“ Quốc tế hoá đời sống kinh tế là xu hướng khách quan, là sự phát triển tất yếu của nền sản xuất xã hội trên cơ sở sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất” Theo đó, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) là một trong những mục tiêu chiến lược của quốc gia trên thế giới, trong đó có cả các nước đang phát triển tuân theo xu hướng chung của nền kinh tế hội nhập nhằm phát triển nền sản xuất trong nước.
Trang 1M c L c ục Lục ục Lục
Phần mở đầu
LỜI NÓI ĐẦU
Phần nội dung 1
Chương I: Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) và các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động của các dự án FDI 1
I Lý luận về FDI 1
1 Các khái niệm cơ bản 1
2 Các đặc trưng cơ bản 1
3 Vai trò của FDI đối với nền kinh tế 2
II Rủi ro trong các dự án FDI 2
1 Khái niệm và tính chất của các rủi ro trong các dự án FDI 2
2 Phân loại rủi ro 3
3 Một số rủi ro trong các hoạt động của dự án FDI 5
Chương II: Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động của các dự án FDI tại Việt Nam 9
I Một số giải pháp 9
1 Các giải pháp chung 9
2 Các giải pháp tác động trực tiếp đến các dự án FDI 11
II- Một số kiến nghị đối với các cơ quan quản lý Nhà nước 12
1 Bộ Kế hoạch và Đầu tư 12
2 Bộ Tài chính 12
3 Bộ Công nghiệp: 13
Phần kết luận 13
Danh mục tài liệu tham khảo 14
Trang 2Phần mở đầu
I Đặt vấn đề
“ Quốc tế hoá đời sống kinh tế là xu hướng khách quan, là sự phát triển tất yếu của nền sản xuất xã hội trên cơ sở sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất” Theo đó, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) là một trong những mục tiêu chiến lược của quốc gia trên thế giới, trong đó có cả các nước đang phát triển tuân theo xu hướng chung của nền kinh tế hội nhập nhằm phát triển nền sản xuất trong nước Trong giai đoạn phát triển hiện nay của các nền kinh tế trên thế giới đã rút ra bài học và khẳng định vai trò tích cực, tính an toàn của nguồn vốn FDI, những ưu việt của nó so với vay nợ và đầu tư ngắn
Việt Nam với xuất phát điểm thấp hơn rất nhiều nước khác trên thế giới trong quá trình hội nhập, đầu tư trực tiếp nước ngoài có một vai trò hết sức quan trọng.Việc mở rộng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng theo đó trở thành mục tiêu lâu dài và cơ bản không thể thiếu trong mục tiêu phát triển đất nước
Trong những năm gần đây, tỷ lệ FDI đầu tư vào Việt Nam có xu hướng tăng cao và đóng góp lớn cho nền kinh tế Tuy nhiên, hoạt động của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả, các rủi ro xảy ra từ các nguyên nhân chủ quan và cả nguyên nhân khách quan gây nên sự cản trở cho các dự án FDI hoạt động và phát triển
Rủi ro là những sự kiện không may và bất ngờ xảy ra gây nên những thiệt hại đến lợi ích của con người, nó luôn tồn tại song song với cuộc sống và trong mọi hoạt động của con người, hoạt động đầu tư vào các dự án cũng không phải là ngoại lệ Theo đó thì việc quản lý các rủi ro có thể xảy ra cho các dự án FDI là cần thiết để giảm thiểu các thiệt hại do nó mang lại
II Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp quản lý Nhà Nước nhằm hạn chế những rủi ro trong
hoạt động của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI vào Việt Nam trong thời kỳ hôi nhập kinh tế quốc tế” với đối tượng là những rủi ro của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
Nam
Mục đích của việc nghiên cứu đề án này nhằm phát hiện ra những rủi ro cơ bản mà các dự án FDI ở Việt Nam thường mắc phải, các nguyên nhân cơ bản làm nảy sinh các rủi ro này và từ đó đưa ra một số giải pháp quản lý Nhà Nước để hạn chế những rủi ro trong các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, tạo lòng tin cho các nhà đầu tư nước ngoài khi đưa ra quyết định đầu tư
và thu hút nhiều hơn các dự án đầu tư FDI về cả quy mô và chất lượng, đóng góp vào nền kinh tế quốc dân trên mọi phương diện
Trang 3
Phần nội dung
Chương I
Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) và các rủi ro có
