1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÁC LÝ THUYẾT VỀ KINH TẾ QUỐC TẾ

34 2,1K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Lý Thuyết Về Kinh Tế Quốc Tế
Tác giả Paul Robin Krugman
Trường học Đại học Princeton
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Đánh giá
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 599,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Paul Robin Krugman ( sinh ngày 28 tháng 2 năm 1953) là một nhà kinh tế Mỹ , giáo sư kinh tế và vấn đề quốc tế tại Woodrow Wilson School of Public và vấn đề quốc tế tại Đại học Princeton , Centenary giáo sư tại trường London Kinh tế , và một chuyên mục cho tờ The New York Times

Trang 1

MỤC LỤC

LÝ THUYẾT THƯƠNG MẠI MỚI 2

NEW TRADE THEORY (PAUL KRUGMAN) 2

-I Tiểu sử : 2

II Hoàn cảnh ra đời: 2

III Tư tưởng chủ đạo: 3

IV Một vài ví dụ thực tế minh họa cho lý thuyết thương mại mới: 4

LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH QUỐC GIA 5

-I HOÀN CẢNH RA ĐỜI LÝ THUYẾT 5

-II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT 6

-III NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CẠNH TRANH QUỐC GIA 6

-IV MÔ HÌNH KIM CƯƠNG VỀ CẠNH TRANH QUỐC GIA 8

-V MICHAEL EUGENE PORTER 16

-VI VIỆT NAM VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH QUỐC GIA 16

LÝ THUYẾT KHÔNG GIAN TIỀN TỆ TỐI ƯU 21

(R.MUNDELL VÀ R.McKINNON) 21

I/ Tiểu sử : 21

II/ Nội dung: 22

III/ Sự vận dụng vào thực tế: 22

IV/ Đánh giá: 23

-Các Dự Báo Về Tác Động Của Đồng Tiền Chung Châu Âu

Với Thị Trường Tài Chính Quốc Tế 23

Các Kết Quả Và Cột Mốc 28

CHỦ NGHĨA CHIẾT TRUNG TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ 29

-I Một số lý thuyết về đầu tư quốc tế: 29

-II Chủ nghĩa triết chung trong hoạt động đầu tư: 32

ĐÁNH GIÁ CÁC LÝ THUYẾT VỀ KINH TẾ QUỐC TẾ 34

1.Những thành công: 34

2.Những vấn đề cần tiếp tục giải quyết: 34

Trang 2

-LÝ THUYẾT THƯƠNG MẠI MỚI NEW TRADE THEORY (PAUL KRUGMAN)

I Tiểu sử :

Paul Robin Krugman ( sinh ngày 28 tháng 2 năm

1953) là một nhà kinh tế Mỹ , giáo sư kinh tế vàvấn đề quốc tế tại Woodrow Wilson School ofPublic và vấn đề quốc tế tại Đại học Princeton ,Centenary giáo sư tại trường London Kinh tế , vàmột chuyên mục cho tờ The New York Times Paul

Krugman tốt nghiệp đại học Yale năm 1974 và

hoàn thành luận án Tiến sĩ về tài chính quốc tế tạiĐại học MIT danh tiếng (Học viện Công nghệMassachusetts) chỉ ba năm sau đấy, ở tuổi 24 Ông

là tác giả của 20 cuốn sách và hơn 200 bài báochuyên ngành

Paul Krugman nhận giải Nobel Kinh tế do Viện Hàn lâm Khoa học Thụy Điển trao tặng tạitrường Đại học Princeton, Mỹ, vào ngày 13/10/2008

Theo thông cáo, Paul Krugman được trao giải cho “sự phân tích của ông về các hình mẫu thươngmại và vị trí của hoạt động kinh tế” Cụ thể hơn, giải thưởng được trao cho những đóng góp củaPaul Krugman trong hai lĩnh vực thương mại quốc tế và địa lý kinh tế

II Hoàn cảnh ra đời:

Trong một thời gian dài từ đầu thế kỷ 19 cho tới những năm 1970, lý thuyết thương mại quốc tếđược xây dựng dựa trên ý tưởng của nhà kinh tế học người Anh David Ricardo về lợi thế sosánh.Theo Ricardo, các quốc gia sở dĩ trao đổi mua bán hàng hóa vì họ có những lợi thế so sánhkhác nhau và thương mại quốc tế diễn ra trên cơ sở sự khác biệt về lợi thế so sánh này

Sang thế kỷ 20, vào những năm 1920 - 1930, lý thuyết của Ricardo được hai nhà kinh tế họcngười Thụy Điển Eli Heckscher và Bertil Ohlin mở rộng và mô hình hóa

Mô hình Heckscher-Ohlin cho rằng thương mại quốc tế diễn ra trên cơ sở điều kiện khác biệtgiữa các quốc gia về nhân tố sản xuất: Một số nước dư thừa lao động nhưng lại thiếu vốn, trong khimột số nước khác lại nhiều vốn nhưng thiếu lao động Kết quả là những nước sẽ chuyên môn hóavào sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng mà nước đó có lợi thế tương đối và nhập khẩu những mặthàng kém lợi thế Chẳng hạn, Việt Nam có nhiều lao động nhưng thiếu vốn và công nghệ nên có lợithế tương đối trong sản xuất các mặt hàng cần nhiều lao động như quần áo, giày dép, nông sản,trong khi Mỹ có lợi thế tương đối trong sản xuất các mặt hàng công nghệ cao và cần nhiều vốn nhưmáy tính, Ipod, phim Hollywood…

Và quan hệ thương mại diễn ra trên cơ sở này, Việt Nam xuất khẩu quần áo, giầy dép, nông sảnsang Mỹ và nhập khẩu máy tính, Ipod, phim Hollywood… từ Mỹ

Trang 3

Mô hình Heckscher-Ohlin ngự trị tư duy kinh tế quốc tế trong suốt nửa thế kỉ, và giải thích đượchầu hết các mối quan hệ thương mại quốc tế Thế nhưng càng ngày, người ta càng thấy có nhữngđặc điểm trong thương mại quốc tế mà mô hình này không thể giải thích.

