Toàn cầu hóa và khu vực hóa đã trở thành xu hướng phát triển chung của thế giới. Việt Nam không thể đứng ngoài xu hướng này mà phải nắm bắt cơ hội để đưa đất nước nhanh chóng hội nhập với khu vực và thế giới một cách chủ động, tích cực, đạt hiệu quả cao.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Toàn cầu hóa và khu vực hóa đã trở thành xu hướng phát triển chung của thếgiới Việt Nam không thể đứng ngoài xu hướng này mà phải nắm bắt cơ hội để đưađất nước nhanh chóng hội nhập với khu vực và thế giới một cách chủ động, tíchcực, đạt hiệu quả cao Thực hiện chủ trương đó, trong những năm qua Việt Nam đãtích cực tham gia vào quá trình này,hiện Việt Nam đã là thành viên của ASEAN,APEC, ASEM, đã ký kết hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và trong năm
2006 Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO và chính thức trởthành thành viên thứ 150 của WTO
Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng có không ít tháchthức cho các quốc gia đang phát triển Bởi vì, Hội nhập kinh tế quốc tế nhằm tớiđích là tự do hóa thương mại, điều này cũng đồng nghĩa với việc phải dỡ bỏ nhữngrào cản do các nước lập nên nhằm làm cho hàng hóa giữa các nước được di chuyểnthuận lợi hơn trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng Lợi ích lớn nhất của tự do hóathương mại là thúc đẩy ngày càng nhiều nước tham gia buôn bán trao đổi hàng hóa
từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tranh thủ được vốn, khoa học – công nghệ,nguyên liệu, thị trường …, người tiêu dùng có nhiều cơ hội lựa chọn hàng hóa tốthơn với giá rẻ hơn Tuy nhiên không phải ngẫu nhiên mà các nước lại dựng lênnhững rào cản làm ảnh hưởng đến sự lưu thông hàng hóa Lý do mà các nước làmviệc này là để nhằm bảo hộ sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh của hàng hóabên ngoài Điều này có ý nghĩa lớn vì sản xuất trong nước mà bị suy giảm sẽ ảnhhưởng lớn đến công ăn việc làm, ảnh hưởng đến ổn định xã hội; ảnh hưởng nguồnthu cho ngân sách nhà nước; ảnh hưởng đến cán cân thanh toán, nguy cơ bệnh tậtgia tăng do ảnh hưởng của hàng nhập khẩu … Tự do hóa thương mại ở những mức
độ khác nhau sẽ làm yếu đi hoặc mất dần các hàng rào nói trên và như thế sẽ làmảnh hưởng đến mục đích đặt ra khi thiết lập hàng rào
Đối với nước ta, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ giúp cho Việt Nam có thêm cơhội giao lưu kinh tế với nhiều nền kinh tế, có thêm nhiều đối tác kinh doanh, mở
Trang 2rộng thị trường, thu hút thêm nguồn vốn đầu tư nước ngoài Từ đó có thể tận dụngđược những nguồn lực từ bên ngoài để rút ngắn khoảng cách với các nước pháttriển Tuy nhiên, Việt Nam cũng gặp không ít các rào cản thương mại do các nướcphát triển đặt ra để ngăn cản hàng hóa của Việt Nam nhập khẩu vào các nước.
Xuất phát từ nhận thức trên đây, em đã chọn đề tài “ Giải pháp vượt rào cản thương mại đối với hàng xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” để viết đề án môn học chuyên ngành Việc nghiên cứu đề tài này
có ý nghĩa rất lớn đối với bản thân em nhằm nhận thức sâu sắc hơn những khó khăn
mà nền kinh tế đang gặp phải trong quá trình hội nhập, củng cố những kiến thức đãhọc Phương pháp nghiên cứu mà em sử dụng trong quá trình xây dựng đề án này làkết hợp những kiến thức đã tích lũy trong quá trình học tập với sự tổng hợp tài liệusách báo, tạp chí để phân tích vấn đề đặt ra
Kết cấu đề án gồm có 3 chương:
Chương I: Quan niệm về rào cản thương mại
Chương II: Thực trạng rào cản thương mại đối với hàng xuất khẩu thủy sản Việt Nam
Chương III: Phương hướng, giải pháp vượt qua rào cản thương mại đối với hàng thủy sản
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của ThS Trần Thị ThạchLiên đã giúp em hoàn thành đề án này
Hà Nội, ngày 22 tháng 11 năm 2010.
