1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số vấn đề liên quan đến quy phạm pháp luật và giải pháp hoàn thiện

43 460 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 610,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chẳng hạn, QPPL hiến pháp thì có liên quan đến mọi tổ chức cá nhân trong đất nước nhưng QPPL lao động thì chỉ liên quan đến những người quản lý, sử dụng lao động và những người lao động…

Trang 1

HOÀN THIỆN

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

ThS Huỳnh Thị Sinh Hiền Lê Thị Kim Ngân

Bộ môn: Luật Hành chính MSSV: S120049

Lớp: DT1263B1

Luận văn Tốt nghiệp

Cần Thơ, tháng 11 năm 2014

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………/

Cần Thơ, ngày tháng năm 2014 NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN ………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 3

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………/

Cần Thơ, ngày tháng năm 2014

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục của đề tài 2

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY PHẠM PHÁP LUẬT 3

1.1 Khái niệm quy phạm pháp luật 3

1.2 Đặc điểm của quy phạm pháp luật 4

1.2.1 Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung 4

1.2.2 Quy phạm pháp luật do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận 4

1.2.3 Quy phạm pháp luật là công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội 5

1.2.4 Quy phạm pháp luật được đảm bảo thực hiện kể cả bằng sự cưỡng chế của nhà nước .5

1.3 Cấu trúc của quy phạm pháp luật 6

1.3.1 Bộ phận giả định 6

1.3.2 Bộ phận quy định 8

1.3.3 Bộ phận chế tài 9

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 11

2.1 Vấn đề liên quan đến khái niệm quy phạm pháp luật 11

2.2 Vấn đề liên quan đến phân loại quy phạm pháp luật 15

2.2.1 Đối với phân loại quy phạm pháp luật định nghĩa và quy phạm pháp luật nguyên tắc 15

2.2.2 Đối với phân loại quy phạm pháp luật xung đột 16

2.2.3 Vấn đề phân loại quy phạm pháp luật theo ngành luật 16

2.3 Vấn đề liên quan đến cấu trúc quy phạm pháp luật 19

2.3.1 Quy phạm pháp luật có nhất thiết đủ ba bộ phận 19

2.3.2 Giả định của quy định hay giả định của chế tài 20

2.3.3 Bộ phận quy định được hiểu ngầm như thế nào cho đúng 22

2.3.4 Bộ phận chế tài hay bộ phận bảo đảm 23

Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN QUY PHẠM PHÁP LUẬT .25

3.1 Giải pháp liên quan đến khái niệm quy phạm pháp luật 25

3.2 Giải pháp liên quan đến phân loại quy phạm pháp luật 26

3.3 Giải pháp liên quan đến cấu trúc quy phạm pháp luật 27

Trang 5

3.3.1 Cho vấn đề quy phạm pháp luật có nhất thiết đủ ba bộ phận 27 3.3.2 Cho vấn đề giả định của quy định hay giả định cho chế tài 29 3.3.3 Cho vấn đề bộ phận quy định được hiểu ngầm như thế nào cho đúng 29 3.3.4 Bộ phận thứ ba trong cấu trúc quy phạm pháp luật phải là chế tài không thể thừa nhận bộ phận bảo đảm 30 PHẦN KẾT LUẬN 34

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong hệ thống các khái niệm của khoa học lý luận Nhà nước và Pháp luật, QPPL

là khái niệm có ý nghĩa rất lớn được xem là “tế bào” của hệ thống pháp luật, đóng vai trò như những “viên gạch” để xây nên tòa nhà pháp luật Thông qua khái niệm QPPL, chúng

ta có thể tìm hiểu cụ thể hơn về cơ cấu QPPL như giả định, quy định và chế tài, một QPPL

có cấu trúc chặt chẽ sẽ giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về bản chất của pháp luật nó là vấn

đề rất có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn Về mặt lý luận, việc giải quyết được những vấn

đề trong cơ cấu của QPPL sẽ góp phần quan trọng trong việc làm sáng tỏ những vấn đề liên quan đến khái niệm QPPL cũng như các khái niệm ngành luật, chế định pháp luật Về mặt thực tiễn, lí thuyết về cơ cấu QPPL có vai trò quan trọng trong kỹ thuật lập pháp Nếu giải quyết một cách thấu đáo vấn đề cơ cấu của QPPL sẽ giúp cho nhà làm luật giải quyết được vấn đề liên quan đến các điều luật trong một văn bản QPPL Vì vậy, nghiên cứu lý thuyết về QPPL trong đó có cơ cấu về QPPL để tạo ra các QPPL hoàn chỉnh và có cơ sở khoa học mang ý nghĩa không chỉ về mặt lý luận nhận thức mà còn phục vụ rất thiết thực cho các hoạt động thực tiễn pháp luật như hoạt động xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, hoạt động thực hiện pháp luật được chính xác và khoa học đồng thời tạo ra cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu các vấn đề khác có liên quan như áp dụng pháp luật, soạn thảo

và ban hành các văn bản QPPL Ngoài ra, nó còn phục vụ việc nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, tạo kỹ năng sống và làm việc theo pháp luật của các tổ chức và cá nhân trong xã hội

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của hệ thống lý luận và pháp luật, lý thuyết về QPPL cho đến nay vẫn còn bộc lộ nhiều điều bất cập khiến các nhà khoa học lúng túng Chẳng hạn như, quan điểm khác nhau về cấu thành QPPL, phân loại QPPL , nếu thực trạng này không được nghiên cứu và làm sáng tỏ thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với kỹ thuật lập pháp và công cuộc xây dựng hệ thống pháp luật theo nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội

của đất nước Đề tài “Một số vấn đề liên quan đến QPPL và giải pháp hoàn thiện” tôi

chọn nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp nhằm làm rõ một số vấn đề trong lý thuyết về QPPL đòi hỏi phải có sự nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện hơn để hệ thống pháp luật phát triển tốt đáp ứng được nhu cầu mới của đất nước hiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn tập trung làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng xây dựng hệ thống lý luận về những vấn đề liên quan đến QPPL trong hệ thống pháp luật của Việt Nam Qua đó chỉ ra những hạn chế còn tồn tại trong lý luận về QPPL ảnh hưởng đến thực trạng xây dựng pháp