Một trong những đặc điểm đó là quan hệ thương mại nội ngành (intra-industry trade) Ví dụ, Mỹxuất khẩu xe hơi sang Nhật và châu Âu nhưng cũng nhập khẩu xe hơi từ Nhật và châu Âu Theo lýthuyết lợi thế so sánh thì trao đổi thương mại trong ngành này không thể xảy ra vì với một mặt hàng,chỉ có một chiều thương mại từ nơi có lợi thế sang nơi không có lợi thế sản xuất mặt hàng đó, nhưnước chỉ chảy từ chỗ cao xuống chỗ thấp, mà thôi Nhưng thực tế lại không diễn ra như vậy

Lý thuyết lợi thế so sánh cũng không giải thích được tại sao một số nền kinh tế như Đài Loan vàHàn Quốc lại thành công trong việc chuyển từ xuất khẩu quần áo, giày dép vào những năm 1960sang xuất khẩu máy tính, ôtô đến Mỹ và châu Âu như ngày nay

Việc này gây nhiều bối rối cho các nhà kinh tế học và đã có một số mô hình ra đời nhằm giảithích cho quan hệ thương mại này

Năm 1976, trong một lần dự tiết giảng của Robert Solow, một nhà kinh tế từng được giải Nobel,Paul Krugman được biết tới khái niệm cạnh tranh độc quyền - là sự cạnh tranh xảy ra khi những nhàsản xuất có được vị thế độc quyền với những nhãn hiệu hay sản phẩm nhất định

Ý tưởng vận dụng khái niệm cạnh tranh độc quyền trong thương mại quốc tế chợt nảy ra trong

đầu Paul Krugman Sau này ông kể lại: “Chỉ trong vài giờ sau đấy, tôi biết ngay tôi đã có chìa khóa để cầm trong tay cả sự nghiệp của mình Tôi còn nhớ rõ tôi thức cả đêm trong phấn khích”

Thế nhưng ý tưởng của ông không dễ dàng được chấp nhận, bài viết của ông bị nhiều tạp chíchuyên ngành có uy tín từ chối và vấp phải sự thờ ơ của đồng nghiệp Mãi tới năm 1979, Krugmanmới có thể đăng bài viết của mình trên Tạp chí Kinh tế Quốc tế Bài viết ngắn, chỉ 10 trang nhưngngay lập tức gây được sự chú ý đặc biệt trong ngành và Paul Krugman trở thành cha đẻ trường phái

“Lý thuyết thương mại mới” khi mới 26 tuổi

III Tư tưởng chủ đạo:

Lý thuyết này giải thích quan hệ thương mại nội ngành dựa trên giả định về lợi thế nhờ quy mô,theo đó việc sản xuất trên quy mô lớn làm giảm chi phí sản xuất Lý thuyết này được xây dựngnhằm đưa ra cách giải thích khác về cơ cấu và mô thức của nền thương mại thế giới.Nó được xâydựng trên các lập luận sau:

- Quá trình chuyên môn hóa sản xuất và lợi thế kinh tế theo quy mô sẽ mang lại các khoản lợiích cho các bên tham gia

- Các doanh nghiệp đầu tiên gia nhập vào một thị trường nào đó có thể tạo ra những rào cảnnhất định đối với các doanh nghiệp gia nhập sau đó

- Chính phủ của các nước có thể có vai trò hỗ trợ có hiệu quả cho các công ty của nước mìnhkhi tham gia vào thị trường thế giới

Trang 4

Lý thuyết thương mại mới đưa ra khái niệm lợi thế của người đi trước Đây là khái niệm chỉ ranhững lợi thế về kinh tế và lợi thế về mặt chiến lược đạt được của các công ty do chúng là người đầutiên gia nhập gia nhập vào một ngành công nghiệp nhất định Theo lý thuyết này,khi một công tymới gia nhập vào một ngành sản xuất nào đó thì công ty thường gặp phải các loại chi phí cố định làrào cản đối với sự gia nhập như chi phí nghiên cứu và phát triển,chi phí xây dựng nhà xưởng,chi phímua sắm máy móc,thiết bị… Quá trình chuyên môn hóa sẽ làm cho công ty tăng được khối lượngsản phẩm sản xuất ra và việc này làm cho chi phí cố định có tăng lên đôi chút,nhưng do sản lượngtăng lên rất lớn nên chi phí đối với mỗi đơn vị sản phẩm giảm xuống Đây là điều kiện để công tygiảm giá đối với khách hàng mà vẫn đảm bảo lợi nhuận Đối với những công ty mới thâm nhập vàothị trường,để có thể tồn tại được,chúng buộc phải sản xuất với mức sản lượng tương tự để có thểcạnh tranh về giá Những ưu thế của công ty đến trước có được do chủ động đưa ra các loại rào cảnđối với các đối thủ cạnh tranh thâm nhập thị trường muộn hơn được gọi là lợi thế của người đi trước.

Do là người đầu tiên gia nhập thị trường nên các công ty này thường được chính phủ ủng hộ dướinhiều hình thức Hơn nữa,để giành lợi thế đến trước so với các đối thủ khác,các chính phủ cũng ýthức được sự cố gắng và những nỗ lực có tính chất chủ động của mình,nhằm tạo cho các doanhnghiệp đi tiên phong phải được hưởng những ưu đãi để hình thành và phát triển mạnh các lợi thế.Theo cách xem xét đó,những cố gắng của doanh nghiệp phải kết hợp với sự hỗ trợ của chính phủmột cách nhịp nhàng

kể cả khi phải chịu sự cạnh tranh giữa các nhãn hiệu khác

Mô hình của Paul Krugman giải thích tại sao thương mại quốc tế vẫn có thể diễn ra giữa nhữngnước có lợi thế tương đối về công nghệ và nhân tố sản xuất tương tự nhau Ví dụ Mỹ và châu Âucùng có lợi thế tương đối về vốn và công nghệ nhưng Mỹ vẫn xuất khẩu xe Ford và nhập xe BMW

từ châu Âu Sở dĩ điều này xảy ra vì sự ưa thích tính đa dạng nhãn hiệu của người tiêu dùng chophép cả hai hãng Ford và BMW có lợi thế tương đối trong sản xuất những nhãn hiệu của mình

IV Một vài ví dụ thực tế minh họa cho lý thuyết thương mại mới:

1 Cụ thể ở Việt Nam,ta sẽ xét trong thị trường viễn thông Trong thị trường viễn thông ViệtNam,các doanh nghiệp đi tiên phong trong lĩnh vực này là Vinaphone,Mobiphone và Viettel Đây là

3 ông lớn của làng viễn thông Việt Nam Bắt đầu tham gia vào thị trường viễn thông vào năm1993,thời điểm này cước sử dụng dịch vụ điện thoại di động còn rất cao- vì thời điểm này số lượngkhách hang còn thấp,người dân VN còn khá dè dặt với hình thức mới mẻ này Hai anh emVinaphone và Mobiphone cùng được ra đời từ tập đoàn viễn thông quốc gia VNPT được hậu thuẫnrất lớn từ chính phủ,cùng với Viettel Telecom-tập đoàn viễn thông quân đội Từ những năm 2000,số

Trang 5

lượng người dùng dịch vụ di động tăng lên đáng kể,cùng với đó là sự vào cuộc mạnh mẽ của cácmạng di động nhỏ như S-phone,HT-mobile,Vietnammobile,EVN telecom,Beeline…các ông lớn bắtđầu sử dụng lợi thế kinh tế của mình-đó là công nghệ thiết bị sẵn có,số lượng khách hàng lớn ( sảnlượng lớn) để dựng nên các rào cản thâm nhập với các công ty “đến sau” bằng các hình thức giảmgiá cước liên tục,khuyến mãi lớn…cùng với các dịch vụ gia tăng khác dựa trên cơ sở hạ tầng sẵn có

mà vẫn đảm bảo lợi nhuận cao Còn các mạng nhỏ liên tục gặp khó khăn lớn và gần như không thểcạnh tranh nổi Các mạng nhỏ đến sau với nguồn khách hàng hạn hẹp,đầu tư ban đầu lớn thì khôngthể hạ giá thành sản phẩm được

