Trong giai đoạn phát triển của quá trình lập pháp, các quan hệ thừa kế luôn là một trong những mối quan hệ quan trọng
Trang 1MỤC LỤC
BẢNG TỪ VIẾT TẮT 2
LỜI NÓI ĐẦU 3
PHẦN I : QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ DIỆN VÀ HÀNG THỪA KẾ 4
I DIỆN THỪA KẾ 4
1 Khái niệm diện thừa kế 4
2 Căn cứ xác định diện thừa kế 4
1.1 Diện thừa kế theo pháp luật dựa trên quan hệ hôn nhân 4
1.2 Diện thừa kế theo pháp luật dựa trên quan hệ huyết thống 6
1.3 Diện thừa kế theo pháp luật dựa trên quan hệ nuôi dưỡng 6
II HÀNG THỪA KẾ 8
1 Khái niệm hàng thừa kế 8
2 Bản chất pháp luật về hàng thừa kế của BLDS năm 2005 9
2.1 Bản chất pháp luật của hàng thừa kế thứ nhất 9
2.2 Bản chất pháp luật của hàng thừa kế thứ hai 12
2.3 Bản chất pháp luật của hàng thừa kế thứ ba 14
3 Hưởng di sản thừa kế theo trình tự hàng 15
III THỪA KẾ THẾ VỊ THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 16
1.Khái niệm thừa kế thế vị 16
2 Các trường hợp thừa kế thế vị 17
3 Người không được quyền hưởng di sản, người từ chối quyền hưởng di sản, người bị truất quyền thừa kế theo quy định trong BLDS 2005 18
PHẦN II: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN DIỆN VÀ HÀNG THỪA KẾ 20
I THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH DIỆN VÀ HÀNG THỪA KẾ TẠI TAND 20
II MỘT VÀI Ý KIẾN HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ DIỆN VÀ HÀNG THỪA KẾ THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 21
KẾT LUẬN 23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 2BẢNG TỪ VIẾT TẮT
BLDS Bộ Luật dân sự
HN & GĐ Hôn nhân và gia đình
VNDCCH Việt Nam dân chủ cộng hòa
TAND Tòa án nhân dân
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Trong giai đoạn phát triển của quá trình lập pháp, các quan hệ thừa kế luôn làmột trong những mối quan hệ quan trọng Với bản chất là một quan hệ tài sản,quan hệ thừa kế dưới tác động của nền kinh tế thị trường cũng trở nên phong phú
và phổ biến trong giao lưu dân sự Chính vì vậy, chế định thừa kế có vị trí quantrọng và thực sự cần thiết trong hệ thống các quy phạm pháp luật dân sự Việt Nam.Vấn đề quan trọng luôn được đặt ra hàng đầu trong việc giải quyết tranh chấp thừa
kế là việc xác định ai là người thừa kế di sản Để xác định được những người cóquyền hưởng thừa kế phải dựa vào mối quan hệ của họ với người để lại di sản
Nếu thừa kế theo di chúc là sự thể hiện ý chí của người để lại di sản thì việc xácđịnh những người thuộc diện hưởng thừa kế chỉ xảy ra khi di sản được chia theopháp luật Vậy sau đây, em xin làm sáng tỏ bản chất và các quy định về quyền thừa
kế với mục đích giúp cho mọi người hiểu rõ hơn về diện và hàng thừa kế theo phápluật để thực hiện quyền mà Nhà nước trao cho họ
Đây là vấn đề đòi hỏi kiến thức sâu rộng, do sự am hiểu vấn đề này còn hạnchế nên bài viết chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót Em rất mong nhận đượcnhững ý kiến đánh giá của thầy cô để bài viết này được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4PHẦN I : QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ DIỆN VÀ HÀNG THỪA KẾ
I DIỆN THỪA KẾ
1 Khái niệm diện thừa kế
Một trong những vấn đề chính yếu của chế định thừa kế theo pháp luật là việcxác định diện thừa kế Pháp luật Việt Nam quy định một cá nhân có thể đượchưởng di sản do người chết để lại nếu họ một trong ba mối quan hệ với người để
lại di sản : hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng Tuy nhiên, không phải ai trong ba
mối quan hệ này cũng được hưởng di sản mà đó chỉ là khả năng có thể đượchưởng
Như vậy, diện thừa kế theo pháp luật là phạm vi những người được pháp luật
xác định nằm trong diện có thể được hưởng di sản của người theo quy định của pháp luật Diện những người thừa kế được xác định trên ba mối quan hệ với người
để lại di sản :quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng.