Trang 8

luật, từ đó đưa ra giải pháp nhằm làm cho cơ sở lý luận về QPPL thống nhất và được hoàn

thiện hơn

3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu lý luận một số vấn đề liên quan đến QPPL như khái niệm, phân loại và cấu trúc rồi đưa ra các thực trạng còn hạn chế từ những vấn đề liên quan này Người viết chỉ tập trung vào các QPPL nằm trong văn bản QPPL của Việt Nam

mà đưa ra kết quả, từ đó những giải pháp đưa ra cũng chỉ nhằm hoàn thiện các QPPL trong văn bản QPPL của Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả luận văn sử dụng các phương pháp sau để nghiên cứu cho đề tài: phương pháp quy nạp và diễn dịch, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích câu chữ, phương pháp đối chiếu và tổng hợp các tài liệu

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương, cụ thể:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quy phạm pháp luật

Chương 2: Một số vấn đề liên quan đến quy phạm pháp luật

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện một số vấn đề liên quan đến quy phạm pháp luật

Trang 9

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY PHẠM PHÁP LUẬT

1.1 Khái niệm quy phạm pháp luật

Đời sống cộng đồng của con người đòi hỏi phải đặt ra rất nhiều những quy tắc xử

sự khác nhau để điều chỉnh hành vi của con người Những quy tắc xử sự ấy được sử dụng nhiều lần trong đời sống xã hội được gọi là quy phạm xã hội Trong mỗi quy phạm xã hội thường chỉ ra: Ai? trong những điều kiện hoàn cảnh nào? sẽ xử sự như thế nào? Trong đời sống cộng đồng xã hội không thể thiếu các quy phạm xã hội, chúng là những phương tiện

để quản lý xã hội, phối hợp ý chí và quy tụ có mục đích hoạt động của từng cá nhân riêng

rẽ lại nhằm đạt được những lợi ích và mục đích mong muốn, tạo điều kiện cho xã hội ổn định và phát triển Trong xã hội có nhiều loại quy phạm xã hội cùng được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội như quy phạm đạo đức, quy phạm tập quán, quy phạm tôn giáo… Các quy phạm xã hội khác nhau thì có những đặc tính khác nhau, sự tác động của mỗi loại quy phạm xã hội khác nhau lên các mối quan hệ xã hội cũng khác nhau

QPPL là một loại quy phạm xã hội vì nó mang đầy đủ những thuộc tính chung của quy phạm xã hội Một trong những thuộc tính cơ bản, quan trọng của pháp luật là tính quy phạm nhưng tính quy phạm trong pháp luật là tính quy phạm phổ biến Nói đến pháp luật phải nói đến QPPL, thiếu quy phạm thì pháp luật không còn là pháp luật Do vậy, cũng cần làm rõ nội dung ngữ nghĩa của nhóm từ “quy phạm pháp luật” Trước hết, thuật ngữ

“quy phạm” được hiểu theo tiếng Latinh là quy tắc xử sự chung, là khuôn mẫu, là chuẩn mực cho hành vi xử sự của con người Pháp luật được đặt ra để điều chỉnh các mối quan

hệ xã hội nhằm mục đích duy trì trật tự xã hội, bảo vệ các quyền và sự tự do của con người đồng thời đảm bảo sự phát triển của xã hội phù hợp với các quy luật khách quan Các quan

hệ xã hội tồn tại một cách khách quan trong quá trình hoạt động của con người nhưng mức

độ ổn định và nhịp độ phát triển của chúng lại phụ thuộc vào cách xử sự của con người khi tham gia các mối quan hệ xã hội Khi tham gia vào các mối quan hệ xã hội, các chủ thể có nhiều phương án xử sự khác nhau, tùy thuộc vào cách xử sự của chủ thể mà quan hệ xã hội tồn tại, vận động và phát triển theo những hướng khác nhau Vì vậy, để tác động vào các quan hệ xã hội nhằm đạt được mục đích và kết quả cụ thể, pháp luật xác định cách xử sự của chủ thể trong những trường hợp nhất định và đảm bảo cho chúng được thực hiện

Nhà nước đảm nhiệm vai trò bảo đảm cho QPPL được thực hiện trên thực tế vì nó thể hiện ý chí của nhà nước, chứa đựng những tư tưởng, quan điểm chính trị - pháp lý của nhà nước trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Nhà nước áp đặt ý chí của mình trong QPPL bằng cách xác định những đối tượng (tổ chức, cá nhân) nào thì phải chịu sự tác động của pháp luật, những quyền và nghĩa vụ pháp lý mà họ có và cả những biện pháp

Trang 10

cưỡng chế nào mà họ buộc phải gánh chịu Bằng việc chỉ ra các quyền, nghĩa vụ hoặc trách nhiệm của các chủ thể tham gia quan hệ mà QPPL điều chỉnh có nghĩa là QPPL đã

do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt ra hoặc thừa nhận

Như vậy: “QPPL là quy tắc xử sự chung mà chủ thể phải tuân theo trong những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và được bảo đảm thực hiện kể cả bằng sự cưỡng chế của Nhà nước” 1

1.2 Đặc điểm của quy phạm pháp luật

1.2.1 Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung

QPPL được ban hành không phải cho một tổ chức hay cá nhân cụ thể mà cho tất cả các tổ chức và cá nhân tham gia quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh Mọi tổ chức, cá nhân ở vào những hoàn cảnh, điều kiện mà QPPL đã quy định đều xử sự thống nhất với nhau Tuy nhiên, tính chất chung của các QPPL khác nhau thì khác nhau Chẳng hạn, QPPL hiến pháp thì có liên quan đến mọi tổ chức cá nhân trong đất nước nhưng QPPL lao động thì chỉ liên quan đến những người quản lý, sử dụng lao động và những người lao động…

Tính chất chung của QPPL còn thể hiện ở chỗ nó được đặt ra không phải chỉ để điều chỉnh quan hệ xã hội cụ thể mà còn để điều chỉnh một quan hệ xã hội chung, nghĩa là, từng quan hệ xã hội cụ thể bên cạnh những quan điểm chung thì cũng có rất nhiều những điểm riêng biệt nhưng QPPL đã thống nhất tất cả chúng lại và thiết lập ra quy tắc xử sự có tính chất chung cho tất cả những chủ thể tham gia quan hệ đó Chẳng hạn, giữa người mua

và người bán cụ thể với những đặc điểm riêng của từng mối quan hệ song tất cả những quan hệ giữa người mua và người bán đều phải tuân theo các quy tắc có tính chất chung đã được quy định trong Luật Dân sự QPPL có thể tác động rất nhiều lần và trong thời gian tương đối dài cho đến khi nó bị thay đổi hoặc bị mất hiệu lực Nó được sử dụng trong tất

cả mọi trường hợp khi xuất hiện những hoàn cảnh, điều kiện đã được dự liệu2

1.2.2 Quy phạm pháp luật do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận

Trong đời sống, một cách tự nguyện hoặc bắt buộc, con người tuân thủ rất nhiều quy phạm xã hội như đạo đức, tập quán, tôn giáo… Tuy nhiên, chỉ có những quy phạm do Nhà nước ban hành hoặc công nhận mới có thể được xem là QPPL Đây là một trong những dấu hiệu cơ bản để phân biệt QPPL với tất cả các quy phạm khác trong xã hội