Đây là một ví dụ rất điển hình cho lý thuyết người đi trước của Krugman

Ngoài ra,chúng ta có thể thấy hiện nay có nhiều quốc gia đủ khả năng thành lập các nhà máy sảnxuất máy bay,nhưng thực tế chỉ có một số hãng máy bay có thể sản xuất như Boeing,Airbus Đâycũng là do tính kinh tế của quy mô bởi sản xuất máy bay cần đầu tư công nghệ cao,nghiên cứu cẩnthận và nhà xưởng hiện đại Đây là một rào cản lớn đối với các hãng muốn gia nhập thị trường sảnxuất máy bay

2 Về lý thuyết người tiêu dùng ưa thích sự đa dạng sản phẩm,trên thực tế chúng ta cũng gặp rấtnhiều Ví dụ như Việt Nam là nước đứng thứ 2 về xuất khẩu gạo( chỉ sau Thái Lan),nhưng ngườidân Việt Nam vẫn lựa chọn các loại gạo như gạo Thái,gạo Nhật…

Một ví dụ khác đó là Đức với ngành công nghiệp sản xuất ôtô mạnh với các hãng nhưWolwagen,BMV,Mercedes nhưng họ vẫn nhập khẩu các loại ôtô từ Mỹ như Rolroys,Ford,,,hay từnhật như Toyota,Mazda…

Biểu đồ thị phần của các công ty viễn thông Việt Nam tính đến quý I/2009

Trang 6

LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH QUỐC GIA

( National competitive advantage)

Sự cạnh tranh trở nên ngày càng khốc liệt giữa các quốc gia Các rào cản thương mại bị dỡ

bỏ và các thị trường được mở cửa ra bên ngoài Các quốc gia chuyển từ sự tập trung của họ

từ chính trị quốc tế sang nâng cao đời sống người dân

Sự cải cách kinh tế vĩ mô là cần thiết nhưng chưa đủ Cũng quan trọng không kém, thậmchí là quan trọng hơn, là nền tảng vi mô của phát triển, bắt nguồn từ chiến lược của cácdoanh nghiệp và trong các thể chế, hạ tầng chính sách  Làm gì sau quá trình điều chỉnh và

Sự nhầm lẫn giữa lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh quốc gia

Với chính phủ, sự phân biệt giữa tự do và can thiệp đã lỗi tời Chính phủ, đầu tiên vàquan trọng nhất, phải nỗ lực tạo ra một môi trường hỗ trợ nâng cao năng suất Hàm ý mỗichính phủ cần có vai trò tối thiểu trong một số lĩnh vực và có vai trò chủ động trong nhữnglĩnh vực khác

- Michael Poter đã nghiên cứu nhiều nước khác nhau và trong mỗi nước, ông xem xét kỹlưỡng cạnh tranh trong nhiều ngành công nghiệp Nghiên cứu dựa trên chỉ một vài quốc giahay nhóm nhỏ các ngành có rủi ro nhầm lẫn những cái cá biệt đối với những nguyên lýtổng quát Ông đã chọn ra mười nước để nghiên cứu với nhiều đặc trưng và thể chế khácnhau Bao gồm: Đan Mạch, Đức, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Thụy Điển, Thụy Sĩ,Anh Quốc, Hoa Kỳ

- Công trình của ông bao gồm các phần chính:

o Phần 1: Trình bày tổng quan lý thuyết, cung cấp những nguyên lý của chiến lượccạnh tranh

o Phần 2: phân tích lịch sử phát triển của bốn ngành công nghiệp tiêu biểu được lựachọn từ nhiều ngành công nghiệp đã nghiên cứu

o Phần 3: Áp dụng các lý thuyết vào các quốc gia

o Phần 4: phát triển một số những hàm ý của lý thuyết đối với chiến lược của công ty

và chính sách của chính phủ

o Phần 5: minh họa việc sử dụng lý thuyết để xác định những vấn đề sẽ điều chỉnh sựphát triển trong tương lại của mỗi nền kinh tế quốc gia

Trang 7

III NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CẠNH TRANH QUỐC GIA

1 Sức cạnh tranh là gì?

- Một số người coi sức cạnh tranh quốc gia là một hiện tượng kinh tế vĩ mô liên quan tới cácbiến số như tỉ giá hối đoái, lãi suất và mức thâm hụt ngân sách chính phủ Nhiều nước vẫnhưởng mức sống tăng lên gnanh chóng bất chấp thâm hụt ngân sách

- Một số nước coi sức cạnh tranh là một hàm số của lao động giá rẻ và dồi dào Việt Nam làmột ví dụ điển hình cho quan điểm này Các nước như Đức, Thụy Sĩ và Thụy Điển trở nêngiàu có bất chấp mức lương trả cho công nhân cao và thiếu nguồn lao động trong muộnthời gian dài

- Còn một số quan điểm cho rằng sức cạnh tranh phụ thuộc vào việc sở hữu những nguyêntài nguyên thiên nhiên dồi dào

- Gần đây, nhiều người cho rằng chính sách của chính phủ có tác động lớn nhất tới sức cạnhtranh

- Sức cạnh tranh quốc gia là những khác biệt trong phương pháp quản lý

- Không một sự giải thích nào về sức cạnh tranh là hoàn toàn thỏa đáng

2 Những vấn đề về cạnh tranh

- Tại sao một số nhóm xã hội, tổ chức kinh tế và quốc gia lại giàu có và thịnh vượng?

- Tại sao một số quốc gia gặp nhiều bất lợi về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiênlại có thể phát triển thịnh vượng? Tại sao một số quốc gia khác có nhiều điều kiện tự nhiênthuận lợi lại tụt hậu? Tại sao Nhật Bản lại có năng lực cạnh tranh trong ngành điện tự vàthiết bị tự động hóa, Ý trong ngành may mặc và thời trang còn Mỹ lại có lợi thế mạnh vềmáy tính và phần mềm, điện ảnh? Làm sao chúng ta có thẻ giải thích được vì sao nước Đứclại trở thành đất nước của những công ty sản xuất máy in, xe hơi sang trọng và hóa chấthàng đầu thế giới? Vì sao đất nước Thụy Sĩ nhỏ bé lại là nơi đặt trụ sở của các doanhnghiệp dược phẩm, chocolate và kinh doanh hàng đầu?