2 Căn cứ xác định diện thừa kế
1.1 Diện thừa kế theo pháp luật dựa trên quan hệ hôn nhân
Theo quy định tại khoản 6 Điều 8 Luật HN & GĐ năm 2000 thì“hôn nhân là
quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” Như vậy mối quan hệ giữa nam và
nữ chỉ được pháp luật xem là vợ chồng sau khi đã kết hôn Kết hôn là sự kiện pháp
lý làm phát sinh, thay đổi quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ hôn nhân.Điều đó cũng có nghĩa là khi một bên vợ hoặc chồng chết đi, quyền thừa kế của vợ,chồng được pháp luật bảo vệ
Pháp luật thực định quy định vợ, chồng thuộc diện thừa kế theo pháp luật củanhau, khi quan hệ hôn nhân của họ tính đến thời điểm mở thừa kế của người vợhoặc người chồng được xác định là hôn nhân hợp pháp Căn cứ vào hôn nhân hợppháp, quyền thừa kế của vợ, chồng trong việc nhận di sản của nhau được bảo vệbằng pháp luật Việc thừa nhận quyền thừa kế của vợ chồng là hoàn toàn chính
Trang 5đáng Khoản 1 Điều 31 Luật HN & GĐ năm 2000 cũng quy định: “Vợ, chồng có
quyền thừa kế tài sản của nhau theo quy định của pháp luật về thừa kế” Tuy
nhiên, để được pháp luật bảo vệ thì hôn nhân đó phải hợp pháp cả về nội dung lẫnhình thức, phải tuân thủ các điều kiện và thủ tục do pháp luật quy định
Ngoài việc xác định một quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của phápluật, thì trong những giai đoạn lịch sử nhất định vẫn cần thiết phải đánh giá đúngmức những quan hệ hôn nhân mặc dù không tiến bộ, trái với pháp luật hiện hànhnhưng vẫn tồn tại và được thừa nhận ở nước ta
- Ở miền Bắc, những người có nhiều vợ trước ngày ban hành Luật HN & GĐ năm
1959, do Sắc lệnh số 02-SL ngày 13/01/1960 của Chủ tịch nước VNDCCH thìkhông đặt vấn đề vi phạm luật Do vậy, quan hệ hôn nhân của vợ chồng xác lậptrước ngày 13/01/1960 tuy có vi phạm chế độ một vợ một chồng nhưng vẫn tồn tại
và được coi là không trái pháp luật Theo quy định trên, khi chồng chết các người
vợ được thừa kế của chồng hoặc khi các vợ chết trước thì chồng được thừa kế củacác người vợ
Xét về quan hệ hôn nhân của vợ chồng còn diễn ra trong một bối cảnh đặc biệt
do chiến tranh kéo dài, nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền Nam – Bắc(1954-1975) Trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt ấy cán bộ, chiến sĩ miền Nam tậpkết ra miền Bắc đã có vợ ở miền Nam, sau lại kết hôn với người khác ở miền Bắc,sau ngày thống nhất đất nước quan hệ hôn nhân với người ở miền Bắc vẫn đượcthừa nhận Khi chồng chết, các vợ được thừa kế của chồng hoặc khi vợ chết trước,chồng vẫn được thừa kế của các vợ
- Ở miền Nam, một người có nhiều vợ trước ngày 25/03/1977 (ngày công bố danhmục văn bản pháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước), mà việc kết hônsau không bị hủy bỏ bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì tất cả những người vợđều được coi là người thừa kế hàng thứ nhất của người chồng và ngược lại, khi các
vợ chết trước, chồng được thừa kế của các vợ
Trang 6Nhằm giải quyết dứt điểm những quan hệ vợ chồng không tuân thủ nhữngquy định của Luật HN & GĐ, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 77/2001/NĐ-
CP ngày 22 tháng 10 năm 2001 quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghịquyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật HN & GĐ năm 2000,tại Điều 2 quy định : Quan hệ vợ chồng chưa đăng ký mà được xác lập trước ngày03/01/1987 thì việc đăng ký kết hôn không bị hạn chế về thời gian Nhưng nếunam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày01/01/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật HN & GĐ năm
2000 thì phải đăng ký kết hôn Pháp luật quy định trong thời hạn 2 năm từ01/01/2001 đến 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì quan hệ của họkhông phải là quan hệ hôn nhân hợp pháp Về vấn đề hôn nhân thực tế khôngnhững đã có Nghị định số 35/2000/QH10 quy định thời hạn giải quyết cho đếnngày 01/01/2003 mà tại khoản 1 Điều 11 Luật HN & GĐ đã quy định không thừa
nhận hôn nhân thực tế: “Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau
như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng”.