thể xảy ra trong hoạt động của các dự án FDI
I Lý luận về FDI
1 Các khái niệm cơ bản
1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI )
- Đầu tư trực tiếp cùng với đầu tư gián tiếp và tín dụng thương mại là ba bộ phận cơ bản của vốn đầu tư quốc tế với hình thức là đầu tư tư nhân
- Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về FDI:
Quỹ tiền tệ thế giới IMF :đầu tư trực tiếp nước ngoài là là đầu tư có lợi ích lâu dài của doanh nghiệp tại một nước khác (là nước nhận đầu tư- hosting country), không phải tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động ( nước đi đầu tư- source country) và với mục đích quản lý một cách
có hiệu quả doanh nghiệp
Quan điểm về FDI ở Việt Nam được quy định trong khoản 1 Điều 2 Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài đươc sửa đổi bổ sung năm 2000: “ đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”
1.2 Dự án FDI
Dự án đầu tư về nội dung là tổng thể các hoạt động dự kiến với các nguồn lực và chi phí cần thiết được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch sử thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu kinh tế- xã hội nhất định
Dự án FDI là những dự án đầu tư do các nhà đầu tư nước ngài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài
2 Các đặc trưng cơ bản
Đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng là một hình thức đầu tư nên các dự án FDI cũng mang những đặc trưng cơ bản của các dự án đầu tư
-Hoạt động bỏ vốn của các nhà đầu tư và vì vậy các quyết định đầu tư thông thường là
quyết định về tài chính và mỗi quyết định đưa ra đều phải cân nhắc giữ lợi ích trước mắt và các lợi ích lâu dài của dự án
Trang 4-Hoạt động của các dự án đầu tư luôn mang tính chất lâu dài.Trước bất cứ một hoạt động
nào đều cần có chi phí hoạt động và mang lại một kết quả nhất định
-Rủi ro chính là một trong những đặc trưng cơ bản của các dự án FDI
Bên cạnh đó, các dự án FDI cũng có những đặc trưng riêng để phân biệt với các dự án khác không có các yếu tố nước ngoài.Các dự án FDI có sự tham gia của các bên có quốc tịch và ngôn ngữ khác nhau, và vì vậy các dự án bị chi phối bởi nhiều hệ thống pháp luật, từ nước đầu tư, nước nhận đầu tư đến hệ thống pháp luật quốc tế
Các nhà đầu tư trực tiếp tham gia hoặc họ có thể tự quản lý và điều hành các dự án và tất cả các đối tượng bỏ vốn
Ngoài ra,đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức giao lưu giữa các nền văn hoá, tạo ra nhiều hình thức kinh doanh mới với những pháp nhân có chứa yếu tố nước ngoài.Quan trọng hơn nữa là góp phần chuyển giao công nghệ và các phương thức quản lý mới giữa các bên
Mục đích cuối cùng của các dự án FDI chính là các bên tham gia hoạt động đầu tư cùng có lợi, hoạt động sẽ mang lại lợi ích chung cho mọi chủ thể tham gia
3 Vai trò của FDI đối với nền kinh tế
Những ảnh hưởng tích cực đối với tăng trưởng kinh tế
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế,giúp cho nước tiếp nhận đầu tư huy động mọi nguồn lực sản xuất
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh tế.Có thể coi đó là một nhân tố hay cú huých lớn để phá vỡ vòng luẩn quẩn của sự đói nghèo
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một kênh chuyển giao công nghệ làm khoảng cách công nghệ giữa nước đầu tư và nước nhận đầu tư bị thu hẹp.Bên cạnh đó tạo phản ứng tích cực phổ biến công nghệ và hoạt động phát minh công nghệ
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần nâng cao chất lượng lao động,phát triển nguồn nhân lực
+Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần bảo vệ môi trường, khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và góp phần vào quá trình mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế
II Rủi ro trong các dự án FDI.
1 Khái niệm và tính chất của các rủi ro trong các dự án FDI
1.1 Khái niệm về rủi ro.
Rủi ro đề cập đến những sự kiện, vấn đề không may mắn, bất ngờ xảy ra gây những thiệt hại cho lợi ích con người, tài sản, nguồn lợi và trách nhiệm
