Do đó việc sử dụng mạng điện thoại để truyền tín hiệu điều khiển làphương thức thuận tiện nhất cho công việc, tiết kiệm thời gian, vừa đảm bảo các tính năng tiện ích cho cácthiết bị vừa
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hệ thống điều khiển từ xa nắm giữ một vai trò quan trọng trong việc công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước Điều khiển từ xa rất đa dạng phong phú: trong lĩnh vực quân sự được ứng dụng vào điều khiểnmáy bay không người lái, tên lửa, tàu vũ trụ, vệ tinh nhân tạo…trong dân dụng điều khiển từ xa làm tăng tínhtiện ích và tăng giá trị sử dụng cho các thiết bị
Đối với hệ thống điều khiển từ xa bằng tia hồng ngoại thì giới hạn về khoảng cách là yếu điểm của
kỹ thuật này, bên cạnh đó mạng internet ngày nay cũng khá phổ biến nhưng chưa thật sự rộng rãi, ngược lạivới mạng điện thoại đã được mở rộng với quy mô toàn thế giới và rất phổ biến, đã mở ra một hướng mớitrong lĩnh vực tự động điều khiển
Hiện nay, do nhu cầu trao đổi thông tin của con người ngày càng tăng, đồng thời các thiết bị điệnthoại ngày càng được phổ biến rộng rãi Do đó việc sử dụng mạng điện thoại để truyền tín hiệu điều khiển làphương thức thuận tiện nhất cho công việc, tiết kiệm thời gian, vừa đảm bảo các tính năng tiện ích cho cácthiết bị vừa tiết kiệm được chi phí sử dụng và an toàn cho tính mạng, tài sản của con người do cháy nổ hoặc
do chạm chập điện gây ra
Ngoài ra, ứng dụng của hệ thống điều khiển xa bằng điện thoại, giúp ta điều khiển các thiết bị điện ởnhững môi trường nguy hiểm mà con người không thể làm việc được hoặc những dây chuyền sản xuất đểthay thế con người
Dựa vào mạng điện thoại có sẵn, có thể thiết kế hệ thống điều khiển các thiết bị từ xa với sự trợ giúpcủa kỹ thuật vi điều khiển Hệ thống này được thiết kế trên mô hình đóng ngắt các thiết bị, khi có sự cố xẩy
ra thiết bị sẽ báo động tại chỗ bằng các tín hiệu cảnh báo Ngoài ra, hệ thống chỉ có thể điều khiển được khinhấn đúng mã và không thể xảy ra trường hợp người ngoài có thể điều khiển hệ thống do vô tình quay sốngẫu nhiên
Chính vì vậy mà tác giả đã lựa chọn đề tài: “Thiết kế hệ thống điều khiển xa qua đường dây thoại trên cơ sở của chíp DTMF” cho luận văn của mình.
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
+ Ý nghĩa khoa học:
Điều khiển thiết bị từ xa thông qua hệ thống thông tin liên lạc là sự kết hợp giữa các ngành Điện –Điện tử và Viễn thông Sự phối hợp ứng dụng vi điều khiển hiện đại và hệ thống thông tin liên lạc đã hìnhthành một hướng nghiên cứu và phát triển trong khoa học kỹ thuật Điều khiển thiết bị từ xa thông qua mạngđiện thoại khắc phục được nhiều giới hạn trong hệ thống điều khiển từ xa thông thường Hệ thống này khôngphụ thuộc vào khoảng cách, môi trường, đối tượng điều khiển Điểm đặc trưng nổi bậc của hệ thống là tínhlưu động của tác nhân điều khiển (người điều khiển) và đối tượng được điều khiển là cố định
+ Ý nghĩa thực tiễn:
Hình thành ý tưởng từ nhu cầu thực tế xã hội, nhưng để tạo ra được một sản phẩm có giá trị ứngdụng cao thì đây chính là một điều kiện tốt nhất để người thực hiện đề tài có thể tự kiểm chứng lại năng lựccủa mình trong suốt khoá học tích luỹ từ kiến thức của bản thân và từ trường lớp Người thực hiện đề tài phải
nỗ lực trong vấn đề hệ thống hoá lại toàn bộ các kiến thức liên quan và ứng dụng nó một cách hiệu quả trongkhi thực hiện đề tài
Đề tài “Thiết kế hệ thống điều khiển xa qua đường dây thoại trên cơ sở của chíp DTMF” hoàn thành