1.2 Diện thừa kế theo pháp luật dựa trên quan hệ huyết thống
Pháp luật quy định quan hệ huyết thống là cơ sở để xác định diện thừa kếtheo pháp luật Quan hệ huyết thống là quan hệ giữa những người có cùng đời máu
về trực hệ, bao gồm những người có quan hệ huyết thống bề trên (các cụ, ông, bà, cha, mẹ đẻ), quan hệ huyết thống trực hệ bề dưới (cháu, chắt), quan hệ huyết thống
bàng hệ (không trực tiếp sinh ra nhau nhưng có cùng một nguồn gốc chung, như
quan hệ giữa anh chị em ruột; quan hệ giữa bác, chú, cô, cậu, dì ruột với cháu ruột
và ngược lại)
1.3 Diện thừa kế theo pháp luật dựa trên quan hệ nuôi dưỡng
Quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ mà trong đó, những người thân thuộc thểhiện sự quan tâm, chăm sóc và nuôi dưỡng nhau Quan hệ nuôi dưỡng là cơ sở xácđịnh diện thừa kế theo pháp luật
Trang 7- Trong gia đình, cha mẹ đẻ, con đẻ có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc nhau Các Điều 50, Điều 56 đến Điều 59 Luật HN & GĐ năm 2000 theo nguyên tắc : “Cha
mẹ có nghĩa vụ nuôi dưỡng con đã thành niên mà không có khả năng lao động để
tự nuôi mình, và con có nghĩa vụ kính trọng, nuôi dưỡng cha mẹ” Việc chăm sóc,
nuôi dưỡng, bao bọc nhau là căn cứ để phát sinh quan hệ thừa kế giữa họ với nhau.Mối quan hệ giữa cha mẹ và các con không tách rời nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau màcòn là đại diện đương nhiên của nhau khi cha mẹ không có năng lực hành vi dân
sự Nghĩa vụ đại diện cho nhau trước pháp luật
- Quan hệ nuôi dưỡng giữa ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại và các cháu nội,
ngoại : Điều 27 Luật HN & GĐ năm 2000 quy định: “Ông bà có nghĩa vụ nuôi dưỡng, giáo dục cháu chưa thành niên trong trường hợp cháu không còn cha mẹ Cháu đã thành niên có nghĩa vụ nuôi dưỡng ông bà trong trường hợp ông bà không còn con” Ngoài nghĩa vụ nuôi dưỡng, cháu và ông bà còn là người giám hộ
đương nhiên của nhau và là đại diện theo pháp luật cho nhau Với lý do này, ngoàimối quan hệ huyết thống, dựa trên quan hệ nuôi dưỡng thì ông bà và các cháuthuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau
- Đối với cha mẹ nuôi với con nuôi, mối quan hệ của họ không phải là quan hệ
huyết thống, quan hệ thừa kế của họ được xác định trên cơ sở quan hệ nuôi dưỡng
Và quyền lợi, nghĩa vụ giữa con nuôi và con đẻ như nhau Khi mối quan hệ nuôidưỡng giữa cha mẹ nuôi với con nuôi được thiết lập thì sẽ phát sinh quyền và nghĩa
vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con nuôi, ngược lại người con nuôi phải biết yêu thương,kính trọng, chăm sóc và phụng dưỡng cha mẹ nuôi (Việc nhận con nuôi phải tuânthủ trình tự, thủ tục, điều kiện nhận nuôi)
- Về quan hệ giữa con riêng với bố dượng, mẹ kế : Cha kế, mẹ kế với con riêng
của vợ, của chồng luật không quy định có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc nhau vàgiám hộ, đại diện đương nhiên của nhau Nhưng trong thực tế cha kế, mẹ kế vớicon riêng của vợ của chồng đã thể hiện được nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhaunhư cha con, mẹ con, theo điều 679 BLDS năm 2005, họ được thừa kế của nhau
Trang 8Nếu con riêng của vợ, của chồng mà chết trước cha kế, mẹ kế, con của họ đượcthừa kế thế vị nhận di sản của ông bà kế khi qua đời : Con riêng và cha dượng, mẹ
kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa
kế di sản của nhau và còn được thừa kế theo quy định tại Điều 676 và Điều 677BLDS Tuy nhiên, con riêng không thuộc diện thừa kế của những người khác trong
họ hàng thân thuộc của bố dượng, mẹ kế
- Quan hệ nuôi dưỡng còn được thể hiện giữa anh chị em ruột đối với nhau trong
hoàn cảnh mồ côi cha mẹ hoặc cha mẹ còn nhưng không có khả năng lao độnghoặc đều không có năng lực hành vi dân sự
1 Khái niệm hàng thừa kế
Sau khi đã xác định phạm vi những người có quyền thừa kế theo pháp luật dựatrên ba mối quan hệ giữa người thuộc diện thừa kế với người để lại di sản Nhưngtheo quy định của pháp luật không phải tất cả những người trong diện những ngườithừa kế theo pháp luật đều được thừa kế cùng một lúc Để những người thuộc diệnthừa kế theo pháp luật hưởng di sản theo trình tự trước, sau căn cứ vào mức độ gầngũi giữa họ với người chết, pháp luật về thừa kế đã xếp những người đó theo từngnhóm khác nhau Mỗi một nhóm đó được gọi là một hàng thừa kế theo pháp luật
Như vậy, hàng thừa kế là nhóm những người có cùng mức độ gần gũi với
người chết và theo đó họ cùng được hưởng ngang nhau đối với di sản thừa kế mà người chết để lại.(2)
Việc chia hàng thừa kế có ý nghĩa thiết thực đảm bảo cho những người thừa
kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau Những người ở hàng thừa kế sauchỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết hoặc bịtruất quyền hưởng thừa kế hoặc từ chối nhận di sản một cách hợp pháp Theo phápluật thực định của nước ta thì số lượng hàng thừa kế được chia thành ba hàng và cơ
sở để ghi nhận những người trong cùng một hàng thừa kế là tùy thuộc vào mức độgần gũi, thân thích với người chết để lại di sản
Trang 92 Bản chất pháp luật về hàng thừa kế của BLDS năm 2005
2.1 Bản chất pháp luật của hàng thừa kế thứ nhất
Điểm a Khoản 1 Điều 676 BLDS năm 2005 quy định hàng thừa kế thứ nhất
bao gồm: “vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mệ nuôi, con đẻ, con nuôi của
người chết” Cơ sở xác định những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất dựa trên cả
ba mối quan hệ là quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng.Trong đó, những người thuộc bề trên gồm: ông, bà; ngang bậc gồm: vợ, chồng và
bề dưới gồm: các con Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất này có nghĩa vụnuôi dưỡng, chăm sóc nhau và là đại diện đương nhiên của nhau theo BLDS năm
2005 và Luật HN & GĐ năm 2000 Nếu họ vi phạm nghĩa vụ theo quy định củaLuật HN & GĐ và BLDS thì họ bị tước quyền thừa kế theo khoản 1 Điều 643BLDS năm 2005
a Quan hệ thừa kế giữa vợ và chồng
Quan hệ thừa kế giữa vợ và chồng là một quan hệ thừa kế mang tính haichiều hay còn gọi là “thừa kế đối nhau”, “thừa kế của nhau”, nghĩa là trong đó, khibên này chết thì bên kia là người thừa kế ở hàng thứ nhất và ngược lại, khi bên kiachết thì bên này là người thừa kế ở hàng thứ nhất Căn cứ để xác định quan hệ thừa
kế giữa vợ và chồng là quan hệ hôn nhân Theo quy định tại điều 8 lhngd thì “hôn
nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” Mặt khác, cũng tại điều 8
của luật trên còn quy định “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng
theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” Vì thế, vợ
-chồng được thừa kế di sản của nhau khi một bên chết, nếu vào thời điểm mở thừa
kế mà quan hệ hôn nhân giữa họ về mặt pháp lý vẫn còn tồn tại
