Tổng quan về các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam:...6 2.Thực trạng về chính sách cố tức của một số công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam...8 3.Giải
Trang 1M ỤC L ỤC
Trang
Lời mở đầu
1
1 Tổng quan về các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam: 6 2.Thực trạng về chính sách cố tức của một số công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 8 3.Giải pháp hoàn thiện chính sách cố tức của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 13
Trang 2DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1 Bảng 1.1.1: Các chỉ số cơ bản của các SGDCK tại Việt
2
Bảng 1.1.2: Các chỉ số cơ bản của các công ty niêm yết
trên các SGDCK tại Việt Nam phân theo lĩnh vực năm 2015
2
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5MỞ ĐẦU
Sau 17 năm từ ngày ban hành quyết định bắt đầu hoạt động, thị trường chứng khoán (TTCK) còn non trẻ của Việt Nam đã dần định hình, phát triển về nhiều mặt, trở thành một kênh huy động vốn năng động và hiệu quả cho nền kinh tế đất nước TTCK
đã huy động được một khối lượng vốn đáng kể cho các công ty niêm yết
Để thu hút được nhà đầu tư, các hình thức chia cổ tức khác nhau đều đã được các công ty niêm yết áp dụng Sự đa dạng hóa các chính sách cổ tức giúp nhà đầu tư dễ dàng lựa chọn “rổ” cồ phiếu của mình sao cho phù hợp với dòng ngân lưu và chiến lược đầu tư của mình Từ đó, hoạt động mua bán trở nên phong phú, đa dạng và sôi động trên TTCK Tuy nhiên, việc đề xuất chi trả cổ tức dưới hình thức nào và trong thời điểm nào cho hợp lý luôn làm đau đầu HĐQT của công ty niêm yết, để làm sao vừa đảm bảo lợi ích của công ty mà vẫn đáp ứng được yêu cầu của cổ đông
Chính sách cổ tức của các CTCP nói chung và TTCK Việt Nam nói riêng đã có những bước phát triển đáng kể Căn cứ vào sự phát triển của các CTCP niêm yết, sự đa dạng và áp dụng phổ biến các phương thức chi trả trở nên khác nhau qua từng giai đoạn Để đánh giá thực trạng chi trả cổ tức, tiểu luận này sẽ phân tích theo sự phát triển của TTCK Việt Nam, với 2 giai đoạn lớn: trước và sau năm 2004
Trang 61 Tổng quan về các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam: 1.1 Tình hình niêm yết:
Sau nhiều năm chuẩn bị và chờ đợi , ngày 11-7-1998 Chính phủ đã ký Nghị định
số 48/CP ban hành về chứng khoán và TTCK chính thức khai sinh cho Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời Cùng ngày, Chính phủ cũng ký quyết định thành lập Trung tâm Giao dịch Chứng khoán đặt tại TP.HCM và Hà Nội Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (TTGDCK TP.HCM) được thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11-7-1998 và chính thức đi vào hoạt động thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28-7-2000 Cho đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đã chính thức đi vào hoạt động được gần 15 năm Chúng ta đã thấy được sự phát triển mạnh mẽ về cả số lượng và chất lượng các loại cổ phiếu niêm yết trên các sàn giao dịch Năm 2000 (năm đầu tiên mở cửa thị trường chứng khoán) ở thời điểm lúc bấy giờ, chỉ có 2 doanh nghiệp niêm yết 2 loại cổ phiếu (REE và SAM) và một số ít trái phiếu chính phủ được niêm yết giao dịch trên sàn HNX và HOSE Tính đến thời điểm 31/12/2000, toàn thị trường có 5 công ty niêm yết với 32,1 triệu cổ phiếu được niêm yết
Nhận thức được việc niêm yết cổ phiếu lên sàn giao dịch chứng khoán tập trung
là kênh huy động vốn có hiệu quả, các doanh nghiệp nộp hồ sơ đăng ký niêm yết trên Trung tâm GDCK TP HCM tăng đều qua các năm Năm 2006, TTCK phát triển mạnh
mẽ, số lượng công ty niêm yết tăng vượt trội Thời điểm 31/12/2006, thị trường có 121 công ty niêm yết với tổng khối lượng cổ phiếu niêm yết 1.406.231.788 cổ phiếu, tăng
86 công ty so với cuối năm 2005, tương ứng tăng 246% về số lượng công ty và tăng 291% về khối lượng cổ phiếu niêm yết
Năm 2009, có tổng cộng 54 công ty được cấp quyết định niêm yết mới, trong đó
có các công ty có khối lượng cổ phiếu niêm yết lớn như BVH, VCB, CTG, EIB, MSN, AGR, KBC…, đưa khối lượng cổ phiếu lưu thông trên sàn tăng mạnh, từ 5,8 tỷ cổ phiếu lên 10,2 tỷ cổ phiếu Đồng thời, theo Nghị định 14/2007/NĐ-CP quy định về thi hành Luật Chứng khoán, 26 công ty niêm yết do không đáp ứng điều kiện niêm yết mới phải chuyển niêm yết ra SGDCK Hà Nội
Tính đến đầu năm 2015 thì số lượng công ty niêm yết trên 2 sàn HNX và HOSE
đã là 716 công ty với số vốn hoá đạt 514.039,71 tỷ đồng
6
Trang 7Sàn giao dịch Số lượng
DN
Vốn hóa
(tỷ VNĐ)
Tỷ trọng vốn hóa
(%)
P/E
(lần )
P/B
(lần )
ROA
(%)
ROE
(%)
Toàn thị trường 716 514.039,71 100 22,3 3,7 10,91 22,56
Bảng 1.1.1: Các chỉ số cơ bản của các SGDCK tại Việt Nam năm 2015.