sẽ góp phần vào việc tăng tính đa dạng, giảm thiểu thời gian và chi phí cho các hệ thống điều khiển… Đồngthời đây là một giải pháp phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại ngày nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đề tài hướng tới một phương thức điều khiển từ xa có sự kết hợp của nhiều lĩnh vực liên quan như:Tổng đài điện thoại, điện thoại cố định, phương thức làm việc giữa tổng đài và thuê bao, vi mạch điện tử, viđiều khiển…
+ Tập trung nghiên cứu hệ thống điều khiển từ xa qua đường dây điện thoại sử dụng tín hiệu DTMF
để giao tiếp giữa người điều khiển và thiết bị
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tài liệu: Nghiên cứu các tài liệu (sách, báo, tạp chí khoa học, Internet…), thu thập vàlưu trữ dữ liệu liên quan đến hệ thống điều khiển từ xa
Phương pháp thực nghiệm: Nghiên cứu thực nghiệm dựa trên các hệ thống thiết bị hiện có và thiết
kế chế tạo sản phẩm mới, với mục đích cải tiến, khắc phục những nhược điểm mà các hệ thống trước mắc phải
5 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 2- Dùng chíp vi điều khiển AT89S52 để điều khiển chíp MT8888 thu tín hiệu DTMF
- Thông qua kết nối bằng đường dây điện thoại, người điều khiển sẽ điều khiển các thiết bị từ xa
- Chế tạo thiết bị, kiểm tra đánh giá để tiếp tục phát triển, hoàn thiện và ứng dụng trong đời sốngthực tế
6 Bố cục của Đề tài
Ngoài các phần Mở đầu, Mục lục, Danh mục các hình vẽ (bảng, biểu…), Kết luận, Tài liệu thamkhảo Nội dung chính của luận văn được trình bày trong 05 chương như sau:
Chương 1: Tổ Chức Hệ Thống Điều Khiển Thiết Bị Từ Xa Qua Đường Dây Điện Thoại
Chương 2: Tổng Quan Về Tổng Đài Điện Tử – Phương Thức Làm Việc Của Tổng Đài Và Các ThuêBao Điện Thoại
Chương 3: Thiết Kế Phần Cứng Hệ Thống
Chương 4: Thiết Kế Phần Mềm Vận Hành Hệ Thống
Chương 5: Thực Nghiệm
Trang 3NỘI DUNG Chương 1 TỔ CHỨC HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN THIẾT BỊ TỪ XA QUA ĐƯỜNG ĐIỆN THOẠI 1.1 Sơ đồ cấu trúc Hệ thống
Một hệ thống điều khiển từ xa bao gồm ba thành phần chính: Trung tâm điều khiển, đường dây truyềndẫn tín hiệu, hệ thống và thiết bị cần điều khiển giám sát từ xa
Hình 1.1 Sơ đồ tổng quát hệ thống giám sát điều khiển từ xa
Từ sơ đồ tổng quát của hệ thống điều khiển từ xa, bộ giải mã thu - phát tín hiệu DTMF được sử dụng
là chíp MT8888 Tác giả thiết kế sơ đồ khối hệ thống điều khiển từ xa qua đường dây thoại:
Hình 1.2 Sơ đồ khối hệ thống điều khiển thiết bị từ xa
1.2 Chức năng các khối trong Hệ thống
1.2.1 Khối giải mã thu DTMF (Dual Tone Multi Frequency)
Chức năng chính của khối này là thu và giải mã tín hiệu DTMF cho hệ thống khi thực hiện nhậncuộc gọi đến (yêu cầu hệ thống thực hiện điều khiển thiết bị) Khối này sử dụng Chíp giải mã thu phátDTMF MT8888
1.2.2 Khối phát tín hiệu chuông
Khi có cuộc gọi đến yêu cầu hệ thống điều khiển thiết bị thì hệ thống lúc này được coi như một thuêbao điện thoại thông thường Vì vậy, thiết bị vẫn nhận các cuộc gọi đến bình thường và tổng đài sẽ gửi cho
hệ thống tín hiệu chuông báo có cuộc gọi đến Khối cảm biến tín hiệu chuông sẽ nhận tín hiệu này và báocho khối vi xử lý biết có cuộc gọi đến
1.2.3 Khối kết nối thuê bao
Khi thực hiện việc kết nối sẽ đóng cho một tải giả (có nội trở tương đương với nội trở của một máyđiện thoại cố định thông thường) kết nối đường dây Khi đó, tổng đài sẽ phát hiện mức điện áp sụt giảm trênđường dây (còn khoảng 15V) và sẽ cho máy điện thoại gọi đến kết nối với hệ thống
1.2.4 Khối điều khiển thiết bị
Khối này chủ yếu là các mạch Relay, các Relay chấp hành các lệnh từ khối vi xử lý Thực chất đây
là khối chấp hành thụ động
1.2.5 Khối nút nhấn bên ngoài
Trang 4để các khối khác thi hành Vi điều khiển được sử dụng cho khối này là vi điều khiển AT89S52.