Tuy nhiên, khi xác định quan hệ thừa kế theo pháp luật giữa vợ và chồng cần lưu ýcác trường hợp sau:
Trường hợp thứ nhất, vợ chồng đã chia tài sản chung nhưng không ly hôn,sau đó một bên chết thì về mặt pháp lý, quan hệ hôn nhân của họ vẫn con tồn tại
Do đó, người còn sống vẫn được thừa kế di sản của người đã chết
Trang 10Trường hợp thứ hai, vợ chồng đã sống ly thân và về mặt tình cảm hầu như
tình yêu giữa họ đã chết, nhưng vì một lý do tế nhị nào đó nên họ không ly hôn thì
dù về mặt tình cảm, hôn nhân giữa họ “đã chết” nhưng về mặt pháp lý, hôn nhân
giữa họ vẫn đang tồn tại Vì vậy, người còn sống vẫn được hưởng di sản của người
đã chết
Trường hợp thứ ba, khi một bên chết, dù người còn sống đang sống chung
với người khác như vợ chồng một cách bất hợp pháp thì người đó vẫn được hưởng
di sản của người đã chết
Trường hợp thứ tư, vợ chồng đang xin ly hôn mà chưa được Tòa án cho ly
hôn hoặc đã được Tòa án cho ly hôn nhưng quyết định hoặc bản án cho ly hôn
chưa có hiệu lực pháp luật mà một bên chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di
sản của người đã chết
Trường hợp thứ năm, đối với các trường hợp hôn nhân không đăng ký kết
hôn nhưng được thừa nhận là hôn nhân thực tế (gồm các cuộc hôn nhân được tiến
hành trước ngày Luật HN & GĐ 1986 có hiệu lực pháp luật có đủ điều kiện kết
hôn nhưng không đăng ký kết hôn) thì quan hệ vợ chồng giữa họ vẫn được thừa
nhận do vậy họ là người thừa kế theo pháp luật của nhau ở hàng thừa kế thứ nhất
Trường hợp thứ sáu, hai vợ chồng đã ly hôn nhưng sau đó quay lại sống
chung với nhau trước ngày Luật HN & GĐ 1986 có hiệu lực pháp luật mà cuộc
sống chung đó không bị hủy bỏ bằng một bản án có hiệu lực pháp luật, thì họ vẫn
được thừa nhận là có quan hệ vợ chồng theo hôn nhân nên vẫn là người thừa kế
theo pháp luật của nhau ở hàng thừa kế thứ nhất
b Quan hệ thừa kế giữa cha, mẹ và con
Quan hệ thừa kế giữa một bên là cha, mẹ với một bên là con cũng là quan hệ
thừa kế mang tính hai chiều Quan hệ này được xác định theo một trong hai căn cứ
- Nếu căn cứ vào quan hệ huyết thống thì đó là những người có cùng một dòng
máu trực hệ phạm vi hai đời liền kề nhau Trong đó, cha đẻ, mẹ đẻ của 1ng là ng đã
sinh ra người đó và được pháp luật thừa nhận Vì vậy, cha, mẹ của người do mình
Trang 11sinh ra dù trong hay ngoài giá thú nhưng được pháp luật thừa nhận đều là người
thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất để hưởng di sản theo pháp luật khi người con chết
Và ngược lại, người con trong hay ngoài giá thú đều là người thừa kế ở hàng thứ
nhất để hưởng di sản do cha, mẹ mình để lại
- Nếu căn cứ vào quan hệ nuôi dưỡng thì đó là quan hệ giữa những người nuôi
dưỡng lẫn nhau theo cha – con, mẹ - con hoặc theo cha, mẹ - con Cha nuôi, mẹ
nuôi của một người là người đã nhận ng đó làm con nuôi của mình theo quy đinh
của pháp luật Cha nuôi, mẹ nuôi là những ng thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của
con nuôi khi ng con nuôi đó chết và ngược lại, con nuôi là người thừa kế thứ nhất
của cha, mẹ nuôi khi cha, mẹ nuôi chết
** Trong trường hợp một người vừa có con nuôi vừa có con đẻ thì họ vừa là
người ở hàng thừa kế thứ nhất để hưởng di sản của người con nuôi khi người con
nuôi đó chết, vừa là người ở hàng thừa kế thứ nhất để hưởng di sản của con đẻ khi
