1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÍ VÀ SỬ DỤNG ODA Ở VIỆT NAM TRONG XU THẾ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

36 601 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lí và sử dụng ODA ở Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế
Người hướng dẫn Gs.Ts. Đỗ Đức Bình
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Đề án
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 257,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra ngày một mạnh mẽ như hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành xu thế thiết yếu của các quốc gia.

Trang 1

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368

LỜI MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra ngày một mạnh mẽ như hiện nay,hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành xu thế thiết yếu của các quốc gia Vớimục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, phát triển ổn định và cải thiện vị thế quốc giatrên trường quốc tế thì các quốc gia luôn tìm mọi cách để tận dụng và phát huy hiệuquả các nguồn lực cả trong cũng như ngoài nước trong đó có nguồn vốn viện trợphát triển chính thức ODA

Với vị trí là một quốc gia đang phát triển, việc nhận trợ cấp từ nước ngoài đểphát triển nền kinh tế trong nước là một trong những giải pháp thiết yếu của ViệtNam Vốn ODA đã trở thành nguồn vốn bổ sung quan trọng cho sự nghiệp pháttriển kinh tế xã hội ở Việt Nam Nguồn vốn ODA đã hỗ trợ đắc lực cho phát triển

hạ tầng cơ sở ở Việt Nam, đồng thời là sự phát triển về mặt xã hội trong thời kì xâydựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Theo nhận định của Chính phủ, giai đoạn hiện nay, trong bối cảnh ODA thếgiới có nhiều thuận lợi nhưng còn nhiều thách thức, Việt Nam tiếp tục có một số lợithế để thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, song đi cùng với nó là không ít những khókhăn cần khắc phục để đạt được hiệu quả trong việc sử dụng nguồn vốn trên, tránhtình trạng biến Việt Nam trở thành “ con nợ ” đồng thời thúc đẩy quá trình xây dựngchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Lịch sử phát triển của các nước trên thế giới đã chứng minh rõ: Hiệu quả củacông tác quản lý và sử dụng vốn đầu tư là một trong những yếu tố quan trọng nhấttác động đến sự phát triển nói chung và tăng trưởng kinh tế nói riêng của mỗi quốcgia Đối với những nước đang phát triển như Việt Nam thì nguồn vốn nước ngoài có

ý nghĩa rất quan trọng Ngoài tính chất ưu đãi của vốn ODA, một trong những đặcđiểm khác nhau giữa ba loại nguồn vốn: vốn trong nước, vốn thu hút từ nước ngoàichủ yếu dưới hình thức vốn ODA, đầu tư trực tiếp, các khoản tín dụng nhập khẩu;thì ODA chỉ là sự chuyển nhượng vốn mang tính chất trợ giúp từ các nước pháttriển sang các nước đang phát triển Đặc điểm này cho thấy nguồn ODA là mộtnhân tố quan trọng tạo nên các cơ hội phát triển cho các nước nghèo, kém và đangphát triển

Về thực chất ODA cũng là một khoản nợ nước ngoài mà các nước nhận tàitrợ cần phải trả Vì thế, giải pháp đưa ra để việc quản lý và sử dụng ODA sao cho

có hiệu quả phù hợp với các mục tiêu và định hướng phát triển của đất nước là mộtyêu cầu khách quan

Chính vì vậy, trong quá trình học và nghiên cứu, em đã lựa chọn đề tài:

“MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÍ VÀ SỬ DỤNG ODA Ở VIỆT NAM TRONG XU THẾ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ”, với mục đích

Trang 2

đóng góp những hiểu biết của mình vào quá trình nghiên cứu và hoàn thiện việcquản lý các dự án ODA

Kết cấu của bài viết đề án gồm 3 chương:

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ODA

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG, SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ ODA ỞVIỆT NAM TRONG XU THẾ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÍ VÀ SỬDỤNG ODA Ở VIỆT NAM TRONG XU THẾ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Em xin chân thành cảm ơn GS.TS: Đỗ Đức Bình đã tận tâm hướng dẫn giúp

đỡ em hoàn thành môn đề án Kinh tế quốc tế

Tuy nhiên, do hiểu biết của em còn nhiều hạn chế nên sẽ không tránh khỏi nhữngsai sót Vì vậy, em rất mong nhận được những đánh giá đóng góp ý kiến của cácthầy, cô nhằm giúp em hoàn thiện đề tài này

Em xin chân thành cảm ơn.

Trang 3

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ODA

1.1.Khái niệm

Viện trợ phát triển chính thức ODA ( Official Development Assistant):

Hiện nay trên thế giới có rất nhiều quan điểm khác nhau về ODA nhưng nóichung những quan điểm ấy đều dẫn chung đến một bản chất Theo cách hiểu chung

nhất: Vốn ODA hay còn gọi là vốn hỗ trợ phát triển chính thức là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc vay với điều kiện ưu đãi (về lãi suất, thời gian ấn hạn và trả nợ) của Chính phủ của các nước phát triển, các cơ quan chính thức thuộc tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ.

Ở Việt nam: Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là một hình thứchợp tác phát triển giữa Việt Nam và các tổ chức Chính phủ, các tổ chức quốc tếnhư: WB, IMF, UNDP, ADB Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) gọi chung là cácđối tác viện trợ hay các nhà tài trợ nước ngoài ODA được thực hiện thông qua việccung cấp từ phía các nhà tài trợ cho Chính phủ Việt Nam các hoản viện trợ khônghoàn lại, các khoản vay ưu đãi về lãi suất và thời hạn thanh toán

Về thực chất, ODA là sự chuyên giao một phần GNP từ các nước phát triểnsang các nước đang phát triển Quốc tế hoá đời sống kinh tế là một nhân tố quantrọng thúc đẩy sự phân công lao động giữa các nước Bản thân các nước phát triểnnhìn thấy lợi ích của mình trong việc hợp tác giúp đỡ các nước chậm phát triển để

mở rộng thị trường tiêu thu sản phẩm và thị trường đầu tư Đi liền với sự quan tâmlợi ích kinh tế đó, các nước phát triển nhất là đối với các nước lớn còn sử dụngODA như một công cụ chính trị để xác định vị trí và ảnh hưởng tại các nước và khuvực tiếp cận ODA Mặt khác, một số vấn đề quốc tế đang nổi lên như AIDS/ HIV,các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo đòi hỏi sự nỗ lực của cả cộng đồng, quốc tếkhông phân biệt giàu nghèo

