1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tiết 50 Địa phương Phú Quý

24 310 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 7,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THỰC HÀNH:TÌM HIỂU ĐỊA PHƯƠNG PHÚ QUÝ Phú Quý có chế độ gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa mùa Nam khoảng từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô mùa Bấc khoảng từ tháng 11 đến tháng 4 năm s

Trang 2

THỰC HÀNH:TÌM HIỂU ĐỊA PHƯƠNG PHÚ QUÝ

Tiết 50

Trang 3

THỰC HÀNH:TÌM HIỂU ĐỊA PHƯƠNG PHÚ QUÝ

Tiết 50

1 Đặc điểm tự nhiên:

Bản đồ hành chính huyện Phú Quý.

Cho biết vị trí địa lí, hình dạng của địa phương ?

Trang 4

Điểm cực Bắc: 10 34’ Bắc

Điểm cực Nam: 10 30’ Bắc

Điểm cực Tây: 108 55’ Đông

Điểm cực Đông: 108 58’ Đông

* Giới hạn:

Với diện tích đất tự nhiên 17,82 km2 (không kể đảo lẻ) bốn bề biển cả.

* Diện tích:

Từ cảng Phan Thiết theo hướng Đông - Đông Nam vượt qua chặng đường

56 hải lí, ta sẽ bắt gặp một hòn đảo nằm giữa biển nước mênh mông với hình thù rất kỳ thú Nhìn từ phía Đông, ta thấy nó nổi lên như một con rồng, nhìn từ phía Bắc nó giống như một con cá thu, nếu nhìn từ phía Tây Nam ta dễ dàng hình dung như một vị “Nam Hải Đại Vương” khổng lồ trồi lên mặt nước, … Toàn cảnh thiên nhiên ấy là đảo Phú Quý – một

huyện xa của tỉnh Bình Thuận

* Vị trí địa lí:

Trang 5

Một góc đảo - ảnh chụp từ biển vào

THỰC HÀNH:TÌM HIỂU ĐỊA PHƯƠNG PHÚ QUÝ

Tiết 50

Trang 6

Đặc điểm khí hậu, địa hình của địa phương?

THỰC HÀNH:TÌM HIỂU ĐỊA PHƯƠNG PHÚ QUÝ

Phú Quý có chế độ gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa

(mùa Nam) khoảng từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô

(mùa Bấc) khoảng từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

Lượng mưa trung bình năm từ 1.500 – 2.000 mm, tập

trung nhiều nhất từ tháng 4 đến tháng 6 Nhiệt độ trung

bình từ 24 – 29C So với những nơi có cùng vĩ độ ở đất

liền, khí hậu ở đây do chịu ảnh hưởng trực tiếp của biển

nên quanh năm mát mẻ.

* Khí hậu:

Tiết 50

Trang 7

THỰC HÀNH:TÌM HIỂU ĐỊA PHƯƠNG PHÚ QUÝ

Tiết 50

Cảnh biển – gió mùa Tây Nam

Trang 8

THỰC HÀNH:TÌM HIỂU ĐỊA PHƯƠNG PHÚ QUÝ

Tiết 50

Địa hình không bằng phẳng nổi lên 3 ngọn núi: núi Cấm

(108 m), núi Cao Cát (85 m) và núi Ông Đụn (44.9 m)

Trong số những ngọn núi này, núi Cấm được coi như

một phao tiêu rất quan trọng với ngọn hải đăng để ngư

dân “bắt” được đảo trong những cuộc hải trình Ngược

lại, cũng từ trên đỉnh núi đó mỗi khi trời trong xanh

(thời tiết thuận lợi), ta có thể trông thấy các địa điểm

cao ở đất liền như núi Tà Cú (Hàm Thuận Nam), mũi

Cà Ná (Ninh Thuận), nên cũng dễ dàng trong việc xác

định phương hướng.

* Địa hình:

Trang 9

THỰC HÀNH:TÌM HIỂU ĐỊA PHƯƠNG PHÚ QUÝ

Tiết 50

Núi Cấm (108 m).

Trang 10

THỰC HÀNH:TÌM HIỂU ĐỊA PHƯƠNG PHÚ QUÝ

Tiết 50

Lịch sử phát triển địa chất?

Theo các nhà địa chất học, Phú Quý được hình thành trong

kỉ Đệ Tứ (cách đây khoảng 2 triệu năm) là dấu tích của

hoạt động phun trào badan Địa tầng Phú Quý gồm 5 thềm

nối tiếp nhau, phản ánh quá trình biển tiến biển lùi Đảo

được bao bọc bởi một vành đai huyền nham (đá đen) cùng

với lớp đá san hô rộng và dày Chính vành đai này đã góp

phần chắn những cơn sóng mạnh xâm thực giữ cho đảo tồn

tại đến ngày nay

* Địa chất:

Trang 11

Địa chất được cấu tạo bởi đá gra-nít.

