Để thực hiện mục đích nghiên cứu tôi tự xác định cho mình những nhiệm vụ nghiên cứu sau: - Tìm hiểu thực trạng vấn đề kỹ năng làm văn miêu tả của học sinh Lớp 4B Trờng Tiểu học Gia Hng..
Trang 1Một số biện pháp nâng cao chất lợng làm văn miêu tả cho học sinh Lớp 4B Tr– ờng tiểu học Gia Hng
năm học 2010- 2011.
PHẦN MỞ ĐẦU
I.Lý do chọn đề tài:
Giaựo duùc tieồu hoùc laứ baọc hoùc neàn taỷng cuỷa heọ thoỏng giaựo duùc quoỏc daõn, coự nhieọm vuù xaõy dửùng vaứ phaựt trieồn tỡnh caỷm, ủaùo ủửực, trớ tueọ, thaồm mú vaứ theồ chaỏt trớ tueọ cho treỷ em Nhaốm hỡnh thaứnh cụ baỷn ban ủaàu cho sửù phaựt trieồn nhaõn caựch con ngửụứi xaừ hoọi chuỷ nghúa
ẹeồ ủaùt ủửụùc muùc tieõu treõn nhaứ trửụứng tieồu hoùc ủaừ coi troùng vieọc daùy ủuỷ
9 moõn hoùc trong ủoự moõn Tieỏng Vieọt laứ moọt trong 9 moõn ủửụùc coi troùng vaứ chieỏm lửụùng thụứi gian tửụng ủoỏi nhieàu Moõn Tieỏng Vieọt bửụực ủaàu daùy cho HS nhaọn bieỏt nhửừng tri thửực cụ baỷn caàn thieỏt bao goàm : Ngửừ aõm, chửừ vieỏt, tửứ vửùng, ngửừ nghúa, chớnh taỷ…Treõn cụ sụỷ ủoự reứn luyeọn caực kú naờng ngoõn ngửừ: nghe, noựi, ủoùc, vieỏt Nhaốm giuựp HS sửỷ duùng hieọu quaỷ Tieỏng Vieọt trong suy nghú vaứ giao tieỏp Ngoaứi ra noự coứn goựp phaàn boài dửụừng cho caực em nhửừng tỡnh caỷm chaõn chớnh laứnh maùnh… ẹoàng thụứi hỡnh thaứnh vaứ phaựt trieồn ụỷ caực em nhửừng phaồm chaỏt toỏt ủeùp
Trong phaõn moõn Tieỏng Vieọt coự raỏt nhieàu phaõn moõn nhử : Taọp ủoùc, Luyện tửứ vaứ caõu, Taọp laứm vaờn, Keồ chuyeọn, Chớnh taỷ…Moói phaõn moõn coự moọt
vũ trớ vaứ nhieọm vuù khaực nhau; chuựng ủeàu hoó trụù vaứ thuực ủaồy laón nhau
Taọp laứm vaờn laứ moọt phaõn moõn coự vũ trớ heỏt sửực quan troùng ủoỏi vụựi HS tieồu hoùc Noự chớnh laứ keỏt quaỷ cuỷa vieọc tieỏp thu kieỏn thửực cuỷa caực phaõn moõn : Taọp ủoùc, Luyeọn tửứ vaứ caõu, chớnh taỷ, keồ chuyeọn…Chửụng trỡnh Taọp laứm vaờn ụỷ tieồu hoùc chuỷ yeỏu laứ vaờn mieõu taỷ Hieọn nay vaờn mieõu taỷ ủửụùc ủửa vaứo chửụng trỡnh phoồ thoõng ngay caực lụựp ủaàu baọc hoùc Tửứ lụựp 2, 3 khi taọp quan saựt ủeồ traỷ lụứi caõu hoỷi caực em ủaừ baột ủaàu laứm quen vụựi vaờn mieõu taỷ (Vớ duù: Em haừy vieỏt moọt ủoaùn vaờn veà con vaọt maứ em yeõu thớch – lụựp 2 ) ễÛ lụựp 3 vaứ lụựp 4 hoùc sinh
Trang 2baột ủaàu ủửụùc hoùc vaờn mieõu taỷ vụựi caực kieồu baứi Taỷ ủoà vaọt, loaứi vaọt, phong caỷnh, caõy coỏi… Leõn lụựp 5 caực em ủửụùc hoùc vaờn taỷ ngửụứi, taỷ caỷnh sinh hoaùt…
Quỏ trỡnh dạy học là một quỏ trỡnh tư duy sỏng tạo – người giỏo viờn là một kĩ sư của tõm hồn, hơn nữa cũn là một nhà làm nghệ thuật Và việc dạy học ngày nay luụn dựa trờn cơ sở phỏt huy tớnh tớch cực chủ động của học sinh Chớnh vỡ thế nú đũi hỏi người giỏo viờn phải luụn cú sự sỏng tạo, tự cải tiến phương phỏp dạy học của mỡnh nhằm mục đớch nõng cao chất lượng dạy học Mỗi mụn học ở Tiểu học đều gúp phần hỡnh thành và phỏt triển nhõn cỏch của trẻ, cung cấp cho trẻ những kiến thức cần thiết Phõn mụn Tập làm văn ở Tiểu học cú nhiệm vụ rất quan trọng là rốn kĩ năng núi và viết Thế nhưng hiện nay,