Các nước đang phát triển đang thiếu vốn nghiêm trọng dễ phát triển kinh tế

xã hội Vốn ODA là một trong các nguồn vốn ngoài nước có ý nghĩa hết sức quantrọng Tuy nhiên, ODA không thể thay thế được vốn trong nước mà chỉ là chất xúctác tạo điều kiện khai thác sử dụng các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước ODA

có hai mặt: Nếu sử dụng một cách phù hợp sẽ hỗ trợ thật sự cho công cuộc pháttriển kinh tế xã hội, nếu không đó sẽ là một khoản nợ nước ngoài khó trả trongnhiều thế hệ Hiệu quả sử dụng ODA phụ thuộc vào nhiều yếu tố, mà một trong số

đó là công tác quản lý và điều phối nguồn vốn này Nghị đinh 20/ CP khẳng địnhODA cho Việt Nam là một trong những nguồn quan trọng của ngân sách Nhà nướcđược sử dụng cho những mục tiêu ưu tiên của công cuộc xây dựng và phát triểnkinh tế xã hội Tính chất ngân sách của ODA thể hiện ở chỗ nó được thông quaChính phủ và toàn dân được thụ hưởng lợi ích do các khoản ODA mang lại

Trang 4

Việc cung ODA được thực hiện thông qua các kênh sau đây:

Các tổ chức quốc tế cung cấp ODA trực tiếp cho Việt Nam

- Các tổ chức phi chính phủ cung cấp ODA trực tiếp cho Việt Nam

1.2 Phân loại ODA.

Phân loại ODA theo tính chất nguồn vốn.

Nếu phân loại theo tính chất nguồn vốn thì ODA có hai loại:

Viện trợ không hoàn lại:

Được thực hiện thông qua các chương trình, dự án ODA dưới các dạng sau:

+ Hỗ trợ kỹ thuật: Thực hiện việc chuyển giao công nghệ hoặc truyền đạt nhữngkinh nghiệm xử lý cho nước nhận tài trợ

+ Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật: ví dụ như là lương thực, vải, thuốc chữa bệnh,

có khi là vật tư cho không

Chính phủ nước

ngoài

Chính phủ Việt Nam

NGOs hoặc các tổ chức quốc tế

NGOs hoặc các tổ chức quốc tế

NGOs hoặc các tổ chức quốc tế

NGOs hoặc các tổ chức quốc tế

NGOs hoặc các tổ chức quốc tế

Trang 5

Viện trợ có hoàn lại bao gồm:

+ ODA cho vay ưu đãi: là các khoản ODA cho vay có yếu tố không hoàn lại đạt ítnhất 25% trị giá khoản vay

+ ODA cho vay hỗn hợp: bao gồm kết hợp một phần ODA không hoàn lại và mộtphần tín dụng thương mại theo các điều kiện của tổ chức hợp tác kinh tế và pháttriển mạnh hơn cả về đời sống kinh tế xã hội

1.3 Các hình thức ODA

1.3.1 Xét theo mục đích ODA gồm các hình thức chủ yếu sau:

- Hỗ trợ cán cân thanh toán:

Thương là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển giao tiền tệ nhưng đôi khi làhiện vật hoặc hỗ trợ nhập khẩu Ngoại tệ và hàng hoá chuyển trong nước qua hìnhthức này được chuyển hoá thành hỗ trợ ngân sách

- Hỗ trợ chương trình (còn gọi là viện trợ phi dự án)

Là viện trợ khi đạt được một hiệp định với đối tác viện trợ nhằm cung cấp một khốilượng ODA cho một mục đích tổng quát với thời hạn nhất định để thực hiện nhiềunội dung khác nhau của một chương trình

Hỗ trợ dự án:

Là hình thức chủ yếu của hỗ trợ phát triển chính thức bao gồm hỗ trợ cơ bản

và hỗ trợ kỹ thuật Trên thực tế có trường hợp một dự án kết hợp cả hai loại hình hỗtrợ cơ bản và hỗ trợ kỹ thuật

1.3.2 Xét theo hình thức tiếp nhận vốn, ODA được phân ra Viện trợ không hoàn lại và viện trợ cho vay ưu đãi:

+ Đối với loại hình Viện trợ không hoàn lại thường là hỗ trợ kỹ thuật, chủyếu là chuyển giao công nghệ, kiến thức, kinh nghiệm thông qua các hoạt động củachuyên gia quốc tế Đôi khi viện trợ này là hoạt động nhân đạo như lương thực,thuốc men hoặc các loại hàng hoá khác nên chúng rất khó huy động vào các mụcđích đầu tư phát triển Thêm vào đó các khoản viện trợ không hoàn lại thương kèmtheo một số điều kiện về tiếp nhận, về đơn giá mà nếu nước chu nhà có vốn chủđộng sử dụng thì chưa chắc đã phải chấp nhận những điều kiện như vậy hoặc không

sử dụng với đơn giá thanh toán cao gấp 2-3 lần Do đó khi sử dụng các nguồn vốnODA cho không, cần hết sức thận trọng

+ Đối với các khoản vay ưu đãi ODA có thể sử dụng cho mục tiêu đầu tưphát triển Tính chất ưu đãi của khoản vay này thể hiện ở khía cạnh sau:

 Lãi suất thấp : chẳng hạn các khoản vay ODA được tính bằng hàng hoá trịgiá 45,5 tỷ yên nhật cho Việt Nam vay năm 1992 có lãi suất 1% khoản vay ngânhàng thế giới cho dự án cải tạo quốc lộ 1A không lãi chỉ có 0,75%

 Thời gian vay dài: nhật bản cho ta vay trong thời gian 30 năm WB cho vaytrong thời gian 40 năm

Trang 6

 Thời gian ấn hạn từ khi vay đến khi trả vốn gốc đầu tiên khá dài thườngkhoảng 5-10 năm trở lên

Thông thường các nước tiếp nhận ODA để đầu tư vào các dự án kết cấu hạtầng kinh tế - xã hội, nhằm tạo ra điều kiện thuận lợi cho sản xuất và đời sống, tạomôi trường hạ tầng cơ sở để tiếp tục thu hút vốn đầu tư

1.4 Mục đích sử dụng ODA.

Có hai mục tiêu tồn tại song song nhưng thực chất lại mâu thuẫn với nhau

+ Mục tiêu thứ nhất là thúc đẩy tăng trưởng và giảm đói nghèo ở những nước đang phát triển

