Nếu Ngân hàng trung ương không muốn để đông tiền nước mình sụt giá nó có thể theo đuổi một chính sách tiền tệ thắt chặt, giảm bớt cung nội tệ để năng lãi suất trong nước, làm cho đồng ti
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, các hoạt động thương mại quốc tế ngày càng phát triển ở khắp các quốc gia Một trong các công cụ đắc lực của các hoạt động đó chính là tỷ giá hối đoái Thậm chí những mối quan tâm về tỷ giá đã đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong việc hoạch định các chính sách Nếu Ngân hàng trung ương không muốn để đông tiền nước mình sụt giá nó có thể theo đuổi một chính sách tiền tệ thắt chặt, giảm bớt cung nội tệ để năng lãi suất trong nước, làm cho đồng tiền của nước mình tăng giá
và ngược lại
Đối với Việt Nam, các hoạt động thương mại quốc tế có sự tham gia của nước
ta ngày càng nhiều, hoạt động của thị trường tiền tệ liên ngân hàng dần rõ nét Cùng với nó, thị trường chứng khoán của Việt Nam cũng đã hình thành và đang trên đà phát triển Tất cả các hoạt động đó đều liên quan trực tiếp đến tỷ giá hối đoái
Tỷ Giá hối đoái là một trong những công cụ điều hành chính sách tiền tệ của một nước, và là công cụ không thể thiếu trong nên kinh tế thị trường Bản chất của tỷ giá hối đoái là sự so sánh về giá trị các đồng tiền khác nhau; có thể trực tiếp hay gián tiếp thông qua một đồng tiên “ chuẩn” nào đó phổ biến hiện nay là dồng Đô la mỹ (USD) Thực tế cho thấy, do trình độ phát triển kinh tế khác nhau cho nền cách sử dụng, quản lý công cụ tỷ giá ngoại hối của mỗi nước cũng khác nhau
Xuất phát từ sự nhảy cảm của tỷ giá hối đoái trong nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, đặc biệt trong hoạt động kinh tế đối ngoại cho nên tỷ giá không chỉ là công cụ của chính sách tài chính - tiền tệ sử dụng để “ mở hay đóng” van tiền lạm phát … mà còn là nhận biết nền kinh tế nước mình đang ở đâu, tiến độ tăng giảm như thế nào? nói cách khác, qua diễn biến giá cả thị trường, sức mua đối nội và đối ngoại của dồng tiền nước nước mình để các nhà chức trách có quyết sách hợp lý, kịp thời.
Trang 2MỤC LỤC
Trang 31. Cơ sở lí luận
1.1. Khái niệm tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là giá của đồng tiền này được tính theo một đồng tiền khác Tỷ giá hối đoái cũng được hiểu là tỉ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền của hai quốc gia khác nhau
Tỷ giá hối đoái xuất hiện và phát triển cùng với sự ra đời, phát triển của thương mại quốc tế, nó được giải thích bởi một hiện tượng đơn giản, hàng hoá không có biên giới quốc gia trong khi tiền chỉ được chấp nhận trên lãnh thổ quốc gia phát hành ra nó
Có rất nhiều quan điểm về khái niệm tỷ giá, thông thường theo từng trường phái lại có các khái niệm khác nhau Theo quan điểm cổ điển, tỷ giá là so sánh ngang giá vàng trong nội dung đồng tiền của mỗi nước, quan điểm này chỉ đúng ở chế độ tỷ giá cố định Sau đó, đánh dấu một bước phát triển mới trong nhận thức, các nhà kinh
