Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh và hưng thịnh. Nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn”. Đó là nguyên lí sống còn để dựng nước và giữ nước của ông cha ta. Ngày nay chúng ta đang sống trong kỉ nguyên của sự văn minh hiện đại cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển. Bởi vậy, “Nâng cao dân trí Đào tạo nhân lực Bồi dưỡng nhân tài” luôn là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển chương trình giáo dục phổ thông ở nước ta. Việc phát hiện và bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu về các môn là bước khởi đầu quan trọng để góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước góp phần xây dựng đất nước phát triển bền vững hơn trên con đường XHCN. Hiện nay công tác BDHSG được xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là mũi nhọn, là tiêu chí thi đua của giáo viên và của nhà trường. Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy công tác phát hiện và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu về các môn học nói chung và môn hoá học nói riêng ở trường THPT còn gặp nhiều khó khăn và chưa đạt được kết quả cao. Trước hết là do kinh nghiệm của giáo viên trong việc phát hiện học sinh có năng khiếu về môn hoá học còn thiếu, bản thân giáo viên vẫn còn lúng túng trong việc xác định phẩm chất và năng lực cần có của học sinh giỏi hoá học và các biện pháp nhằm phát triển các phẩm chất và năng lực đó. Trong dạy học hóa học, bài tập có tác dụng giúp học sinh khắc sâu kiến thức, rèn luyện các kĩ năng hóa học, giúp học sinh phát triển tư duy, rèn trí thông minh và năng lực sáng tạo. Tuy vậy, hiện nay hệ thống bài tập dùng để BDHSG nói chung và đồng thời việc sử dụng hệ thống bài tập này trong quá trình BDHSG còn nhiều hạn chế nên công tác BDHSG của nhiều giáo viên chưa đạt được kết quả cao. Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài Bồi dưỡng học sinh giỏi thông qua dạy học phần Kim loại, Hóa học 12”
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Trung Ninh
Phảnbiện 1: PGS.TS Nguyễn Thị Sửu
Phảnbiện 2: TS Nguyễn Thị Kim Thành
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại
Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội
Vào hồi 8 giờ ngày 31 tháng 12 năm 2014
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Phòng Tư liệu Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
"Hiền tài là nguyên khí của quốc gia Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh vàhưng thịnh Nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn” Đó là nguyên lí sốngcòn để dựng nước và giữ nước của ông cha ta
Ngày nay chúng ta đang sống trong kỉ nguyên của sự văn minh hiện đại cùngvới sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại,đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng tạo nên sức mạnh của mỗi
quốc gia trong chiến lược phát triển Bởi vậy, “Nâng cao dân trí - Đào tạo nhân lực
- Bồi dưỡng nhân tài” luôn là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển
chương trình giáo dục phổ thông ở nước ta Việc phát hiện và bồi dưỡng những họcsinh có năng khiếu về các môn là bước khởi đầu quan trọng để góp phần đào tạonguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước góp phần xây dựng đất nước phát triểnbền vững hơn trên con đường XHCN
Hiện nay công tác BDHSG được xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, làmũi nhọn, là tiêu chí thi đua của giáo viên và của nhà trường Tuy nhiên, qua thực tếcho thấy công tác phát hiện và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu về các môn họcnói chung và môn hoá học nói riêng ở trường THPT còn gặp nhiều khó khăn vàchưa đạt được kết quả cao Trước hết là do kinh nghiệm của giáo viên trong việcphát hiện học sinh có năng khiếu về môn hoá học còn thiếu, bản thân giáo viên vẫncòn lúng túng trong việc xác định phẩm chất và năng lực cần có của học sinh giỏihoá học và các biện pháp nhằm phát triển các phẩm chất và năng lực đó
Trong dạy học hóa học, bài tập có tác dụng giúp học sinh khắc sâu kiến thức,rèn luyện các kĩ năng hóa học, giúp học sinh phát triển tư duy, rèn trí thông minh vànăng lực sáng tạo Tuy vậy, hiện nay hệ thống bài tập dùng để BDHSG nói chung
và đồng thời việc sử dụng hệ thống bài tập này trong quá trình BDHSG còn nhiềuhạn chế nên công tác BDHSG của nhiều giáo viên chưa đạt được kết quả cao
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài "Bồi dưỡng học sinh giỏi thông
qua dạy học phần Kim loại, Hóa học 12”
Trang 42 Mục đích nghiên cứu