+ Mục tiêu thứ hai là tăng cường lợi ích chiến lược và chính trị ngắn hạn của các nước tài trợ

Tuy nhiên mục tiêu cuối cùng của viện trợ vẫn là thúc đẩy tăng trưởng vàgiảm đói nghèo ở những nước đang phát triển Trong hội nghị của Liên Hợp Quốc,các nước thành viên đã khẳng định mục tiêu cụ thể của việc sử dụng ODA là:

- Giảm một nửa tỷ lệ những người đang sống trong cảnh nghèo khổ cùng cực tớinăm 2015

- Phổ cập giáo dục tiểu học trên tất cả các nước tới năm 2015

- Đạt được nhiều tiến bộ cho sự bình đẳng về giới và tăng quyền lực của người phụ

nữ bằng cách xoá bỏ sự phân biệt giới tính trong giáo dục tiểu học và trung học vàonăm 2015

- Thông qua hệ thống chăm sóc y tế ban đầu để đảm bảo sức khoẻ sinh sản cho tất

cả mọi người ở các độ tuổi thích hợp càng tốt và không thể muộn hơn năm 2015

- Thực thi các chiến lược quốc gia phát triển bền vững ở tất cả các nước, vào năm2000

- Thực hiện các chương trình đầu tư quốc gia, đặc biệt là các dự án cải tạo, nângcấp, hiện đại hoá kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội để làm nền tảng vững chắc cho ổnđịnh và tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy đầu tư tư nhân trong và ngoài nước

- Thực hiện các chương trình nghiên cứu tổng hợp nhằm hỗ trợ chính phủ sở tạihoạch định chính sách hay cung cấp thông tin cho đầu tư tư nhân bằng các hoạtđộng điều tra khảo sát, đánh giá tài nguyên, hiện trạng kinh tế, kỹ thuật, xã hội cácngành, các vùng lãnh thổ

- Thực hiện các kế hoạch cải cách giáo dục, nâng cao chất lượng đào tạo, cải thiệnđiều kiện, bảo đảm môi trường sinh thái, bảo đảm sức khoẻ người dân

- Hỗ trợ điều chỉnh cơ cấu, chuyển đổi hệ thống kinh tế, bù đắp thâm hụt cán cânthanh toán quốc tế để chính phủ nước sở tại có điều kiện và thời gian quản lý tốthơn trong giai đoạn cải cách hệ thống tài chính hay chuyển đổi hệ thống kinh tế

Trang 7

1.5 Vai trò của ODA với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế

Đối với tất cả các quốc gia tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nướctrong đó có Việt Nam thì vốn là một yếu tố một điều kiện tiền đề không thể thiếu.Nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, với những thành tựumới của khoa học và công nghệ cho phép các nước tiến hành công nghiệp hoá cóthể rút ngắn lịch sử phát triển kinh tế khắc phục tình trạng tụt hậu và vận dụng đượctối đa của lợi thế đi sau

Nhưng để làm được những điều đó thì nhu cầu về nguồn vốn là vô cùng lớn trongkhi đó ở giai đoạn đầu của thời kỳ công nghiệp hoá thì tất cả các nước đều dựa vàonguồn vốn bên ngoài mà chủ yếu là ODA và FDI

Trong đó ODA là nguồn vốn của các Chính phủ, các quốc gia phát triển , các

tổ chức quốc tế và các tổ chức phi Chính phủ hoạt động với mục tiêu trợ giúp chochiến lược phát triển của các nước đang và chậm phát triển Do vậy nguồn vốn này

có những ưu đãi nhất định, do những ưu đãi này mà các nước đang và chậm pháttriển trong giai đoạn đầu của công cuộc công nghiệp hoá đất nước thường coi ODAnhư là một giải pháp cứu cánh để vừa khắc phục tình trạng thiếu vốn đầu tư trongnước vừa tạo cơ sở vật chất ban đầu nhằm tạo dựng một môi trường đầu tư thuận lợi

để kêu gọi nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, đồng thời tạo điều kiện thúcđẩy đầu tư trong nước phát triển

Như vậy, có thể nói nguồn vốn ODA có vai trò quan trọng trong chiến lượcphát triển kinh tế của các nước đang và chậm phát triển, đặc biệt trong xu thế hộinhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay Điều đó thể hiện rõ nét ởkhía cạnh sau:

Thứ nhất: ODA có vai trò bổ sung cho nguồn vốn trong nước

Đối với các nước đang phát triển các khoản viện trợ và cho vay theo điều kiện ODA

là nguồn tài chính quan trọng giữ vai trò bổ sung vốn cho quá trình phát triển

Thứ hai: ODA dưới dạng viện trợ không hoàn lại giúp các nước nhận

viện trợ tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực

Những lợi ích quan trọng mà ODA mang lại cho các nước nhận tài trợ là công nghệ,

kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn và trình độ quản lý tiên tiến Đông thời bằngnguồn vốn ODA các nhà tài trợ còn ưu tiên đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực vìviệc phát triển của một quốc gia có quan hệ mật thiết với việc phát triển nguồn nhânlực

Thứ ba: ODA giúp các nước đang phát triển hoàn thiện cơ cấu kinh

Trang 8

thiện cơ cấu kinh tế bằng cách phối hợp vơí ngan hàng thế giới, quỹ tiền tệ quốc tế

và các tổ chức quốc tế khác tiến hành chính sách điều chỉnh cơ cấu Chính sách này

dự đinh chuyển chính sách kinh tế Nhà nước đóng vai trò trung tâm sang chínhsách khuyến khích nền kinh tế phát triển theo định hướng phát triển kinh tế khu vực

tư nhân Nhưng muốn thực hiện được việc điều chỉnh này cần phải có một lượngvốn cho vay mà các chính phủ lại phải dựa vào nguồn vốn ODA

Thứ tư: Hỗ trợ phát triển chính thức tăng khả năng thu hút vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài và tạo điều kiện mở rộng đầu tư phát triển trong nước ở các nước đang và chậm phát triển

Như chúng ta đã biết để có thể thu hút được các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài bỏvốn đầu tư vào một lĩnh vực nào đó thì chính tại các quốc gia đó phải đảm baỏ cho

họ có một môi trường đầu tư tốt (cơ sở hạ tầng, hệ thống chính sách, pháp luật )đảm bảo đầu tư có lợi với phí tổn đầu tư thấp, hiệu quả đầu tư cao muốn vậy đầu tưcủa Nhà nước phải được tập trung vào việc nâng cấp, cải thiện và xây dựng cơ sở hạtầng, hệ thống tài chính, ngân hàng