1.2 Một số tính chất.
Rủi ro là một trạng thái tiềm ẩn gây nên những mối nguy hiểm với các mức độ khác nhau gây tổn thất cho con người nhưng lại rất khó để có thể đo lường trước nó
Trang 5- Tính bất ngờ: rủi ro bao gồm những sự kiện mà con người không thể đo lường nó một cách đầy
đủ và chắc chắn.Tất cả các rủi ro đều bất ngờ với những mức độ khác nhau dẫn đến việc con người
có thể nhận diện rủi ro hay không Trong trường hợp con người không thể đoán trước được rủi ro
và không nhận dạng được thì nó sẽ xảy ra hoàn toàn bất ngờ với con người Cũng có những rủi ro
mà con người nhận dạng được nhưng không thể đo lường một cách chính xác những thiệt hại mà
nó có thể mang lại.Tuy nhiên, nếu con người có thể nhận dạng và tính được chính xác các rủi ro có thể đến với mình thì rủi ro sẽ không còn nữa mà nó trở thành những sự kiện bất lợi mà con người không mong muốn xảy ra như thiên tai, thời tiết,
- Tính chất ngoài mong đợi: trong cuộc sống, con người ai cũng mong muốn nhận được lợi ích cũng như những điều tốt đẹp may mắn trong mọi lĩnh vực và hoạt động của cuộc sống.Tuy nhiên trong cuộc sống không phải lúc nào cũng được như vậy Những điều, những sự kiện không may mắn, gây tổn thất cho cuộc sống của con người luôn tồn tại và trở thành điều không mong muốn trong cuộc sống hay nói cách khác đó là những sự kiện ngoài mong đợi của con người
- Tính sự cố gây ra tổn thất: những rủi ro xảy ra không thể đo lường được hoặc đo lường một cách không chính xác dẫn đến những hậu quả cho con người trong hoạt động họ tham ra có rủi ro
Tổn thất mà các rủi ro mang lại tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau: hữu hình (tài sản, vật chất ) hay vô hình (sức khoẻ, tinh thần, trách nhiệm, đạo đức )
Rủi ro đều bao hàm trong nó sự bất ngờ, ngoài mong đợi của con người và gây nên những tổn thất khác nhau đối với các hoạt động mà con người tham gia
2 Phân loại rủi ro
2.1 Phân loại theo tính chất của rủi ro.
- Rủi ro thuần tuý: loại rủi ro chỉ có thể dẫn đến những tổn thất về mặt kinh tế hay khả năng kiếm lời của hoạt động
Rủi ro thuần tuý thường đưa đến kết quả mất mát và tổn thất khi xảy ra Như rủi ro hoả hoạn,cháy nổ sẽ dẫn đến việc mất mát một số tài sản nhưng nếu không xảy ra thì sẽ không gây thiệt hại gì
Rủi ro thuần tuý liên quan đến việc phá huỷ tài sản,động đất gây phá huỷ các toà nhà Theo đó,rủi ro này có nguyên nhận từ những đe doạ, nguy hiểm rình rập, và vì vậy nên biện pháp để đối phó với nó chính là hình thức bảo hiểm
- Rủi ro suy tính: đây là loại rủi ro xảy ra do ảnh hưởng của các nguyên nhân khó có thể dự đoán và có phạm vi ảnh hưởng rất rộng lớn
Rủi ro suy tính thường xảy ra trong thực tế như: rủi ro tình hình bất ổn về chính trị, giá cả hay mức thuế xuất đối với đối tượng được đầu tư
Trang 6Đặc điểm cơ bản thường không được bảo hiểm nhưng lại có khả năng đối phó bằng biện pháp rào chắn
2.2 Theo khả năng dự đoán
- Rủi ro có thể tính được: loại rủi ro có tần số xuất hiện có thể đoán được ở mức chính xác và độ tin cậy cao
- Rủi ro không thể tính được: tần số xuất hiện của loại rủi ro này quá bất thường và khó để có thể
dự đoán
2.3 Theo khả năng bảo hiểm rủi ro
- Rủi ro không thể bảo hiểm: gồm có rủi ro cờ bạc và suy tính.Các rủi ro này không tồn tại trước
đó trong khi bảo hiểm có tác dụng làm giảm rủi ro
- Rủi ro có thể bảo hiểm được: những rủi ro nếu xảy ra có thể dẫn đến các thiệt hại Nó có khả năng gây thiệt hại của một tập hợp đơn vị tương tự nhau, thiệt hại có tính ngẫu nhiên không phải do
tự tạo ra hay do hiện tượng hao mòn vật chất tự nhiên gây ra.Các thiệt hại này phải được định dạng,
có thể đo lường và đủ để tạo ra những khó khăn về kinh tế và có xác xuất thiệt hại thảm hoạ thấp