Trang 3CHƯƠNG I QUAN NIỆM VỀ RÀO CẢN THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm “rào cản thương mại”
Một trong những nội dung cơ bản của toàn cầu hóa kinh tế là sự phát triểnnhanh chóng các quan hệ kinh tế thương mại, xu hướng tự do hóa kinh tế song songvới xu hướng bảo hộ mậu dịch và sự gia tăng các rào cản thương mại Rào cảnthương mại có thể hiểu là biện pháp hay hành động gây cản trở đối với thương mạiquốc tế Rào cản thương mại quốc tế rất đa dạng, phức tạp và được quy định bởi cả
hệ thống pháp luật quốc tế, cũng như luật pháp của từng quốc gia, được sử dụngkhông giống nhau ở các quốc gia và vùng lãnh thổ
Trong thực tế, các nhà khoa học có rất nhiều định nghĩa khác nhau về rào cảnthương mại Song, nhìn chung lại thì rào cản thương mại được hiểu là các luật lệ,chính sách, quy định hay tập quán của Chính phủ mỗi nước trong khuôn khổ pháp
lý chung nhằm hạn chế hay ngăn cản hoạt động thương mại hàng hóa hay dịch vụcủa nước ngoài
Ngày nay trên thế giới đang diễn ra xu hướng toàn cầu hóa và hoạt độngthương mại tự do được coi là một kênh chủ yếu, là chiếc cầu khổng lồ nối vòng taylớn và đồng thuận giữa các nước trên thế giới Và các rào cản thương mại chính lànhững quy định thống nhất, tạo sự bình đẳng, công khai được Tổ chức Thương mạiThế giới (WTO) xây dựng lên nhằm tạo ra sự đồng thuận vận hành suôn sẻ, theo đógiám sát việc thực hiện của các thành viên
1.2 Các loại rào cản thương mại
1.2.1 Hàng rào thuế quan
Thuế quan được áp dụng trước hết là nhằm mục đích tăng nguồn thu ngânsách cho Chính phủ, sau đó là vì những mục đích khác như ngăn chặn hàng nhậpkhẩu và bảo vệ hàng trong nước, trả đũa một quốc gia khác, bảo vệ một ngành sảnxuất quan trọng hay còn non trẻ của nước mình Một số rào cản thuế quan thườngđược áp dụng như: thuế phần trăm, thuế quan đặc thù như hạn ngạch thuế quan,
Trang 4Thuế quan là biện pháp mà Tổ chức Thương mại thế giới cho phép sử dụng
để bảo hộ thị trường trong nước nhưng phải cam kết ràng buộc với mức thuế trầnnhất định và có lịch trình cắt giảm, do vậy xu hướng ngày càng giảm đi Sự tự dohóa biểu hiện thông qua các chính sách về quy chế tối huệ quốc (MFN), chế độ thuếquan ưu đãi phổ cập (GFP), Hiệp định thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung của cáckhối liên kết kinh tế như EU, NAFTA, AFTA, APEC…
Thông qua các vòng đàm phán, WTO luôn hướng mục tiêu cắt giảm thuếquan Các nước thành viên không được phép tăng thuế lên trên mức trần đã cam kếttrong biểu
1.2.2 Hàng rào phi thuế quan
Hàng rào phi thuế quan:
Đó là những quy định hành chính phân biệt đối xử nhằm chống lại hàng hóanước ngoài và ủng hộ sản xuất nội địa Nhà nước tuyên truyền quảng cáo khuyênngười tiêu dùng hoặc ra lệnh cho các viên chức dùng hàng hóa nội địa Các nướccông nghiệp phát triển thường đưa ra lý do là nhằm bảo vệ sự an toàn và lợi ích củangười tiêu dùng, bảo vệ môi trường trong nước đã áp dụng các biện pháp phi thuếquan để giảm thiểu lượng hàng hóa nhập khẩu