Nếu được Nhà nước đặt ra, QPPL thể hiện dưới dạng văn bản QPPL – pháp luật

thành văn Đây là hình thức pháp luật phổ biến nhất trong các nhà nước XHCN, bao gồm hai nhóm văn bản phổ biến: văn bản luật (hiến pháp, bộ luật, luật) và văn bản dưới luật (nghị định, quyết định, thông tư,…)

Trang 11

Nếu được Nhà nước công nhận, QPPL có thể được thể hiện dưới dạng pháp luật

không thành văn (tôn giáo pháp, tập quán pháp) Ở Việt Nam, tập quán pháp được công

nhận trong ngành Luật Dân sự

1.2.3 Quy phạm pháp luật là công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội

Một trong những chức năng cơ bản của QPPL là điều chỉnh các quan hệ xã hội theo một chiều hướng nhất định nhằm bảo đảm hài hòa giữa lợi ích của giai cấp và lợi ích chung của toàn xã hội QPPL là công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội trong QPPL thường chứa đựng những chỉ dẫn về khả năng và các phạm vi có thể xử sự cũng như những nghĩa

vụ (sự cần thiết phải xử sự) của các bên tham gia quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh Các quyền và nghĩa vụ được QPPL dự liệu cho các chủ thể tham gia quan hệ mà nó điều chỉnh luôn có sự liên hệ mật thiết với nhau Hình thức tính chất của sự liên hệ đó do Nhà nước xác định phụ thuộc vào tính chất của chính quan hệ xã hội đó Vì vậy, trong cơ chế điều chỉnh pháp luật QPPL có vai trò thực hiện chức năng thông báo của Nhà nước đến các chủ thể tham gia quan hệ xã hội về nội dung ý chí, mong muốn của Nhà nước để họ biết được những gì có thể làm, những gì phải làm, những gì tránh không làm trong những hoàn cảnh, điều kiện nhất định đó3

1.2.4 Quy phạm pháp luật được đảm bảo thực hiện kể cả bằng sự cưỡng chế của nhà nước

Pháp luật do Nhà nước ban hành, là công cụ sắc bén để bảo vệ Nhà nước, để triển khai thực hiện ý chí của giai cấp cầm quyền trong nhà nước Vì vậy, bằng nhiều cách thức khác nhau, nhà nước đảm bảo cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm chỉnh

Trước hết, thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, thông qua đội ngũ cán bộ công chức nhà nước, pháp luật được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đến mọi cá nhân, tổ chức Bên cạnh đó, các biện pháp khác như thuyết phục, giáo dục, nêu gương, phê phán, khen thưởng cũng được nhà nước sử dụng để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện Trong trường hợp cần thiết, nhà nước áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện

Cưỡng chế nhà nước là một tính chất cơ bản của pháp luật nói chung Nhờ có tính cưỡng chế nhà nước, pháp luật trở nên có sức mạnh và đây cũng là điểm khác cơ bản giữa pháp luật với đạo đức và phong tục, tập quán Các quy tắc xử sự thuộc về tập quán hoặc nội quy nhà trường, điều lệ của các tổ chức chính trị xã hội… cũng có tính cưỡng chế nhưng sự cưỡng chế đó không mang tính nhà nước, không được thực hiện bởi sức mạnh quyền lực của bộ máy nhà nước

Trong xã hội, các dân tộc, giai cấp, tầng lớp, tổ chức và cá nhân khác nhau thường

có lợi ích khác nhau, thậm chí đối lập nhau Vì vậy, khi tham gia vào các quan hệ pháp

3 Phan Trung Hiền, lý luận về nhà nước và pháp luật, NXB chính trị quốc gia –sự thật, Hà Nội, 2011

Trang 12

luật, luôn có những người không chấp hành nghiêm chỉnh, thậm chí chống lại quy định của pháp luật Do đó, cưỡng chế trong nhiều trường hợp là khách quan và cần thiết để buộc mọi người phải thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh4

1.3 Cấu trúc của quy phạm pháp luật

Cấu trúc của QPPL là cơ cấu bên trong, là các bộ phận hợp thành QPPL Nó bao gồm các bộ phận sau:

1.3.1 Bộ phận giả định

Giả định là bộ phận cấu thành của QPPL trong đó nêu lên những hoàn cảnh, điều kiện, tình tiết có thể xảy ra trong cuộc sống, và chủ thể nào ở trong hoàn cảnh, điều kiện

đó cần phải xử sự theo yêu cầu của bộ phận quy định Ví dụ: “Trường hợp tổ chức, hộ gia

đình, cá nhân chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) thì người đang sử dụng đất là người nộp thuế” (khoản 2 Điều 4 Luật thuế Sử dụng đất phi nông nghiệp

2010) Trong quy phạm này, bộ phận giả định là “trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá

nhân chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận)” Phần này nêu lên chủ thể

là “tổ chức, hộ gia đình, cá nhân” trong hoàn cảnh, điều kiện “chưa được cấp Giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Những tình huống (hoàn cảnh, điều kiện) được nêu trong phần giả định của QPPL

là vô cùng phong phú Về hoàn cảnh có thể là những sự kiện liên quan đến hành vi của con người (tham gia giao thông ); liên quan đến sự biến (thiên tai, sự sinh, tử,…); liên quan đến thời gian (phạm vi áp dụng về thời gian như trước hay sau cách mạng….); liên quan đến không gian (phạm vi lãnh thổ áp dụng như miền núi hay đồng bằng….) Về điều kiện

có thể là điều kiện về thời gian (trước hoặc trong một khoảng thời gian nào đó như thời gian bảo hành sản phẩm…); điều kiện về không gian (địa điểm xảy ra sự kiện như nơi tội phạm xảy ra…); điều kiện về chủ thể (độ tuổi, giới tính, dân tộc, tôn giáo, quốc tịch hoặc những đặc tính cá nhân khác như tàn tật, ốm đau, trạng thái thần kinh…) và rất nhiều những điều kiện khác như không nơi nương tựa, điều kiện cứu giúp người khác khi họ đang nguy hiểm đến tính mạng Tùy theo hoàn cảnh mà Nhà nước quy định về điều kiện đối với chủ thể Những hoàn cảnh điều kiện được dự liệu trong phần giả định của QPPL là những tình huống đã, đang hoặc sẽ xảy ra trong cuộc sống Chúng có thể được nêu một cách khái quát, nhưng cũng có thể nêu một cách tương đối chi tiết Tuy nhiên, tất cả chúng đều cần phải là những tình huống có tính chất phổ biến, điển hình cần tới sự tác động, điều chỉnh của pháp luật