- Lý thuyết vĩ mô truyền thống về cạnh tranh và thương mại trên nguồn tài nguyên thiênnhiên và lao động giá rẻ hay sự can thiệp của chính phủ dường như không thể lý giải thấuđáo những câu hỏi trên

- Các lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và David Ricardo ngày nay càng tỏ rakhông đầy đủ để giải quyết các vấn đề Những thay đổi về bản chất của cạnh tranh quốc tế,trong đó có sự nở rộ của các tập đoàn đa quốc gia không chỉ xuất khẩu mà còn cạnh tranhquốc tế thông qua các doanh nghiệp con ở nước ngoài đã làm suy yếu cách lý giải truyềnthống vì sao và nơi nào một quốc gia sẽ xuất khẩu Lý thuyết về lợi thế so sánh vấp phảinghịch lý Leontief

- Doanh nghiệp từ các nước đạt được những thành công toàn cầu khác nhau trong nhữngngành cụ thể Môi trường ở một số nước dường như thúc đẩy sự tiến bộ hơn ở các nướckhác

- Lợi thế cạnh tranh quốc gia hay những đặc trưng quốc gia nuôi dưỡng lợi thế cạnh tranhtrong những lĩnh vực cụ thể và những hàm ý cho cả doanh nghiệp và chính phủ

Trang 8

3 Sự thay đổi trong cạnh tranh:

o Trong nhiều ngành công nghiệp, việc tiếp cận với các yếu tố sản xuất dồi dào không

có vài trò quan trọng bằng công nghệ và kỹ năng sử dụng chúng hiệu quả Ví dụ, laođộng giá rẻ ở Việt Nam là một lợi thế, chừng nào khoa học công nghệ còn gặp khókhăn với những ngành sản xuất thủ công Tuy nhiên, tới một thời điểm, công nghệsản xuất được cải tiến, điều đó làm giảm đi lợi thế về lao động giá rẻ của Việt Nam

- Vốn yếu tố sản xuất tương đương:

o Hầu hết các hoạt động thương mại trên thế giới diễn ra ở những quốc gia tiên tiếnvới vốn yếu tố sản xuất tương đương

o Nhiều quốc gia cũng đã có những cơ sở hạ tầng cần thiết cho việc cạnh tranh tronghầu hết các ngành công nghiệp Những lợi thế về nhân tố sản xuất thuận lợi ở cácquốc gia tiên tiến đã dần bị thu hẹp

- Toàn cầu hóa:

o Các doanh nghiệp cạnh tranh với những chiến lược toàn cầu Họ hình thành các liênminh với những doanh nghiệp từ các quốc gia khác để có thể tiếp cận với điểmmạnh của những doanh nghiệp đó

o Sự toàn cầu hóa các ngành công nghiệp tách rời daonh nghiệp ra khỏi vốn yếu tố sảnxuất của riêng một quốc gia Các yếu tố sản xuất như nguyên liệu thô, phụ kiện đềutương tự nhau, có sẵn trên toàn cầu

o Chính địa điểm và cách sử dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất có ý nghĩa quyết địnhhơn bản thân các yếu tố trong thành công quốc tế

 Các nước đang phát triển thường rơi vào vấn đề này

IV MÔ HÌNH KIM CƯƠNG VỀ CẠNH TRANH QUỐC GIA

Câu trả lời cho những vấn đề ở trên nằm trong bốn đặc tính tổng quát của một quốc gia,hình thành nên môi trường trong đó các doanh nghiệp trong nước khi cạnh tranh, và cóthể làm tăng hoặc giảm lợi thế cạnh tranh

- Thứ nhất, điều kiện về nhân tổ sản xuất: vị trí của quốc gia trong các nhân tổ cần thiết đểcạnh tranh trong nghành nghề đó Ví dụ: lao động có tay nghê hay cơ sở hạ tầng

Trang 9

- Thứ hai, điều kiện về nhu cầu thị trường: tính chất của như cầu trong nước về sản phẩmhay dịch vụ của ngành nghề đó.

- Thứ ba, các ngành nghề bổ trợ và có liên quan: sự có mặt hay thiếu vắng tại quốc gia đónhững ngành nghề cung ứng và ngành nghề có liên quan có khả năng cạnh tranh quốc tế

- Thứ tư, chiến lược, có cấu và tính thi đua của doanh nghiệp: điều kiện tại quốc gia đóquyết định việc thành lập, tổ chức, quản lý doanh nghiệp như thế nào, và bản chất của sựcạnh tranh trong nước

Mô hình kim cương

Ngoài ra còn có hai nhân tố có thể ảnh hưởng đến hệ thống quốc gia và cũng cần thiếttrong mô hình, đó là cơ hội và nhà nước

Trang 10

- Cơ hội: là những điều kiện phát triển ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp (thường là bênngoài sự quản lý của nhà nước của quốc gia đang xét), ví dụ như những phát minh thuầntúy, những đột phá về kỹ thuật căn bản, chiến tranh

- Nhà nước Chính quyền các cấp có thể cải tiến hay giảm thiểu lợi thế quốc gia Có thể thấyvai trò này rõ nhất bằng cách kiểm tra xem các chính sách ảnh hưởng như thế nào đếnmỗi nhân tố quyết định

1 Nhân tố sản xuất

Mỗi quốc gia đều sở hữu nhân tố sản xuất Đây là nhân tổ cần thiết cho cạnh tranh trongbất kỳ một ngành nghề nào Tuy nhiên mỗi quốc gia có một đặc điểm khác nhau, cónguồn dự trữ nhân tố sản xuất khác nhau Điều đó tạo nên lợi thế cạnh tranh của mỗiquốc gia

Trong một quốc gia, những nhân tổ quan trọng nhất đói với lợi thế cạnh tranh trong hầuhết các ngành nghề, đặc biệt là những ngành nghề cần thiết cho việc tăng năng suất laođộng trong các nền kinh tế tiên tiến, không phải được thừa hưởng mà phải được tạo ra,thong qua các quá trình khác nhau giữa các quốc gia và các ngành nghề

Nhân tổ sản xuất có thể chia làm 5 loại:

- Tài nguyên nhân lực : số lượng, tay nghề, chi phí nhân sự (bao gồm quản lý) tính cả giờlàm việc chuẩn và qui tắc đạo đức trong khi làm việc Nguồn nhân lực có thể được chia rathành nhiều loại, như kỹ thuật viên chế tạo công cụ, kỹ sư điện có bằng Tiến sỹ, thảochương viên viết các chương trình ứng dụng, v.v…

- Tài nguyên vật ch ấ t : sự phong phú, chất lượng, khả năng sử dụng, và chi phí về đất đai,nước, khoáng sản hay sản lượng gỗ tiềm năng, nguồn thuỷ điện, ngư trường đánh bắt cá

và các nhân tố vật chất khác

- Tài nguyên kiến th ức: kiến thức về thị trường, kỹ thuật và khoa học liên quan đến hànghóa và dịch vụ Tài nguyên kiến thức đến từ các trường đại học, các viện nghiên cứuthống kê của chính phủ, các tài liệu khoa học và thương mại, các bảng báo cáo và cơ sở

dữ liệu nghiên cứu thị trường, các hiệp hội thương mại và các nguồn khác

- Nguồn vốn : tiền vốn và chi chi phí vốn có sẵn để tài trợ cho các ngành nghề Vốn khôngphải đồng nhất mà hình thành từ nhiều hình thức khác nhau như những khoản nợ khôngbảo đảm (unsecured debts), những khoản nợ bảo đảm (secured debts), các cổ phiếu vàchứng khoán "nguy cơ" (rủi ro cao, lãi cao), và đầu tư vốn (venture capital) Tổng nguồnvốn trong một đất nước, và những hình thức triển khai vốn, tuỳ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệmcủa quốc gia và cơ cấu thị trường vốn của quốc gia đó, cả hai đều thay đổi tuỳ theo mỗiquốc gia Sự toàn cầu hoá thị trường vốn và lượng vốn lớn luân chuyển giữa các quốc giađang dần làm các điều kiện của các quốc gia ngày càng giống nhau hơn Tuy nhiên,những mặt khác nhau căn bản vẫn tồn tại và có thể tiếp tục tồn tại mãi mãi