Hàng rào phi thuế quan là những khác biệt trong những quy định hoặc tậpquán của các quốc gia làm cản trở sự lưu thông tự do của hàng hóa, dịch vụ và cácyếu tố sản xuất với các nước Biện pháp hạn chế xuất khẩu tự nguyện cũng là mộttrong những hình thức của hàng rào mậu dịch phi thuế quan Thực chất đây lànhững cuộc thương lượng mậu dịch giữa các bên để hạn chế bớt sự xâm nhập củahàng ngoại, tạo công ăn việc làm cho thị trường trong nước Ví dụ, các cuộc thươnglượng mậu dịch giữa Nhật và Mỹ về việc hạn chế sự xâm nhập xe hơi của Nhật vàothị trường Mỹ Hạn chế xuất khẩu tự nguyện mang tính miễn cưỡng và gắn vớinhững thị trường nhất định Hình thức này thường được áp dụng cho các nước cókhối lượng xuất khẩu quá lớn về một mặt hàng nào đó, nhất là những mặt hàng cósức cạnh tranh cao và có xu hướng mở rộng nhanh thị phần trên thị trường của nước
bị thâm nhập
Trang 5Các hàng rào này bao gồm: hạn ngạch, cấp phép, định giá hải quan, quy định
về xuất xứ, các quy định về kỹ thuật, vệ sinh, nhãn mác, trợ cấp, chống bán phá giá,
sở hữu trí tuệ … Trong đó, các biện pháp đang được sử dụng rộng rãi là:
Các biện pháp cấm: Trong số các biện pháp cấm được sử dụng trong thực
tiễn thương mại quốc tế có các biện pháp như: Cấm vận toàn diện, cấm vận từngphần, cấm xuất khẩu hoặc nhập khẩu với một số hàng hóa nào đó …
Hạn chế định lượng (quota):
Đó là hạn ngạch về số lượng hoặc giá trị được phép xuất khẩu, nhập khẩutrong một thời kỳ nhất định (thường là một năm), hạn ngạch này có thể do nướcnhập khẩu hoặc xuất khẩu tự áp đặt một cách đơn phương nhưng cũng có loại hạnngạch được áp đặt trên cơ sở tự nguyện của bên thứ hai (hạn ngạch xuất khẩu tựnguyện) Hạn ngạch bao gồm: hạn ngạch toàn cầu, hạn ngạch song phương, hạnngạch theo mùa, hạn ngạch liên quan đến thực hiện xuất khẩu, hạn ngạch liên quanđến bán hàng hóa nội địa, hạn ngạch của các hạn mục nhạy cảm
Hạn ngạch là một công cụ kinh tế và là một công cụ phổ biến của hàng ràophi thuế quan phục vụ cho công tác điều tiết, quản lý Nhà nước về xuất nhập khẩu,vừa nhằm bảo hộ sản xuất trong nước, bảo vệ tài nguyên, vừa cải thiện cán cânthanh toán Hạn ngạch được hiểu là quy định của Nhà nước về số lượng (hoặc giátrị) của một mặt hàng hoặc một nhóm mặt hàng được phép xuất khẩu sang hoặcnhập khẩu từ một thị trường nhất định trong một thời gian nhất định, thông qua hìnhthức cấp giấy phép (quota xuất, nhập khẩu) Hạn ngạch nhập khẩu là công cụ quantrọng để thực hiện chiến lược sản xuất thay thế nhập khẩu, bảo vệ sản xuất nội địa
Để quản lý xuất khẩu, các nước cũng áp dụng hạn ngạch xuất khẩu Hạn ngạch xuấtkhẩu được quy định theo mặt hàng, theo nước và theo thời gian Hạn ngạch xuấtkhẩu mang tính chủ động và thường là biện pháp tự bảo vệ thị trường trong nướchoặc tài nguyên trong nước
Hạn chế định lượng đang được coi là có tác dụng bảo hộ mạnh hơn các biệnpháp thuế quan và dễ bóp méo thương mại Cho nên, điều XI của Hiệp định GATTkhông cho phép các nước thành viên áp dụng các biện pháp hạn chế số lượng nhập
Trang 6khẩu hoặc xuất khẩu hàng hóa Tuy nhiên, Hiệp định GATT cũng đưa ra một sốngoại lệ cho phép các nước thành viên được áp dụng các biện pháp hạn chế địnhlượng theo những điều kiện nghiêm ngặt Ví dụ như để đối phó với tình trạng thiếulương thực trầm trọng, bảo vệ cán cân thanh toán, bảo vệ sức khỏe con người, độngthực vật, bảo vệ an ninh quốc gia …
