Tài liệu trên đây cho người đọc hiểu biết thêm những kiến thúc về sinh sản gia súc,những giai đoạn sinh sản những bệnh thường gặp và hường điều trị cho gia súc.Tài liệu này nhằm mục đích thúc đẩy phát triển mạnh hơn nữa những kiến thức thú y cho cộng đồng những người yêu động vật
Trang 1Chương V HIỆN TƯỢNG CÓ THAI
1 Khái niệm
Có thai là hiện tượng sinh lý đặc biệt của cơ thể cái, nó được bắt đầu từ khi thụ tinh cho đến khi đẻ xong.
Hiện tượng có thai được chia ra làm các loại chủ yếu: -Loại chửa đẻ lần đầu
-Loại chửa đẻ lần sau
-Loại đơn thai
-Loại đa thai
Trang 22 Thời gian có thai
Trong thực tế, sự có thai của gia súc được tính ngay từ ngày phối lần cuối.
Thời gian có thai phụ thuộc vào nhiều điều kiện và yếu
tố khác nhau như loài, giống gia súc, tuổi gia súc mẹ, lứa đẻ, trạng thái dinh dưỡng, tình trạng sức khỏe, tình trạng cơ quan sinh dục, số lượng bào thai,…
Trang 3Bảng thời gian có thai của một số loài gia súc
Loài gia súc Thời gian có thai trung trình Khoảng dao động
Trang 43 Số lượng bào thai
Số lượng bào thai của gia súc phụ thuộc vào nhiều điều kiện và yếu tố khác nhau:
-Loài giống: Lợn thường đẻ trên dưới 10 con/lứa, trâu, bò, ngựa đẻ 1 con, dê cừu 3-5 con/lứa,…
- Tuổi và lứa đẻ: Lứa đẻ đầu thường ít con hơn những lứa đẻ sau.
- Nếu gia súc được nuôi dưỡng, chăm sóc, khai thác, làm việc hợp lý, phối giống đúng thời điểm, thì số lượng bào thai cũng được tăng lên.
- Sức khỏe gia súc nói chung và tình trạng cơ quan sinh sản bình thường thì số lượng bào thai cũng được tăng lên.
…………
Trang 54 Quá trình phát triển của phôi thai
Quá trình phát triển của bào thai được chia ra làm 3 thời kỳ:
-Thời kỳ trứng:
Từ khi trứng được thụ tinh đến khi hình thành phôi nang – túi phôi Trung bình 8-10 ngày sau khi thụ tinh.
-Thời kỳ phôi thai:
Là thời kỳ hình thành nhau thai, hình thành các tế bào,
cơ quan hệ thống của cơ thể Ở GS lớn thì từ ngày 11 - 40
-Thời kỳ bào thai:
Được tính từ cuối giai đoạn phôi thai – sinh đẻ
Trang 65 Sự phát triển của bào thai trong thời gian gia súc mang thai 5.1 Bào thai của bò
-Tháng thứ nhất:
Phôi thai 3 tuần đã có nếp nhăn ở miệng, má, mắt Đến ngày
25 chân trước đã nhú ra và đã có vết hai chân sau Màng nhung chưa có nhung mao và màng niệu chỉ có tính chất đệm Thai dài 0,1 – 1,1 cm
- Tháng thứ 2:
Phôi thai đã hình thành giống hình dáng con bò Bụng thai
to và bắt đầu hình thành và phát triển các khí quan Thai đã xuất hiện đầu vú nhú ra Ngày 40 thai dài 2 cm, ngày 50: 4,5cm, hai tháng thai dài 6,7 cm.
-Tháng thứ 3:
Phân biệt được thai đực, cái Thai 9 tuần dài 8cm, 11 tuần dài 11cm, cuối tháng thứ 3 dài 11-14 cm
Trang 8-Tháng thứ 9:
Toàn thân mọc lông dầy đặc Xương sọ đã cứng Bào thai đã
có răng, có con tới 8-12 răng Thai dài 80-100cm.
6 Nhau thai
Nhau thai được hình thành từ phía mẹ và bào thai Quá trình trao đổi chất giữa mẹ và thai được tiến hành qua hệ thống nhau thai.
Nhau thai được chia thành:
-Nhau thai mẹ
Là một dạng thay đổi đặc biệt của niêm mạc tử cung mẹ khi có thai.