người con đẻ đó chết Ngược lại, một người đang là con nuôi của người khác thì họ
vừa là người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất để hưởng di sản của cha, mẹ nuôi khi
cha, mẹ nuôi chết; vừa là người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất để hưởng di sản
của cha, mẹ đẻ khi cha, mẹ đẻ chết
- “Cha,mẹ và con” còn được dùng để chỉ quan hệ giữa cha, mẹ chồng với con dâu
và quan hệ giữa cha, mẹ vợ với con rể Con dâu không phải là người thừa kế theo
pháp luật của cha, mẹ chồng; con rể không phải là người thừa kế theo pháp luật
của cha, mẹ vợ Tuy nhiên, nếu người con dâu tham gia lao động chung trong gia
đình cha, mẹ chồng, góp công sức trong việc xây dựng khối tài sản của gia đình
cha, mẹ chồng thì người con dâu đó có quyền hưởng phần tài sản tương xứng với
công sức đóng góp của mình trong khối tài sản chung hiện có với tư cách là một
đồng chủ sở hữu Vì vậy, trước khi chia di sản của cha, mẹ chồng cho những người
thừa kế cần phải tách từ khối tài sản đó phần tài sản thuộc quyền của người con
dâu Người con rể trong trường hợp tương tự trên cũng được đảm bảo quyền lợi
như người con dâu
Trang 12- Ngoài ra, còn có quan hệ giữa con riêng với bố dượng, mẹ kế Quan hệ giữa con
riêng với bố dượng : là quan hệ giữa người chồng với con riêng của người vợ
Quan hệ giữa con riêng với mẹ kế là quan hệ giữa ng vợ với con riêng của ng
chồng Các bên trong 2 mối quan hệ nói trên ko có quan hệ huyết thông nên về
nguyên tắc thì họ ko phải là người thừa kế theo pháp luật của nhau Tuy nhiên, nêu
giữa họ có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng lẫn nhau thì họ được xác định tương tự
như cha mẹ nuôi với con nuôi và vì thế họ sẽ là người thừa kế ở hàng thứ nhất của
nhau, nhưng không đương nhiên mang tính hai chiều như quan hệ thừa kế giữa cha
mẹ nuôi với con nuôi Cụ thể là : nếu bố dượng chăm sóc, nuôi dưỡng và coi con
riêng của vợ như con của mình thì khi người con đó chết, bố dượng sẽ là người
thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của người con đó Nếu con riêng của người vợ
chăm sóc, nuôi dưỡng và coi bố dượng như cha của mình thì khi bố dượng chết,
con riêng của người vợ mới được coi là người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của
bố dượng Quan hệ thừa kế giữa con riêng của chồng với mẹ kế cũng được xem xét
tương tự như trên
Như vậy, quy định về hàng thừa kế thứ nhất của pháp luật nước ta rất phù
hợp với gia đình truyền thống Việt Nam Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất
có mối quan hệ thân thuộc gần gũi nhất với người chết được xác định trên nền tảng
gia đình Họ được quyền hưởng di sản ngang nhau và là những người được hưởng
thừa kế đầu tiên theo pháp luật khi mở thừa kế Chỉ khi nào không có ai trong số
họ hoặc có nhưng thuộc trường hợp tại khoản 1 Điều 643 BLDS năm 2005 hoặc bị
truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền hưởng di sản thì pháp luật mới xét
đến những người thuộc hàng thừa kế thứ hai
2.2 Bản chất pháp luật của hàng thừa kế thứ hai
Điểm b Khoản 1 Điều 676 BLDS năm 2005 quy định những người thuộc
hàng thừa kế thứ hai bao gồm: “Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột,
chị ruột, em ruột của người chết, cháu ruột của người chết mà người chết là ông
nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại” Trong đó, những người thuộc bề trên gồm: ông