4 Phan Trung Hiền, Diệp Thành Nguyên, Huỳnh Thị Sinh Hiền, Giáo trình pháp luật đại cương, NXB Đại học Cần Thơ, 2011

Trang 13

Bộ phận giả định dự kiến các khả năng xảy ra trong tương lai, từ đó đưa ra các biện pháp tác động hoặc điều chỉnh tương ứng để định hướng hành vi của con người Đồng thời, nó gắn với các tình huống mẫu có tính điển hình để các chủ thể có thể đối chiếu và đưa ra cách ứng xử phù hợp với quy định của pháp luật Những chủ thể, hoàn cảnh, điều kiện nêu trong phần giả định của QPPL phải rõ ràng, chính xác, xác với tình hình thực tế, tránh tình trạng nêu mập mờ khó hiểu dẫn đến việc không hiểu hoặc hiểu sai lệch nội dung của QPPL Ngoài ra, giả định phải dự kiến được tới mức tối đa những tình huống (hoàn cảnh, điều kiện) có thể xảy ra trong đời sống thực tế mà trong đó quan hệ xã hội cần phải được điều chỉnh bằng pháp luật Có làm được như vậy thì những thiếu sót, những “lỗ hỏng” trong pháp luật mới có thể giảm bớt và mới có thể hạn chế được việc áp dụng pháp luật theo nguyên tắc tương tự Bộ phận giả định phản ánh mức độ toàn diện về khả năng của các nhà làm luật trong việc phân tích hành vi, khả năng dự đoán các biến động trên thực tế của các hoàn cảnh, dự liệu được các tình huống phát sinh trên thực tế Nó được thể hiện trong sự bao quát về thời gian, hoàn cảnh, xu hướng vận động của các quan hệ xã hội Điều đó giúp nhà nước có thể tác động một cách toàn diện lên các quan hệ xã hội quan trọng và ảnh hưởng đến lợi ích chung của quốc gia, hạn chế những “lỗ hỏng” của pháp luật

Phần giả định của QPPL trả lời cho câu hỏi: Tổ chức, cá nhân nào? Trong những tình huống (hoàn cảnh, điều kiện) nào? Thông qua phần giả định của QPPL chúng ta biết được tổ chức, cá nhân nào? Khi ở vào những hoàn cảnh điều kiện nào? Thì chịu sự tác động của QPPL đó Giả định là bộ phận không thể thiếu trong QPPL vì thiếu giả định thì QPPL trở nên vô nghĩa chủ thể không biết mình đang ở vào tình huống (hoàn cảnh, điều kiện) nào? mà xử sự cho phù hợp với yêu cầu của bộ phận quy định mà nhà nước đặt ra Như vậy, bộ phận giả định làm cơ sở cho bộ phận quy định

Căn cứ vào số lượng, điều kiện và hoàn cảnh bộ phận giả định được chia thành hai loại:

Giả định giản đơn: là loại giả định chỉ nêu một hoàn cảnh, điều kiện tác động của

QP Ví dụ: “trong trường hợp vợ mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ;

nếu chồng chồng mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ” (khoản 1 Điều 62

BLDS 2005)

Giả định phức tạp: là giả định nêu lên nhiều hoàn cảnh, điều kiện tác động của quy

phạm Ví dụ: “trong trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có

vợ, chồng hoặc có vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha,

mẹ là người giám hộ” (khoản 3 Điều 62 BLDS 2005)

Trang 14

1.3.2 Bộ phận quy định

Quy định là bộ phận của QPPL nói lên cách xử sự mà chủ thể phải theo khi gặp trường hợp nêu ở phần giả định Bộ phận quy định nêu rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ

thể Ví dụ: “Công dân có đủ điều kiện đăng ký thường trú, tạm trú thì có quyền yêu cầu cơ

quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký thường trú, tạm trú” (Câu 2 Đoạn 1 Điều 3 Luật cư

trú 2006) Trong quy phạm này bộ phận quy định “thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước

có thẩm quyền đăng ký thường trú, tạm trú”

Bộ phận quy định của QPPL thiết lập cho các chủ thể tham gia quan hệ xã hội các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định, từ đó điều chỉnh hành vi của con người cho phù hợp với ý chí nhà nước Phần quy định của QPPL được coi là phần cốt lõi của quy phạm, nó thể hiện ý chí của nhà nước đối với các tổ chức hay cá nhân khi xảy ra những tình huống

đã được nêu trong phần giả định của QPPL Phần quy định của QPPL thường được nêu ở dạng mệnh lệnh như: cấm, không được, phải, thì, được, có, có quyền, có nghĩa vụ,…Phần quy định của QPPL có tác dụng đưa ra những cách xử sự để các chủ thể thực hiện sao cho phù hợp với ý chí của Nhà nước, nói cách khác, thông qua phần quy định của QPPL các chủ thể pháp luật mới biết được là nếu như họ vào những tình huống đã nêu trong phần giả định của QPPL thì họ phải làm gì? Được (không được) làm gì? làm như thế nào? đó là bộ phận thể hiện mệnh lệnh của nhà nước buộc mọi chủ thể (tổ chức, cá nhân,….) phải tuân theo nghiêm chỉnh Tuy nhiên, không phải lúc nào bộ phận quy định cũng nêu lên quyền

và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể cũng như cách xử sự cho các chủ thể, ví dụ: “Nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời” (Điều 1 Hiến pháp