Nguồn vốn Nhà nước thực hiện đầu tư này là phải dựa vào ODA bổ sung chovốn đầu tư hạn hẹp thì ngân sách của Nhà nước Môi trường đầu tư một khi đượccải thiện sẽ tăng sức hút đồng vốn nước ngoài Mặt khác việc sử dụng nguồn vốnODA để đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trongnước tập trung đầu tư vào các công trình sản xuất kinh doanh có khả năng mang lạilợi nhuận

Trang 9

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG, SỬ DỤNG VÀ QUẢN

LÝ ODA Ở VIỆT NAM TRONG XU THẾ HỘI NHẬP KINH TẾ

QUỐC TẾ

2.1 Tình hình huy động ODA trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và các nhân

tố ảnh hưởng tới hiệu quả thu hút ODA

2.1.1 Tình hình huy động ODA trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế:

Hội nghị bàn tròn về viện trợ dành cho Việt Nam diễn ra tại Pa-ri, Thủ đônước Pháp cách đây 15 năm đã mở ra một trang sử mới trong quan hệ hợp tác pháttriển giữa Việt Nam và cộng đồng tài trợ quốc tế Mối quan hệ này ra đời trong bốicảnh nào? Vai trò và tác động của nguồn vốn ODA đối quá trình phát triển của ViệtNam trong thời gian qua ra sao? Có thể rút ra những kinh nghiệm và bài học gì vềcông tác thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA? Triển vọng của nguồn vốn này trongtương lai sau 2010?

Đổi mới trong xu thế hội nhập đã mang lại cơ hội cho hợp tác phát triển

Thực hiện công cuộc Đổi mới do Đảng ta đề xướng và lãnh đạo từ năm 1986,trong những năm đầu của thập kỷ 90, Việt Nam đã không những thoát khỏi cuộckhủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng và kéo dài mà còn tạo ra những bước tiếnvượt bậc với việc cải thiện tình hình chính trị đối ngoại, xử lý các khoản nợ nướcngoài thông qua Câu lạc bộ chủ nợ Pa-ri, kinh tế trong nước đạt mức tăng trưởngcao, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt Đây là bối cảnh dẫn đến cơ hội đểViệt Nam và cộng đồng tài trợ quốc tế nối lại quan hệ hợp tác phát triển Hội nghịbàn tròn về viện trợ dành cho Việt Nam được tổ chức tại Pa-ri dưới sự chủ trì củaNgân hàng Thế giới (WB) vào tháng 11 năm 1993 là điểm khởi đầu cho quá trìnhthu hút và sử dụng ODA ở Việt Nam

Sau hơn 20 năm đổi mới (tính từ năm 1986), Việt Nam đã đạt được nhữngthành tựu phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội vượt bậc, được dư luận trong nước vàquốc tế thừa nhận rộng rãi: Nền kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ bình quân7,5%/năm, mức đói nghèo giảm từ trên 50% vào đầu những năm 90 xuống còn trên10% vào năm 2008, hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện đánh dấu bằng việc ViệtNam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đượcbầu là Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Việt Nam

là thành viên tích cực của ASEAN, APEC, và nhiều Diễn đàn, tổ chức quốc tếkhác, Những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong thời gian qua có phần đónggóp quan trọng của viện trợ phát triển như một phần trong sự nghiệp phát triển củaViệt Nam

Trang 10

Cam kết cung cấp vốn ODA năm sau cao hơn năm trước

Theo tập quán tài trợ quốc tế, hàng năm các nhà tài trợ tổ chức Hội nghị việntrợ quốc tế để vận động tài trợ cho các quốc gia đang phát triển Đối với Việt Nam,sau Hội bàn tròn về viện trợ phát triển dành cho Việt Nam diễn ra lần đầu tiên vàonăm 1993, các hội nghị viện trợ tiếp theo được đổi tên thành Hội nghị Nhóm tư vấncác nhà tài trợ dành cho Việt Nam (gọi tắt là Hội nghị CG) và Việt Nam từ vị thế làkhách mời đã trở thành Đồng chủ trì Hội nghị CG cùng với Ngân hàng Thế giới.Địa điểm tổ chức Hội nghị CG cũng thay đổi từ việc tổ chức tại nước tài trợ như tạiPháp, Nhật Bản sang về tổ chức tại Việt Nam

Hội nghị CG thường niên thực sự là diễn đàn đối thoại giữa Chính phủ vàcộng đồng các nhà tài trợ quốc tế về chiến lược, kế hoạch và chính sách phát triểnkinh tế - xã hội của Việt Nam, trong đó quan hệ hợp tác phát triển và việc cung cấp,

sử dụng viện trợ phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảmnghèo là một nội dung gắn kết chặt chẽ, không tách rời Ngoài Hội nghị CG thườngniên, còn tổ chức Hội nghị CG giữa kỳ không chính thức tại các địa phương, tạođiều kiện cho các nhà tài trợ gần với người dân và nắm bắt được nhu cầu phát triểncần được hỗ trợ của họ

Là diễn đàn đối thoại về chính sách và viện trợ, song không khí chung của tất

cả các Hội nghị CG cho đến nay là dựa trên tinh thần quan hệ đối tác và mang tínhxây dựng, trong đó các nhà tài trợ tôn trọng vai trò làm chủ và lãnh đạo quốc giacủa Việt Nam trong quá trình phát triển

Trong thời gian qua, cộng đồng tài trợ tại Việt Nam đã được mở rộng rấtnhiều và hiện có 51 nhà tài trợ, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương và 23 nhà tàitrợ đa phương1 đang hoạt động thường xuyên tại Việt Nam Ngoài các nước là thànhviên của Tổ chức OECD-DAC còn có các nhà tài trợ mới nổi như Trung Quốc, Ấn

độ, Hung-ga-ri, Séc

1

a) Các nhà tài trợ song phương: Ai-xơ-len, Anh, Áo, Ba Lan, Bỉ, Ca-na-đa, Cô-oét, Đan Mạch, Đức, Hà Lan,

Hàn Quốc, Hungari, I-ta-lia, Lúc-xem-bua, Mỹ, Na-uy, Nhật Bản, Niu-di-lân, Ôt-xtrây-lia, Phần Lan, Pháp, Séc, Tây Ban Nha, Thái Lan, Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ, Trung Quốc, Xin-ga-po.

b) Các nhà tài trợ đa phương gồm:

- Các định chế tài chính quốc tế và các quỹ: nhóm Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF),

Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Đầu tư Bắc Âu (NIB), Quỹ Phát triển Bắc Âu (NDF), Quỹ Phát triển quốc tế của các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC (OFID - trước đây là Quỹ OPEC), Quỹ Kuwait;

- Các tổ chức quốc tế và liên chính phủ: Ủy ban châu Âu (EC), Cao uỷ Liên hợp quốc về người tỵ nạn

(UNHCR), Quỹ Dân số của Liên hợp quốc (UNFPA), Chương trình Phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO), Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS), Cơ quan Phòng chống ma tuý và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC), Quỹ Đầu tư Phát triển của Liên hợp quốc (UNCDF), Quỹ môi trường toàn cầu (GEF), Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Quỹ Quốc tế và Phát triển nông nghiệp (IFAD), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực (FAO), Tổ chức Y tế thế giới (WHO).