- Cơ sở hạ t ầ ng : chủng loại, chất lượng và chi phí sử dụng cơ sở hạ tầng cũng ảnh hưởngđến sự cạnh tranh, bao gồm hệ thống giao thông, hệ thống liên lạc, phân phát thư và hàng

Trang 11

hóa, thanh toán và chuyển các quỹ, tổ chức y tế v.v… Cơ sở hạ tầng cũng bao gồm hệthống nhà ở, các tổ chức văn hoá ảnh hưởng đến chất lượng của cuộc sống và mức độquốc gia đó thu hút người dân đến sinh sống và làm việc.

Vấn đề tạo ra các nhân tố

Chúng ta được thừa hưởng các nhân tố đó hay không? Đó là yếu tố rất quan trọng đểtạo ra lợi thế cạnh tranh kéo dài hay ở mức độ cao Nguồn tài nguyên thiên nhiên, địa thể lànhững nhân tố có sẵn, và tất nhiên chúng ta được thừa hưởng Tuy nhiên, các yếu tố như hệthống viễn thong của một quốc gia, số các nhà khoa học nghiên cứu cơ bản, hệ thống giáo,các trường dạy nghề, viện nghiên cứu mới là yếu tố quyết định Chuẩn mực nhân tố của thếgiới ngày càng tăng, do vậy cần phải được đầu tư một cách lâu dài, liên tục

Các quốc gia thành công trong các lĩnh vực ngành nghề mà họ đặc biệt chú trọng tạo

ra và quan trọng nhất là nâng cao những nhân tố cần thiết Vì vậy, các quốc gia sẽ có thểcạnh tranh trong các lĩnh vực mà họ sở hữu những cơ chế chất lượng cao cho việc tạo racác nhân tố đặc trưng

Các nhân tố tiên tiến và nhân tố đặc trưng đóng vai trò rất quan trọng cho lợi thếcạnh tranh và chính các doanh nghiệp ở vào vị trí tốt nhất để biết xem lợi thế nào tốt choviệc cạnh tranh Các đầu tư của chính phủ nhằm tạo ra nhân tố thường tập trung vào nhân tố

cơ bản hay nhân tố khái quát Ví dụ như, đầu tư vào việc nghiên cứu căn bản, nếu đặt nặngvấn đề khả năng gieo mầm mống sự đổi mới vào thương mại, thì sẽ không dẫn đến lợi thếcạnh tranh nếu không được chuyển giao, hay phát triển xa hơn bởi các ngành nghề

Những nổ lực của chính phủ tạo ra những nhân tố tiên tiến và nhân tố đặc trưng sẽgặp thất bại nếu họ không kết hợp hai điều đó vào ngành nghề bởi vì các cơ quan chínhphủ, ai cũng đều biết là chậm chạp và không có khả năng nhận ra những lĩnh vực mới haynhu cầu chuyên sâu của một ngành nghề nào đó Tiền đầu tư trực tiếp từ các công ty, tổchức thương mại, và từ cá nhân trong việc tạo ra nhân tố, cũng như các đầu tư nhà nướchay cá nhân, là đặc tính của những ngành nghề quốc gia thành công trên thế giới

Ví dụ như ở Nhật, tạo ra nhân tố có khuynh hướng thường do cá nhân, trongkhi ở Thuỵ Điển, tạo ra nhân tố thường do vai trò của công chúng hơn Ở Ý, thôngthường tạo ra nhân tố thông qua việc chuyển giao kiến thức trong các thế hệ gia đình.Thường thấy trong một quốc gia, đặc tính của cơ chế tổ chức việc tạo ra nhân tố, thôngthường một phần là chức năng của các giá trị xã hội, chính trị và lịch sử, theo một cáchnào đó, thường giới hạn phạm vi các ngành nghề mà trong đó quốc gia có thể cạnhtranh

Lợi thế cạnh tranh có thể đến từ một vài bất lợi về nhân tố

Trong các cuộc cạnh tranh thực sự, sự phong phú hay chi phí thấp của một nhân tốthường dẫn đến sự triển khai kém hiệu quả Trái lại, nhân tố bất lợi trong các nhân tố cơbản, ví dụ như thiếu hụt về tiền lương, thiếu nguyên vật liệu trong nước, hay thời tiết khắcnghiệt, lại thúc đẩy việc đổi mới Sự gia tăng ổn định về tỷ giá hối đoái giữa các quốc giacũng có thể có cùng hiệu quả Kết quả là lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp trở nên

Trang 12

nâng cao và bền vững hơn Một bất lợi theo khái niệm nghĩa hẹp của cạnh tranh có thể trởthành một lợi thế trong một khái niệm năng động hơn.

2 Nhu cầu thị trường

Trong một ngành nghề, nhân tố quyết định quan trọng thứ hai về lợi thế cạnh tranhquốc gia là những điều kiện về nhu cầu nội địa về sản phẩm hay dịch vụ của ngành nghề

đó

Có ba đặc điểm chính quan trọng của nhu cầu nội địa: cấu thành nhu cầu nội địa, kích cỡ vàcách thức phát triển nhu cầu nội địa, và cơ chế mà sở thích nội địa của mỗi quốc giachuyển giao ra thị trường nước ngoài Sự quan trọng của hai điều sau còn tuỳ thuộc vàođiều trước Chất lượng của nhu cầu nội địa quan trọng hơn số lượng của nhu cầu nội địatrong việc quyết định lợi thế cạnh tranh

Cấu trúc phân đoạn của nhu cầu:

Đầu tiên là cấu trúc phân đoạn của nhu cầu nội địa hay sự phân phối nhu cầu đối với nhiềuhình thức khác nhau Trong hầu hết các ngành nghề, người ta đều phân loại nhu cầu Ví dụ,trong các máy bay thương mại, người ta tạo ra nhiều loại máy bay kích thước và cấu trúckhác nhau thích hợp với các hãng hàng không có cấu trúc lộ trình khác nhau (differing routestructure) và các tình huống khác nhau Vài phân đoạn mang tính chất toàn cầu hơn so vớicác phân đoạn khác

Kích thước và cách thức phát triển của nhu cầu nội địa:

Trong nhiều ngành, kích cỡ của nhu cầu nội địa rất được chú ý Kích cõ như cầu nội địa làquan trọng nhất đối với lợi thế cạnh tranh tỏng nước ở những ngành nghề nhất định, nổi bật

là đòi hỏi điều kiện R&D cao, những lợi thế về quy mô quan trọng trong sản xuất, bước nhảyvọt lớn trong kỹ thuật,