THỰC HÀNH:TÌM HIỂU ĐỊA PHƯƠNG PHÚ QUÝ

Tiết 50

Trang 12

THỰC HÀNH:TÌM HIỂU ĐỊA PHƯƠNG PHÚ QUÝ

Tiết 50

2.Tài nguyên thiên nhiên :

Đặc điểm tài nguyên sinh vật của địa phương?

- Sinh vật ít phong phú và đa dạng cả trên cạn và dưới nước.

- Tài nguyên thiên nhiên Phú Quý rất phong phú trên bờ lẫn

dưới biển Trên đảo có nhiều đá chai (đá quánh) Đá chai

thường có ở các vị trí ven biển và tập trung thành những hầm,

hố với độ sâu tối đa là 5m nên dễ khai thác.

Xưa kia, đá chai là một nguồn lợi đáng kể của Phú Quý, nó được dùng thay gạch trong xây dựng nhà cửa, trường học, hầm trú ẩn

và những công trình công cộng khác, …

Trang 14

THỰC HÀNH: TÌM HIỂU ĐỊA PHƯƠNG PHÚ QUÝ

Tiết 50:

3 Đặc điểm kinh tế, dân cư – xã hội:

Đặc điểm kinh tế, dân cư – xã hội của địa phương?

Trang 15

- Nông nghiệp:

Phú Quý trong một thời gian dài là nền kinh tế tự cung tự cấp với các nghề chính là trồng trọt và đánh cá Kinh tế trồng trọt tập trung vào những cây như: bắp, khoai, các loại đậu và

những cây công nghiệp ngắn ngày như: bông, gai, dâu, … để tự giải quyết nhu cầu lương thực, dệt vải và đan lưới Kỹ thuật

canh tác lúc bấy giờ còn thô sơ, chủ yếu dựa vào sức người và nước trời cho nên năng suất, sản lượng không cao Những năm

về sau, đặc biệt là khi sự giao lưu giữa đảo và đất liền đẩy

mạnh thì công cụ lao động bắt đầu được cải tiến, kỹ thuật canh tác đựơc nâng lên, các hình thức thâm canh, xen canh và du

nhập giống mới đã cho sản lượng ngày một cao.

Trang 16

- Lâm nghiệp:

Trên đảo chủ yếu là các cánh rừng phòng hộ (rừng

dương – phi lao, rừng dừa, rừng dứa, bạch đàn, …) được trồng ven đảo, dọc theo các tuyến quốc lộ và trên những khu đồi cao của đảo.

Trang 17

- Ngư nghiệp:

Ngư nghiệp ở Phú Quý được coi là thế mạnh kinh tế, song trước kia nghề

biển ở đảo chỉ đóng góp một vai trò phụ trong đời sống của nhân dân Với phương tiện đánh bắt thô sơ, chủ yếu bằng thuyền nan, ngư dân sống với

nghề đánh bắt cá một cách khó khăn, nhọc nhằn

Các vùng, điểm hành nghề đánh bắt thường ở cách xa bờ 150m, nơi có mực nước sâu tối đa là 15m Câu cá “nghề câu ven biển, nghề chài đánh lưới ở khơi, nhưng với thời điểm bấy giờ bằng phương tiện xuồng chèo vào lúc trời

êm biển lặng cũng chỉ đi xa bờ được chừng 20, 30 hải lý Sau đó, việc cải tiến ngư lưới cụ và trang bị thủy động cơ nhiều mã lực, đã cho phép ngư dân mở rộng tầm hoạt động đánh bắt ra xa hàng trăm hải lý, nhờ đó sản lượng khai thác ngày một cao Những nghề mới được du nhập vào đảo như câu mực

(1960), câu bủa (1969) cũng đã đem lại giá trị kinh tế cao

Nghề câu mực (thẻ mực) đã có những bước tiến đáng kể Từ việc dùng đèn chai để thắp sáng, dần dần ngư dân đã thay thế bằng các loại đèn khí đá, đèn măng sông và tiến đến dùng đèn điện, từ kỹ thuật thô sơ dùng lông gà kết lại đến việc dùng bông vải nhiều màu làm những mồi giả, từ chỗ một năm chỉ câu được một mùa ở quanh bờ đảo, dần dần câu mực là nghề quanh năm và

mở rộng nên đã cho năng suất và sản lượng cao

Trang 18

- Công nghiệp:

Bên cạnh nông nghiệp và ngư nghiệp, các ngành nghề thủ công như dệt vải, đan võng, ép dầu, …đã góp phần không nhỏ vào đời sống người dân đảo Dệt vải là nghề cổ truyền của người dân Phú Quý, vải ở địa phương còn được gọi là vải ta, vải thuế, hay bạch bố để chỉ thuế vải nộp hay bài chỉ thuế đinh ngày

trước do nhà nuớc phong kiến áp dụng với đảo Giống bông ở đây dệt ra vải tốt và bền Trong những năm trước đây, cùng với vải, các sản phẩm như dầu phộng, dầu dừa, … là những

mặt hàng được xuất khẩu vào Phan Thiết, Phan Rang, có lúc lên cả Đà Lạt Ngày nay những ngành nghề này đã mai một

dần, chỉ còn giữ lại ở một số gia đình sản xuất để tự dùng.

Trang 19

- Dịch vụ:

- Là một huyện đảo, giao lưu với đất liền chủ yếu bằng đường thủy Cảng Triều Dương công suất thiết kế cho tàu trọng tải trên 1.000 tấn (giai đoạn 1) được xây dựng hoàn thành năm 1999 là những thuận lợi cơ bản cho việc phát triển nghề cá và vận chuyển hàng hóa

- Hệ thống giao thông nội bộ trên đảo được cải tạo và nâng cấp khá tốt

Tuyến đường trọng tâm 6,2 km nối liền cảng Triều Dương và trung tâm

huyện lỵ, tuyến đường xung quanh đảo (đường vành đai) dài 22,4 km đã được khai thông và trải nhựa

-Năm 1999 với nguồn vốn biển đông hải đảo, Phú Quý đã được Chính phủ đầu tư lắp đặt 6 máy Diezel tổng công suất 3 MW.

- Ngành bưu điện đã được nâng cấp hiện đại hóa các trang thiết bị, đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc thông suốt

-Trên đảo có nhiều danh lam thắng cảnh, các cảnh đền chùa, lăng, miếu, … trong đó có vạn An Thạnh được công nhận là di tích lịch sử, chùa Linh

Quang được công nhận là Thắng tích lịch sử cấp quốc gia Sự hấp dẫn về tìm năng du lịch Phú Quý

Trang 20

b/ Về dân cư – xã hội:

- Năm 2008, Phú Quý có khoảng 25.000 dân.

- Nằm giữa đại dương mênh mông, đảo Phú Quý dường như bị thu nhỏ lại Cuộc sống ở đây phải vật lộn với sóng to gió lớn hàng

ngày, hàng giờ Vì vậy, ngay từ khi những con người thuộc các dân tộc Chăm, Kinh, Hoa ở nhiều phương qui tụ nơi đây đã sớm hòa nhập làm một, cùng chung dựng xây và giữ gìn quê hương, xóm làng.

* Về dân cư:

Trang 21

Đảo Phú Quý, được ghi nhận nguồn gốc có trong lịch sử từ thời Tiền Lê (980 – 1009), qua sử sách xưa có nhiều tên gọi: Cổ Long, Thuận Tỉnh, cù Lao Khoai Xứ, Cù lao Thu, đảo Chín làng, hòn Lớn, Phú Quý Từ niên

hiệu Thiệu Trị thứ 4 (1844) vì tiềm năng kinh tế dồi dào và số lượng đặc sản đáng kể biệt nạp cho triều đình Huế, đảo được đổi tên từ Tổng Hạ sang Tổng Phú Quý trực thuộc huyện Tuy Phong, phủ Ninh Thuận, tỉnh Bình Thuận.

Tuy là một đảo nằm giữa trùng dương, nhưng những dấu tích phát hiện

được, cho thấy tổ tiên ta đã có công khai phá, tạo nên cuộc sống ở đảo từ rất sớm Trong quá trình khai thác đá quánh, nhân dân đã tìm thấy những

mộ vò lớn Trong mộ có chôn theo một số công cụ lao động của người xưa như rìu, búa và cả chiếc vòng đeo tay bằng đá với kỹ thuật chế tác rất tinh xảo Điều này phù hợp với những giai thoại được lưu truyền rằng trước khi

có sự khai sơn phá thạch của những con người từ lục địa ra, ở đây đã có người sinh sống bằng nghề hái lượm và bắt cá ven biển.

* Xã hội:

Trang 22

Ngày nay nền kinh tế, xã hội và đời sống của người dân đã được cải thiện rõ rệt.

Trang 23

-Nắm vững lại toàn bộ nội dung đề cương chuẩn bị tiết tới ôn tập.

- Chuẩn bị dụng cụ cần thiết cho tiết thi học kỳ II.

Ngày đăng: 13/09/2015, 09:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w