tế học theo trường phái tự nhiên quan niệm tỷ giá là một con số dùng để chuyển đổi từ đồng tiền nước nay sang đồng tiền nước khác Theo các nhà kinh tế học hiện đại, tỷ giá được hiểu đơn giản là giá của đồng ngoại tệ trên thị trường ngoại hối Với cách định nghĩa này, tỷ giá tăng lên cũng có nghĩa là giá của đồng bản tệ giảm xuống Mặt khác tỷ giá cũng có thể được hiểu là giá của đồng nội tệ, nếu theo cách hiểu này thì tỷ giá tăng có nghĩa là giá của đồng nội tệ tăng
1.2. Chức năng của tỷ giá
Chức năng so sánh sức mua giữa các đồng tiền để thấy được năng suát lao động, giá thành, giá cả, hiệu quả trong kinh tế đối ngoại để từ đó có các biẹn pháp điều chỉnh kinh tế Thêm vào đó, tỷ giá còn có chức năng khuyến khích, Nhà nước hoàn toàn có thể điều tiết tỷ giá để khuyến khích các ngành, chủng loại hàng hoá tham gia hoạt động kinh tế đối ngoại Với chức năng thứ ba là chức năng phân phối, tỷ giá
có khả năng phân phối lại thu nhập giữa các ngành hàng tham gia hoạt động kinh tế đối ngoại, có khả năng phân phối lại thu nhập giữa các nước có quan hệ kinh tế với với nhau Ngoài ra, tỷ giá còn được sử dụng như là vũ khí cạnh tranh trong thương mại để giành giật thị trường
Trang 4Tỷ giá cân bằng trên thị trường
Tỷ giá hối đoái cân bằng là mức tỷ giá mà ở đó cung và cầu về nội tệ trên thị trường ngoại hối bằng nhau
Cầu về nội tệ được sinh ra từ hai nguồn: Lượng hàng hoá dịch vụ và tài sản trong nước mà người nước ngoài muốn mua; và hai là lượng vốn và các khoản chuyển nhượng vào trong nước Ví dụ, người Nhật muốn mua hàng hoá của Việt Nam hay muốn gửi tiền sang Việt Nam thì phải đổi tiền Yên lấy đồng Việt Nam, do đó tạo nên cầu về đồng Việt Nam trên thị trường ngoại hối
Cung nội tệ cũng được sinh ra từ hai nguồn: một là lượng hàng hoá, dịch vụ và tài sản nước ngoài mà người trong nước muốn mua; hai là lượng vốn và các khoản chuyển nhượng từ trong nước ra nước ngoài Người Việt Nam muốn nhập khẩu hàng hoá của Nhật thì phải bỏ tiền đồng của Việt Nam để mua lấy đồng Yên Nhật rồi mới
có thể nhập khẩu hàng hoá
Tỷ giá cân bằng trên thị trường chính là do sự tương tác giữa cung và cầu nội
tệ Khi tỷ giá tăng thì cung nội tệ tăng và cầu nội tệ giảm; tỷ giá giảm thì cung giảm, cầu tăng
Nguyên nhân có sự thay đổi là vì khi tỷ giá tăng, tức đồng ngoại tệ xuống giá hay đồng Việt Nam lên giá, thì giá cả hàng hoá trong nước trở nên đắt hơn với người nước ngoài làm cho họ giảm mua hàng hàng hoá nước ta
1.3. Tỷ giá hối đoái thực và danh nghĩa
Chính những chức năng đó đã nói lên tỷ giá là một công cụ quản lý kinh tế vĩ
mô quan trọng Vì vậy trong quá trình công nghiệp hoá của mình, hầu hết các nước đều tìm cách phá giá đồng tiền của mình để kích thích xuất khẩu và giảm động cơ tiêu dùng hàng hoá nhập khẩu Có thể nói với cùng một mức tỷ giá danh nghĩa mà tỷ lệ lạm phát của một quốc gia cao hơn tỷ lệ lạm phát của nước đối tác trong quan hệ kinh
tế thì hàng hoá của quốc gia đó có khả năng cạnh tranh kém hơn hàng hoá của nước đối tác Do đó, để so sánh khả năng cạnh tranh của các quốc gia người ta thường sử dụng tỷ giá hối đoái thực do đã loại trừ ảnh hưởng của lạm phát
Trang 5Tỷ giá hối đoái thực được xác định như sau:
Trong đó: eN là tỷ giá hối đoái trong nước
P là chỉ số giá trong nước
P* là chỉ số giá ở nước ngoài
PT là chỉ số giá hàng hoá có thể ngoại thương