Cấp phép xuất khẩu:
Phải tuân thủ Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu của WTO, tức là đápứng các tiêu chí như đơn giản, minh bạch và dễ dự đoán Trình tự, thủ tục xin cấpphép cũng như lý do áp dụng giấy phép phải được thông báo rõ ràng, nhất là đối vớicác loại giấy phép không tự động
Các thủ tục hải quan:
Nếu các thủ tục hải quan đơn giản, nhanh chóng, đây chỉ là biện pháp quản
lý thông thường, nhưng nếu thủ tục quá chậm chạp, phức tạp có thể trở thành hàngrào phi thuế quan Sử dụng các quy định về kiểm tra trước khi xếp hàng, quy định
về cửa khẩu thông quan, quy định về giá trị tính thuế hải quan … cũng sẽ trở thànhrào cản khi mà nó chưa hoặc không phù hợp quy định về hài hòa thủ tục hải quan.Định giá hải quan để tính thuế cũng có thể trở thành một rào cản lớn với hoạt độngthương mại Ví dụ như quy định về áp giá tối thiểu để tính thuế nhập khẩu Chính vìvậy, Hiệp định về định giá hải quan của WTO đã quy định các nguyên tắc cụ thểtrong việc xác định giá trị tính thuế của hàng hóa, bắt buộc các thành viên phải thựcthi đúng và minh bạch
Về trợ cấp:
Đây là một công cụ chính sách được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở hầu hếtcác nước nhằm đạt các mục tiêu của Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội, ổnđịnh chính trị … Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về trợ cấp, nhưng theo WTO,trợ cấp là một khoản đóng góp về tài chính do Chính phủ hoặc một tổ chức Nhànước cung cấp, hoặc là một khoản hỗ trợ về thu nhập, hoặc hỗ trợ giá và mang lạilợi ích cho đối tượng nhận trợ cấp
Trang 7Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO được chia ra làm
ba cấp độ rõ rệt là đèn đỏ, đèn vàng và đèn xanh Với “đèn đỏ” cấm hoàn toàn, baogồm các khoản trợ cấp căn cứ vào thành tích xuất khẩu hay khuyến khích sử dụnghàng trong nước; “đèn vàng” tức là các loại trợ cấp được phép sử dụng, song cũng
có thể bị kiện hoặc áp dụng biện pháp đối kháng; cuối cùng là cấp “đèn xanh” lànhững trợ cấp chung được thả nổi hoàn toàn, bởi ít bóp méo hoạt động thương mạinhư phổ biến và hỗ trợ nghiên cứu phát triển, hỗ trợ vùng khó khăn, hỗ trợ cải tiếntrang thiết bị đang sử dụng để đáp ứng các quy định mới về môi trường …
Rào cản về chống bán phá giá:
Đây là hành vi bán hàng hóa tại thị trường nước nhập khẩu thấp hơn giá bántại thì trường nội địa của nước xuất khẩu nhằm chiếm lĩnh thị trường, hay cạnhtranh giành thị phần Việc làm này bị coi là một hành vi cạnh tranh không lànhmạnh vì không dựa trên những tiêu chí thương mại chung, gây ảnh hưởng tới ngànhcông nghiệp nước nhập khẩu
Việc áp dụng thuế chống bán phá giá là để làm tăng giá hàng hóa nhập khẩu ,khắc phục tác động xấu của hành vi bán phá giá Hiệp định về chống bán phá giácủa WTO đã quy định cụ thể về các tiêu chí để xác định hành vi phá giá và biệnpháp khắc phục
Trong thực tế, việc bán phá giá không chỉ xảy ra ở các nước đang phát triển
mà diễn ra gay cả ở các nước công nghiệp phát triển như EU, Canada, Hoa Kỳ… Theo