Trang 11

Ngoài nguồn vốn tài trợ ODA, ở Việt nam còn có khoảng 600 các tổ chứcphi Chính phủ quốc tế hoạt động với số tiền viện trợ hàng năm lên đến 200 triệuUSD trong nhiều lĩnh vực khác nhau, liên quan trực tiếp đến đời sống người dân tạicác vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc

Thông qua 15 Hội nghị CG thường niên, tổng vốn ODA đã được các nhà tàitrợ cam kết đạt 42,438 tỷ USD với mức cam kết năm sau cao hơn năm trước, kể cảnhững năm kinh tế thế giới gặp khó khăn như khủng hoảng tài chính khu vực châu

2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả thu hút ODA

Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODS) giữ một vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang và kém phát triển Tuy nhiên, để thu hút và sử dụng ODA có hiệu quả phụ thuộc vào nhiều nhân tố, trong

đó có 5 nhân tố chủ yếu sau:

a Nguồn cung cấp ODA

Hiện nay, trên thế giới có 2 nguồn cung cấp ODA chủ yếu là: các nhà tài trợ songphương (các nước thành viên của Ủy ban Hỗ trợ Phát triển – DAC, Trung – Đông

Âu, một số nước Ả Rập và một số nước công nghiệp mới), các tổ chức tài trợ đaphương (chủ yếu WB, ADB, FDB, IMF), ngoài ra còn có các khoản tài trợ từ các tổchức phi chính phủ (NGO) Trong số các nguồn này thì ODA từ các nước thànhviên của DAC là lớn nhất Hàng năm, dòng vốn này trung bình đạt khoảng 50.000triệu USD, năm 1996 đạt 55.438 triệu USD, năm 1997 đạt 47.580 triệu USD, năm

1998 đạt 51.521 triệu USD, năm 1999 đạt 56.526 triệu USD, năm 2000 đạt 53.700triệu USD và lượng vốn này chiếm một tỷ lệ đáng kể là từ GNP của các nước DAC.Tuy nhiên, theo tính toán của UNDP, để thực hiện mục tiêu phát triển thiên niên kỷ,mỗi năm toàn thế giới cần 96 – 116 tỷ USD So với con số hỗ trợ phát triển chínhthức của các nước công nghiệp phát triển hiện nay là 54 tỷ USD thì khoản hỗ trợnày cần tăng gấp đôi và chiếm 0,5% GDP của các nước thuộc DAC của OECD.Hiện tại, trong số 22 nước thành viên của DAC có tới 17 nước dành dưới 0,5%GDP cho viện trợ nước ngoài, 11 nước dành dưới 0,3% GDP

Nhìn chung, trong những năm gần đây, viện trợ nước ngoài giảm mạnh Song tạiHội nghị quốc tế về tài trợ phát triển của UN diễn ra vào tháng 3/2002 tạiMôngtơrây (Mehico) cho thấy, xu hướng này sẽ thay đổi, một số nước đã cam kết

Trang 12

mới về hỗ trợ, tổng ODA tính theo giá trị thực tế sẽ tăng thêm khoảng 15 tỷ USDvào năm 2006 Trong đó, Mỹ tuyên bố trong 3 năm tài chính (2003 – 2005) sẽ tăngdần viện trợ để từ năm thứ 3 trở đi, mỗi năm Mỹ sẽ dành thêm 5 tỷ USD cho việntrợ nước ngoài (tăng 50% so với năm 2002), đưa tổng viện trợ nước ngoài của Mỹlên 0,15% GNP Các nước EU cũng tuyên bố đến năm 2006 viện trợ nước ngoài sẽchiếm 0,39% GNP Như vậy, mỗi năm chi viện cho viện trợ nước ngoài của EU sẽtăng thêm 7 tỷ USD Tại Hội nghị cao cấp các nước G8 (2005) đã cam kết sẽ tănggấp đôi giá trị các khoản viện trợ cho các nước nghèo và các nước đang phát triển

từ nay đến năm 2010 Nếu cam kết này được tuân thủ, các nước thế giới thứ ba sẽnhận được một khoản viện trợ khoảng 50 tỷ USD hàng năm, trong đó 50% sẽ đượcviện trợ cho các nước ở châu Phi

b Mục tiêu cung cấp ODA của các nhà tài trợ:

Mục tiêu về kinh tế:

Nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế, ODA được sử dụng như là một trongnhững cầu nối để đưa ảnh hưởng của nước cung cấp tới các nước đang phát triển.ODA được dùng để thiết lập các mối quan hệ ngoại giao, kinh tế với các nước tiếpnhận Mặt khác, trên một giác độ nhất định, các nước cung còn sử dụng ODA đểxuất khẩu tư bản, từ việc tạo ra các món nợ lớn dần cho đến việc các nước tiếp nhậnODA phải sử dụng chuyên gia của họ, mua vật tư, thiết bị của họ với giá đắt, thậmchí cả các điều kiện đấu thầu, giải ngân được đưa ra cũng là để làm sao với lãi suấtthấp, có ưu đãi nhưng mà họ vẫn đạt được các mục đích khác nhau một cách hiệuquả nhất

Thực tế cho thấy, đi kèm với nguồn vốn ODA di chuyển từ các nước DACtới các nước kém phát triển (LDC) là dòng vốn đầu tư của tư nhân Lượng vốn đầu

tư tư nhân đi kèm gấp hơn 5 lần lượng vốn ODA và trong đó có phần không nhỏcủa việc di chuyển ODA ban đầu Khi các nước LDC đã tiếp nhận ODA thì có thểchấp nhận dễ dàng hơn các điều kiện cho phép các nhà đầu tư nước ngoài vào đầu

tư trực tiếp hoặc gián tiếp; hệ thống cơ chế chính sách đảm bảo quyền lợi, lợi ích,nghĩa vụ của các nhà đầu tư trong và ngoài nước từng bước được hình thành, trong