2.4 Theo nguồn gốc rủi ro.
- Rủi ro nội sinh: là những rủi ro do những nguyên nhân nội tại của dự án Những nhuyên nhân nội sinh thường nhắc đến như: quy mô, mức độ phức tạp, tính mới lạ của dự án, các nhận tố ảnh hưởng đến tốc độ thiết kế và xây dựng, hệ thống tổ chức quản lý dự án
- Rủi ro ngoại sinh: là những rủi ro do những nguyên nhân bên ngoài gây nên Những nhân tố ngoại sinh thường gặp là lạm phát, biến đổi thị trường, tính sẵn xó của lao động và nguyên liệu,độ bất định về chính trị,những ảnh hưởng của thời tiết
2.5 Theo phạm vi ảnh hưởng của rủi ro.
- Rủi ro cơ bản: là những rủi ro sinh ra từ những nguyên nhân ngoài tầm kiểm soát của con người Hậu quả mà nó mang lại thường rất nghiêm trọng, khó lường, có ảnh hưởng đến cộng đồng
và toàn xã hội.Thường thì hầu hết các rủi ro này xuất phát từ các tác động tương hỗ thuộc về kinh
tế, chính trị, xã hội
- Rủi ro riêng biệt: rủi ro xuất phát từ biến cố chủ quan và khách quan từ cá nhân, tổ chức và ảnh hưởng tới lợi ích của từng cá nhân, tổ chức như sai lầm trong lựa chọn chiến lược kinh doanh, đối tác hay mặt hàng kinh doanh trong từng thời kì
2.6 Phân loại rủi ro theo lĩnh vực.
Là cách phân loại rủi ro theo các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội Các rủi ro có thể phát sinh từ những lĩnh vực khác nhau của cuộc sống: về chính trị (những thay đổi bất thường của thể chế chính trị), về kinh tế (lạm phát, suy thoái, ) pháp lý (pháp luật, thủ tục hành chính, các hợp đồng kinh tế), môi trường kinh doanh, văn hoá khác nhau giữa các nước, sự mất cân đối về thông tin giữa các bên,…
Trang 73 Một số rủi ro trong các hoạt động của dự án FDI
3.1 Rủi ro về chính trị.
Là sự thay đổi bất thường của các thể chế chính trị, chiếm đoạt, quốc hữu hoá, sự phận biệt đối xử của chính quyền địa phương, Ngoài ra, còn lại là những tác động của chiến tranh,bạo lực, của các thế lực thế giới
3.2 Rủi ro về kinh tế.
Thông thường do các nhân tố vĩ mô gây ra bất lợi cho doanh nghiệp.Bao gồm những yếu tố như lạm phát, suy thoái kinh tế, khă năng thanh toán, dự trữ ngoại tệ,
3.3 Rủi ro về pháp lý.
Rủi ro về pháp lý có nguồn gốc từ sự thay đổi về luật pháp, sự mập mờ, chồng chéo và không thống nhất của các văn bản pháp quy; sự thiếu thông tin phổ biến pháp luật, thiếu chặt chẽ trong các hợp đồng kinh tế,
Loại rủi ro này thường xuất hiện nhiều ở những nước chuyển đổi,những nước mà nền kinh tế đang trong quá trình từng bước hội nhập,đặc biệt là đối với Việt Nam Hậu quả rủi ro pháp lý là những tranh chấp, kiện tụng giữa các doanh nghiệp, tịch thu hàng hoá của chính quyền,
3.4 Rủi ro về thông tin
Xuất hiện khi những thông tin bị sai lệch, đến chậm hoặc do quá trình phân tích, xử lý thông tin thường dẫn đến việc chủ đầu tư có sự chậm trễ trong các quyết định và thất bại trong kinh doanh
3.5 Rủi ro về cạnh tranh.
Loại rủi ro này là những áp lực bất ngờ không lường trước của chủ đầu tư trước sự thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng, sự tăng nhanh bất thường về số lượng cũng như quy mô của các doanh nghiệp cùng ngành, sự xâm nhập mạnh mẽ của doanh nghiệp nước ngoài khi Chính phủ mở cửa kinh tế, Rủi ro cạnh tranh có thể dẫn tới sự thu hẹp về thị trường, thậm chí dự án còn bị thôn tính và bị loại ra khỏi thị trường