số liệu của Ban thư ký WTO, từ năm 1995 đến tháng 6 năm 2005, các nước thành viênWTO đã tiến hành điều tra 2.741 vụ kiện bán phá giá, nhiều nhất là Ấn Độ 412 vụ, kếđến là Mỹ 358 vụ, EU 318 vụ …Rốt cuộc, chỉ có 63% số vụ bị áp thuế bán phá giá, caonhất là Trung Quốc, tiếp đến Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Thái Lan …
Các quy định về kỹ thuật, vệ sinh, nhãn mác …:
Cùng với những nỗ lực giảm thuế và điều chỉnh các biện pháp phi thuếtruyền thống trong WTO, ngày càng xuất hiện nhiều hình thức rào cản thương mạimang tính kỹ thuật như các quy định về vệ sinh, kỹ thuật, môi trường, nhãn mác sảnphẩm Đây là phạm vi chứa đựng nhiều quy định khá phức tạp và hết sức chặt chẽ
Trang 8Hiện nay, trong WTO, Hiệp định SPS điều chỉnh việc áp dụng các biện pháp
vệ sinh, kiểm dịch động, thực vật và Hiệp định TBT điều chỉnh việc áp dụng cácquy định liên quan đến tiêu chuẩn sản phẩm, dán nhãn, chứng nhận và công nhậnhợp chuẩn Mục tiêu của hai hiệp định này là cho phép các nước hành viên một mặtduy trì các biện pháp vệ sinh và kỹ thuật vì các lý do chính đáng, mặt khác hạn chếkhả năng lạm dụng các biện pháp này để bóp méo hoạt động thương mại toàn cầu
Các quy định về thương mại dịch vụ:
Các quy định như quy định về lập công ty, chi nhánh và văn phòng của nướcngoài tại nước sở tại, quy định về xây dựng và phát triển hệ thống phân phối hànghóa, quy định về quyền được tiếp cận các dịch vụ công một cách bình đẳng, quyđịnh về thanh toán và kiểm soát ngoại tệ, quy định về quảng cáo và xúc tiến thươngmại … đều trở thành các rào cản trong thương mại quốc tế nếu các quy định nàykhông minh bạch và có sự thiên vị, phân biệt đối xử
Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại:
Ví dụ như các quy định yêu cầu các nhà đầu tư phải sử dụng nguyên liệutrong nước, quy định tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm hay hạn chế nguồn ngoại tệ dùng đểthanh toán hàng nhập khẩu của công ty … Các biện pháp này thường được các nướcđang phát triển sử dụng rộng rãi để hạn chế nhập khẩu và phát triển ngành côngnghiệp trong nước
Để khắc phục tình trạng này, Hiệp định TRIMS đã đưa ra một danh mục cácbiện pháp đầu tư bị coi là không phù hợp với các quy định về tự do hóa thương mạicủa WTO và yêu cầu các nước thành viên không duy trì những biện pháp này
Rào cản về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ:
Việc thực thi không đầy đủ quyền sở hữu trí tuệ cũng được coi là một ràocản lớn với hoạt động thương mại quốc tế, vì hàng nhái, hàng giả, hàng vi phạm bảnquyền với giá rẻ sẽ hạn chế khả năng tiếp cận thị trường của sản phẩm đích thực.Vấn đề này thực sự trở nên nghiêm trọng với những quốc gia mà việc thực thiquyền sở hữu trí tuệ không nghiêm ngặt, ví dụ như Trung Quốc
Trang 9Trên thực tế, trong quan hệ thương mại Mỹ - Trung, vấn đề thực thi quyềntrở hữu trí tuệ đã không ít lần trở thành một đề tài căng thẳng Hiệp định TRIPS củaWTO điều chỉnh các vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại, gồmcác quyền chính như quyền tác giả, nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, thiết kế côngnghiệp, các bí mật thương mại.