-Nhau thai con
Là sự tổng hợp toàn bộ các màng nhau thai con và các
Trang 9nhung mao của màng nhung.
Hệ thống nhau thai có ý nghĩa sinh học và giữ vai trò vô cùng quan trọng, thông qua hệ thống nhau thai cơ thể mẹ cung cấp các chất dinh dưỡng để đảo bảo cho quá trình phát triển của bào thai Mặt khác, các sản phẩm của quá trình trao đổi chất của bào thai cũng được đưa về cơ thể mẹ thông qua hệ thống nhau thai để cơ thể mẹ đưa ra ngoài cơ thể.
Tuy nhiên, một số vi rus, độc tố vi khuẩn,…cũng có thể
từ cơ thể mẹ đi vào bào thai thông qua hệ thống nhau thai gây nên quá trình bệnh lý cho bào thai.
Ngoài tác dụng trao đổi chất thì chính hệ thống nhau thai cũng có chức năng như một tuyến nội tiết Nó đảm bảo cho bào thai phát triển trong tử cung và quá trình sinh đẻ được diễn ra bình thường.
Trang 106.1 Các màng nhau thai
Gồm túi noãn hoàng, màng ối, màng niệu và màng nhung (màng đệm, màng mạch quản)
6.1.1 Túi noãn hoàng
Thời kỳ đầu của quá trình phát triển phôi thai, túi noãn hoàng được hình thành và trên chúng có hệ thống mạch máu Phôi thai dựa vào túi noãn hoàng để lấy dĩnh dưỡng, O2 ,…từ cơ thể mẹ thông qua niêm mạc tử cung.
Khi các màng nhau thai khác được hình thành và phát triển thì túi noãn hoàng dần dần teo đi.
Trang 116.1.2 Màng ối
Màng ối là màng trong cùng và bao quanh bào thai Màng ối rất mỏng, trong suốt và qua màng này có thể nhìn thấy bào thai bên trong Giữa bào thai và màng ối dần dần chứa đầy dịch ối Kỳ đầu dịch ối ít, kỳ giữa của thai kỳ lượng dịch ối tăng lên, lúc này bào thai hoạt động tự do trong túi màng ối
Trong dịch ối chứa nhiều chất như albumin, đường, mỡ, nước tiểu, Ca, P, Na, Kreatin, dịch nhày, hormone,…
Kích tố nhau thai có trong nước ối có tác dụng kích thích tử cung co bóp.
Dịch ối có tác dụng bảo vệ ngăn không cho các tổ chức xung quanh dính vào da của bào thai, tránh hiện tượng chèn ép của dạ dày, ruột gia súc mẹ lên bào thai và những tác động cơ giới từ ngoài thành bụng cơ thể gia súc mẹ.
Trang 14Nhau thai lợn
Trang 20Khi gia súc sinh đẻ, dưới tác dụng co bóp của tử cung,
đè ép lên túi màng ối và dịch ối làm cho màng ối được lồi ra
cổ tử cung, có tác dụng kích thích cổ tử cung mở rộng Sau khi màng ối bị vỡ, dịch ối được thải ra ngoài có tác dụng làm trơn đường sinh dục thuận lợi cho quá trình sổ thai.
và có thành phần gồm axit uric, urê, muối, glucose, kích tố nhau thai.
Trang 216.1.4 Màng nhung (màng đệm, màng mạch quản)
Màng nhung bao phủ kín hết mặt ngoài màng niệu, phía trong màng nhung dính sát với màng niệu và được gọi là màng niệu nhung, phía ngoài thì tiếp xúc với niêm mạc tử cung gia súc mẹ Ở loài nhai lại thì màng này dễ dàng tách ra khỏi màng niệu, nhưng ở ngựa thì hai màng này dính lại với nhau.
Trên mặt ngoài của màng nhung ở thời gian có thai kỳ đầu được hình thành rất nhiều nhung mao, sau đó nhung mao phát triển mạnh, từ dạng màng nhung nguyên thủy thành màng nhung của nhau thai con, những nhung mao của màng nhung
ăn sâu xuống những chỗ lõm của tử cung gia súc mẹ Các loài gia súc khác nhau thì sự phân bố nhung mao trên màng nhung
và mối liên hệ giữa nhau thai con và niêm mạc tử cung cũng khác nhau Ở ngựa và lợn thì nhung mao được phân bố đều khắp trên toàn bộ bề mặt của màng nhung Niêm mạc tử cung
Trang 22và những nhung mao trên màng nhung liên hệ với nhau theo hình thức tiếp xúc.