3 Lợi thế cạnh tranh trong các ngành cung ứng

Sự hiện diện của các ngành cung ứng cạnh tranh trên thế giới trong một nước tạo lợi thếcho các ngành nghề chuyển động xuôi dòng theo nhiều cách khác nhau Đầu tiên, thông qua

sự tiếp cận hiệu quả, sớm, nhanh chóng và đôi khi ưu đãi các đầu vào có chi phí tốt nhất Ví

dụ, Ý đã liên tiếp dẫn đầu thế giới ngành nữ trang, vàng bạc Một phần bởi vì các doanhnghiệp khác của Ý sản xuất hai phần ba máy chế tạo nữ trang cho thế giới và cũng đứng đầuthế giới về các thiết bị tái chế các kim loại quý

Sự có mặt của một ngành nghề có liên quan thành công trên thê giới trong một nước tạo

cơ hội cho dòng chảy thông tin và trao đổi kỹ thuật Quan hệ kinh doanh qua lại và văn hóatương đồng giúp những sự trao đối như vậy diễn ra dễ dàng hơn so với doanh nghiệp nướcngoài

Trang 13

Các doanh nghiệp nội địa trong những ngành nghề có liên quan thường chia sẻ nhữnghoạt động và đôi lúc dần dần trở thành cách đồng minh.

Trong một ngành công nghiệp, nhu cầu các sản phẩm và dịch vụ bổ sung cũng giúpcác doanh nghiệp thành công trên thế giới Ví dụ, việc bán thiết bị vi tính của Mỹ ranước ngoài đã dẫn đến nhu cầu ở nước ngoài đối với phụ kiện máy tính, phần mềm máytính cũng như các dịch vụ dữ liệu của Mỹ Các ngành nghề dịch vụ kéo theo thông quaviệc bán các sản phẩm được sản xuất liên kết nhau từ quốc gia này và ngược lại

Trong tất cả các ngành cung ứng, một nước không cần phải có lợi thế quốc gia thì mới

có thể đạt được lợi thế cạnh tranh trong một ngành công nghiệp Nếu đầu vào không thúcđẩy đổi mới hoặc trong quá trình sản xuất các sản phẩm và các quá trình có thể được nhập từnước ngoài Nhiều kỹ thuật, nếu chỉ ứng dụng rất hẹp trong một lĩnh vực, thì cũng đượcnhập từ nước ngoài Ví dụ, trong rất nhiều ngành khác nhau của Thụy Sĩ và Đức, nhưmáy trợ thính và máy chế biến chất dẻo, các doanh nghiệp đã thành công trong việc thiếtlập các chi nhánh ở Mỹ để xâm nhập phần nào vào lĩnh vực điện tử và phần mềm Ở đây,kiến thức rộng của họ về công nghiệp tiêu dùng (user industry) quan trọng hơn nếu thiếuchuyên môn trong các kỹ thuật cung ứng Việc bù đắp phần thiếu của một ngành nghềcung ứng Sẽ bù đắp được thiếu hụt của ngành nghề cung ứng quan trọng nếu quốc gia cócông nghiệp tiêu dùng phát triển cao và được các khách hàng thích sử dụng sản phẩmcông nghiệp cung ứng

4 Yếu tố, chiến lược và đối thủ của công ty:

Yếu tố quyết định thứ tư của lợi thế cạnh tranh quốc gia trong một ngành nghề là bốicảnh mà doanh nghiệp được tạo dựng, tổ chức và quản lý cũng như tính chất của đối thủcạnh tranh trong nước Mục tiêu, chiến lược, và cách thức tổ chức doanh nghiệp trong cácngành nghề biến đổi đa dạng giữa các quốc gia Lợi thế quốc gia có được là nhờ họ biết lựachọn các yếu tố trên và kết hợp với nguồn lợi thế cạnh tranh trong một ngành nghề đặc thùnào đó Mô hình cấu trúc của đối thủ địa phương cũng có một vai trò to lớn trong tiến trìnhcải cách và triển vọng cuối cùng cho sự thành công mang tính quốc tế Cách thức doanhnghiệp được quản lý và cách thức họ chọn để cạnh tranh bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh quốcgia Các doanh nghiệp trong một quốc gia không thể hiện được tính đồng nhất nhưng bốicảnh chung của toàn bộ quốc gia thì lại rất đáng chú ý

Ví dụ ở Ý, rất nhiều các doanh nghiệp cạnh tranh quốc tế thành công là những doanhnghiệp vừa và nhỏ của tư nhân và được điều hành như một gia đình nhiều thế hệ Ở Đức, bộphận lãnh đạo cao nhất của các doanh nghiệp là những cá nhân có kiến thức nền tảng về kỹthuật, và các doanh nghiệp tổ chức và quản trị theo kiểu phân chia cấp bậc Nỗ lực để giảithích tại sao một hệ thống quản trị quốc gia lại đạt đến một trình độ cao là một quá trình lâudài Sự chú ý được hướng vào Mỹ trong khi những thập niên tám mươi nó được hướng vàoNhật.Không có một hệ thống quản trị nào lại thích hợp cho tòan cầu Các quốc gia sẽ cókhuynh hướng thành công trong những ngành nghề mà việc thực hiên quản trị và cách thức

tổ chức (được ưu đãi bởi môi trường quốc gia) phù hợp với nguồn lợi thế cạnh tranh của cácngành nghề Chẳng hạn như các doanh nghiệp của Ý là những kẻ đi đầu trên thế giới trong

Trang 14

một loạt các ngành nghề phân nhỏ (như đèn chiếu sáng, đồ gia dụng, giày dép, sợi len, vàmáy đóng gói) trong đó lợi thế kinh tế do quy mô vừa khiêm nhường vừa có thể bị qua mặtbởi ngay cả các doanh nghiệp liên kết lỏng lẻo Các doanh nghiệp Ý hầu hết cạnh tranh bằngchiến lược tập trung vào nhân công, tránh các sản phẩm được tiêu chuẩn hóa và vận hành ởmột địa thế thuận lợi nho nhỏ nào đó với cách thức đặc thù của họ hay bằng sự đa dạng vềsản phẩm theo ý thích của khách hàng Do thường được thống trị bởi một cá nhân riêng lẻ,các doanh nghiệp này phát triển nhanh chóng những sản phẩm mới và có thể thích ứng với

sự thay đổi của thị trường với một khả năng thích ứng đáng kinh ngạc

Mục tiêu

Hơn nữa, sự khác biệt rõ nét tồn tại giữa các quốc gia là mục tiêu mà doanh nghiệp tìmkiếm để đạt được cũng như động lực thúc đẩy của công nhân và giám đốc doanh nghiệp đó.Các quốc gia sẽ thành công trong các ngành nghề có mục tiêu và động lực đồng nhất vớinguồn lợi thế cạnh tranh Trong rất nhiều ngành nghề, đầu tư lâu dài là một thành phần củalợi thế cạnh tranh có thể đạt được và duy trì Rộng hơn, các quốc gia thành công trong nhữngngành nghề có được sự nỗ lực và cam kết gắn bó đặc biệt

Cạnh tranh nội địa.