đa số cỏc em học sinh lớp 4 đều rất sợ học phõn mụn Tập làm văn vỡ khụng biết núi gỡ ? viết gỡ ? Ngay cả bản thõn giỏo viờn đụi khi cũng khụng tự tin lắm khi dạy phõn mụn này so với cỏc mụn học khỏc Do đú khi đứng lớp tụi luụn chỳ ý đến việc rốn luyện kĩ năng làm Tập làm văn cho học sinh lớp tụi phụ trỏch; để giuựp caực em coự nhửừng baứi vaờn mieõu taỷ theồ hieọn tớnh chaõn thửùc, theồ hieọn ủửụùc caỷm xuực, tỡnh caỷm cuỷa mỡnh Xuất phỏt từ lí do đó tụi quyết định giúp các em nâng cao chất lợng làm Tập làm văn miêu tả cho học sinh trong lớp mỡnh phụ trỏch
II Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu cuỷa ủeà taứi sáng kiến kinh nghiệm này laứ xaực ủũnh ủửụùc moọt soỏ nguyeõn nhaõn chuỷ yeỏu ủaừ gaõy ra tỡnh traùng hoùc sinh chưa cú kĩ năng làm một bài văn miờu tả; treõn cụ sụỷ ủoự tỡm ra nhửừng bieọn phaựp hửừu hieọu khaộc phuùc tỡnh traùng naứy
III Giới hạn của đề tài:
Một số biện pháp rèn kỹ năng làm văn miêu tả cho học sinh Lớp 4B – Trờng Tiểu học Gia Hng năm học 2010-2011
IV Khách thể nghiên cứu và Đối tợng nghiên cứu:
- Khách thể nghiên cứu: Học sinh Lớp 4B - Trờng Tiểu học Gia Hng
- Đối tợng nghiên cứu : Chương trỡnh mụn tập làm văn, phương phỏp dạy
mụn tập làm văn, cỏch tổ chức học sinh viết văn miờu tả
v Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để thực hiện mục đích nghiên cứu tôi tự xác định cho mình những nhiệm
vụ nghiên cứu sau:
- Tìm hiểu thực trạng vấn đề kỹ năng làm văn miêu tả của học sinh Lớp 4B Trờng Tiểu học Gia Hng.
- Khảo sát chất lợng làm văn miêu tả của học sinh trong lớp
VI Phửụng phaựp nghieõn cửựu:
ẹeồ bỏo cỏo kinh nghieọm ” Rèn kỹ năng làm văn miêu tả cho học sinh Lụựp 4B- Trửụứng Tieồu hoùc Gia Hửng” thaứnh coõng, toõi sửỷ duùng caực phửụng phaựp sau:
1 Nghiờn cứu tài liệu (Đọc tài liệu sỏch tham khảo)
2 Khảo sỏt thực tế (Dự giờ thăm lớp, Khảo sỏt tỡnh hỡnh thực tế)
3 So sỏnh đối chiếu
4 Phương phỏp luyện tập, thực hành
Trang 3Phần nội dung
A Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý:
1 Cơ sở lớ luận
1.1 Vị trớ, nhiệm vụ của mụn tập làm văn
Mụn tập làm văn cú nhiệm vụ chủ yếu là dạy học sinh sản sinh ra cỏc ngụn bản và viết Tập làm văn cũn là sản phẩm thể hiện rừ vốn hiểu biết, đời sống, trỡnh độ văn hoỏ của học sinh Bài tập làm văn trở thành sản phẩm tổng hợp, là nơi trỡnh bày kết quả đớch thực của việc học Tiếng Việt
1.2 Tiết dạy làm văn miêu tả là tổ chức cho học sinh quan sỏt đối tượng
miờu tả là một cụng việc thuộc về nguyờn tắc khi dạy học văn miờu tả Trờn cơ
sở cú sự thu nhận trực tiếp cỏc nhận xột, ấn tượng, cảm xỳc của mỡnh, học sinh mới bắt tay vào làm bài Khi quan sỏt học huy động vốn sống, khả năng tưởng tượng và cảm xỳc giỳp cho việc quan sỏt tốt hơn Từ đú hiểu biết và kĩ năng về văn miờu tả được hỡnh thành một cỏch tự giỏc chủ yếu qua con đường thực hành
Tiết học này mở đầu một quy trỡnh dạy một kiểu bài Thụng qua giải quyết một bài cụ thể luyện cho học sinh hai kỹ năng:
- Tỡm tư liệu cho đề bài để chuẩn bị viết bài tập làm văn
- Cung cấp hiểu biết chung nhất mang tớnh lý thuyết về kiểu bài, loại bài
Mục đớch của việc dạy văn miờu tả ở tiểu học là giỳp học sinh cú thúi quen quan sỏt, phỏt hiện những điều mới mẻ, thỳ vị về thế giới xung quanh; biết truyền rung cảm của mỡnh vào đối tượng miờu tả; biết sử dụng những từ ngữ cú giỏ trị biểu cảm, những cõu văn sỏng rừ về nội dung, chõn thực về tỡnh cảm