PN là chỉ số giá hàng hoá không thể ngoại thương được
Sự khác biệt quan trọng giữa tỷ giá hối đoái thực và tỷ giá hối đoái danh nghĩa
là ở chỗ tỷ giá hối đoái danh nghĩa so sánh giá trị của các đồng tiền trong khi tỷ giá hối đoái thực so sánh giá của một rổ hàng hoá giữa thị trường trong nước và thị trường quốc tế Tỷ giá hối đoái thực là chỉ tiêu quan trọng để phân tích khả năng cạnh tranh của các nước xuất khẩu Đồng nghĩa với giá trị đồng nội tệ giảm là khả năng cạnh tranh của hàng hoá nước đó tăng lên và ngược lại
1.4. Chế độ tỷ giá
Thực chất của chế độ tỷ giá là việc các chính phủ đặt ra các điều kiện để xác định tỷ giá Cho đến nay đã có ba chế độ tỷ giá là: tỷ giá cố định, tỷ giá thả nổi và tỷ giá thả nổi có điều tiết
Trước hết, chế độ tỷ giá cố định được áp dụng phổ biến ở các quốc gia từ trước năm 1973 Đó là một chế độ mà tỷ giá được xác định thông qua ngang giá vàng Dưới chế độ này, nếu cầu đồng ngoại tệ vượt quá cung khi có sự thâm hụt trong cán cân thanh toán thì Ngân hàng trung ương sẽ tung ngoại tệ ra bán trên thị trường để tạo ra
sự cân bằng cung cầu ngoại tệ Động thái này có thể sẽ dẫn đến sự thiếu hụt trong lượng ngoại tệ dự trữ Tuy vậy, cũng không thể phủ nhận rằng chế độ tỷ giá cố định
có tác dụng rất tích cực trong việc thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế Chính sự biến động của tỷ giá là nguyên nhân làm cho kết quả kinh doanh trở nên không chắc chắn và làm phát sinh rủi ro trong các giao dịch quốc tế và kìm hãm tăng trưởng và phát triển doanh số của các giao dịch này
Chế độ tỷ giá cố định còn buộc các chính sách kinh tế vĩ mô phải có kỷ luật hơn Vì một khi các chính phủ đã cam kết duy trì tỷ giá cố định nghĩa là họ đã tự
Trang 6nguyện chấp hành kỷ luật trong chính sách kinh tế vĩ mô Khi chính sách kinh tế vĩ
mô tỏ ra lỏng lẻo sẽ làm tăng áp lực phá giá tiền tệ
Ngoài ra, để duy trì chế độ tỷ giá này phải tồn tại một mức độ hợp tác quốc tế nhất định giữa các quốc gia Các quốc gia thoả thuận cố định tỷ giá thường cũng thoả thuận những biện pháp đi kèm để thực hiện khi tỷ giá chịu áp lực tăng lên hay giảm xuống
Như đã nói ở trên, muốn giữ được tỷ giá cố định cần có một lượng dự trữ ngoại
tệ đáng kể để có thể can thiệp một cách kịp thời tránh những biến động quá lớn Tỷ lệ lạm phát không đồng đều do việc tăng cung ứng tiền tệ, bù đắp cho thâm hụt ngân sách đã làm cho việc duy trì tỷ giá cố định trở thành không thể Đó là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chế độ tỷ giá cố định và thay thế bởi chế độ tỷ giá thả nổi từ năm 1973
Chế độ tỷ giá thứ hai là chế độ tỷ giá thả nổi, ở chế độ này chính phủ hoàn toàn không can thiệp vào thị trường ngoại hối mà tỷ giá được tự do xác lập do quan hệ cung cầu thị trường Về mặt lợi thế, tỷ giá thả nổi nên nó luôn tự điều chỉnh để đảm bảo cân bằng thường xuyên trong cung cầu tiền tệ trên thị trường ngoại hối Trong trường hợp một quốc gia bị thâm hụt cán cân vãng lại, đồng nội tệ giảm giá, dẫn đến nhập khẩu giảm và xuất khẩu tăng cho đến khi nào cán cân trở lại cân bằng và ngược lại