Người ta thường cho rằng cạnh tranh nội địa là một sự lãng phí bởi vì nó dẫn đến việccác doanh nghiệp hải nỗ lực nhiều hơn và ngăn cản họ đạt được lợi thế quy mô kinh tế lớn.Tuy nhiên khi nhìn vào 10 quốc gia nghiên cứu, chúng ta thấy rằng, những quốc gia ở vị tríhàng đầu trên thế giới cũng có những đối thủ cạnh tranh rất mạnh trong nội địa, thậm chỉtrong các quốc gia nhỏ như Thụ Điển và Thụy Sỹ Nhật có thể là một ví dụ minh họa điểmhình cho cạnh tranh nội địa

Cạnh tranh nội địa cũng giống như các hình thức cạnh tranh khác sẽ tạo ra áp lựccho các doanh nghiệp để cải tiến và đổi mới Những đối thủ trong nước thúc đẩy lẫnnhau giảm giá thành, nâng cao chất lượng và dịch vụ, tạo ra nhiều sản phẩm mới vàquy trình sản xuất mới Trong khi các doanh nghiệp không thể duy trì lợi thế trong mộtthời gian dài thì áp lực từ đối thủ sẽ giúp kích thích đổi mới vì họ lo sợ bị tụt hậu nên

họ phải tiến lên phía trước

Sự cạnh tranh nội địa gay gắt không chỉ tăng thêm lợi thế trong nước mà còn tạo

áp lực cho các doanh nghiệp nội địa mở rộng buôn bán với nước ngoài để phát triển.Đặc biệt khi có được lợi thế do quy mô kinh tế rộng lớn, những đối thủ địa phươngbuộc phải phóng tầm nhìn ra thị trường bên ngoài để theo đuổi hiệu quả lớn hơn và lợinhuận nhiều hơn

Tính khốc liệt trong cạnh tranh nội địa sẽ giúp phá vỡ thái độ dựa dẫm vào cácnhân tố thuận lợi cơ bản vì các đối thủ nội địa khác cũng có Không có sự cạnh tranhnội địa, một doanh nghiệp với các thuận lợi cơ bản sẽ dựa vào các thuận lợi này và tệhơn là sẽ khai thác các thuận lợi này một cách kém hiệu quả

Quá trình cạnh tranh nội địa đồng thời cũng tạo ra thuận lợi cho toàn bộ nền sảnxuất của quốc gia Các đối thủ cạnh tranh nội địa cố gắng tiếp cận chiến lược theonhững cách khác nhau và tạo ra một hệ thống các sản phẩm và dịch vụ trên nhiều phân

Trang 15

khu Điều này kích thích đổi mới, và sự phong phú về hàng hoá và cách tiếp cận này sẽchống lại sự xâm nhập của các doanh nghiệp nước ngoài Thuận lợi của nền côngnghiệp quốc gia sẽ được duy trì lâu dài hơn bởi việc loại được sự xâm nhập của một sốđối thủ nước ngoài.

5 Vai trò của thời cơ:

Các nhân tố quyết định của lợi thế quốc gia định hình hoàn cảnh cạnh tranh trong một

số ngành nghề Tuy nhiên, lịch sử đã chứng minh rằng trong sự thành bại của doanh nghiệpcũng có vai trò của thời cơ Thời cơ là những biến cố không liên quan gì đến bối cảnh quốcgia và thường nằm ngoài tầm kiểm soát của các doanh nghiệp thậm chí của cả chính phủnước đó Một số nhân tố điển hình tác động đến lợi thế cạnh tranh trong kinh doanh là:

- Các phát minh, sáng chế đơn thuần

- Sự gián đoạn lớn về khoa học kĩ thuật (ví dụ trong các ngành công nghệ sinh học,

vi điện tử)

- Gián đoạn chi phí đầu vào chẳng hạn như khủng hoảng về dầu hỏa

- Biến động lớn trên thị trường tài chính thế giới hay tỉ giá hối đoái

- Nhu cầu của thị trường thế giới hay khu vực tăng đột biến

- Chính sách đối ngoại của chính phủ các nước

đề ra hạn đoạn đối với hàng may mặc xuất xứ từ Hongkong và Nhật trong khi đó chính sáchcấm nhập khẩu hàng Trung Quốc vào Mĩ trong thời kì chiến tranh lạnh đã giúp ngành làmtóc giả Hàn Quốc phát đạt và giành ngôi vị quán quân thế giới

6 Vai trò của nhà nước:

Sau khi điểm qua các nhân tố định hình vị thế cạnh tranh của một quốc gia, ta điđến nhân tố cuối cùng: nhà nước Nhà nước là một yếu tố quan trọng cần xem xét khinói về tính cạnh tranh quốc tế Nhiều người xem đây là yếu tố sống còn, nếu không nói

là quan trọng nhất, tác động tới cạnh tranh quốc tế thời nay Đường lối chính sáchcủa Nhật và Hàn quốc gắn liền với thành công của các doanh nghiệp hai nước này

Nhà nước có thể tác động lên bốn nhân tố quyết định kia (hoặc ngược lại) theo

Trang 16

hướng tích cực lẫn tiêu cực như trong một số ví dụ đã nêu ở phần trước Trợ cấp từchính phủ, các chính sách về thị trường vốn tư bản, các chính sách về kinh tế, giáodục vv… đều ảnh hưởng tới điều kiện nhân tố Chính phủ còn có vai trò định hình nhucầu thị trường trong nước ở một cấp độ nào đó Các cơ quan chính phủ thiết lập tiêuchuẩn về hàng hoá địa phương hay luật định ban hành ảnh hưởng tới nhu cầu củangười tiêu dùng Chính phủ cũng đồng thời là khách hàng lớn đối với các ngành sảnxuất trong nước như hàng hoá dành cho quốc phòng, thiết bị viễn thông, máy baydành cho hàng không quốc gia Với vai trò này, nhà nước có thể hỗ trợ nhưng cũng

có thể làm phương hại đến nền kinh tế nước mình

Nhà nước có thể định hình môi trường hoạt động của các ngành nghề hỗ trợ hoặc

có liên quan bằng nhiều cách khác nhau như kiểm soát truyền thông quảng cáo haycác ngành dịch vụ hỗ trợ khác Đường lối nhà nước còn ảnh hưởng tới cơ cấu tổ chức,sách lược và sự cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua những công cụ như luật lệ củathị trường vốn tư bản, chính sách thuế, luật chống độc quyền

Nhà nước có tác động quan trọng lên lợi thế cạnh tranh của quốc gia song hiểnnhiên vai trò này chỉ là một phần nào đó Nếu chỉ có chính sách nhà nước làm nguồnlực duy nhất của lợi thế cạnh tranh quốc gia thì chính sách nhà nước sẽ thất bại Chínhsách nhà nước chỉ thành công trong những ngành nghề đã có sẵn những nhân tố quyếtđịnh tiềm ẩn và lúc đó các chính sách nhà nước chỉ làm nhiệm vụ củng cố các nhân tố