2 Cơ sở pháp lý:
Chơng trình tiểu học (Ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐBGD&ĐT- 05/5/2006 của Bộ trởng Bộ giáo dục và đào tạo.):
+ Căn cứ vào quyết định 16 của Bộ giáo dục và Đào tạo về chuẩn kiến thức kỹ năng và mức độ cần đạt đợc đối với học sinh Lớp 4
+ Căn cứ vào Thông t 32 của Bộ giáo dục và Đào tạo về đánh giá xếp loại học sinh tiểu học
B.Thực trạng:
Thực trạng kỹ năng làm văn miêu tả của học sinh lớp 4 hiện nay:
1 Thuận lợi:
- Hiện nay nhiều phụ huynh rất quan tõm đến việc học tập của con em mỡnh nờn đó cú sự chuẩn bị đầy đủ về sỏch vở, đồ dựng học tập cho học sinh khi đến lớp Bờn cạnh đú, một số phụ huynh cũn tỡm thờm sỏch tham khảo, tài liệu học tập để học sinh đọc thờm
- Học sinh biết tự tổ chức cỏc hoạt động trong giờ học theo yờu cầu của giỏo viờn
- Học sinh phỏt huy được sự tự tin khi phỏt biểu ý kiến hoặc đưa ra nhận xột của mỡnh trước đỏm đụng
- Nhiều học sinh rất thớch thỳ, phấn khởi khi tự viết được 1 đoạn văn hoặc 1 bài văn mạch lạc
- Nội dung chương trỡnh Tập làm văn giỳp học sinh biết và cú thể vận dụng kiến thức đó học vào cuộc sống hoặc ngược lại
Trang 4- Qua các tiết học Tập làm văn, học sinh cĩ điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp của con người, thiên nhiên từ đĩ giáo dục và phát huy lịng yêu nước, yêu cái đẹp, cái thiện ở học sinh
2 Khĩ khăn:
- Sĩ số lớp khá đơng
- Học sinh cịn nhỏ tuổi nên vốn từ chưa nhiều, các em chưa hiểu hết nghĩa của từ nên cách diễn đạt cịn nhiều sai sĩt
- Một số học sinh chưa biết vận dụng các biện pháp so sánh, nhân hố, trí tưởng tượng của mình vào bài văn nên nội dung bài văn chưa phong phú lắm
- Do cuộc sống, do nhu cầu mưu sinh nên một số ít phụ huynh chưa quan tâm đúng mức đến việc học của con em mình mà phĩ mặc cho các em tự học
- Một số học sinh thiếu tính kiên trì chỉ làm cho cĩ, cho xong việc
- Một số em chép văn mẫu cĩ sẵn Khi làm các em dùng văn mẫu biến thành bài làm của mình không kể đề bài quy định như thế nào Với cách làm như vậy các em không cần biết đến đối tượng cần miêu tả, không quan sát và không có cảm xúc gì về chúng Khi giáo viên chấm bài rất có thể khen nhằm bài văn của người khác mà cứ tưởng là bài văn của HS mình Khi đọc bài văn của nhiều em cứ na ná nhau
Một số em khi làm văn cịn miêu tả hời hợt chung chung; không có sắc thái riêng biệt nào của đối tượng được miêu tả Vì thế bài văn ấy có thể gắn cho đối tượng miêu tả cùng loại nào cũng được Một bài văn như vậy đọc lên không có cảm xúc, nhợt nhạt, mờ mờ Nguyên nhân chủ yếu là vì các em không được quan sát hoặc không biết hồi tưởng lại kinh nghiệm sống của mình, không biết cách quan sát nên không có được nhận xét gì cụ thể về đối tượng miêu tả
Qua khảo sát chất lượng giữa học kỳ I như sau:
Năm học SS Giữa học kỳ I
3 Nguyên nhân dẫn đến việc học sinh tiểu học khơng thích viết văn:
Theo tơi, học sinh của chúng ta khơng thích viết văn là do một số nguyên nhân sau:
- Các em đã cĩ sự phát triển về trí tuệ, tâm hồn; các em thích quan sát mọi vật xung quanh; khả năng tư duy cụ thể của các em nhiều hơn khả năng khái quát hố; các em rất nhạy cảm với vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước, các em dễ xúc động và bắt đầu biết mơ ước cĩ trí tưởng tượng phong phú, thích nghi lại các vấn đề mà mình đã quan sát được Song do vốn sống và mơi trường tiếp xúc của các em cịn hạn chế nên vốn ngơn ngữ của các em chưa phong phú, sắp xếp
ý chưa cĩ hệ thống và diễn đạt cịn thiếu mạch lạc
- Phần đơng học sinh khi được hỏi các em cĩ thích nghe phân tích cái hay, cái đẹp trong văn học khơng? Thì các em trả lời là “thích” nhưng hỏi các em cĩ thích học văn khơng? Thì nhiều em đều trả lời “khơng thích” vì “khĩ học”
- Học sinh thích đọc truyện tranh hơn đọc sách báo nên vốn từ để miêu tả ít, dùng từ thường thiếu sự chính xác hoặc câu văn quá ngắn gọn
Trang 5- Học sinh khụng biết tự lập dàn ý dẫn đến việc viết cõu văn, đoạn văn khụng đủ ý cần diễn đạt Học sinh thiếu sự tưởng tượng, ớt cảm xỳc về đối tượng miờu tả, khụng biết vận dụng cỏc biện phỏp tu từ nờn cõu văn, đoạn văn thiếu hỡnh ảnh, thiếu cảm xỳc
- Cỏch ngắt cõu ở học sinh chưa chuẩn, khi diễn đạt cũn bị lập từ, lập ý
- Một số học sinh khụng dỏm mạnh dạn trỡnh bày ý kiến vỡ sợ núi sai sẽ bị bạn chờ cười
- Sự hướng dẫn của sỏch giỏo khoa chưa thật cụ thể, chưa dễ hiểu Sỏch giỏo khoa chưa cú nhiều đoạn văn mẫu phự hợp với địa phương để giới thiệu cho học sinh tham khảo
Sau khi đã xác định đuợc những tồn tại và nguyên nhân học sinh viết yếu tôi
đã có một số biện pháp rèn chữ cho học sinh nh sau:
C Những biện pháp khắc phục nhằm giúp học sinh làm văn miêu tả và nội dung lý giải các biện pháp.
Trong khuôn khổ của một đề tài sáng kiến kinh nghiệm tôi xin đợc trình bày nội dung giải pháp cụ thể nh sau:
Để làm tốt một bài văn miờu tả, học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp của cỏc mụn học cộng với vốn sống thực tế Tuy nhiờn, kiến thức sỏch vở cũng như kiến thức thực tế của HS tiểu học hiện cũn nhiều lỗ hổng Nhiều học sinh ở nụng thụn chưa hề được ra thành phố, chưa từng được đến cụng viờn,
vư-ờn bỏch thỳ hay những danh lam thắng cảnh khỏc, … Nhiều học sinh ở thành phố chưa hề được nghe/nhỡn thấy con gà đang gỏy, con trõu đang cày ruộng, được quan sỏt cỏnh đồng lỳa lỳc xanh mướt đương thỡ con gỏi, lỳc vàng úng, trĩu bụng hay sụng Hồng chở nặng phự sa, hồng nhạt khi mựa xuõn đến, đỏ chúi như son khi mựa lũ về… Vỡ thế, khi làm bài nhiều học sinh khụng nắm được đặc điểm đối tượng mỡnh đang tả, dẫn đến tả khụng chõn thực Cũng cú trường hợp học sinh đọc xong đề bài khụng biết mỡnh cần viết những gỡ và viết như thế nào, cỏi gỡ viết trước, cỏi gỡ viết sau,
Ngoài ra, do sức hỳt của của cỏc trũ chơi hiện đại, trẻ em ngày nay đó lóng quờn thế giới thơ mộng ở xung quanh, cỏi thế giới của ruộng đồng, cõy cỏ, cụn trựng, của mưa, của giú, mà khụng phải riờng nhà văn Tụ Hoài mới cú Đõy là thế giới cú khả năng làm phong phỳ tõm hồn tuổi thơ và rốn luyện úc quan sỏt, nhận xột,
Việc đọc sỏch của cỏc em cũng đang bị xem nhẹ Phần lớn học sinh tiểu học ớt quan tõm đến việc đọc, nếu cú đọc thường là truyện tranh, thậm chớ những truyện tranh khụng mang tớnh giỏo dục Việc trũ chuyện, tiếp xỳc với bố mẹ, người thõn trong gia đỡnh và cộng đồng cũng rất hạn chế, bởi người lớn thỡ bận cụng việc, cũn cỏc em thỡ ở trường cả ngày, về nhà lại phải ụn bài Vốn liếng về cuộc sống, về văn học của học sinh tiểu học rất mỏng, ảnh hưởng khụng nhỏ đến việc học văn và tập làm văn