đó chú ý tới việc tạo điều kiện cho các nhà đầu tư của các nước cung cấp ODAtham gia vào những lĩnh vực đầu tư có khả năng sinh lời cao

Ngoài ra, vốn ODA còn là phương tiện để giúp các nước cung cấp viện trợthâm nhập thị trường các nước đang phát triển một cách dễ dàng hơn và hàng hóacủa nước ngoài có thể vào thị trường trong nước thông qua việc nước tiếp nhậnODA có những thay đổi trong chính sách nhập khẩu Như vậy, khả năng cạnh tranh

và xâm chiếm thị trường của hàng hóa các nước cung cấp ODA so với hàng hóatrong nước tăng lên Mặt khác, ODA được cung cấp không hoàn toàn bằng tiền màbao gồm cả hàng hóa, thiết bị, máy móc do nước cung cấp sản xuất ra được quy đổi

Trang 13

thành tiền; nghĩa là, ODA bao hàm cả việc tạo ra môi trường cho các thị trường xuấtkhẩu.

ODA còn tạo ra sự ổn định về nguồn cung cấp nguyên, nhiên vật liệu cho các nướccung cấp ODA Thực tế cho thấy, các nước cung cấp ODA phụ thuộc vào các nướcLCD về năng lượng (dầu lửa, than, chất đốt), các nguyên liệu, khoáng sản và ODAtrở thành phương tiện để các nước này giải quyết được sự thiếu hụt các nguồn lựctrên

Có thể nói, mục tiêu kinh tế của các nước cung cấp ODA là khá rõ ràng, mụctiêu này trong mỗi giai đoạn có thể khác nhau nên tiêu chí cung cấp ODA khácnhau Tuy nhiên, những nước thiếu vốn, lạc hậu về công nghệ và kinh nghiệm quản

lý để tạo lập các tiền đề phát triển, các nước đang và chậm phát triển vẫn cần nhậnđược sự hỗ trợ của các nước phát triển thông qua ODA, nhưng vấn đề mà các nướctiếp nhận ODA cần quan tâm là biết sàng lọc để có được các nguồn vốn này và sửdụng cóhiệu quả kinh tế cao nhất

Mục tiêu chính trị:

ODA không phải là sự giúp đỡ “hào hiệp, vô tư”, giúp xóa đói giảm nghèo,bảo vệ môi trường và đáp ứng các yêu cầu cơ bản nhất của con người ở các nướcnhận viện trợ mà ODA được sử dụng như là công cụ chính trị của các nước pháttriển Ví như Mỹ viện trợ cho nước ngoài được coi là “những công cụ quan trọngthúc đẩy các mục tiêu trong chính sách đối ngoại của Mỹ” và “viện trợ là một bộphận quan trọng của vai trò lãnh đạo thế giới của Mỹ” Điều này lý giải tại sao ngàynay cơ quan viện trợ phát triển quốc tế của Mỹ (USAID) đang giảm sự tập trungtrước đây vào vấn đề tăng trưởng kinh tế và đang xúc tiến cải tổ cơ cấu

Như vậy, ngoài tính chất trục lợi thì những toan tính chính trị cũng là tiêu chícung cấp ODA của các nhà tài trợ Bởi vậy, việc tiếp nhận và sử dụng có hiệu quảODA là cả một vấn đề phức tạp, đã và đang làm đau đầu các nhà lãnh đạo của cácnước tiếp nhận ODA, tỏng đó có Việt Nam

Mục tiêu nhân đạo:

Trong các mục tiêu cung cấp ODA của các nhà tài trợ, mục tiêu vì cácchương trình, dự án xóa đói, giảm nghèo, y tế, giáo dục, bảo đảm bền vững về môitrường là một phần quan trọng của viện trợ Mục tiêu này được thể hiện khá đậmnét trong các chương trình viện trợ của Thụy Điển – một quốc gia được đánh giá là

có nguồn viện trợ mang ý tưởng nhân đạo tiến bộ đã góp phần không nhỏ vào cácchương trình phát triển kinh tế - xã hội ở các nước thế giới thứ ba Bằng các chươngtrình hợp tác và phát triển, viện trợ của Thụy Điển đã giúp Chính phủ các nước tiếpnhận viện trợ lựa chọn những ưu tiên cần thiết trong việc thiết lập các thể chế tạichỗ và phát huy năng lực tại chỗ của các quốc gia này Đồng thời, viện trợ Thụy

Trang 14

Điển cũng ủng hộ các cuộc cải cách thị trường và phát huy năng lực nhà nước sởtại.

Với ý nghĩa đó, các chương trình ODA của Thụy Điển thường được hướngvào giải quyết các vấn đề như: giảm nghèo, giới, môi trường và phát triển bền vững,dân chủ và nhân quyền; trong đó hướng tới 4 mục tiêu là tăng trưởng các nguồn lực,công bằng về kinh tế - xã hội, độc lập về kinh tế và chính trị, phát triển dân chủ.Một quốc gia khác được xếp vào diện những nhà tài trợ lớn của thế giới và cũng lànước luôn coi trọng mục tiêu phát triển kinh tế đó là Nhật Bản Trong các mục tiêucung cấp ODA của nước này, yếu tố nhân đạo cũng được thể hiện tương đối rõ nét,

cụ thể: Bảo vệ môi trường và phát triển sẽ được tôn trọng như nhau; không sử dụngODA vào mục đích quân sự hoặc không làm trầm trọng thêm những đối đầu quốctế; nhằm duy trì và củng cố nền hòa bình và phát triển ổn định nền kinh tế - xã hộicủa các nước nhận viện trợ; thúc đẩy dân chủ hóa bước đầu đi vào kinh tế thịtrường, đảm bảo quyền tự do và nhân quyền

Trên bình diện quốc tế, ngay từ năm 1969 các tổ chức DAC và OECD đã xácđịnh mục tiêu của các nước này là dành 0,7% GDP của nước mình cho viện trợ pháttriển ở nước ngoài Đến năm 1992 tại Hội nghị thượng đỉnh Rio De Zannezo mộtcông ước quốc tế đã được thông qua, theo đó viện trợ cho các nước nghèo thuộc thếgiới thứ ba cần phải chiếm ít nhất 0,7% tổng sản phẩm xã hội GDP của các quốc giacông nghiệp phát triển

Có thể nói, mặc dù các mục tiêu đưa ra mới thực hiện được một phần nhưng

đã thể hiện được tinh thần nhân đạo và trách nhiệm của các nước phát triển đối vớicác nước đang và kém phát triển

c Thay đổi trong chương trình nghị sự và những cải cách trong chính sách cung cấp ODA của các nhà tài trợ.