Ngoài những biên pháp chủ yếu kể trên, trong hoạt động thương mại quốc tếcòn tồn tại rất nhiều hình thức rào cản thương mại khác Ví dụ, như mua sắm củaChính phủ, doanh nghiệp nhà nước, quy tắc xuất xứ, các quy định về kiểm địnhhàng hóa trước khi xuống tàu …
Cùng với sự phát triển của hoạt động thương mại và xu hướng điều tiết cácrào cản truyền thống, ngày càng xuất hiện nhiều hình thức rào cản trá hình và tinh
vi hơn, thường là liên quan tới các tiêu chuẩn về kỹ thuật, môi trường, lao động, vớimục đích cuối cùng là đạt được nhiều giá trị thặng dư cho doanh nghiệp mình, đấtnước mình trong sân chơi chung toàn cầu
Thương mại tự do là một trong những động lực to lớn phát triển kinh tế củamỗi quốc gia Vì vậy, trong quá trình hội nhập sâu vào hệ thống thương mại đaphương, việc đầu tư nguồn lực và thời gian để nghiên cứu, hiểu rõ để phòng tránhhiệu quả những rào cản này là vô cùng cần thiết
Theo đó, các biện pháp đấu tranh phòng tránh các rào cản không công bằng
để bảo vệ lợi ích cho mình là một vấn đề lớn không chỉ đối với các nhà quản lý vĩ
mô, hoạch định chính sách, xây dựng luật pháp mà còn là một nhiệm vụ quan trọng
số một đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam
1.2.3 Rào cản kỹ thuật TBT (Technological Barier to Trade)
Đây là hàng rào quy định về hệ thống quản trị chất lượng, môi trường, đạođức kinh doanh, điểm kiểm soát tới hạn, … đối với các doan nghiệp khi thâm nhậpvào thị trường Hệ thống TBT gồm có:
Hệ thống quản trị chất lượng ISO 9001 :2000
Hệ thống này đã được trên 140 quốc gia áp dụng ISO 9001:2000 đề cập chủyếu đến các lĩnh vực về chất lượng, theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp của Liên
Trang 10Hợp Quốc (UNIDO) các doanh nghiệp áp dụng hệ thống này sẽ đáp ứng được yêucầu của khách hàng trong và ngoài nước, nâng cao tinh thần làm việc của nhân viêntrong doanh nghiệp, vượt qua rào cản trong thương mại quốc tế, gia tăng thị phần,diện tích, lợi nhuận và phát triển bền vững.
Trong thực tế, sản phẩm cảu doanh nghiệp nào được cấp giấy chứng nhận phùhợp với ISO 9001:2000 sẽ dễ dàng thâm nhập vào thị trường các nước phát triển
Hệ thống quản trị môi trường ISO 14000:2000
Hệ thống này xem xét khía cạnh bảo vệ môi trường của tổ chức và của sảnphẩm Thị trường thế giới hiện nay rất chú trọng đến vấn đề môi trường, tổ chứcMôi trường thế giới đã khuyến cáo các doanh nghiệp nên cung ứng những sản phẩm
“xanh và sạch” Mức độ ảnh hưởng tới môi trường của một sản phẩm có vai trò lớntới sức cạnh tranh của sản phẩm đó trên thị trường
Hệ thống thực hành sản xuất tốt GMP (Good manufacturing Practices):
Đây là một hệ thống đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt
là dược phẩm Các nước lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Australia, … đều yêu cầu cácsản phẩm thực phẩm và dược phẩm khi nhập vào thị trường nước họ phải đượccông nhận đã áp dụng GMP
Hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn HACCP (Hzard Analysis Critical Control Point):