Tuyển chọn, xây dựng hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập phần đại cương vềkim loại và đề xuất cách sử dụng hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập đó BDHSGnhằm đạt thành tích cao trong các kì thi HSG cấp tỉnh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về việc phát hiện và BDHSG HH ởtrường THPT
- Nghiên cứu nội dung kiến thức lí thuyết và bài tập đại cương kim loại
- Tuyển chọn, xây dựng và đề xuất phương pháp sử dụng hệ thống câu hỏi líthuyết và bài tập phần đại cương kim loại dùng để BDHSG trường THPT
- Thực nghiệm sư phạm
4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là quá trình dạy học môn Hóa học ở trường THPT Đối tượng nghiên cứu là công tác BDHSG HH dựa vào hệ thống câu hỏi lí
thuyết và bài tập phần đại cương kim loại, hóa học 12
Phạm vi nghiên cứu là hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập phần đại cương
kim loại, hóa học 12 để BDHSG ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
5 Giả thuyết khoa học
Nếu tuyển chọn, xây dựng được hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập phần đạicương kim loại hóa học 12 có chất lượng tốt, đồng thời biết sử dụng nó một cáchhiệu quả thì sẽ góp phần nâng cao được chất lượng BDHSG HH ở các trườngTHPT
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các tài liệu về tâm lí học, giáo dục học, phương pháp dạy họcHóa học, các tài liệu về BDHSG, các đề thi học sinh giỏi,
- Phân tích và tổng hợp các số liệu điều tra,
6.2 Nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra thực tiễn công tác BDHSG ở trường THPT tỉnh Quảng Ninh
Trang 5- Tập hợp và nghiên cứu nội dung sách giáo khoa lớp 12 và các đề thi học sinhgiỏi, đề thi vào đại học và cao đẳng, các tài liệu tham khảo khác để tuyển chọn và xâydựng hệ thống bài tập tự luận và TNKQ phần Kim loại
- Thông qua thực nghiệm sư phạm đánh giá chất lượng hệ thống bài tập từ đóđúc kết kinh nghiệm BDHSG ở trường THPT
6.3 Phương pháp thống kê toán học
Xử lí số liệu bằng phương pháp thống kê toán học
7 Phạm vi và giới hạn của đề tài
- Nội dung: Bài tập phần kim loại dùng BDHSG HH
- Đối tượng: HS dự thi HSG cấp tỉnh
- Địa bàn nghiên cứu và thực nghiệm: Trường Văn Lang, trường THPT HònGai thuộc thành phố Hạ Long và trường THPT Đầm Hà thuộc huyện Đầm Hà, tỉnhQuảng Ninh
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 7 năm 2013 tới tháng 10 năm 2014
8 Đóng góp của đề tài
- Tuyển chọn và xây dựng được hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập phần đạicương kim loại có chất lượng giúp cho giáo viên có thêm nguồn tài liệu dùng trongviệc BDHSG trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
- Đề xuất được biện pháp sử dụng hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập phầnđại cương kim loại trong việc BDHSG
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn được chia thành ba chương:
Chương 1: Tổng quan về cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tuyển chọn xây
dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập BDHSG
Chương 2: Xây dựng hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập phần đại cương kim
loại dùng trong BDHSG HH ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 6chuyên, học sinh ngoài công lập vì vậy tôi lựa chọn đề tài “ Bồi dưỡng học sinh
giỏi thông qua dạy học phần Kim loại, Hóa học 12” dành cho HS THPT tỉnh
Quảng Ninh nói chung và dùng để BDHSG tại trường THPT Văn Lang nói riêng
1.2 Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học ở trường THPT
1.2.1 Tầm quan trọng của việc bồi dưỡng học sinh giỏi
Nhiệm vụ quan trọng của ngành Giáo dục là phải phát hiện những học sinh có
tư chất thông minh, có năng khiếu để bồi dưỡng thành nhân tài, đáp ứng yêu cầu
phát triển đất nước trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế
1.2.2 Hoạt động nhận thức và tư duy của học HS trong quá trình dạy học
1.2.2.1 Khái niệm nhận thức và tư duy
- Nhận thức là một trong ba mặt của đời sống tâm lý con người (nhận thức,tình cảm, ý chí), là tiền đề của hai mặt kia đồng thời có quan hệ chặt chẽ với chúng
và với các hiện tượng tâm lý khác Hoạt động nhận thức bao hai giai đoạn lớn: nhậnthức cảm tính (cảm giác, tri giác) và nhận thức lý tính (gồm tư duy, tưởng tượng)
- Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, nhữngmối liên hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực kháchquan mà trước đó ta chưa biết Nét nổi bật của tư duy là tính "có vấn đề" tức làtrong hoàn cảnh có vấn đề, tư duy được nảy sinh
1.2.2.2 Tư duy sáng tạo và những phẩm chất của tư duy sáng tạo
Tư duy sáng tạo là những hoạt động tư duy có sáng kiến, tư duy sáng tạo làmức độ cao của tư duy
Trang 7Tư duy sáng tạo có những phẩm chất: Tính đổi mới, tính khuếch tán, tính độcđáo.