2013) Quy phạm này có phần quy định xác định Việt Nam là một nước độc lập, thống nhất và có chủ quyền hoàn toàn trên đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời, rõ ràng nó không quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý cho chủ thể Điều 1 Hiến pháp 2013 được xem

là bộ phận quy định vì nó đã thể hiện ý chí Nhà nước trong việc xác định chủ quyền, độc lập và sự thống nhất của nước Việt Nam Do vậy, nắm vững bộ phận quy định của một QPPL là điều kiện không thể thiếu để thực hiện đúng đắn QPPL Cách thể hiện của bộ phận quy định phải rõ ràng, chính xác, chặt chẽ, một nghĩa, tránh biểu hiện mập mờ đa nghĩa đến không thể áp dụng hay vận dụng thống nhất pháp luật Nó là một trong những điều kiện đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong hoạt động của chủ thể pháp luật Ngoài ra,

bộ phận quy định còn phải thể hiện trực tiếp bản chất, chức năng của quy phạm và vai trò

xã hội của nó

Mệnh lệnh được nêu ở bộ phận quy định của QPPL có thể dứt khoát (chỉ nêu một cách xử sự và các chủ thể buộc phải xử sự theo mà không có sự lựa chọn Ví dụ: khoản 1

Điều 600 BLDS 2005 “Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp

luật phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã thu được”) Trong quy phạm này “Người chiếm hữu,

Trang 15

người sử dụng tài sản” trong điều kiện tài sản “không có căn cứ pháp luật” thì chủ thể

buộc phải xử sự theo quy định được nêu trong quy phạm là “phải hoàn trả toàn bộ tài sản

đã thu được” không có sự lựa chọn cách xử sự khác Hoặc: không dứt khoát (nêu ra hai

hay nhiều cách xử sự và cho phép các tổ chức hoặc cá nhân có thể lựa chọn cho mình cách

xử sự thích hợp từ những cách đã nêu Ví dụ: khoản 4 Điều 34 Hiến pháp 2013 “Người bị

bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”) Trong trường hợp này chủ thể “bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử” có thể lựa chọn một hình thức bào chữa cho bản thân

được nêu như “tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”

1.3.3 Bộ phận chế tài

Chế tài là một bộ phận của QPPL nêu lên những biện pháp tác động mang tính bất lợi mà Nhà nước dự kiến sẽ áp dụng đối với chủ thể được nêu ở giả định khi không thực hiện đúng yêu cầu của Nhà nước ở phần quy định của QPPL Ví dụ: khoản 1 Điều 19 Luật

Viên chức 2010 quy định những việc viên chức không được làm “Trốn tránh trách nhiệm,

thoái thác công việc hoặc nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc; tham gia đình công”, đây là bộ phận quy định, nếu viên chức làm trái với những quy định

này thì chịu chế tài pháp luật được trình bày ở khoản 1 Điều 52 Luật Viên chức 2010

“Viên chức vi phạm các quy định của pháp luật trong quá trình thực hiện công việc hoặc

nhiệm vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, phải chịu một trong các hình thức kỷ luật sau: a) Khiển trách; b) Cảnh cáo; c) Cách chức; d) Buộc thôi việc” Điều luật này có bộ

phận chế tài “thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, phải chịu một trong các hình thức kỷ

luật sau: a) Khiển trách; b) Cảnh cáo; c) Cách chức; d) Buộc thôi việc”.

Nét đặc trưng của chế tài thể hiện ở chỗ nó là một trong những phương tiện đảm bảo thực hiện bộ phận quy định một cách nghiêm túc Chế tài chính là những hậu quả bất lợi đối với chủ thể vi phạm pháp luật Phần chế tài của QPPL trả lời cho câu hỏi: các chủ thể được nêu ở giả định không thực hiện đúng những mệnh lệnh đã được nêu trong phần quy định của QPPL thì nhà nước gián tiếp thông báo hoặc cảnh báo cho họ biết là nếu như

họ ở vào những tình huống như đã nêu ở phần giả định của QPPL thì họ phải chịu những hậu quả bất lợi, bị trừng phạt bằng những biện pháp gì? Từ đó họ phải cân nhắc trước khi quyết định có nên làm điều đó hay không Các biện pháp tác động phải rõ ràng, chặt chẽ, hợp lý, nghiêm minh phải tương xứng với hành vi của chủ thể Bởi vì, các biện pháp trong chế tài được quy định không phù hợp (chẳng hạn quá nặng hoặc quá nhẹ…) thì tác dụng răn đe, trừng phạt của chúng sẽ có thể kém hiệu quả Bộ phận chế tài cần thiết để cho các QPPL có tính khả thi trên thực tế: Nó được coi là khâu khép kín của QPPL khi điều chỉnh hành vi của con người vì nếu thiếu nó, các yêu cầu hay đòi hỏi của nhà nước sẽ không được thực hiện trên thực tế Nó ngăn ngừa chủ thể thực hiện hành vi có hại cho xã hội phù hợp với ý chí của nhà nước và sự phát triển của xã hội

Trang 16

Các biện pháp tác động mà nhà nước nêu ra trong chế tài pháp luật rất đa dạng đó

có thể là: Thứ nhất, các biện pháp cưỡng chế nhà nước mang tính trừng phạt có liên quan đến trách nhiệm pháp lý Loại chế tài này gồm có: tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình, tước giấy phép lái xe, phạt tiền, phạt hợp đồng, bồi thường thiệt hại, khiển trách, buộc thôi việc, Thứ hai, chế tài có thể là những biện pháp chỉ gây ra cho chủ thể những hậu quả bất lợi như: đình chỉ, bãi bỏ văn bản sai trái của cơ quan cấp dưới, tuyên bố hợp đồng vô hiệu,…

Căn cứ vào cách thức thể hiện bộ phận chế tài có chế tài cố định và chế tài không

cố định Chế tài cố định: là chế tài trong đó nêu chính xác, cụ thể biện pháp tác động sẽ áp dụng đối với chủ thể VPPL Ví dụ: khoản 1 và 2 Điều 202 Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa

đổi, bổ sung 2009) quy định: “Tòa án áp dụng các biện pháp dân sự sau đây để xử lý tổ

chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ: 1 Buộc chấm dứt hành vi xâm hại; 2 Buộc xin lỗi, cải chính công khai” Chế tài không cố định: là chế tài không nêu

biện pháp tác động một cách chính xác, cụ thể, dứt khoát hoặc chỉ quy định mức thấp nhất

và mức cao nhất của biện pháp tác động Còn việc áp dụng biện pháp nào, bao nhiêu là do

cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng lựa chọn cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh

cụ thể cần áp dụng Ví dụ: “Người nào buôn bán trái phép qua biên giới thuộc một trong

các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm” (khoản 1 Điều 153 BLHS 1999, sửa đổi, bổ sung 2009)

Trong điều luật này có bộ phận chế tài không cố định “thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng

đến một trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”, qua bộ phận chế tài này

chúng ta không thể biết là chủ thể phải chịu hình thức phạt nào (phạt tiền hay phạt tù)? Nếu phải chịu biện pháp chế tài phạt tiền thì chủ thể phải chịu phạt bao nhiêu ở mức phạt

từ “mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng”? còn nếu phạt tù thì chủ thể bị phạt bao nhiêu năm khi khung hình phạt từ “sáu tháng đến ba năm”

Tóm lại, những vấn đề lý luận về QPPL có ý nghĩa rất lớn đối với việc xây dựng

các khái niệm trong hệ thống khoa học pháp lí, cơ sở lý luận về quy phạm pháp luật vừa được người viết trình bày trong chương 1 phần nào cũng giúp cho người đọc tiếp cận và nghiên cứu lý thuyết về QPPL một cách dễ dàng Chẳng hạn, qua khái niệm và đặc điểm của QPPL người đọc có thể nắm được những vấn đề lý luận cơ bản để được khái quát là một QPPL và có thể phân biệt QPPL với các quy phạm xã hội khác Qua cấu trúc QPPL sẽ giúp người đọc xác định được bộ phận giả định, quy định và chế, đồng thời nắm được ý nghĩa của từng bộ phận trong cấu thành của QPPL

Trang 17

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

2.1 Vấn đề liên quan đến khái niệm quy phạm pháp luật

QPPL là bộ phận cấu thành nhỏ nhất, là tế bào cấu tạo nên các chế định pháp luật, các ngành luật, và toàn bộ hệ thống pháp luật Nó là một trong những vấn đề cơ bản của khoa học pháp lý nói chung và lý luận nhà nước và pháp luật nói riêng, đã được nhiều nhà luật học quan tâm nghiên cứu hoặc đề cập ở những mức độ, khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, do tính phức tạp của vấn đề và những lí do khác, cho đến nay, xung quanh khái niệm QPPL vẫn còn nhiều tranh luận với những ý kiến rất khác nhau, thể hiện ở những quan điểm cơ bản sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng “QPPL là quy tắc do nhà nước đặt ra hoặc thừa

nhận, có chứa đựng ý chí của nhà nước, mang tính chất bắt buộc chung và được nhà nước bảo đảm thực hiện kể cả bằng sự cưỡng chế của nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ

xã hội cơ bản”5 Với cách tiếp cận QPPL là “quy tắc” quan điểm này góp phần giải thích

nhà nước đặt ra nhiều loại QPPL, nhưng không phải tất cả QPPL đều xác định hành vi hay

xử sự của con người, mà bên cạnh những QPPL đưa ra mô hình, hành vi mang tính chất bắt buộc chung, còn có các QPPL không xác định hành vi của con người như: quy phạm định nghĩa, quy phạm tuyên bố hay quy phạm nguyên tắc,… Quan điểm này đã mở rộng tối đa phạm vi của khái niệm QPPL tới mức dung hợp vào đó cả những yếu tố nằm ngoài giới hạn của khái niệm QPPL trình bày ở chương 1 Tuy nhiên, quan điểm này bộc lộ hạn

chế khi cho rằng QPPL “mang tính chất bắt buộc chung” Việc nhấn mạnh tính bắt buộc

chung trong khái niệm QPPL một mặt nhằm thể hiện sức mạnh vốn có của pháp luật với tư cách là công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội có thể tác động vào các quan hệ xã hội Mặt khác, việc nhấn mạnh tính chất này của QPPL còn thể hiện khả năng tác động của pháp luật đối với các quan hệ xã hội trong phạm vi nhất định Tuy nhiên, nếu cho rằng tính bắt buộc chung được hiểu là bắt buộc đối với tất cả những ai nằm trong điều kiện mà QPPL đã quy định hoặc mọi tổ chức, cá nhân ở vào những hoàn cảnh, điều kiện mà QPPL đã quy định đều bắt buộc phải thực hiện nó thì dường như chưa thật sự khái quát và toàn diện Thực tế, tồn tại các QPPL cho thấy không phải mọi QPPL đều bắt buộc các chủ thể phải thực hiện Có rất nhiều QPPL mà nội dung của nó không buộc chủ thể phải thực hiện,

chẳng hạn như các QPPL cho phép Ví dụ: “Trong thời hạn bảo hành nếu bên mua phát

hiện được khuyết tật của vật mua bán thì có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa không phải trả tiền, giảm giá, đổi vật có khuyết tật lấy vật khác hoặc trả lại vật và lấy lại tiền” (Điều

446 BLDS 2005) Quy định này không bắt buộc chủ thể phải thực hiện vì đây là quy định

5 Nguyễn Văn Động, giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012

Trang 18

cho chủ thể được hưởng quyền Vì vậy, không thể cho rằng tất cả QPPL mang tính bắt buộc chung đối với mọi người

Quan điểm thứ hai cho rằng “QPPL là quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung

được nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế của nhà nước” 6 Định nghĩa này đã phản ánh được những đặc trưng rất cơ bản của QPPL với tư cách là tế bào của hệ thống pháp luật Đó là xử sự của con người và mang tính quyền lực

nhà nước Tuy nhiên, ngoài những hạn chế khi cho rằng QPPL“mang tính bắt buộc

chung” đã được phân tích ở quan điểm trên, trong khái niệm này có vấn đề lý luận chưa

phù hợp “Đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế của nhà nước” được trình bày trong khái

niệm QPPL Chúng ta biết rằng pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự do nhà nước ban hành

và đảm bảo thực hiện, chính vì thế mà một trong những đặc trưng cơ bản của pháp luật là tính nhà nước Nhưng việc khẳng định QPPL được đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế của nhà nước với cách nêu như vậy dường như chưa khái quát hết các trường hợp bảo đảm thực hiện pháp luật Cưỡng chế nhà nước không phải là biện pháp duy nhất mà nhà nước

sử dụng để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình mà còn có biện pháp khác như: thuyết phục, phê phán, giáo dục… Nếu hiểu khái niệm QPPL chỉ đảm bảo thực hiện pháp luật bằng biện pháp duy nhất là cưỡng chế nhà nước thì dẫn đến việc thu hẹp nội dung chức năng giáo dục của pháp luật

Quan điểm thứ ba cho rằng “QPPL là quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành

và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh quan hệ xã hội theo những định hướng nhất định” 7