Còn ở gia súc nhai lại, những nhung mao được tập trung lại thành từng đám trên mặt màng nhung, hình thành những núm nhau con Tương ứng như vậy, trên niêm mạc tử cung cũng được hình thành những núm nhau mẹ Nhung mao của núm nhau con được chui vào bên trong núm nhau mẹ nên người ta gọi mối liên hệ giữa núm nhau con và nhau mẹ theo hình thức cài răng lược.
Trang 237 Những biến đổi sinh lý chủ yếu của cơ thể gia súc khi có thai
Cùng với quá trình phát triển của bào thai, nhau thai, thể vàng thì cơ quan sinh dục nói riêng và toàn bộ cơ thể gia súc mẹ nói chung xuất hiện nhiều biến đổi sinh lý khác nhau.
Những biến đổi đó tạo điều kiện cần thiết để bào thai được hình thành và phát triển trong tử cung, quá trình sinh đẻ được diễn ra bình thường.
7.1 Biến đổi toàn thân cơ thể gia súc mẹ khi có thai
Khi gia súc có thai, hormone của thể vàng và nhau thai tiết
ra làm thay đổi cơ năng hoạt động của một số tuyến nội tiết khác
Gia súc mẹ thường ăn uống, trao đổi chất,…được tăng cường ở giai đoạn đầu mang thai nên gia súc mẹ thường béo hơn, lông mượt hơn.
Nhưng có thai ở thời kỳ cuối, bào thai phát triển mạnh
Trang 24và nhanh chóng, nhu cầu cung cấp dinh dưỡng cao, nhất là trong điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng kém thì cơ thể mẹ sẽ gầy.
Trong giai đoạn sau, nếu khẩu phần ăn của mẹ không bảo đảm đầy đủ các chất đạm, khoáng, vitamin, vi lượng, thì không những bào thai không phát triển bình thường mà sức khỏe gia súc mẹ cũng bị giảm sút Trường hợp thiếu Ca, P nghiêm trọng thì gia súc mẹ sẽ bị bại liệt trước khi đẻ, khung xoang chậu bị lệch hay biến dạng, dẫn tới đẻ khó,….
7.2 Sự biến đổi của cơ quan sinh dục
7.2.1 Sự biến đổi buồng trứng
Khi gia súc có thai, kích thước hai buồng trứng to nhỏ không đều nhau Buồng trứng bên sừng tử cung có thai thường
Trang 25lớn hơn buồng trứng bên kia, trên bề mặt buồng trứng xuất hiện nhiều thể vàng Loại gia súc đơn thai số lượng thể vàng thường tương ứng với số lượng bào thai, loài đa thai thì số lượng thể vàng thường lớn hơn số lượng bào thai vì một số trứng rụng nhưng không được thụ tinh.
7.2.2 Sự biến đổi của tử cung
Khi gia súc có thai, toàn bộ tử cung thay đổi về cấu tạo, tính chất, vị trí, khối lượng, thể tích,….
Tuần hoàn tử cung được tăng cường, lượng máu cung cấp đến cho tử cung rất nhiều nên niêm mạc phát triển dầy lên, các tuyến được phát triển mạnh và tăng cường tiết dịch, niêm mạc tử cung hình thành nhau mẹ.Khối lượng tử cung gấp 5-20 lần so với khi không có thai, kích thước và thể tích của nó tăng hàng chục lần,….
Cổ tử cung khép kín hoàn toàn, niêm mạc và các nếp
Trang 26phát triển dày lên, các tế bào thượng bì đơn tiết niêm dịch đặc, có tác dụng “đóng nút” cổ tử cung.
7.2.3 Những thay đổi hormone sinh dục
Bào thai được phát triển bình thường dưới tác dụng điều hòa của các hormone do buồng trứng, nhau thai và tuyến yên.