Hơn 60 năm qua, viện trợ nước ngoài đã có nhiều đóng góp cho sự phát triểnchung của nhân loại nhất là đối với các nước đang và kém phát triển Tuy nhiên,cùng với những biến đổi về môi trường kinh tế, chính trị toàn cầu, dòng vốn ODAcũng đang có những biến đổi với nhiều sắc thái mới Trong đó có nhiều vấn đề thực

tế phải đặt ra những câu hỏi khác nhau liên quan tới viện trợ, rằng có cần thiết tồntại viện trợ hay không khi mà chiến tranh lạnh đã kết thúc và dòng vốn tư nhân đổvào các nước đang phát triển tăng mạnh; chất lượng phát triển phụ thuộc vào chấtlượng chính sách, thể chế và dịch vụ công hơn là thiếu vốn và thực tế đã chỉ ra thếnào là viện trợ có hiệu quả và không hiệu quả

Với những thay đổi trong chương trình nghị sự, chính sách cung cấp ODAcủa các nhà tài trợ cũng đã được cải cách, theo đó việc cung cấp ODA sẽ được tiếnhành dựa trên các tiêu thức:

Trang 15

Một là, viện trợ tài chính sẽ được chú trọng một cách rõ rệt hơn tới những nước có

thu nhập thấp mà có cơ chế quản lý kinh tế tốt

Hai là, viện trợ được dành cho những nước có chiến lược cải cách cụ thể và có tính

Năm là, do các phương pháp truyền thống đã trở nên bất lực nên các cơ quan viện

trợ phải tìm ra được những phương thức thay thế để hỗ trợ cho những quốc gia cónền kinh tế bị bóp méo nghiêm trọng bởi thể chế và chính sách yếu kém

d Chiến lược phát triển và thể chế của nước tiếp nhận:

Hầu hết các nước tiếp nhận ODA thường sử dụng nguồn vốn này để đầu tưvào các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, nhằm tạo điều kiện thuận lợi chosản xuất, tạo môi trường hạ tầng tốt để tiếp tục thu hút vốn đầu tư

Tuy nhiên, một trong những điều kiện để có được ODA là mục tiêu sử dụng vốncủa nước tiếp nhận phải phù hợp với hướng ưu tiên trong mối quan hệ giữa bên cấpODA và bên nhận ODA Do đó, để thu hút được ODA phục vụ cho các quy hoạchphát triển quốc gia, ngoài việc là nước nghèo thuộc diện được nhận ODA (nếukhông phải là đồng minh chiến lược), các nước này cần phải có một chiến lược pháttriển đất nước có những điểm tương đồng với các chính sách ưu tiên của các bêncung cấp ODA Đồng thời, có một thể chế nhà nước đủ mạnh để có khả năng tiếpnhận, quản lý và sử dụng hiệu quả lượng ODA được cung cấp

Qua nghiên cứu hiệu quả viện trợ cho thấy, thất bại trong hoạch định chínhsách, xây dựng thể chế và cung cấp các dịch vụ công đã trở thành rào cản đối vớiphát triển còn trầm trọng hơn so với việc thiếu vốn, từ đó đã chỉ ra cho các nhà tàitrợ thấy rằng viện trợ phát triển nên chú trọng chủ yếu vào hỗ trợ cho việc cải tổ thểchế và chính sách phù hợp chứ không phải để cấp vốn (một trọng tâm của cải cáchchính sách viện trợ) Vì vậy, ngày nay chiến lược phát triển thể chế của nước tiếpnhận đang được coi là một trong những nhân tố cạnh tranh có ảnh hưởng tới khảnăng thu hút cũng như hiệu quả sử dụng viện trợ

e Chất lượng và hiệu quả sử dụng ODA của nước tiếp nhận

Thực tế, ODA vẫn là vốn vay, mà đã vay thì phải trả cả gốc lẫn lãi Vì thế,nếu sử dụng không hiệu quả thì nợ nần là điều khó tránh khỏi Do đó, việc thu hútODA sẽ phải xem xét lại trong các chương trình nghị sự của nước tiếp nhận khôngchỉ dưới giác độ chiến lược, thể chế mà cả trên giác độ chất lượng và hiệu quả sửdụng nguồn vốn

Trang 16

Vì ODA là một hình thức của xuất khẩu tư bản, nếu nước tiếp nhận sử dụngODA không hiệu quả ở bất kể phương diện nào cũng sẽ ảnh hưởng tới niềm tin củacác bên cung cấp và như vậy, cam kết ODA của các nhà tài trợ sẽ được cân nhắc lại,điều đó đồng nghĩa với việc nước tiếp nhận sẽ gặp khó khăn trong việc thu hútnguồn vốn này để phục vụ các mục tiêu phát triển của mình.

Tóm lại, mục tiêu cung cấp ODA của các tổ chức quốc tế, các chính phủ vàcác nhà tài trợ ở một khía cạnh nhất định đều nhằm tạo điều kiện cho tăng trưởng vàphát triển ở các nước tiếp nhận viện trợ Tuy nhiên, với mỗi tổ chức, mỗi nhà tài trợlại có những mục tiêu chiến lược riêng cho từng giai đoạn nhất định Bởi vậy, việcnắm bắt được các mục tiêu khác nhau của từng nhà tài trợ là một trong những điềukiện để vừa làm tăng khả năng thu hút nguồn vốn ODA phục vụ cho sự nghiệp pháttriển đất nước, vừa làm cho các chương trình dự án được thực hiện có hiệu quả caohơn về kỹ thuật, kinh tế - xã hội đối với những nước tiếp nhận

2.2 Thực trạng sử dụng và quản lý ODA của Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế

Giải ngân vốn ODA có tiến bộ, song chưa đủ

Việt Nam nhận thức rằng cam kết vốn ODA mới chỉ là sự ủng hộ về chínhtrị của cộng đồng tài trợ quốc tế, việc giải ngân nguồn vốn này nhằm tạo ra cáccông trình, sản phẩm kinh tế - xã hội cụ thể để đóng góp vào quá trình phát triển củađất nước mới là quan trọng

