tài sản vẫn để cho người bị kết án và gia đình họ có điều
kiện sinh sống”19 Như vậy, tịch thu tài sản chỉ được áp dụng đối với người bị kết án về tội nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng do Bộ luật hình sự quy định Ví dụ như: Tội cướp tài sản, Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản …có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản Việc tịch thu, sung quỹ nhà nước được áp dụng đối với công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, vật hoặc tiền
do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có, vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, vật, tiền thuộc tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc
để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu, sung
quỹ nhà nước
“Vật chứng được xử lý như sau: Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành thì bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước hoặc tiêu huỷ; Vật chứng là những vật, tiền bạc thuộc sở hữu của Nhà nước, tổ chức, cá nhân bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì sung quỹ Nhà nước; Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu sung quỹ Nhà nước; Vật chứng là hàng hóa mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật; Vật chứng không
có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu huỷ” 20 được quy định tại
Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Vậy vật chứng, tài sản sẽ bị tiêu hủy trong
trường hợp là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành các vật chứng đó không có giá trị hoặc không sử dụng được Khoản vật chứng, tài sản bị Toà án tuyên
Trang 38tịch thu tiêu huỷ thì không còn thuộc quyền quyết định của đương sự, nên cũng giao
cơ quan thi hành án chủ động thực hiện việc tiêu huỷ
2.1.4 Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước
Quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước sẽ do cơ quan thi hành án ban hành quyết định chủ động thi hành án Cơ quan thi hành án sẽ chủ
động ra quyết định thi hành án vì để bảo vệ quyền và lợi ích của nhà nước Trong một
số trường hợp như người để lại di sản thừa kế không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di chúc, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa
kế thuộc nhà nước Quyền sử dụng đất và tài sản khác của chủ sở hữu do phạm tội, vi phạm hành chính mà bị Tòa án tuyên sung quỹ nhà nước thì quyền sở hữu tài sản của người đó sẽ chấm dứt kể từ thời điểm bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật
Theo quy định tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013 “Đất đai, tài nguyên nước, tài
nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”21 Theo quy định trên của Hiến pháp
2013 thì đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý về đất đai là nhà nước Nhưng nhà nước không phải là một con người nào cụ thể để sử dụng đất nên nhà nước sẽ trao lại quyền sử dụng đất cho các chủ thể khác thông qua hai hình thức đó là giao đất, cho thuê đất và công nhận quyền sử dụng đất Chủ thể có thẩm quyền giao đất, cho thuê
đất và công nhận quyền sử dụng đất cũng chính là chủ thể có thẩm quyền thu hồi
quyền sử dụng đất Trong các trường hợp nhà nước có thẩm quyền thu hồi quyền sử dụng đất là Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; Thu hồi đất
do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người Thu hồi quyền sử dụng đất thuộc diện sung quỹ nhà nước chủ yếu là trường hợp do vi phạm pháp luật về đất đai Vi phạm pháp luật về đất đai cụ
thể là vi phạm “Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được
Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; Sử dụng đất không
đúng mục đích, sử dụng đất không có hiệu quả; Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất; Đất được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền; Đất bị lấn, chiếm
trong các trường hợp sau đây: Đất chưa sử dụng bị lấn, chiếm; Đất không được
21
Xem Điều 53 Hiến pháp năm 2013