đó Có vẻ như nhà nước chỉ có thể thúc đẩy lợi ích của việc giành được lợi thế cạnhtranh nhưng thiếu khả năng tạo ra vị thế cạnh tranh đó

Michael Eugene Porter (sinh năm 1947) là giáo

sư tại trường Đại học Kinh doanh Harvard Ông là

chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực chiến lược

doanh nghiệp, lợi thế cạnh tranh quốc gia và khu

vực

Michael Porter sinh ra tại Ann Arbor,

Michigan.Ông đã sống và đi khắp thế giới với

cha-là một viên chức trong quân đội Khi theo học tại

đại học Princeton, ông từng là một tay golf và đạt

giải vô địch New England Sau khi tốt nghiệp đại

học, Giáo sư Porter phục vụ trong quân ngũ Ông có

niềm yêu thích với kinh doanh, âm nhạc và nghệ

thuật

Năm 1971 ông nhận bằng MBA từ trường

Kinh doanh Harvard Năm 1973, ông nhận bằng tiến

Trang 17

sĩ Kinh tế cũng tại trường Kinh doanh Harvard.

Michael Porter là tác giả của 18 cuốn sách và hàng loạt các bài viết về Chiến lược cạnh tranh, Lợi thế cạnh tranh, Lợi thế cạnh tranh quốc gia Ông đã 6 lần nhận được giải thưởng Mckinsey Ông được coi là cha đẻ của chiến lược hiện đại Những ý tưởng của ông được giảng dạy ở khắp các trường đại học về kinh doanh trên thế giới.

Phát triển đất nước theo đường lối đổi mới, Chính phủ Việt Nam ngày càng nhận thấy rõ hơn

sự cần thiết phải tham gia vào quá trình toàn cầu hóa kinh tế và cạnh tranh quốc tế Chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 nêu rõ, phải "Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tranh thủmọi thời cơ để phát triển Trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, chú trọng pháthuy lợi thế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, không ngừng tăng năng lực cạnh tranh và giảm dầnhàng rào bảo hộ" Báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ 4 (tháng 10-2003) Quốc hội khóa XI,cũng thẳng thắn thừa nhận: Tăng trưởng kinh tế trong ba năm vừa qua (2001 - 2003) chủ yếuvẫn theo chiều rộng, tăng về số lượng, nhưng chậm chuyển biến về chất lượng Nhìn chung,sức cạnh tranh và hiệu quả của doanh nghiệp và nền kinh tế đều thấp Từ đó nhấn mạnh mộttrong các giải pháp lớn là "phải tạo bước phát triển mới về kinh tế đối ngoại Năm 2004 phải cóbước đi mạnh mẽ hơn, với quyết tâm cao về chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Đi đôi với việcthực hiện cam kết về lộ trình tham gia Khu vực Mậu dịch tự do Đông Nam Á (AFTA) và pháttriển các quan hệ kinh tế song phương, cần đẩy mạnh đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mạithế giới (WTO) với phương án thích hợp để sớm trở thành thành viên của tổ chức này"

Như vậy, quyết tâm về mặt chính trị đối với vấn đề tham gia quá trình toàn cầu hóa kinh tế củaViệt Nam đã rõ Nhưng phân tích về thực chất cho thấy Việt Nam vẫn còn nhiều vướng mắc liênquan đến việc tham gia vào quá trình toàn cầu hóa kinh tế

Một là, những vướng mắc về nhận thức

Hiện thời, ngay trong giới nghiên cứu và hoạch định chính sách ở cấp chiến lược, vẫn còn nhiềubàn cãi về vấn đề nên hội nhập như thế nào Gắn liền với câu hỏi lớn này là hàng loạt vấn đề cụthể vẫn chưa có đáp án mạch lạc: Tốc độ tự do hóa nên như thế nào? Phải chăng cần trì hoãn quátrình tự do hóa để các doanh nghiệp hiện tại có thời gian thực hiện cơ cấu lại và chuẩn bị sẵn sàngcho cạnh tranh quốc tế? Nên hay không nên phân kỳ tự do hóa trên cơ sở căn cứ vào quá trìnhphát triển các thể chế cần có cho một nền kinh tế thị trường hiện đại? Phương thức hội nhập nênnhư thế nào: thông qua việc tham gia vào các hiệp định đa phương, khu vực và song phương,thông qua việc đơn phương tự do hóa, hay thông qua việc kết hợp các yếu tố này? Để bổ trợ cho

tự do hóa thương mại và đầu tư nhằm tối đa hóa các lợi ích và giảm thiểu các rủi ro thì cần cónhững biện pháp nào?

Hai là, những vướng mắc trên thực tế thể hiện ở một loạt chỉ tiêu so sánh khả năng cạnh tranh

Ngày đăng: 17/04/2013, 15:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Theo thông cáo, Paul Krugman được trao giải cho “sự phân tích của ông về các hình mẫu thương mại và vị trí của hoạt động kinh tế” - CÁC LÝ THUYẾT VỀ KINH TẾ QUỐC TẾ
heo thông cáo, Paul Krugman được trao giải cho “sự phân tích của ông về các hình mẫu thương mại và vị trí của hoạt động kinh tế” (Trang 2)
Đây là một ví dụ rất điển hình cho lý thuyết người đi trước của Krugman. - CÁC LÝ THUYẾT VỀ KINH TẾ QUỐC TẾ
y là một ví dụ rất điển hình cho lý thuyết người đi trước của Krugman (Trang 5)
Mô hình kim cương - CÁC LÝ THUYẾT VỀ KINH TẾ QUỐC TẾ
h ình kim cương (Trang 9)
Nhà nước có thể định hình môi trường hoạt động của các ngành nghề hỗ trợ hoặc có liên  quan  bằng  nhiều  cách  khác  nhau  như  kiểm  soát  truyền  thông  quảng  cáo  hay  các  ngành dịch vụ hỗ trợ khác - CÁC LÝ THUYẾT VỀ KINH TẾ QUỐC TẾ
h à nước có thể định hình môi trường hoạt động của các ngành nghề hỗ trợ hoặc có liên quan bằng nhiều cách khác nhau như kiểm soát truyền thông quảng cáo hay các ngành dịch vụ hỗ trợ khác (Trang 16)
Trong mô hình trên, dòng vốn sẽ dịch chuyển từ vị trí K sang K* tức là dịch chuyển từ nước giàu sang nước nghèo làm tổng sản lượng của thế giới tăng lên 1 lượng tương ứng với  diện tích hình tam giác EGI. - CÁC LÝ THUYẾT VỀ KINH TẾ QUỐC TẾ
rong mô hình trên, dòng vốn sẽ dịch chuyển từ vị trí K sang K* tức là dịch chuyển từ nước giàu sang nước nghèo làm tổng sản lượng của thế giới tăng lên 1 lượng tương ứng với diện tích hình tam giác EGI (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w