(Nguồn: www.vinacorp.vn )
Lĩnh vực Số lượng
DN
Vốn hóa Tỷ trọng
vốn hóa P/E P/B ROA ROE
)
(lần
Bảng 1.1.2: Các chỉ số cơ bản của các công ty niêm yết trên các SGDCK tại Việt Nam
phân theo một số lĩnh vực năm 2015
(Nguồn: www.vinacorp.vn) 1.2 Tình hình giao dịch
Qua 15 năm hình thành và phát triển, cùng với sự trưởng thành và lớn mạnh của thị trường, khối lượng giao dịch chứng khoán trên HOSE cũng từng bước tăng trưởng qua các năm Năm 2000, thời điểm khởi đầu của thị trường, khối lượng giao dịch rất khiêm tốn, chỉ khoảng 55.000 cổ phiếu/ngày, tương đương giá trị giao dịch khoảng 1,4
tỷ đồng/ngày Đến năm 2005, khối lượng giao dịch bình quân theo ngày đã tăng gấp 3 lần, giá trị giao dịch bình quân theo ngày tăng 76 lần so với năm đầu tiên thị trường vận hành Đặc biệt, năm 2006 và 2009 là những năm phát triển bùng nổ của thị trường, với khối lượng và giá trị giao dịch bình quân ngày tăng gấp 3 lần so với năm liền trước
7
Trang 8Năm 2011 là năm duy nhất khối lượng và giá trị giao dịch bình quân ngày của thị trường giảm do những khó khăn chung của nền kinh tế và tác động của chính sách thắt chặt tiền tệ Đến năm 2012 và 2013, TTCK dần phục hồi, khối lượng và giá trị giao dịch tăng trở lại
Năm 2014 đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của TTCK, dữ liệu thống kê cho thấy, bình quân mỗi ngày có 123,5 triệu chứng khoán, tương đương 2.171 tỷ đồng được giao dịch, tăng 90,4% về khối lượng và 104,3% về giá trị so với năm 2013
2 Thực trạng về chính sách cố tức của một số công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Chính sách cổ tức của CTCP nói chung và TTCK Việt Nam nói riêng đã có những bước phát triển đáng kể Để đánh giá về thực trạng chi trả cổ tức, căn cứ vào sự phát triển của các công ty cổ phần niêm yết, sự đa dạng và áp dụng phổ biến các phương thức chi trả, chúng ta có thể chia ra làm các giai đoạn sau:
2.1 Giai đoạn trước năm 2004
2.1.1 Tình hình chi trả cổ tức
Về chính sách cổ tức, các DN duy trì mức cổ tức từ trung bình là 14%-17%/năm Các DN kinh doanh hiệu quả duy trì mức cổ tức tiền mặt ở mức từ 20% - 30%
Đã xuất hiện hình thức trả cổ tức bằng cổ phiếu như HAP, SACOM, KHA hay cổ phiếu thưởng như REE nhằm mục đích cải thiện tính thanh khoản của cổ phiếu và gia tăng thu nhập cho các cổ đông và tránh áp lực cho Ban điều hành Việc xuất hiện hình thức trả cổ tức bằng cổ phiếu diễn ra không nhiều và hầu hết các DN áp dụng chính sách trả cổ tức bằng tiền mặt với tỷ lệ cao Trung bình tỷ lệ chi trả cổ tức qua các năm
2000, 2001, 2002, 2003 lần lượt là 64%, 63%, 62%, 51% Tỷ suất cổ tức của các công
ty khá cao và biến động mạnh qua các năm, năm 2000 là 6%, 2001 là 4%, 2002 và
2003 là 7% Năm 2001, tỷ suất cổ tức giảm mạnh do giá của các cổ phiếu tăng cao Hầu hết các công ty đã có giao dịch mua bán lại cổ phiếu của chính mình Hoạt động mua, bán cổ phiếu quỹ nhằm kinh doanh cổ phiếu của chính mình, chứ không phải là hoạt động có tính chiến lược nằm trong chính sách tài trợ, chính sách cổ tức của công ty
2.1.2 Nguyên nhân của chính sách cổ tức thời kỷ đầu:
- Quy mô vốn của các DN kinh doanh hiệu quả không lớn so với hiện nay Đa phần các DN chỉ tập trung đầu tư theo chiều sâu, các dự án đầu tư được tính toán rất
8
Trang 9kỹ Hiệu quả sử dụng vốn là rất cao, mặc dù tỷ lệ vay nợ trên vốn chủ sở hữu là cao hơn so với hiện nay
- Kinh tế vĩ mô không được thuận lợi, hầu như tất cả DN Việt Nam đều phải dựa vào nguồn vốn vay ngân hàng hay vốn huy động từ người lao động DN phải vay vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày, tỷ lệ Nợ/VCSH rất cao
- Hầu như các DN Việt Nam chưa huy động vốn dưới tác động của TTCK Các công ty niêm yết khi đó đều phát triển từ công ty nhà nước cổ phần hóa Những người
đã tham gia mua cổ phần, sợ rủi ro nên có tâm lý đòi ban quản lý phải chia cổ tức cao nhằm nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư dẫn đến chính sách trả cổ tức cao, chuyển nhượng cổ phần là khó khăn, luôn cố gắng tạo ra nhiều lợi nhuận, chia cổ tức cao trong vài năm sau cổ phần hoá và bắt đầu niêm yết trên sàn chứng khoán trả lại vốn đầu tư cho cổ đông để tránh áp lực
- Mục đích của nhà đầu tư trong giai đoạn này là lợi nhuận từ chênh lệch giá cổ phiếu trong ngắn hạn, do mất cân đối trong cung - cầu, còn một số người đầu tư dài hạn để hưởng lợi nhuận thông qua cổ tức Do đó, các công ty muốn mang lại niềm tin cho cổ đông bằng cách chia cổ tức thật cao tương đối phù họp với ưu tiên của nhà đầu tư
- Hệ thống công bố thông tin trên TTCK Việt Nam bước đầu đã thực hiện được thông tin tới công chúng đầu tư công bố thông tin còn khá lúng túng, nhiều sai sót và
có sự bất cân xứng thông tin rất lớn giữa các nhà đầu tư và ban quản lý công ty Cổ tức cao giúp truyền tải thông tin về kết quả hoạt động kinh doanh tốt và tiềm năng phát triển trong tương lai đến nhà đầu tư
- Nhu cầu vốn của các công ty là lớn, phát hành thêm cổ phiếu là cần thiết Nhưng tốn kém nhiều thời gian và chi phí, thời gian giải quyết hồ sơ phát hành thêm
cổ phiếu là khá dài và chứa đựng rủi ro cao hơn so với việc vay vốn từ các tổ chức tín dụng Chi phí sử dụng vốn từ cổ phiếu mới rõ ràng cao hơn rất nhiều Các CTNY sẽ
ưu tiên sử dụng nguồn vốn vay ngân hàng và trong dài hạn thì việc sử dụng lợi nhuận giữ lại sẽ an toàn và “rẻ” hơn
Tóm lại, mặc dù các công ty chia cổ tức cao vẫn không ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư và năng lực thanh khoản Tuy nhiên, việc duy trì mức cổ tức cao như là một gánh nặng đối với các nhà quản lý trong thời gian sau đó
2.2 Giai đoạn từ năm 2004 đến nay:
9
Trang 10Kinh tế vĩ mô của Việt Nam đã có nhiều cải thiện, tăng trưởng GDP tiếp tục duy trì ở mức cao, thúc đẩy quá trình gia nhập WTO, cùng với cam kết giảm thuế đối với các hàng hóa nhập khẩu từ các nước ASEAN
Nhiều chính sách phát triển TTCK ra đời và làm cho TTCK nhanh chóng phát triển Công tác cổ phần hoá được đẩy mạnh gắn với phát triển thị trường chứng khoán Các công ty cổ phần niêm yết giai đoạn này dễ dàng huy động được nguồn vốn
từ các nhà đầu tư trong nước và quốc tế Các DN tận dụng cơ hội này để tăng vốn điều
lệ Lượng vốn được huy động dễ dàng đã làm nảy sinh những hiện tượng: Lập dự án không thận trọng, nhất là khâu quản lý dự án sau đầu tư; nhiều DN đi vào lĩnh vực đa ngành Hậu quả là vốn huy động được sử dụng không hiệu quả