Chế độ này còn cho phép chính phủ thực hiện chính sách tiền tệ độc lập theo quan điểm riêng Theo đó, các quốc gia có thể tự xác định mức lạm phát tuỳ theo từng hoàn cảnh cụ thể Những quốc gia ưu tiên mức lạm phát thấp được tự do áp đặt chính sách kinh tế vĩ mô thắt chặt sẽ qua thời kỳ nội tệ lên giá
Một điều đáng nói nữa là với tỷ giá thả nổi, nền kinh tế cách ly được những ảnh hưởng các cú sốc về giá cả từ bên ngoài Nếu giá nước ngoài tăng thì tỷ giá sẽ thay đổi phù hợp với điều kiện tỷ giá hối đoái ngang bằng sức mua, nghĩa là nội tệ sẽ lên giá để ngăn ngừa lạm phát ở mức không mong muốn Từ đó, tỷ giá thả nổi sẽ góp phần ổn định kinh tế, tỷ giá biến động lên xuống được trong khi đó giá cả lại rất khó có thể giảm được Khi nền kinh tế giảm sức cạnh tranh quốc tế thì tốt nhất là để mặc cho nội
tệ giảm giá hơn là cố định tỷ giá để rồi phải áp dụng các chính sách để điều chỉnh giá trị đồng tiền một cách tốn kém để khôi phục sức cạnh tranh quốc tế mà hậu quả của nó
là làm tăng tỷ lệ thất nghiệp, giảm tiền lương
Song thực tế đã chững minh rằng chế độ tỷ giá thả nổi thiếu sự điều tiết của nhà nước lại cộng thêm tình trạng đầu cơ tài chính đầy rủi ro nên tỷ giá đã biến động mạnh, phân phối các nguồn lực cho phát triển kinh tế nên hiệu quả không cao
Trang 7Mặc dù tỷ giá hiện nay được phép thay đổi hàng ngày để đáp ứng những lực lượng thị trường, nhưng các ngân hàng Trung Ương vẫn có những động thái nhằm ngăn chặn những thay đổi lớn của tỷ giá Điều này khiến các hãng và cá nhân được dễ dàng hơn trong việc mua hoặc bán hàng hoá ra ngoài để lập kế hoạch cho tương lai Hơn nữa, các nước có cán cân thanh toán dư thừa thường không muốn thấy đồng tiền của mình tăng giá quá nhiều vì nó làm cho hàng hoá của họ đắt hơn một cách tương đối so với hàng hoá trên thị trương nước ngoài và hàng hoá của nước ngoài rẻ hơn trên thị trường nội địa của họ Trái lại, các nước có cán cân thanh toán thâm hụt không muốn thấy đồng tiền nước mình giảm giá trị vì sẽ làm cho hàng hoá nước ngoài đắt hơn đối với người tiều dùng trong nước và có thể thúc đẩy lạm phát
Sau khi chế độ tỷ giá thả nổi sụp đổ, chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý là một sự thay thế tốt nhất, vừa tận dụng được ưu điểm vừa hạn chế những nhược điểm của hai chế độ tỷ giá trên Đó cũng là lý do mà hiện nay chế độ tỷ giá này được áp dụng phổ biến ở hầu hết các quốc gia
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá
2.1 Cán cân thanh toán quốc tế (Banlance of Payment)
Cán cân thanh toán quốc tế phản ảnh tình hình thu – chi thực tế bằng ngoại tệ của một số nước so với các nước khác trong quan hệ giao dịch quốc tế lẫn nhau, cán cân thanh toán quốc tế thể hiện vị thế tài chính của quốc gia bội chi hoặc bội thu:
Nếu cán cân thanh toán quốc tế bội chi: (chi > thu), thì quốc gia đó phải xuất ngoại tệ trả nợ, dẫn đến nhu cầu ngoại tệ gia tăng, cầu > cung, tỷ giá cho xu hướng tăng lên
Ngược lại nếu cán cân thanh toán quốc tế bội thu (thu > chi), nước ngoài trả nợ bằng ngoại tệ, dẫn đến cung ngoại tệ gia tăng, tỷ giá có xu hướng giảm xuống
Tuy nhiên sự biến động tăng giảm tỷ giá hối đối nói trên chỉ xảy ra trong điều kiện trường hợp môi trường kinh tế ổn định không xảy ra những biến cố kinh tế -chính trị trọng đại, vì những biến động và -chính trị, xã hội sẽ tác động nhanh chóng đến sự thay đổi của tỷ giá