3.6 Rủi ro về văn hoá.
Một trong những đặc trưng riêng cơ bản của các dự án FDI là nơi gặp gỡ,làm quen giữa các nền văn hoá khác nhau.Vì vậy, sự khác nhau về văn hoá đã và đang là nguyên nhân làm tăng cơ hội hiểu lầm đáng tiếc có thể dẫn công ty mất thị phần mục tiêu Rủi ro về văn hoá bắt nguồn từ sự không am hiểu về phong tục, tập quán, lối sống, cách sống, ngôn ngữ sử dụng
3.7 Rủi ro từ môi trường tự nhiên.
Các yếu tố trên được nhắc đến có tác động mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh nói chung và đến các hoạt động của doanh nghiệp FDI nói riêng
Có rất nhiều những nguyên nhân khác nhau do nhiều chủ thể mang lại những rủi ro và gây thiệt hại cho các dự án.Với mỗi nguyên nhân khác nhau cần đưa ra phương pháp quản lý phù hợp
Trang 8nhằm hạn chế tối đa những thiệt hại có thể có Dưới đây là một số phương pháp quản lý rủi ro đã được biết đến và sử dụng trong các hoạt động của dự án
III Quản lý rủi ro.
1 Phương pháp mà các nhà đầu tư lựa chọn để quản lý rủi ro
Mỗi chủ thể tham gia vào hoạt động FDI đều có những phương thức quản lý khác nhau cho mỗi dự án trong tững giai đoạn Dưới đây là một số phương pháp quản lý rủi ro mà các nhà đầu tư lực chọn để quản lý rủi ro trong các dự án FDI
1.1 Né tránh rủi ro.
Nhà đầu tư không chấp nhận các dự án có độ rủi ro quá lớn, loại bỏ khả năng gậy thiệt hại của
dự án
Trường hợp áp dụng: khi khả năng bị thiệt hại cao với mức độ lớn, gây tổn hại quá cao đối với nhà đầu tư
Phuơng pháp này có thể được sử dụng ngay trong giai đoạn đầu của dự án đầu tư, khi đánh giá mức độ rủi ro quá cao thì loại bỏ ngay trong đầu chu kỳ của dự án
1.2 Chấp nhận rủi ro.
Đây là trường hợp các chủ đầu tư hoặc cán bộ dự án hoàn toàn có thể biết trước về rủi ro và thiệt hại khi nó xảy ra
Nhà đầu tư thường chỉ chấp nhận rủi ro khi thiệt hại không quá lớn và mức độ thiệt hại nhỏ Ngoài ra, có những rủi ro mà đơn vị phải chấp nhận trong quá trình hoạt động của dự án và buộc phải sử dụng phương pháp này
1 3.Tự bảo hiểm.
Là phương pháp quản lý rủi ro trong đó các nhà đầu tư chấp nhận rủi ro và tự nguyện kết hợp với nhau thành nhóm bao gồm nhiều dự án có cùng những rủi ro gần tương tự, đủ để dự đoán chính xác tần suất xảy ra cũng như mức độ thiệt hại.Từ đó, họ có chuẩn bị trước nguồn quỹ để bù đắp cho những thiệt hại khi nó xảy ra
Đây cũng là một hình thức chấp nhận rủi ro Thường là sự kết hợp giữa các đơn vị trong cùng một công ty mẹ hoặc là cùng một ngành, thường có cùng các rủi ro
Lợi thế của phương pháp này là ngăn ngừa các thiệt hại,các thủ tục chi trả bảo hiểm cũng có thể được tiến hành nhanh gọn, giúp nâng cao khả năng sinh lời do có khả năng xoay vòng vốn
1.4 Ngăn ngừa thiệt hại.
Ngăn ngừa thiệt hại là phương pháp bao gồm những hoạt động nhằm giảm tính thường xuyên của thiệt hại khi nó xuất hiện
Để có thể thực hiện các hoạt động này đòi hỏi phải xác định đúng các nguyên nhân gây nên chúng ó có thể xuất phát từ các nhân tố của môi trường đầu tư hoặc ngay từ những vấn đề bên trong của dự án
Trang 9Biện pháp mà các nhà đầu tư có thể áp dụng là phát triển các hệ thống an toàn, đào tạo lại đội ngũ lao động hay thuê người bảo vệ…
Ngoài ra còn có các biện pháp khác: Giảm bớt thiệt hại,Chuyển dịch rủi ro, Bảo hiểm
2 Quản lý Nhà Nước đối với các dự án FDI
Nhà Nước là chủ thể quan trọng quản lý nguồn vốn FDI
Quản lý của Nhà Nước đối với các dự án FDI là nhằm thực hiện một cách tốt nhất định hướng của Luật đầu tư là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại vào công cuộc phát triển kinh tế
Bên cạnh đó còn nhằm thực hiện các mục tiêu của Nhà Nước là thu hút vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của các công ty nước ngoài, tạo việc làm, khai thác các tiềm năng của đât nước và phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Quản lý Nhà Nước đối với các dự án FDI còn nhằm đảm bảo hoạt động đầu tư tuân thủ pháp luật Việt Nam, giữ vững độc lập, chủ quyền đất nước Ngoài ra còn tô trọng quyền của các nhà đầu
tư nước ngoài vào Việt Nam, đảm bảo tính công bằng, bình đẳng và cùng có lợi cho cả đôi bên