Dưới đõy là một vài biện phỏp giỳp giỏo viờn và học sinh khắc phục tỡnh trạng trờn:
1 Tớch luỹ kiến thức
Trang 61.1 Từ các tác phẩm văn học
GV định hướng kiến thức HS cần tích lũy trong quá trình các em đọc tác phẩm
*Kiến thức về các hiện tượng tự nhiên được miêu tả ở dạng sinh động, cụ thể, cĩ thể cảm nhận được trực tiếp Đọc bài thơ “Mưa” của Trần Đăng Khoa,
HS cảm nhận được tiết tấu một trận mưa rào mùa hạ qua những hình ảnh và âm
thanh vơ cùng sống động: lụ khụ giĩ cuốn, bụi bay cuồn cuộn, hàng bưởi đu đưa, chớp rạch ngang trời, cây dừa sải tay bơi, ngọn mùng tơi nhảy múa, mưa ù
ù như xay lúa, lộp bộp, mưa
* Kiến thức về mối quan hệ giữa con người với con người: "Văn học là nhân
học", tác phẩm văn học miêu tả hình ảnh của con người, cho ta thấy cách sinh hoạt, giao tiếp, những suy nghĩ, ước mơ, hồi bão, cảm xúc vui buồn của con người Tác giả Nguyễn Phan Hách miêu tả sinh hoạt thường ngày của người
dân đến "Đường đi Sa Pa", phiên chợ thời chiến qua các câu văn: Xe chúng tôi
lao chênh vênh lướt thướt liễu rủ Sự thay đổi thời tiết trong một ngày liên tục đổi mùa, tạo nên bức tranh phong cảnh rất lạ: Thoắt cái, lá vàng rơi trong khoảnh khắc mùa thu Thoắt cái, gió xuân hây hẩy nồng nàn với những bông lay ơn màu đen nhung quý hiếm”
* Kiến thức về ngơn ngữ: Quá trình tích lũy những bộ phận kiến thức như
trên chính là quá trình HS tự mình mở rộng phạm vi gợi ý, lựa chọn về ngơn ngữ (từ vựng, hình ảnh, cấu trúc câu ), giúp các em dễ dàng hơn khi tìm cách diễn đạt đối tượng Bên cạnh đĩ, đọc các tác phẩm văn học, những cách sử dụng ngơn từ trong giao tiếp sẽ tự nhiên ăn sâu vào tiềm thức của học sinh, trở thành cái vốn để các em huy động khi cần khắc họa cách thức giao tiếp nĩi năng của nhân vật mà các em mơ tả
Để học sinh nắm bắt được những kiến thức phong phú từ các tác phẩm
văn học, vai trị của người thầy hết sức quan trọng: giúp học sinh tiếp cận giá
trị nội dung, giá trị nghệ thuật của tác phẩm, từ đĩ các em thu nhận những hiểu biết về con người và cuộc sống xung quanh, hiểu được ngơn ngữ nghệ thuật qua
sự chuyển hố các lớp nghĩa tinh tế cũng như cảm nhận được vẻ đẹp của ngơn
từ, hình ảnh Cuối cùng, HS chuyển kiến thức đã tiếp nhận thành năng lực sử dụng tiếng Việt
Thĩi quen đọc sách cĩ chọn lọc và cĩ định hướng bồi dưỡng cho HS tình yêu văn học Đọc, yêu cầu phải kết hợp với ghi chép những chi tiết, những hình ảnh, đoạn thơ, đoạn văn đặc sắc; nhất là biết tổng hợp kiến thức để bổ sung thêm cho vốn kiến thức của mình
1.2 Từ các mơn học khác: Các mơn học khác cũng là nguồn cung cấp vốn
sống cũng như vốn từ khá phong phú Mơn Tự nhiên - Xã hội giúp các em hiểu
về những hiện tượng thiên nhiên như nắng, giĩ, mây, mưa,… những con suối, dịng sơng, cánh rừng, ngọn núi,… những con vật, đồ vật thân thiết, gần gũi,…
Trang 7Những bức vẽ về đề tài thiên nhiên, sinh hoạt của con nưgời; về người và vật
trong môn Mĩ thuật cũng giúp học sinh rèn luyện kĩ năng quan sát, trí tưởng t-ượng phong phú, sự cảm nhận tinh tế về màu sắc