Trang 82.2 Lãi suất (interest rate)
Phần lớn các nhà đầu tư với qui mô lớn trên thị trường như các tập đoàn, các công ty đa quốc gia có thể chuyển đổi đầu tư một cách dễ dàng giữa các đồng tiền khác nhau khi tỷ giá và lãi suất của các đồng tiền này có chiều hướng thay đổi vấn đề quan trọng được đặt ra là cần phải so sánh đối chiếu thu nhập đầu tư từ các đồng tiền khác nhau để có thể chắc chắn rằng họ có thể họ có thể thu được kết quả đầu tư tốt nhất Thông thường các nhà đầu tư có xu hướng đầu tư vào đồng tiền có lãi suất cao, được thực hiện bằng cách khá phổ biến là đi vay đồng tiền có lãi suất thấp chuyển đổi sang đồng tiền có lãi suát cao, sau đó đầu tư đồng tiền lãi suất cao bằng nhiều hình thức nhằm hưởng lợi nhuận do chênh lệch lãi suất của hai đồng tiền Điều này sẽ tạo nên sự thay đổi cung cầu ngoại tệ trên thị trường từ đó ảnh hưởng đến tỷ giá Vì thế nhà đầu tư ngày càng quan tâm so sánh giữa thu nhập do chênh lệch lãi suất mang lại phải lớn hơn sự gia tăng tỷ giá trong suốt thời gian đầu tư Đối chiếu, so sánh lãi suất của các đồng tiền khác nhau theo phương cách như trên là kỹ thuật quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư trên thị trường
Tuy nhiên trong suốt thời đầu tư hay cho vay… tỷ giá biến động tăng hoặc giảm sẽ tác động đến gia tăng thu nhập hoặc lỗ, nhà đầu tư bị rủi ro do sự gia tăng tỷ giá lớn hơn thu nhập do chênh lệch lãi suất của hai đồng tiền Thực tế, thông thường đồng tiền có lãi suất cao có khuynh hướng lên giá, bởi vì sẽ có nhiều nhà đầu tư mua đồng tiền có lãi suất cao để cho vay nhằm thu lãi nhiều hơn
Nếu lãi suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất ngoại tệ thì tài sản tài chính nội địa trở nên hấp dẫn các nhà đầu tư hơn tài sản tài chính nước ngoài Điều này khiến các nhà đầu tư phải tái cấu trúc lại danh mục đầu tư đưa đến hệ quả là dòng vốn chảy ra khỏi thị trường vốn nước ngoài và chảy vào thị trường vốn nội địa Sự thay đổi các dòng vốn đầu tư này sau đó cũng được chuyển dịch sang thị trường ngoại hối làm giảm cầu và tang cung ngoại tệ Kết quả là đồng tiền trong nước lên giá so với ngoại tệ, hay tỷ giá giảm
Trang 92.3 Ngang giá sức mua (Purchasing power Parrty – PPP)
Ngang giá sức mua chính là sự so sánh và đo lường sức mua tương đối của hai đồng tiền, được tính toán bằng cách so sánh giá cả của cùng một số mặt hàng ở hai nước khác nhau được tính theo đồng tiên của hai nước
Nếu cùng một số tiền ngang nhau người ta mua được một lượng hàng ngang nhau ở mọi nước thì như vậy mậu dịch quốc tế sẽ không có lãi và không kích thích ngoại thương phát triển, điều đó có nghĩa là, các đồng tiền đều ở trong tình trạng ngang nhau về sức mua