Tuy nhiên nhìn chung, tiềm lực tài chính của nhiều DN niêm yết (thuộc nhóm kinh doanh hiệu quả) vẫn mạnh hơn trước 2004: Nguồn vốn từ lợi nhuận tích luỹ hay
từ vốn thặng dư vẫn còn nhiều, tỷ lệ vốn vay trên vốn chủ sở hữu giảm hơn nhiều so với thời kỳ đầu
Chính sách cổ tức trong giai đoạn này có thể chia làm 3 giai đoạn:
2.2.1 Từ năm 2004 đến 2007
Tỷ lệ chi trả cổ tức giai đoạn này giảm chỉ còn từ 50% đến 51% Tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền mặt thấp hơn rất nhiều so với thời kỳ trước, việc trả cổ tức bằng cổ phiếu được ưa chuộng và phát triển Hầu hết các công ty trả cổ tức cao trong giai đoạn này là
cổ tức một phần bằng cổ phiếu hoặc toàn bộ bằng cổ phiếu
Nguyên nhân:
- Trong bối cảnh thị trưòng chứng khoán đang phát triển việc chi trả cổ tức bằng tiền ở mức cao sẽ còn ít ý nghĩa với các cố đông Thị giá cổ phiếu trên thị trường cao hơn và thanh khoản hơn trước nhiều thì mức cổ tức bị giảm xuống nhiều Các nhà đầu
tư ít nhắm tới mục tiêu lấy cổ tức, mà chính là hưởng chênh lệch giá mua giá bán
- TTCK Việt Nam đã thực sự là 1 thị trường chứng khoán theo thông lệ quốc tế,
xu hướng đầu tư là theo tốc độ tăng trưởng của DN chứ không theo mức chi trả cổ tức bằng tiền mặt Tốc độ tăng trưởng càng nhanh và càng bền vững thị giá cổ phiếu càng cao (Thị giá cổ phiếu phụ thuộc mức độ tăng trưởng nhanh và bền của DN Như vậy
DN phải có nhiều dự án đầu tư mở rộng sản xuất, cần huy động mọi nguồn vốn có thể,
có việc giảm tỷ lệ thanh toán cổ tức bằng tiền
- Lạm phát gia tăng mức cao nhu cầu vốn lưu động và cố định của DN cũng
10
Trang 11tăng lên, buộc phải giữ lại một tỷ lệ lợi nhuận cao hơn để duy trì năng lực hoạt động cho tài sản của mình thời điểm khó khăn của các công ty khi huy động vốn bên ngoài
- Làn sóng phát hành cổ phiếu trả cổ tức và cổ phiếu thưởng xuất hiện trong năm 2006, 2007 Nhiều đợt tăng vốn điều lệ của các công ty niêm yết trên cả HOSE và HNX dưới các hình thức thưởng cổ phiếu, trả cổ tức bằng cổ phiếu, bán cổ phiếu phát hành thêm cho cổ đông hiện hữu, đối tác chiến lược (chào bán riêng lẻ), bán đấu giá cổ phiếu phát hành thêm ra công chúng
- Các CTNY phần lớn không gặp khó khăn khi làm thủ tục xin phép tăng vốn Khi giá cổ phiếu tăng cao, phát hành thêm cổ phiếu thuận lợi do giá bán thấp hơn nhiều so với giá thị trường hiện hành ở trên sàn giao dịch
- Nhu cầu về vốn chính đáng của các DN niêm yết để thực hiện các dự án mới
và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Các CTNY đã thuyết phục được các cổ đông góp thêm vốn để tài trợ cho các kế hoạch kinh doanh
- Yêu cầu điều kiện vốn điều lệ tối thiếu để niêm yết cũng gây áp lực khiến các
DN phải tăng vốn
2.2.2 Năm 2008:
Đầu năm 2008, nền kinh tế Việt Nam trong tình trạng phát triển quá nóng do luồng vốn ồ ạt đổ vào nền kinh tế Sự bùng nổ tín dụng ngân hàng xảy ra, lạm phát tăng tốc, nhập siêu tăng cao và các bong bóng bất động sản bắt đầu xuất hiện tương tự tình hình thị trường bất động sản thế giới
Tính cả năm, TTCK Việt Nam là thị trường sụt giảm mạnh nhất so với các thị trường trong khu vực với mức giảm khoảng 66% đối với VN-Index và 68% đối với HASTC-Index