1.3 Từ thực tế: Mặt trời buổi sáng có gì khác với mặt trời khi sắp lặn? Hàng cây sẽ như thế nào khi không có gió, khi có gió to? Chú gà trống trưởng thành
và chú gà trống choai tiếng gáy có giống nhau không? Tả tiếng nư ớc chảy,
khi nào dùng từ ồ ồ, khi nào dùng từ ầm ầm, róc rách? Trong câu ca dao:
“Chiều chiều ra đứng ngõ sau/Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều”, tại sao nghệ
sĩ dân gian không sử dụng từ ngày ngày mà lại dùng từ chiều chiều? Những lời
hát ru, những câu thành ngữ, tục ngữ, lời ăn tiếng nói trong giao tiếp hằng ngày hay những bản nhạc ấn tượng, những câu chuyện hấp dẫn, những chuỗi sự việc
cứ ngày tiếp ngày diễn ra… sẽ là những tri thức quý báu giúp các em rèn luyện khả năng giao tiếp, sử dụng ngôn từ và tạo lập văn bản Có thể thấy việc bồi dư-ỡng và tích luỹ kiến thức là một quá trình lâu dài, đòi hỏi các thầy cô giáo, các bậc cha mẹ định hướng, tạo cơ hội cho học sinh, con em mình mỗi ngày mỗi nơi một ít, làm giàu thêm vốn sống, vốn liếng văn học
2 Quan sát và ghi chép
Trong văn miêu tả, quan sát rất quan trọng Việc quan sát và vị trí quan
sát tốt, góc quan sát phù hợp sẽ giúp ta nắm đợc cái thần của đối tượng Quan
sát đối tượng không chỉ bằng thị giác mà phải huy động mọi giác quan: thính giác (nghe), khứu giác (ngửi), xúc giác (sờ, nắm), vị giác (nếm)
Tuy nhiên, tuỳ từng kiểu bài ta có những cách quan sát khác nhau Đối
với kiểu bài tả đồ vật ta có thể quan sát theo trình tự: mắt nhìn, tay sờ, tai nghe, mũi ngửi,… nhưng đối với bài văn tả cây cối cần phải quan sát theo một trình
tự từ xa đến gần, từ bao quát đến bộ phận, nét khác biệt của cây đó với cây
khác Đối với bài văn tả loài vật, ta quan sát ngoại hình rồi mới đến những thói
quen sinh hoạt và những hoạt động của con vật
Quan sát luôn đi liền ghi chép Ghi chép hỗ trợ trí nhớ, giúp học sinh có
cơ sở để lựa chọn những chi tiết, những hình ảnh đặc sắc Cần hướng dẫn học sinh cách ghi chép khi quan sát: ghi những đặc điểm cơ bản về hình dạng, màu sắc, hoạt động,… của đối tượng, nhất là những điểm mới, riêng, độc đáo mà ng-ười khác không nhìn thấy
3 Rèn luyện cách dùng từ ngữ biểu cảm và các thủ pháp nghệ thuật
Trong văn miêu tả thường xuất hiện lớp từ có tính hình tượng, có giá trị biểu cảm như từ láy, tính từ tuyệt đối Chúng là thế mạnh đặc trưng của Tiếng Việt và là phương tiện miêu tả hiệu quả
Dạy học sinh viết văn miêu tả, giáo viên cần hướng dẫn học sinh khai thác
và sử dụng có hiệu quả các từ láy tượng thanh như: vi vu, lao xao, xào xạc (tiếng gió), lộp bộp, tí tách, long bong (tiếng mưa), róc rách, ào ào, tí tách (tiếng nước chảy) ; các từ láy tượng hình như: chon chót (đỏ), hun hút, thăm thẳm (sâu),
Trang 8ngăn ngắt (xanh), mênh mông (rộng),… ; các tính từ tuyệt đối chỉ màu: vàng óng, vàng hoe, vàng xuộm, vàng lịm, xanh um, xanh thẳm, xanh trong, xanh lét,
đỏ ối, đỏ chót, đỏ hoe, tím ngắt,… , chỉ mùi: thơm ngát, thơm nức, thơm thoang thoảng, thơm ngan ngát,… Thế giới âm thanh và màu sắc góp phần không nhỏ
làm nên vẻ đẹp của bài văn miêu tả, giúp nó thật hơn, sinh động hơn
Các biện pháp tu từ nhân hoá, so sánh cũng là phương tiện miêu tả hữu hiệu Sử dụng so sánh trong bài văn miêu tả là cách thức làm đẹp ngôn từ.