Trong thời kỳ 1993-2008 (tính đến hết tháng 10 năm 2008), tổng vốn ODAgiải ngân đạt 22,065 tỷ USD, chiếm 52% tổng vốn ODA cam kết và 62,65% tổngvốn ODA ký kết

Có thể nhận thấy trong thời kỳ này tình hình giải ngân vốn ODA có nhữngcải thiện nhất định với chiều hướng tích cực qua các năm Tuy nhiên, mức giải ngânnày vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm

và tỷ lệ giải ngân vẫn còn thấp hơn mức trung bình của thế giới và khu vực đối vớimột số nhà tài trợ cụ thể

Trang 17

BIỂU ĐỒ CAM KẾT, KÝ KẾT, GIẢI NGÂN TỪ 1993 – 2008

(đơn vị Triệu USD)

(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội - Những ngành và lĩnh vực ưu tiên sử dụng vốn ODA

Căn cứ vào nhu cầu vốn đầu tư và định hướng phát triển theo ngành, lĩnh vực

và vùng lãnh thổ đề ra trong các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội,Chính phủ Việt Nam đã đưa ra định hướng chiến lược, chính sách và những lĩnhvực ưu tiên sử dụng vốn ODA cho từng thời kỳ Gần đây nhất, trên cơ sở tham vấnrộng rãi các nhà tài trợ, ngày 29 tháng 12 năm 2006 Thủ tướng Chính phủ ban hànhQuyết định số 290/2006/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thu hút và sử dụng nguồn hỗ trợphát triển chính thức thời kỳ 2006-2010

5 lĩnh vực ưu tiên thu hút và sử dụng ODA trong thời kỳ 5 năm 2006-2010 bao gồm:

+ Phát triển nông nghiệp và nông thôn (bao gồm nông nghiệp, thuỷ lợi, lâmnghiệp, thuỷ sản kết hợp xóa đói, giảm nghèo)

+ Xây dựng hạ tầng kinh tế theo hướng hiện đại

+ Xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội (y tế, giáo dục và đào tạo, dân số và pháttriển và một số lĩnh vực khác)

+ Bảo vệ môi truờng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Trang 18

+ Tăng cường năng lực thể chế và phát triển nguồn nhân lực, chuyển giaocông nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và triển khai.

Cơ cấu vốn ODA theo các điều ước quốc tế về ODA đã được ký trong thời

kỳ 1993-2008 (tính đến hết tháng 10 năm 2008) phù hợp với những định hướng ưutiên sử dụng vốn ODA nêu trên

Trong các ngành và lĩnh vực ưu tiên vốn ODA, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kết hợp xóa đói giảm nghèo có các chương trình và dự án ODA ký kết

trong thời kỳ 1993-2008 đạt tổng trị giá khoảng 5,5 tỷ USD, trong đó có nhiều dự

án quy mô lớn như Dự án giảm nghèo các tỉnh vùng núi phía Bắc, Dự án phát triển

cơ sở hạ tầng nông thôn dựa vào cộng đồng, Dự án phát triển sinh kế miền Trung,Chương trình cấp nước nông thôn, giao thông nông thôn và điện khí hóa nông thôn,Chương trình thủy lợi Đồng bằng sông Cửu Long và nhiều dự án phát triển nôngthôn tổng hợp kết hợp xóa đói, giảm nghèo khác, đã góp phần hỗ trợ phát triểnnông nghiệp và cải thiện một bước quan trọng đời sống người dân các vùng sâu,vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là trong việc tiếp cận tới các dịch vụcông trong các lĩnh vực y tế, giáo dục

Năng lượng và Công nghiệp là lĩnh vực sử dụng nguồn vốn ODA lớn với

các dự án đã ký trong thời gian qua đạt trên 7,6 tỷ USD nhằm cải tạo, nâng cấp,phát triển mới nhiều nhà máy nhiệt điện và thủy điện với công suất lớn2, cải tạo vàphát triển mạng truyền tải và phân phối điện quốc gia đáp ứng nhu cầu điện gia tănghàng năm cho sản xuất và đời sống ở các thành phố, thị trấn, thị xã, khu côngnghiệp và khu vực nông thôn trên cả nước Đây là nguồn vốn lớn và có ý nghĩatrong bối cảnh nguồn vốn đầu tư từ ngân sách còn hạn hẹp, khu vực tư nhân trong

và ngoài nước trong giai đoạn phát triển ban đầu còn chưa mặn mà với đầu tư pháttriển nguồn và lưới điện vì yêu cầu vốn lớn và thời gian thu hồi vốn chậm

Giao thông Vận tải và Bưu chính viễn thông là ngành tiếp nhận vốn ODA

lớn nhất với tổng giá trị hiệp định ký kết đạt khoảng 9,88 tỷ USD thời kỳ

1993-2008 Nhờ nguồn vốn này, Việt Nam đã khôi phục và bước đầu phát triển các hệthống giao thông đường bộ, đường sắt, đường không, đường biển và đường thủy nộiđịa Đây là những cơ sở hạ tầng kinh tế hết sức quan trọng để thúc đẩy phát triểncác ngành, lĩnh vực và địa phương, kể cả thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài3

2 Nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ 2.1 công suất 288 MW; nhà máy nhiệt điện Phả Lại II công suất 600 MW; nhà máy thuỷ điện Hàm Thuận - Đa Mi công suất 475 MW; nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ I công suất 1.090 MW; nhà máy nhiệt điện Ô Môn công suất 600 MW; nhà máy thuỷ điện Đại Ninh công suất 360 MW

3 Hệ thống đường bộ ở phía Bắc (Quốc lộ 5, 10, 18), Quốc lộ 1A, đường xuyên Á Thành phố Hồ Chí Minh Mộc Bài, hầm đường bộ đèo Hải Vân, cảng biển nước sâu Cái Lân, cảng Tiên Sa (Đà Nẵng), cảng Sài Gòn, nhà ga quốc tế sân bay Tân Sơn Nhất, các cầu lớn như cầu Mỹ Thuận, cầu Cần Thơ, cầu Thanh Trì, cầu

-Bãi Cháy.Hệ thống thông tin liên lạc ven biển, điện thoại nông thôn và internet cộng đồng

Ngày đăng: 18/04/2013, 11:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w