- Nửa thời kỳ đầu có thai (với bò từ tháng – tháng 5)
Nhau thai được hình thành và phát triển, tiết ra Prolan B, có tác dụng giống LH của thùy trước tuyến yên – kích thích thể vàng phát triển và tiết Progesterone làm cho niêm mạc tử cung phát triển dầy thêm Ngoài ra, nhau thai còn tiết Progesterone và Folliculin (oestron) có tác dụng ức chế thùy trước
Trang 27tuyến yên không tiết FSH, vì vậy trong buồng trứng không có quá trình phát triển, trưởng thành của noãn bao, không có hiện tượng rụng trứng trong suốt thời kỳ gia súc cái mang thai.
Nhau thai ngựa ngoài việc tiết Progesteron thì còn có cả hormone sinh dục cái và cả Gonadotropin, lượng Gonadotropin đạt cực đại khi ngựa mang thai được 80-90 ngày sau đó giảm đi.
- Nửa sau thời kỳ có thai (với bò là từ tháng thứ 6 trở đi)
Hàm lượng Progesterone giảm dần trong máu, ở cuối thời kỳ có thai hàm lượng hormone này giảm rất thấp trong máu Ngược lại, hàm lượng hormone Follinculin lại tăng dần trong máu có tác dụng co thắt tử cung, thuận lợi cho quá trình sinh đẻ.
Trang 288 Vị trí, chiều, hướng và tư thế của bào thai trong tử cung
8.1 Vị trí
Vị trí làm tổ của hợp tử và phát triển thành bào thai trong tử cung ở mỗi loài gia súc là khác nhau:
- Ngựa: Bào thai nằm giữa thân và gốc sừng tử cung
- Trâu, bò: Thai nằm ở sừng tử cung (thường là sừng tử cung phải), nếu có hai thai thì mỗi thai nằm ở một bên sừng tử cung.
- Gia súc đa thai: Thai nằm trong hai sừng tử cung.
8.2 Chiều của thai
Chiều của thai chỉ mối quan hệ giữa xương sống của thai và xương sống của mẹ, gồm:
8.2.1 Thai dọc
Xương sống của thai song song với xương sống của mẹ
Trang 29Thai dọc được chia thành hai loại:
-Thai dọc đầu: Đầu và hai chân trước của thai ra trước
Trang 30Thai dọc đầu sấp
Trang 31-Thai dọc đuôi: Đuôi và hai chân sau của thai ra ngoài trước
Trang 328.2.2 Thai ngang
Xương sống của thai và xương sống của mẹ chéo nhau, gồm: -Thai ngang hông: Hông của thai có hướng ra ngoài trước
- Thai ngang lưng: Lưng của thai có hướng ra ngoài trước
- Thai ngang bụng: Bụng của thai có hướng ra ngoài trước.
Thai ngang là trường hợp đẻ khó cần can thiệp kịp thời.
Trang 33Thai ngang
Trang 348.2.3 Thai vuông thước thợ
Là trường hợp xương sống của thai và mẹ tạo thành góc vuông
- Thai vuông thước thợ hông: Hông của thai có hướng
Trang 35Thai vuông thước thợ
Trang 368.3 Hướng của thai
Hướng của thai chỉ mối quan hệ giữa lưng của thai và lưng của mẹ.
Lưng của thai quay sang một bên hông của mẹ
8.4 Tư thế của thai
Tư thế của thai chỉ mối quan hệ giữa các bộ phận: đầu,
cổ, đuôi và thân của thai Bình thường đầu, cổ thẳng và chân duỗi thẳng.
Trang 37Trong thời gian có thai kỳ cuối, hướng và tư thế của thai trong tử cung phải đạt những yêu cầu sau:
- Chiều dọc đầu hay dọc đuôi.
Trang 38+ Hai chân trước thò ra mà móng ngửa: Thai dọc đầu ngửa
+ Hai chân sau thò ra mà móng sấp: Thai dọc đuôi ngửa + Hai chân sau thò ra mà móng ngửa: Thai dọc đuôi sấp.
Trang 39Trường hợp không có thai tìm nguyên nhân tại sao: do phối giống, tình trạng cơ quan sinh dục, hiện tượng động dục, rụng trứng, thời gian và phương pháp phối giống, phẩm chất tinh dịch,….trên cơ sở đó tìm ra được biện pháp thích hợp, phục hồi và nâng cao khả năng sinh sản của gia súc
đề phòng vô sinh.