Với cách khái quát “QPPL là quy tắc xử sự chung” nó được đặt ra không phải chỉ để điều

chỉnh một quan hệ xã hội cụ thể mà để điều chỉnh một quan hệ xã hội chung, nghĩa là nó được sử dụng trong tất cả mọi trường hợp khi xuất hiện những hoàn cảnh, điều kiện đã được QPPL dự liệu Tuy nhiên, với cách tiếp cận như vậy thì không phải tất cả những quy định của pháp luật đều được coi là QPPL, một số QPPL không thể coi là quy tắc xử sự được vì chúng “chưa mang đầy đủ đặc trưng của một QPPL” khi chúng chỉ nói về một định nghĩa pháp lí nào đó hay xác định một nguyên tắc nào đó cho hành vi chứ không đưa

ra quy tắc xử sự chi tiết Trong khái niệm trình bày QPPL chỉ do “nhà nước ban hành”

nếu hiểu và trình bày như vậy dường như đã thu hẹp những quy tắc xử sự chung được nhà nước thừa nhận là QPPL, quan điểm này đã không thừa nhận các QPPL không thành văn

Ngoài những khái niệm QPPL được trình bày trong giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật để khẳng định tính chất quan trọng của vấn đề thì lần đầu tiên khái niệm QPPL được quy định trong dự thảo luật ban hành văn bản QPPL 2015 và sẽ có hiệu lực vào năm

2016 được quy định như sau: “QPPL là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc, được

6 Đinh Văn Mậu, Phạm Hồng Thái, Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, NXB Chính trị quốc gia, 1997

7 Nguyễn Minh Đoan, Một cách tiếp cận đối với QPPL, Tạp chí luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, số 4 (12),

2004

Trang 19

áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với mọi đối tượng hoặc một nhóm đối tượng trong phạm vi cả nước hoặc địa giới hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định trong Luật này đặt ra hoặc thừa nhận và được Nhà nước bảo đảm thực hiện”8 Qua cách khái quát như vậy người viết nhận thấy có sự dư thừa về nghĩa chẳng hạn như:

QPPL “được nhà nước đảm bảo thực hiện” tức là đã mang tính bắt buộc đối với các chủ

thể tham gia quan hệ pháp luật, họ đều phải xử sự theo những chỉ dẫn đã được quy định

khi ở vào hoàn cảnh mà nhà nước dự liệu, vì vậy, không cần quy định “có hiệu lực bắt

buộc” Hơn nữa, còn xảy ra sự dư thừa về nghĩa “QPPL là quy tắc xử sự chung” nếu xem

là xử sự chung thì QPPL quy định hành vi xử sự từ hai người trở lên đã được xem là quy

tắc xử sự áp dụng chung không cần phải quy định “được áp dụng… đối với mọi đối

tượng hoặc một nhóm đối tượng”

Khái niệm được quy định trong dự thảo này trình bày QPPL “được áp dụng lặp đi

lặp lại nhiều lần đối với mọi đối tượng hoặc một nhóm đối tượng” nó đã tạo ra mâu thuẫn

cho ngay chính chủ thể đặt ra văn bản QPPL Bởi vì, đối với văn bản QPPL đặt ra chưa có hiệu lực về phạm vi tác động thì nó không được áp dụng trong đời sống xã hội, có nghĩa là các QPPL ở văn bản này không được áp dụng cho các tình huống, hoàn cảnh cụ thể trong thực tế ở khoảng thời gian chưa phát sinh hiệu lực Chỉ có văn bản QPPL mới có quy định

hiệu lực về phạm vi tác động, cho nên nếu thừa nhận QPPL“được áp dụng lặp đi lặp lại

nhiều lần đối với mọi đối tượng hoặc một nhóm đối tượng” tức là các QPPL trong văn bản

chưa có hiệu lực về phạm vi tác động không phải là QPPL vì nó không được áp dụng trong thực tế, nó hoàn toàn đi ngược với khái niệm QPPL đã nêu Chúng ta biết văn bản QPPL là hình thức thể hiện của các QPPL cho nên khi quy định khái niệm QPPL như vậy nhà làm luật đã phủ nhận các văn bản QPPL chưa có hiệu lực do chính các nhà làm luật đặt ra không được xem là văn bản QPPL Rõ ràng, quy định như vậy có nhiều điểm không phù hợp Vậy, mỗi quan điểm nêu trên đều có yếu tố hợp lý nhưng cũng có những hạn chế nhất định Đó là sự bộc lộ không thống nhất về mặt lý luận đối với khái niệm QPPL, để có quan niệm đúng đắn về QPPL đòi hỏi phải có một hướng nghiên cứu toàn diện, rõ ràng để

lý thuyết về QPPL được hoàn chỉnh, thật sự mang ý nghĩa trong việc hoàn thiện hệ thống

pháp luật

Khái niệm QPPL ở chương 1 có nêu nhà nước “thừa nhận” các quy tắc xử sự

chung trở thành QPPL Cho đến nay ở Việt Nam việc thừa nhận các quy tắc xử sự chung trở thành QPPL chỉ tồn tại dưới dạng pháp luật không thành văn là tập quán pháp, do vậy,

việc “thừa nhận” các phong tục sẵn có trong xã hội trở thành QPPL được hiểu theo giáo trình lý luận là “trong quá trình giải quyết vụ việc cụ thể người tiến hành giải quyết có

thể vận dụng tập quán ở địa phương (phù hợp với tinh thần chung của pháp luật và đạo đức) để giải quyết vụ việc cụ thể đó hay người có thẩm quyền áp dụng pháp luật (gọi

8 Khoản 1 Điều 2 Dự thảo luật ban hành văn bản QPPL 2015

Trang 20

chung là nhà nước) nâng các tập quán có sẵn trong xã hội lên thành luật bằng cách dùng quyền lực nhà nước để đảm bảo cho nó được thực hiện, kể cả bằng sự cưỡng chế nhà nước” Tuy nhiên, vấn đề “thừa nhận” các quy tắc xử sự trở thành QPPL Hầu như chưa

có công trình nào giải quyết thấu đáo vấn đề thừa nhận các quy tắc xử sự để chúng trở thành các QPPL Chúng ta cũng chưa biết được Nhà nước thừa nhận các quy tắc xử sự dưới những hình thức nào? Nếu trả lời được câu hỏi này thì mới có thể xác định được các QPPL được thừa nhận tồn tại trên thực tế như thế nào

Có quan điểm cho rằng việc thừa nhận một quy tắc xử sự nào đó cần phải được tuyên bố một cách chính thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong một văn bản