2.2 Vai trò.
Quản lý Nhà Nước là hoạt động chấp hành và điều hành của Nhà Nước, được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi cơ quan hành chính Nhà Nước có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh, các nghị quyết của cơ quan quyền lực Nhà Nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo thực hiện một cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hoá, xã hội và chính trị nước ta
Đây là hoạt động mang tính chủ động, sáng tạo theo từng đối tượng chủ thể, địa điểm từ
đó dưa ra các biện pháp cụ thể
2.3 Các hoạt động cơ bản.
Theo luật Đầu tư (2006), hoạt động quản lý của Nhà Nước đối với FDI bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các chính sách đầu tư phát triển
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật có liên quan đến đầu tư
- Hướng dẫn hỗ trợ nhà đầu tư thực hiện các dự án đầu tư, giải quyết những vướng mắc, yêu cầu của các nhà đầu tư Cấp và thu hồi giấy chứng nhận đầu tư
- Hướng dẫn, đánh giá hiệu quả đầu tư, kiểm tra, thanh tra và giám sát hoạt động đầu tư, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm trong hoạt động đầu tư
- Tổ chức hoạt động đào tạo nguồn nhân lực liên quan đến hoạt động đầu tư Tổ chức hoạt động xúc tiến đầu tư
2.4 Các phương pháp quản lý Nhà Nước.
Trang 10Nhà nước sử dụng các công cụ là pháp luật, các kế hoạch, chính sách, tài sản quốc gia, để quản lý nền kinh tế FDI cũng như các bộ phận khác của nền kinh tế, chịu sự quản lý của Nhà nước với những phương pháp quản lý khác nhau
2.4.1 Phương pháp hành chính
Phương pháp hành chính là cách thức tác động trực tiếp của Nhà Nước thông qua các quyết định dứt khoát có tính bắt buộc lên đối tượng quản lý Nhà Nước về kinh tế nhằm thực hiện các mục tiêu của quản lý kinh tế vĩ mô trong những tình huống nhất định
Phương pháp này có tính bắt buộc những đối tượng chịu sự quản lý phải tuân thủ các quy định của pháp luật và mang tính quyền lực theo đúng thẩm quyền pháp luật Từ đó góp phần xác lập trật
tự kỷ cương, kết nối các phương pháp khác, giải quyết các vấn đề một cách nhanh chóng
2.4.2 Phương pháp kinh tế
Với phương pháp này, Nhà Nước hạn chế sự bắt buộc, cưỡng chế lên các đối tượng và chủ yếu mang tính hướng dẫn nhằm làm cho các đối tượng quản lý quan tâm tới hiệu quả cuối cùng của các hoạt động, chủ động hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao
Hướng vào lợi ích cuả các đối tượng, đưa ra các điều kiện khuyến khích kinh tế và những phương tiện vật chất, phương pháp kinh tế được áp dụng tác động nhạy bén, linh hoạt và phát huy được tính chủ độnh sáng tạo cuat người lao động cũng như của các tổ chức
2.4.3 Phương pháp tâm lý giáo dục
Nhà Nước tác động vào nhận rhức và tình cảm của con người thuộc đối tượng quản lý Nhà Nước về kinh tế, từ đó nâng cao tinh thần tự giác, tích cự và nhiệt tình của những người lao động trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao
Chương II
Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động của
các dự án FDI tại Việt Nam
I Một số giải pháp
1 Các giải pháp chung.
1.1 Giải quyết những vấn đề trong cải cách thủ tục hành chính.
Nước ta đang phát triển theo nền kinh tế thị trường định hướng chủ ngiã xã hội Tuy nhiên, các quy luật thị trường vẫn chưa được tôn trọng , nền kinh tế còn chịu quá nhiều ảnh hưởng nặng
nề từ sự chi phối của hệ thống hành chính Nhà nước