Trang 402 Phương pháp chẩn đoán
2.1 Phương pháp chẩn đoán lâm sàng
2.1.1 Phương pháp chẩn đoán bên ngoài
Phương pháp này chủ yếu áp dụng với tiểu gia súc, ở đại gia súc ít áp dụng phương pháp này, nó chỉ cho kết quả tương đối chính xác khi gia súc có thai vào tháng thứ 5 trở đi.
-Phương pháp quan sát bên ngoài
Phát hiện sự thay đổi mức độ cân bằng và đối xứng ở hai bên thành bụng, xuất hiện phù ở tứ chi, thành bụng, tuyến sữa phát triển to lên, sự máy động của bào thai dựa theo sự rung động của thành bụng,…
-Phương pháp sờ nắn
Dùng lòng bàn tay ấn vào phía trong và phía dưới thành bụng (bò bên phải, ngựa bên trái) Nếu gia súc có thai thì có
Trang 41thể cảm nhận được sự rung động của bào thai qua thành bụng.
Với lợn: Chẩn đoán bằng cách tìm và sờ bào thai qua một bên thành bụng ở hai hàng vú sau cùng, phương pháp này có thể phát hiện được bào thai khi lợn chửa ở cuối tháng thứ 3,….
-Phương pháp gõ, nghe:
Chủ yếu áp dụng với đại gia súc để phát hiện sự hoạt động của tim thai.
-Chẩn đoán bằng máy siêu âm
2.1.2 Phương pháp chẩn đoán bên trong
Đối tượng áp dụng là đại gia súc, gồm hai phương pháp:
-Phương pháp chẩn đoán qua âm đạo:
Phát hiện sự thay đổi trong âm đạo và cổ tử cung qua quan sát màu sắc, nếp nhăn niêm mạc, đặc tính chất tiết của niêm mạc
âm đạo và cổ tử cung Tuy nhiên, phương pháp này ít được áp dụng trong thực tế sản xuất do độ chính xác thấp và
Trang 42dễ nhầm lẫn: khi buồng trứng bị thể vàng tồn lưu thì niêm mạc
âm đạo biến đổi gần giống có thai, âm đạo bị viêm khi gia súc
có thai thì có biến đổi như khi gia súc không có thai, khi gia súc có thai mà xuất hiện động dục giả thì lòng tử cung hơi mở khi chẩn đoán rất dễ nhầm với không thai
Ngoài ra, khám qua âm đạo không biết được tuổi thai và nếu thao tác không đúng có thể gây sẩy thai, viêm âm đạo,…
-Phương pháp chẩn đoán qua trực tràng:
Phương pháp này được áp dụng rộng rãi và chủ yếu trong thực tế sản xuất để chẩn đoán có thai của trâu, bò và ngựa.
Qua phương pháp này xác định được đặc điểm, tính chất, trạng thái và sự thay đổi của: cổ, thân, sừng tử cung, buồng trứng, núm nhau, động mạch giữa tử cung, độ lớn và vị trí của bào thai,…thông qua trực tràng.
Trang 43Phương pháp này không những chẩn đoán được gia súc
có thai hay không mà còn biết được tuổi của bào thai.
2.2 Phương pháp chẩn đoán trong phòng thí nghiệm
Phương pháp này dựa trên sự thay đổi tính chất sinh hóa của các chất tiết như sữa, niêm dịch âm đạo, hay sự xuất hiện các loại hormone sinh dục trong máu và nước tiểu gia súc,….
Phương pháp này ít được áp dụng trong thực tiễn sản xuất vì nó đòi hỏi phải tiến hành nhiều phản ứng, áp dụng khó khăn, mức độ chính xác lại không cao.
Trang 44Chương VI QUÁ TRÌNH SINH ĐẺ
I Khái niệm
Gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy giống loài, khi bào thai phát triển đầy đủ, gia súc mẹ đẩy thai ra ngoài cùng với nhau thai, dịch thai gọi là quá trình đẻ.
II Cơ chế quá trình đẻ
1.Học thuyết áp lực
Thai sau khi sinh trưởng và phát triển đầy đủ, kích thước lớn sẽ tiếp giáp chặt với tử cung gây kích thích thần kinh ở tử cung, cổ tử cung gây hưng phấn và gây ra phản