Đây là yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp chế biến hàng thủy sảnnếu muốn thâm nhập vào thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản, Australia, Canada, … Bộthủy sản Việt Nam quy định các doanh nghiệp chế biến hàng thủy sản phải áp dụngHACCP kể từ năm 2000
Tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội SA 8000:
Đây là tiêu chuẩn quốc tế dựa trên công ước Quốc tế về Lao động của tổchức Lao động Quốc tế (ILO) của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em và nhân quyền.Các nước Mỹ, EU, Nhật Bản, Canada, … quy định cấm nhập khẩu hàng hóa màtrong quá trình sản xuất có sử dụng lao động trẻ em, lao động cưỡng bức, phân biệtđối xử, bắt người lao động làm việc qua thời hạn cho phép của luật lao động
Trang 11CHƯƠNG II THỰC TRẠNG RÀO CẢN THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HÀNG XUẤT
KHẨU VIỆT NAM
2.1 Tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào các thị trường
Tình hình sản xuất và khả năng chế biến của ngành Thủy sản.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê và Bộ Thủy sản, sản lượng thủy sản củaViệt Nam mặc dù trước năm 1985 có sự sa sút, yếu kém nhưng từ năm 1985 trở lạiđây liên tục phát triển qua các năm Năm 1986, tổng sản lượng thủy sản chỉ đạt830.500 tấn; năm 1990 là 1.019.000 tấn; đến năm 2000 đa đạt 2.003.000 tấn; năm
2004 đạt 3.073.600 tấn Trong đó khai thác hải sản đạt tương ứng là 587.000tấn; 709.000 tấn; 1.280.000 tấn; 1.230.500 tấn và nuôi trồng thủy sản là 243.500tấn; 310.000 tấn; 723.000 tấn; 1.150.100 tấn
Ngành công nghiệp chế biến thủy sản ở nước ta đa có bước phát triển nhanh
về năng lực chế biến Năm 1996 cả nước có hơn 40 doanh nghiệp chế biến thủy sản.Đến năm2004, cả nước đa có 405 doanh nghiệp Trong đó có 153 doanh nghiệp chếbiến thủy sản trong Danh sách 1 xuất khẩu vào thị trường EU, 237 doanh nghiệp đủtiêu chuẩn xuất khẩu vào Hàn Quốc và 295 doanh nghiệp đủ điều kiện xuất khẩuvào Trung Quốc
Tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
- Về kim ngạch xuất khẩu: Từ năm 1986 đến nay kim ngạch xuất khẩu thủy
sản của Việt Nam đa không ngừng tăng lên qua các năm Năm 1986 giá trị kimngạch xuất khẩu mới đạt 0,102 tỷ USD Do tác động của cuộc khủng hoảng tàichính - tiền tệ (1997) đa làm ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản nước ta Đến năm
2000 xuất khẩu thủy sản đa có bước nhảy vọt đạt mức 1,402 tỷ USD, tăng 44,38%
so với năm 1999 Trong năm 2002, mặc dù có những khó khăn về thị trường nhưnglần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam vượt qua con số 2 tỷ USD(2,014 tỷ)USD) Năm 2003 sản xuất, xuất khẩu thủy sản gặp nhiều khó khăn do
Trang 12ảnh hưởng của Irắc, dịch bệnh SARS, thiên tai, dịch bệnh tôm, các rào cản từ thịtrường nhập khẩu như việc kiểm soát ngặt nghèo về dư lượng kháng sinh ở EU vàhậu quả của vụ kiện cá tra, cá ba sa, tôm của Mỹ Mặc dù vậyngành thủy sản đa đạtkim ngạch xuất khẩu năm 2003 là 2,3 tỷ USD Năm 2004 giá trị kim ngạch xuấtkhẩu đạt 2,397 tỷ USD.