1.2.3 Những năng lực, phẩm chất cần có của học sinh giỏi hóa học
1.2.3.1 Định nghĩa về năng lực
Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động,giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cácnhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinhnghiệm, cũng như sự sẵn sàng hành động
1.2.3.2 Những năng lực, phẩm chất cần có của học sinh giỏi hóa học
Năng lực tiếp thu kiến thức
Năng lực suy luận logic
Năng lực đặc biệt,
1.2.3.3 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáodục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quantâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái
gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việcchuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học,cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất;đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớsang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề,
1.2.4 Những năng lực giáo viên cần có khi bồi dưỡng HSG hóa học
Một giáo viên khi dạy BDHSG HH đòi hỏi phải có khá nhiều các kỹ năng vànăng lực quan trọng như: Năng lực trí tuệ, năng lực trình độ chuyên môn, kĩ nănggiao tiếp, kĩ năng truyền đạt rõ ràng, dễ hiểu, chính xác, kĩ năng lựa chọn và sửdụng PPDH phù hợp, biết giám sát, theo dõi, tiếp nhận thông tin phản hồi từ HS vàđồng nghiệp, có kĩ năng tiến hành thí nghiệm và sử dụng các thiết bị hỗ trợ dạy học
Trang 8như tranh vẽ, máy tính, máy chiếu, phần mềm hóa học, có kĩ năng xây dựng bài tập
và ra đề kiểm tra, có kĩ năng nghiên cứu khoa học, có phẩm chất đạo đức tốt,
1.2.5 Một số biện pháp phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi Hóa học
1.2.5.1 Một số biện pháp phát hiện học sinh giỏi
- Làm rõ mức độ đầy đủ chính xác của kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo theo chuẩnkiến thức, kỹ năng của chương trình SGK
- Làm rõ trình độ nhận thức và mức độ tư duy của từng học sinh bằng nhiều biệnpháp và nhiều tình huống về lý thuyết và thực nghiệm để đo mức độ tư duy của học sinh
1.2.5.2 Một số biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi
- Hình thành cho học sinh có kiến thức cơ bản, vững vàng, sâu sắc
- Rèn luyện cho học sinh kỹ năng vận dụng các lý thuyết chủ đạo, các địnhluật, các quy luật của môn học một cách linh hoạt, sáng tạo,
- Rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh, giúp các em biết cách dùng thựcnghiệm để kiểm chứng lại những những dự đoán và biết dùng lý thuyết
- Hướng dẫn cho học sinh biết cách tự nghiên cứu tài liệu một cách hiệu quả
và xem đó là biện pháp không thể thiếu được trong công tác BDHSG
1.3 Một số vấn đề lí luận về bài tập trong dạy học Hóa học ở trường THPT
1.3.1 Khái niệm về bài tập
Bài tập bao gồm cả câu hỏi và bài toán, mà trong khi hoàn thành chúng, HScần nắm được hay hoàn thiện một tri thức hoặc một kĩ năng nào đó bằng cách trả lờivấn đáp, trả lời viết hoặc có kèm theo thực nghiệm Hiện nay ở nước ta thuật ngữ
“bài tập” được dùng theo quan điểm này
1.3.2 Phân loại bài tập hóa học
Có nhiều cách phân loại bài tập, mỗi cách phân loại có những ưu và nhược điểmriêng Tùy thuộc vào các trường hợp cụ thể giáo viên có thể sử dụng hệ thống phânloại này hoặc hệ thống phân loại khác hay kết hợp các cách phân loại nhằm phát huyđược các ưu điểm của mỗi loại Vd: Bài tập định tính, định lượng, trắc nghiệm, tựluận, bài tập theo định hướng phát triển năng lực,