Doanh số năm 2008 của các công ty niêm yết tăng 40% so với năm 2007 nhưng lợi nhuận chỉ tăng 8%, sự sụt giảm nghiêm trọng của kinh doanh bất động sản và đầu
tư tài chính đã làm cho lợi nhuận ròng giảm 25% Vốn tăng đã làm cho EPS giảm 29,5% so với năm trước Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu cũng sụt giảm từ 18% năm 2007 còn 11%
Trong khi đó, chi trả cổ tức bằng tiền mặt lại gia tăng Một bộ phận DN trả cổ tức bằng tiền mặt ở mức 30% - 50% so với vốn điều lệ Trung bình tỷ lệ chi trả cổ tức của toàn thị trường chiếm 132% so với lợi nhuận sau thuế năm 2008 (cao gấp 2 đến 3 lần so với trước đây), tỷ suất cổ tức tăng cao nhất từ trước đến nay
11
Trang 12Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức giai đoạn này bao gồm:
- Các công ty này muốn chứng tỏ hoạt động hiệu quả và có tình hình tài chính lành mạnh trong thời điểm khó khăn Thông tin này giúp hỗ trợ tính thanh khoản cho
cổ phiếu, vì tại thời điểm này việc mua cổ phiếu quỹ không hiệu quả bằng việc trả cổ tức bằng tiền mặt ở mức cao để giữ chân các cổ đông trung thành và các cổ đông lớn, tạo nguồn cổ tức để có cơ hội đầu tư cho các cổ đông lớn
- Lãi suất ngân hàng tăng cao, cộng thêm biến động rủi ro tăng cao của đầu tư bất động sản và vàng đã thu hút lượng vốn lớn vào tiền gửi tiết kiệm thay vì đầu tư vào chứng khoán như trước đây Nhà đầu tư không còn chuộng trả cổ tức bằng cổ phiếu và
cổ phiếu thưởng do giá chứng khoán giảm sâu và có thể tiếp tục giảm trong tương lai Thông tin công ty nào phát hành thêm và chia cổ phiếu sẽ càng làm giá cổ phiếu đó có
xu hướng giảm, hoàn toàn trái ngược so với trước đây Do đó, các công ty sử dụng chính sách cổ tức trả tiền mặt, thay cho trả cổ tức bằng cổ phiếu hay cổ phiếu thưởng nhằm đáp ứng sự mong đợi của nhà đầu tư
- Chính sách cổ tức cao bằng tiền mặt hỗ trợ những nhà quản lý của DN đang nắm giữ lượng cổ phiếu lớn của DN Trả cổ tức cao sẽ giúp cho họ có lượng tiền mặt lớn giúp họ đầu tư vào bất động sản, cổ phiếu hoặc gia tăng luợng cổ phần mà họ nắm giữ Do đó họ nhận thấy việc nhận nhiều tiền mặt sẽ ý nghĩa hơn nhiều lần so với nhận thêm cổ phiếu thưởng
- Chính sách thuế của Việt Nam từ trước chưa thu thuế TNCN đối với cổ tức, nhưng đã ban hành quy định thu thuế đối với cổ tức áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm
2009 Do vậy, các CTCP tất bật với việc trả cổ tức sớm cho cổ đông và thực hiện kết thúc trước 31 tháng 12 năm 2008 để né thuế TNCN Ước tính chỉ với 11 công ty có vốn hóa lớn ở hai sàn chứng khoán, số tiền trả cổ tức là hơn 3.100 tỉ đồng Các khoản chia này không chỉ từ lợi nhuận của năm 2008 mà còn từ lợi nhuận lũy kế và thặng dư phát hành cổ phần nên nhìn chung, mặc dù chia cổ tức tiền mặt cao đột biến nhưng các công ty vẫn đảm bảo được tình hình tài chính Bên cạnh chính sách cổ tức cao bằng tiền mặt, DN cũng thực hiện mua lại cổ phiếu quỹ nhằm bình ổn giá thị trường Số lượng các công ty thực hiện mua cổ phiếu quỹ chiếm tỷ trọng đến 25% Tuy nhiên số lượng cổ phiếu quỹ được mua còn thấp so với vốn chủ sở hữu nên mục tiêu trên chưa đạt được
2.2.3 Năm 2009 đến nay
12