Vì vậy cần phải hiểu nền tảng của ngang giá sức mua được thể hiện: Nếu như một mặt hàng ở trong quốc gia này rẻ hơn thì xuất khẩu mặt hàng đó sang nước khác giá đắc hơn thì sẽ có lời hơn, và ngược lại nếu một mặt hàng trong quốc gia sản xuất đắt hơn so với thị trường nước ngoài thì tốt hơn hết nên nhập khầu mặt hàng đó sẽ có lợi nhuận hơn Vấn đề này là lý giải sự chênh lệch về giá cả của cùng một mặt hàng ở các nước khác nhau trên thế giới, nước nào có lợi thế kinh tế tốt hơn sẽ có điều kiện thuận lợi sản xuất ra hàng hóa với chi phí thấp, sẽ là cơ hội để các nước này đẩy mạnh xuất khẩu và ngược lại kích thích nhập khẩu khi mặt hàng đó sản xuất trong nước giá cao hơn Sự gia tăng thương mại mậu dịch thế giới dẫn đến thực hiện khoản thu chi ngoại tệ, từ đó làm ảnh hưởng đến cung cầu ngoại tệ trên thị trường và tác động đến tỷ giá hối đoái
2.4 Các điều kiện kinh tế (Economic conditions)
Về ngắn hạn, các hoạt động kinh doanh và đầu tư hàng ngày đều tác động trực
tiếp đến cung và cầu vốn đặc biệt là các khoản giao dịch với quy mô lớn trên thị trường Những yếu tố kinh tế chính trị tác động tức thời đã làm thay đổi đáng kể các khoảng cách chênh lệch giữa tỷ giá bán và tỷ giá Mua …Mức cung, cầu ngoại tệ biến động trên thị trường thay đổi sẽ ảnh hưởng đến các luồng thu chi ngoại tệ, từ đó tác động đến tỷ giá hối đoái
Về lâu dài, tỷ giá hối đoái bị ảnh hưởng bởi tình hình và xu hướng phát triển
kinh tế quốc gia cũng như các biến động trên thị trường thế giới, được thể hiện qua những yếu tố cơ bản như sau: cán cân thanh toán (Balance of payments); tăng trưởng
Trang 10kinh tế (Economic growth); tỷ lệ lạm phát (Rate of inflation); thất nghiệp (Unemployment); thuế suất (Rates of Taxation); cung và cầu vốn (supply and demand for capital)…Tất cả những nhân tố trên tạo nên áp lực cung và cầu vốn trên thị trường, vốn ngoại tệ sẽ chảy vào một nước khi các nhà đầu tư thấy có cơ hội kinh doanh và một số nước cần vốn và đưa ra các mức lãi suất hấp dẫn, còn các nước khác thừa tiền thì có khả năng đầu tư sang các nước khác, dẫn đến làm dịch chuyển luồng vốn đầu tư giữa các nước Tuy nhiên, các nhà đầu tư không phải luôn luôn lúc nào cũng đầu tư chỉ vì lãi suất cao mà còn phải tính đến các yếu tố chiến lược khác như: môi trường kinh tế - chính trị ổn định, chính sách thuế quan…
Nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nước cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ngoài thì nhập khẩu tăng trưởng nhanh hơn xuất khẩu Kết quả là cầu ngoại tệ tăng nhanh hơn cung ngoại tệ làm cho ngoại tệ lên giá so với nội tệ
2.5 Những yếu tố chính trị (political factors)
Sự biến động của tỷ giá trong ngắn hạn cũng như dài hạn đều bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chính trị, mứ độ bất ổn trong tình hình chính trị và các chính sách điều tiết của Nhà nước Có thể nói sự ổn định về chính trị được xem như là điều kiện hấp dẫn thu hút vốn đầu tư, và làm dịch chuyển vốn đầu tư nhanh chóng Tình hình chính trị bất ổn sẽ dẫn đến hiện tượng tháo chạy vốn, đảo ngược dòng vốn… là nguyên nhân nguy cơ khủng hoảng tài chính
2.6 Tình hình lạm phát trong và ngoài nước
Nếu tỷ lệ lạm phát trong nước cao hơn lạm phát ở nước ngoài, hàng hóa trong nước sẽ trở nên đắt đỏ hơn so với hang hóa nước ngoài Điều này dẫn đến sự gia tăng nhu cầu hàng hóa ngoại nhập và sụt giảm nhu cầu hàng hóa nội địa Sự thay đổi nhu cầu hàng hóa này sau đó được chuyển dịch sang thị trường ngoại hối làm tăng cầu và giảm cung ngoại tệ Kết quả là ngoại tệ lên giá so với nội tệ, hay tỷ giá gia tăng