QPPL chẳng hạn Điều 3 BLDS 2005 quy định: “Trong trường hợp pháp luật không có

quy định và các bên không có thỏa thuận thì có thể áp dụng tập quán; nếu không có tập quán thì áp dụng quy định tương tự của pháp luật Tập quán và quy định tương tự của pháp luật không được trái với những nguyên tắc quy định trong Bộ luật này” Cũng có

quan điểm khác cho rằng việc thừa nhận quy tắc xử sự nào đó có thể là sự tuyên bố một cách chính thức trong một văn bản QPPL hoặc chỉ thông qua việc cơ quan có thẩm quyền

áp dụng quy tắc nào đó khi giải quyết vụ việc cụ thể thì quy tắc đó được coi là đã được thừa nhận Rõ ràng, đây là vấn đề rất phức tạp cần được làm sáng tỏ

Với cách đặt vấn đề như vậy thì câu hỏi khác được đặt ra từ nội dung này là những quy tắc xử sự không phải do nhà nước đặt ra nhưng nhà nước xác định nghĩa vụ của các chủ thể phải thực hiện các quy tắc xử sự đó hoặc nhà nước đảm bảo việc thực hiện các quy tắc xử sự đó thì chúng có phải là QPPL hay không? Ở đây, có hai câu trả lời không đồng nhất với nhau

Câu trả lời thứ nhất là các quy tắc này mặc dù không phải do các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền ban hành nhưng nó lại được nhà nước xác định nghĩa vụ của chủ thể pháp luật phải tuân thủ quy tắc đó và trong những trường hợp cần thiết nhà nước cũng xác định biện pháp chế tài đối với chủ thể vi phạm các quy tắc xử sự này, vì vậy phải coi đó như là hình thức thừa nhận của nhà nước đối với quy tắc xử sự Do đó, các quy tắc này phải được coi là QPPL Ví dụ: khoản 2 Điều 9 Luật CBCC 2008 quy định nghĩa vụ của cán bộ công

chức: “có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan,

tổ chức, đơn vị;….bảo vệ bí mật nhà nước” Quy định này xác định nghĩa vụ phải thực

hiện nội quy cơ quan của cán bộ, công chức, vì vậy với cách lý giải nêu trên thì nội quy đó

đã được nhà nước thừa nhận Nếu một cán bộ, công chức không thực hiện nội quy của cơ quan mình thì hành vi đó được coi là VPPL, căn cứ pháp lý để xác định tính trái pháp luật của hành vi này chính là các điều khoản trong nội quy của cơ quan vì các quy tắc trong nội quy đó là QPPL

Câu trả lời thứ hai là cần phải lưu ý việc đưa ra các biện pháp đảm bảo thực hiện cho các quy tắc này không phải là sự thừa nhận các quy tắc đó là các QPPL mà các quy

Trang 21

phạm xác định nghĩa vụ tuân thủ các quy tắc xử sự đó mới là các QPPL, vì thế nếu chủ thể nào đó vi phạm các quy tắc này thì áp dụng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước là do

họ vi phạm QPPL xác định nghĩa vụ phải thực hiện đúng và đầy đủ các quy tắc mà không phải do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt ra Với cách lí giải này, nếu công chức không thực hiện đúng nội quy của cơ quan, bị xử lý kỷ luật thì căn cứ pháp lý để xác định hành vi VPPL của công chức này chính là khoản 2 Điều 9 Luật CBCC vì họ không thực hiện nghĩa vụ của mình mà pháp luật quy định Căn cứ pháp lý để xác định tính trái pháp luật của hành vi này không phải là các điều khoản trong nội quy của cơ quan bởi vì quy phạm trong nội quy đó không phải là QPPL Như vậy, vấn đề này vẫn chưa có hướng giải quyết cụ thể để thống nhất lý luận Do đó, nhà nước nên có giải thích rõ ràng vấn đề thừa nhận các quy phạm để chúng trở thành QPPL nhằm giải quyết những thực trạng vừa phân tích trên

2.2 Vấn đề liên quan đến phân loại quy phạm pháp luật

Việc phân loại QPPL sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với việc nghiên cứu và làm sáng tỏ các khái niệm khác trong lý luận về pháp luật như ngành luật, chế định pháp luật…Hiện nay, có rất nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại QPPL, dựa vào mỗi tiêu chí đó thì QPPL được phân chia thành các loại khác nhau Các cách phân loại này đã góp phần giải quyết những vấn đề cơ bản khi nghiên cứu từng loại QPPL cụ thể phù hợp với những vấn đề lí luận về hệ thống pháp luật, ngành luật và chế định pháp luật Tuy nhiên, khi nghiên cứu các tiêu chí phân loại QPPL với khái niệm và cấu trúc QPPL, nhận thấy nhiều vấn đề lý

luận không phù hợp với nhau cụ thể như:

2.2.1 Đối với phân loại quy phạm pháp luật định nghĩa và quy phạm pháp luật nguyên tắc

Xem ví dụ sau để thấy rõ vấn đề: “Giá đất là giá trị của quyền sử dụng đất tính

trên một đơn vị diện tích” (khoản 19 Điều 3 Luật Đất đai 2013) Quy định này có nội dung

giải thích thuật ngữ “giá đất” được hiểu theo Luật Đất đai 2013 “là giá trị của quyền sử

dụng đất tính trên một đơn vị diện tích” và được xem là QPPL khi căn cứ vào khái niệm QPPL định nghĩa “là loại QPPL có nội dung giải thích hoặc nêu ra những khái niệm pháp lý”, quay trở lại khái niệm QPPL là “quy tắc xử sự chung” thì rõ ràng những điều

luật nêu lên khái niệm pháp lý như khoản 19 Điều 3 Luật Đất đai 2013 không chứa đựng bất kì một quy tắc xử sự nào vì thế không thể coi các điều luật này là một QPPL Chúng ta cũng không thể xác định cơ cấu giả định, quy định và chế tài của QPPL trong nội dung khoản 19 Điều 3 này như lý thuyết về cấu trúc của QPPL vì điều luật này không quy định

cá nhân, tổ chức nào trong điều kiện, hoàn cảnh nào cũng như không xác định được hành

vi xử sự mà nhà nước quy định cho chủ thể thực hiện và bộ phận chế tài đặt ra trong trường hợp này Tương tự như vậy ta phân tích QPPL nguyên tắc phần khái niệm của QP

đã nêu“không trực tiếp điều chỉnh một loại quan hệ xã hội nào, không quy định quyền và

Ngày đăng: 01/10/2015, 18:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w