Chẳng hạn, so sánh quả với vật “Trái sầu riêng lủng lẳng dưới cành trông giống như những tổ kiến” So sánh và nhân hoá giữ vai trò quan trọng trong việc
biểu đạt đặc điểm, thuộc tính của đối tượng miêu tả và cần được khuyến khích
sử dụng trong bài văn miêu tả của học sinh Có thể định hướng cho các em tham khảo trong các tác phẩm của Tô Hoài, Trần Đăng Khoa
Để khắc phục tình trạng học kém môn văn hiện nay ở bậc tiểu học, trước hết cần có một quan niệm mới về môn học: phân môn tập làm văn là môn học sáng tạo chứ không phải sao chép, môn học tổng hợp kiến thức, tổng hợp các kĩ năng (kĩ năng sống, giao tiếp, sử dụng ngôn ngữ, trình bày và tạo lập văn bản, ), sau nữa là áp dụng các giải pháp đồng bộ:
+ Nghiêm túc thực hiện giáo dục toàn diện cho học sinh.
+ Đánh giá đúng tầm quan trọng của từng môn học, dạy đúng môn, đủ thời lượng, không coi trọng môn này hoặc xem nhẹ môn kia
+ Đổi mới thi cử, đánh giá
+ Khuyến khích việc đọc sách, bằng cách: thư viện trong nhà trường phải hoạt động hiệu quả, lượng sách phong phú, đầy đủ chủng loại, quan tâm nhiều đến sách văn học, ; bố mẹ định hướng việc chọn sách cho con, thưởng sách mỗi khi con có thành tích,…
+ Tạo điều kiện cho học sinh, con em hoà nhập với thiên nhiên, đưa vào các chương trình sinh hoạt tập thể với những nội dung hướng vào việc phát triển kĩ năng giao tiếp, kĩ năng sử dụng ngôn ngữ,…
Ngoài ra, để giúp học sinh yêu thích và có hứng thú trong việc học và viết Tập làm văn người giáo viên cần rèn cho học sinh một số kĩ năng sau:
A) Định hướng văn bản:
Học sinh biết nhận diện đặc điểm loại văn: Thông qua gợi ý trong sách giáo khoa từ đó biết phân tích đề bài để xác định yêu cầu của đề (Bài văn thuộc thể loại gì? Nội dung bài văn là gì? Kiểu bài văn? Trọng tâm?)
VD: Khi đọc yêu cầu của đề bài học sinh phải biết phân tích đề
“ Tả 1 con vật mà em thích”: học sinh biết gạch chân 1 số từ quan trọng và biết chọn bất kì con vật nào mà mình thích để tả
“ Tả đồ chơi của em”: học sinh phải biết chỉ được tả đồ chơi
B) Rèn kĩ năng quan sát, tìm ý thông qua khung mạng ý nghĩa:
Trang 9 Giáo viên cần giúp cho học sinh biết quan sát để làm Tập làm văn và quan sát tìm hiểu Khoa học có mục đích khác nhau:
+ Mục đích quan sát khoa học là tìm ra công dụng cấu tạo của sự vật, đặc điểm, tính chất của hiện tượng
+ Quan sát văn học là tìm ra màu sắc, âm thanh, hình ảnh tiêu biểu và cảm xúc của người đối với sự vật
* Quan sát bằng nhiều giác quan:
- Quan sát bằng mắt: nhận ra màu sắc, hình khối, sự vật
- Quan sát bằng tai: âm thanh nhịp điệu gợi cảm xúc
- Quan sát bằng mũi: những mùi vị tác động đến tình cảm
- Quan sát bằng vị giác và xúc giác: quan sát cảm nhận
Nhờ cách quan sát này mà các em ghi nhận được nhiều ý, giúp cho bài văn đa dạng, phong phú
* Quan sát tỉ mỉ nhiều lượt: Muốn tìm ý cho bài văn học sinh phải quan sát kỹ, quan sát nhiều lần Học sinh cần xác định rõ trình tự quan sát và biết chọn lựa các trình tự quan sát khác nhau:
- Trình tự không gian: Quan sát từ trên xuống dưới hoặc từ dưới lên trên Từ trái sang phải hay từ ngoài vào trong
- Trình tự thời gian: Quan sát từ sáng đến tối, từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc
- Trình tự tâm lý: Thấy nét gì nổi bật thu hút bản thân, gây cảm xúc thì quan sát trước