Trang 91.3.3 Vai trò, ý nghĩa của bài tập trong dạy học hóa học ở trường THPT
- Ý nghĩa trí dục
- Ý nghĩa phát triển
- Ý nghĩa giáo dục
1.4 Một số vấn đề lí luận về sử dụng bài tập hóa học trong dạy học ở trường
Với mục tiêu là sử dụng bài tập để phát hiện và BDHSG, ta có thể nêu ra một sốhướng sử dụng bài tập như sau: Sử dụng bài tập để củng cố kiến thức, mở rộng, đàosâu kiến thức và hình thành các quy luật hóa học, rèn kĩ năng, rèn tư duy logic, rèn tríthông minh, rèn luyện năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề, giúp học sinh tựhọc, tự nghiên cứu, để hình thành kiến thức mới, giải quyết các vấn đề thực tiễn,
1.5 Nội dung kiến thức phần kim loại trong các kì thi học sinh giỏi, thi đại học, cao đẳng.
Đề thi học sinh giỏi (tỉnh Quảng Ninh): 8 – 10 điểm/20điểm
Như vậy ta có thể thấy được nội dung phần kim loại trong các đề thi học sinhgiỏi cũng như đề thi đại học chiếm khối lượng kiến thức tương đối lớn
1.6 Thực trạng bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường phổ thông
Để tìm hiểu về thực trạng dạy học Hóa học và công tác bồi dưỡng học sinhgiỏi ở các trường THPT, chúng tôi đã phát phiếu điều tra cho các giáo viên và họcsinh của các trường THPT Kết quả cụ thể như sau:
Bảng 1.1 Kết quả điều tra về những khó khăn của giáo viên trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
lượng (%)
1 Giáo viên chưa xác định được vùng kiến thức cần
3
Giáo viên chưa tuyển chọn, xây dựng được hệ thống
bài tập phù hợp để phát hiện và bồi dưỡng học sinh
giỏi
Trang 106 Phương pháp sử dụng bài tập của giáo viên trong
Bảng 1.2 Kết quả điều tra
về những khó khăn của học sinh trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
lượng (%)
Từ những kết quả điều tra như trên, có thể nhận thấy rằng chất lượng học sinh giỏichưa cao và chưa bền vững là do nhiều nguyên nhân Trong các nguyên nhân đó thì việclựa chọn, xây dựng được hệ thống bài tập phù hợp; phương pháp sử dụng bài tập thíchhợp; việc xác định được vùng kiến thức cần nghiên cứu và phương pháp học tập của họcsinh được xác định là các nguyên nhân chủ yếu
Việc sử dụng các PPDH hóa học theo hướng dạy học tích cực đã đạt kết quả khảquan Tuy nhiên việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực, sử dụng thí nghiệm vàphương tiện trực quan trong các tiết dạy chưa thường xuyên hoặc sử dụng chưa hiệuquả do cơ sở giáo dục không đầy đủ trang thiết bị dạy học và đồ dùng thí nghiệm vàtinh thần trách nhiệm của giáo viên chưa cao
Trang 11Việc sử dụng bài tập trong giảng dạy hóa học chưa nhiều, chưa thường xuyên vàchưa chất lượng đặc biệt việc sử dụng bài tập thực nghiệm để giảng dạy còn rất hạnchế, rất ít số tiết có sử dụng dạng bài tập này để phục vụ cho việc giảng dạy
Với thực trạng giảng dạy đó đã ảnh hưởng nhiều đến việc tiếp thu kiến thức vàhình thành năng lực của học sinh Các em không chủ động tích cực trong việc lĩnh hộikiến thức nên kiến thức không sâu sắc, không chắc chắn, khả năng vận dụng kiến thứckhông hiệu quả trong thực tiễn,
Tiểu kết chương 1
Trong chương này chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu về cơ sở lí luận của đềtài, bao gồm các vấn đề chính sau:
Cơ sở lí luận
Nhận thức và tư duy của HS trong quá trình dạy học