- Về cơ cấu sản phẩm thủy sản xuất khẩu: Trong tất cả các mặt hàng thủy sản
xuất khẩu từ trước đến nay, tôm đông lạnh luôn chiếm tỷ trọng cao Trước nhữngnăm 1990 kim ngạch xuất khẩu tôm luôn chiếm 70% giá trị xuất khẩu thủy sản hàngnăm Từ răm 2000 trở lại đăm, tôm chỉ còn chiếm tỷ lệ tương đối trên 50% kimngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam Năm 2003, lần đầu tiên vượt mức 1 tỷUSD, chiếm 49% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước và chiếm 10% kim ngạch xuấtkhẩu tôm trên toàn cầu Năm 2004 giá trị xuất khẩu tôm chiếm 52%, tăng 17,3% vềgiá trị, tăng 11,8% về khối lượng; Giá trị xuất khẩu từ cá chiếm 22,8%, tăng16,2% về giá trị, tăng 35,5% về khối lượng so với cùng kỳ Riêng cá tra, cá ba sachiếm 12,51% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của toàn Ngành và bằng 53,3%nhóm sản phẩm cá Sản lượng cá tra, ba sa tăng 55%, giá trị tăng 53,75% so cùngkỳ; Mặt hàng mực và bạch tuộc sản lượng khai thác đạt thấp, giá trị xuất khẩuchiếm 6,7%, tăng 40,2% về giá trị, tăng 32,1% về khối lượng so với cùng kỳ; Sảnphẩm thủy sản khô chiếm 4,2%, tăng 32,2% về giá trị, tăng 52,4% vê khối lượng
so với cùng kỳ; Các sản phẩm thủy sản khác giảm cả về lượng (-34,2%) và giảm cả
về giá trị (-35,4%)
- Về thị trường xuất khẩu: Đến nay sản phẩm thủy sản Việt Nam đa có mặt
tại 80 nước và vùng lanh thổ Trong đó Mỹ, Nhật Bản vẫn là thị trường lớn
Thị trường Mỹ: các năm 2001- 2003 thủy sản xuất khẩu vào Mỹ chiếm tỷtrọng lớn nhất, nhưng năm 2004 do tác động tiêu cực của vụ kiện bán phá giá tômvào thị trường Mỹnên giá trị xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào Mỹ đã lùi xuống vịtrí thứ hai (24,1%) Khối lượng và giá trị kim ngạch thủy sản xuất khẩu giảm sovới cùng kỳ năm 2003, khối lượng đạt 79.265 tấn (giảm 30%), giá trị đạt522.542.000 USD (giảm 27,7%)
Trang 13Thị trường Nhật Bản: có tỷ trọng cao nhất, chiếm 31,4% giá trị kim ngạchxuất khẩu của toàn Ngành, khối lượng đạt 106.610 tấn (tăng 21,6%), giá trị đạt680.064.000 USD (tăng 31,2%) Khi có khó khăn do vụ kiện tôm, nhiều nước bịkiện khác (Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ ) đa chuyển hướng sang thị trườngNhật nhưng thủy sản Việt Nam vẫn tăng được khối lượng và giá trị kim ngạch xuấtkhẩu tại Nhật Bản Đây là hiện tượng đáng mừng về năng lực tiếp thị của các doanhnghiệp chế biển xuất khẩu thủy sản và tín nhiệm về chất lượng hàng thủy sản ViệtNam trên thị trường này.
Thị trường xuất khẩu thủy sản Việt Nam năm 2004
Thị trường Khối lượng
Thị trường Trung Quốc, Hong Kong: trong các tháng đầu năm xuất khẩuthủy sản vào thị trường này giảm mạnh, nhưng các tháng cuối năm tình hình cóthay đổi, khối lượng thủy sản xuất khẩu tăng nhưng giá trị lại giảm Tổng khốilượng thủy sản xuất vào thị trường này năm 2004 đạt 42.999 tấn (tăng 11%), giá trịđạt 116.974.000 USD (giảm 14,6%) Thị trường Trung Quốc, Hong Kong lớn, cótiềm năng song cạnh tranh ngày càng phức tạp, giá sản phẩm có xu hướng giảm
và khả năng tăng hiệu quả là khó khăn
Thị trường ASEAN: tổng khối lượng thủy sản xuất vào thị trường này năm
2004 đạt 38.322 tấn (tăng 47,3%), giá trị đạt 152.953.000 USD (tăng 28,3%)