Giáo viên phải hướng dẫn học sinh tìm được những nét tiêu biểu của sự vật Không cần dàn đủ chi tiết về sự vật, chỉ cần ghi chép lại những đặc điểm mà mình cảm nhận sâu sắc nhất → Tạo ra hứng thú, cảm xúc giúp học sinh dễ dàng tìm từ, chọn ý → Giúp học sinh miêu tả sinh động và hấp dẫn
Khung mạng ý nghĩa có thể được trình bày dưới nhiều hình thức khác nhau tùy theo nội dung từng bài Học sinh phải tự làm việc, tự quan sát, tự ghi chép là chính Giáo viên có thể gợi ý giúp các em phát hiện ra những nét đặc sắc
+ Đối với đối tượng là học sinh khá giỏi: tôi để cho các em tự thảo luận suy nghĩ và viết ra các ý dưới dạng từ hay cụm từ xung quanh khung chủ đề
VD: Cả nhóm học sinh sẽ cùng thảo luận làm khung mạng ý nghĩa tả con
mèo
Trông như quả
bí
Hung hung, mịn như
nhung Long lanh (2)
Đi không tiếng
động
Đuổi bướm
bồ thóc
Trang 10+ Đối với đối tượng là học sinh trung bình – yếu, tôi sử dụng hệ thống câu hỏi để kích thích và định hướng cho học sinh phát triển ý Ở đây cần lưu ý câu hỏi phải có tính chất gợi mở, hướng đến việc khơi gợi sự quan tâm và kinh nghiệm riêng của các em
VD: Học sinh quan sát “con mèo” giáo viên có thể hỏi:
Em thấy hình dáng con mèo như thế nào?
Khi dùng tay sờ vào con mèo em cảm thấy thế nào?
Quan sát hoạt động con mèo có điểm gì đặc biệt?
C Lập dàn ý chi tiết:
Chương trình Tập làm văn lớp 4 không có tiết lập dàn ý chi tiết nên tôi hướng dẫn học sinh dựa vào dàn bài chung để đánh số thứ tự cho các ý tìm được trên khung mạng từ đó sẽ diễn đạt thành dàn ý chi tiết Tôi cũng lưu ý cho học sinh về trình tự chung của thể loại văn đang làm và hướng dẫn có tính chất mở
VD: Đối với loại văn miêu tả thì lưu ý học sinh những chi tiết nào có ý giới
thiệu chung thì nói trước, ý nào miêu tả chi tiết cụ thể thì nói sau
Tuy nhiên tôi luôn rèn cho học sinh hiểu trong những ý chung hoặc trong những ý cụ thể đó vấn đề nào đưa vào trước cũng được, miễn là phải đảm bảo
đủ các nội dung cần diễn tả Tránh lối áp đặt như là cho sẵn một trật tự chi tiết
cố định
VD: Từ khung mạng ý nghĩa và dàn bài chung, học sinh thảo luận nhóm tự
lập dàn ý chi tiết tả cây hoa hồng Những từ ngữ đánh dấu: số (1) nằm trong phần mở bài, số (2) nằm trong phần thân bài, số (3) nằm trong phần kết bài
Mở bài: Giới thiệu cây hoa hồng Trồng ở đâu? (trước cửa) Ai trồng?
(mẹ em)
Thân bài:
* Tả bao quát: - Cây cao khoảng nửa mét.
- Thân khẳng khiu bằng chiếc đũa ăn cơm
* Tả chi tiết:
- Cành đâm tua tủa, có nhiều gai nhọn như những chàng vệ sĩ
- Lá hình bầu dục, lá non màu tim tím, lá già màu xanh đậm, mép có viền răng cưa
- Nụ màu xanh mơn mởn, bằng đầu ngón tay út của em
- Hoa mới nở to bằng chung uống trà, như ông mặt trời đỏ thắm
- Cánh hoa đỏ tươi, mỏng mịn như nhung xếp chồng lên nhau
- Hương thơm thoang thoảng quyến rũ ong bướm
Kết bài: Nêu cảm nghĩ: yêu thích, tỉa lá, tưới nước để cây luôn xanh tốt.
Từ dàn ý chi tiết, tôi nghĩ học sinh có thể vận dụng thêm một số từ ngữ, hình ảnh gợi cảm xúc để viết thành bài văn hoàn chỉnh một cách khá dễ dàng
D Rèn kĩ năng phát triển từ ngữ miêu tả :
Để rèn cho học sinh kỹ năng phát triển từ ngữ miêu tả tôi đã tích hợp việc dạy Tập làm văn trong những tiết Tập đọc Nếu nội dung bài đọc hoặc một số từ
Sắc nhọn
Nhanh nhẹn đáng yêu Vuốt ve, nô đùa