Một số biện pháp phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học
Một số vấn đề lí luận về bài tập trong dạy học hóa học ở trường THPT
Cơ sở thực tiễn
Phân tích nội dung kiến thức phần kiến thức kim loại trong các kỳ thi HSG tiếnhành tìm hiểu tình hình thực tế về công tác BDHSG HH ở trường THPT hiện naytại tỉnh Quảng Ninh
CHƯƠNG 2 TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI LÍ THUYẾT VÀ BÀI TẬP PHẦN ĐẠI CƯƠNG KIM LOẠI BỒI DƯỠNG HỌC
SINH GIỎI HÓA HỌC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2.1 Phân tích cấu trúc chương trình sách giáo khoa hóa học 12, phần kim loại
Trang 12 Chương 5: Đại cương về kim loại
2.2 Nguyên tắc tuyển chọn và xây dựng hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập
- Theo cấu trúc chương trình sách giáo khoa
- Theo năng lực nhận thức của học sinh
- Theo dạng bài tập
2.3 Nguyên tắc tuyển chọn và xây dựng hệ thống lí thuyết và bài tập Hóa học
- Hệ thống lí thuyết và bài tập phải đảm bảo tính chính xác, khoa học
- Hệ thống lí thuyết và bài tập phải đảm bảo tính hệ thống, đa dạng
- Hệ thống lí thuyết và bài tập phải đảm bảo tính vừa sức
- Hệ thống lí thuyết và bài tập phải mở rộng kiến thức, vốn hiểu biết của HS
- Hệ thống lí thuyết và bài tập phải phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện kỹnăng hóa học cho HS
2.4 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập
- Xác định mục đích của hệ thống bài tập
- Xác định nội dung hệ thống bài tập
- Xác định loại bài tập, các kiểu bài tập
- Thu thập thông tin để soạn hệ thống bài tập
- Tiến hành xây dựng hệ thống bài tập
- Tham khảo, trao đổi ý kiến với đồng nghiệp
- Thực nghiệm, chỉnh sửa và bổ sung
2.5 Hệ thống hóa các dạng câu hỏi lí thuyết về đại cương kim loại
Phần này chúng tôi xây dựng gồm 19 câu hỏi và bài tập lí thuyết về kim loạiđược chia làm 3 dạng chính sau:
2.6 Hệ thống hóa các dạng bài tập về đại cương kim loại
Trang 13Đề tài đã tuyển chọn và xây dựng được 85 bài tập tự luận và 100 câu hỏi trắcnghiệm về kim loại và các hợp chất và được chia thành các dạng sau:
Bài tập cấu tạo tinh thể kim loại
Bài tập xác định tên kim loại
Bài tập kim loại tác dụng với phi kim
Bài tập kim loại và hợp chất của kim loại tác dụng với dung dịch axit
Bài tập kim loại, oxit, hiđroxit tác dụng với nước và dung dịch kiềm
Bài tập kim loại tác dụng với dung dịch muối, dãy điện hóa
Bài tập về pin điện hóa, G; H; E; Ka; Kp; Kc; pH, độ tan, tích số tan
Các câu hỏi lí thuyết và bài tập thực tiễn về kim loại và hợp chất
2.7 Cách sử dụng hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập phần kim loại trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THPT
2.7.1 Sử dụng bài tập nhằm phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện kĩ năng hóa học
2.7.1.1 Sử dụng bài tập củng cố kiến thức và rèn luyện kĩ năng cơ bản
Ví dụ: Hãy chọn các chất A, B, C, D thích hợp từ các chất Al2O3, AlCl3,Na[Al(OH)4], Al(NO3)3 để hoàn thành sơ đồ biến hóa sau:
HDG: A là AlCl3; B là Al(NO3)3; C là Al2O3; D là Na[Al(OH)4]
Nhận xét: Thông qua bài tập này có thể củng cố cho HS phần kiến thức lí thuyết về
nhôm, các hợp chất của nhôm và rèn luyện kĩ năng viết PTHH
2.7.1.2 Sử dụng bài tập rèn luyện năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề
Al
(5)(6)
(8)(9) (11) (12)(7)
(10) (1) (2)
(3)
(4)