1.2.7 Khối nguồn
Khối này sẽ đảm bảo cho đầu ra đủ hai mức điện áp +12V DC và 5V DC bằng phẳng và ổn định cấpcho toàn hệ thống
1.2.8 Khối phát hiện sự cố và cảnh báo tại chỗ
Khi hệ thống phát hiện có sự cố thì ngay lúc đó khối cảnh báo sẽ hoạt động, gửi cảnh báo đến người
sử dụng bằng cách đưa ra cảnh báo tại chỗ bằng loa và đèn nháy Khối này bao gồm loa báo động, đèn nháyđược lắp đặt tại khu vực cần cảnh báo
1.2.9 Khối hiển thị
Màn hình LCD có khả năng hiển thị mật khẩu, các câu thông báo và trạng thái các thiết bị
Kết luận chương 1: Tác giả đã xây dựng tổ chức hệ thống điều khiển từ xa qua đường dây điện
thoại Hệ thống điều khiển gồm các khối cơ bản như: khối trung tâm, khối thu tín hiệu DTMF, khối tải giả,khối điều khiển thiết bị
Chương 2 TỔNG QUAN VỀ TỔNG ĐÀI ĐIỆN TỬ – PHƯƠNG THỨC LÀM VIỆC CỦA TỔNG
ĐÀI VÀ CÁC THUÊ BAO ĐIỆN THOẠI 2.1 Tổng quan về Tổng đài điện tử
2.1.1 Sơ lược lịch sử phát triển tổng đài
Để khắc phục những hạn chế và nhược điểm của các loại tổng đài điện thoại nhân công, các nhà chếtạo tổng đài điện thoại đã cho ra đời tổng đài tự động cơ điện và từng bước hoàn thiện chúng Tổng đài tựđộng từng nấc đầu tiên điều khiển trực tiếp đã được chế tạo năm 1892 Mặc dù nó được hoàn thiện trên cơ sởnhiệm vụ của tổng đài nhân công nhưng nó còn rất nhiều nhược điểm như chứa nhiều các bộ phận cơ khí,khả năng và tính linh hoạt bị hạn chế kích thước quá cồng kềnh
Năm 1926 ở Thụy Điển đã xuất hiện một số loại tổng đài ngang dọc đầu tiên, tổng đài này sản xuất
ra dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu kỹ thuật chuyển mạch và hoàn thiện các bộ phận chức năng của tổngđài từng nấc Các tổng đài này cũng chỉ là tổng đài điều khiển trực tiếp
Vào những năm 1965 tổng đài điện thoại điện tử đầu tiên theo nguyên lý chuyển mạch không giantương tự đã được đưa vào khai thác ở nước Mỹ Tổng đài loại này cần cho mỗi cuộc gọi một tuyến vật lý(một mạch dây) riêng
Năm 1970 tổng đài điện thoại số đầu tiên được sản xuất, lắp đặt và đưa vào khai thác đầu tiên ở nướcPháp
2.1.2 Khái niệm về tổng đài số
Nhu cầu ngày càng đòi hỏi lớn về chất lượng, dịch vụ, dung lượng chuyển mạch của tổng đài Cáctrung tâm chuyển mạch cũng được mở rộng và phát triển đáp ứng nhu cầu đó, phục vụ cho cuộc sống của thế
kỷ thông tin Ngày nay, hệ thống tổng đài số đã dần thay thế cho các loại tổng đài cũ, nó mở ra một thời kỳmới cho ứng dụng viễn thông vào cuộc sống Khi ta dùng phương pháp truyền dẫn số, tổng đài số đã manglại nhiều lợi ích so với truyền dẫn tương tự Sử dụng tổng đài số và các đường truyền dẫn số, bộ mã hoá vàgiải mã cho thoại đơn giản dễ biến đổi thực hiện các chức năng
2.1.3 Các chức năng của hệ thống tổng đài
Đối với hệ tổng đài tự động các cuộc gọi được phát ra và hoàn thành thông qua các bước sau:
+ Nhận dạng thuê bao chủ gọi
+ Tiếp nhận số được quay
Trang 5+ Kết nối cuộc gọi.
+ Chuyển thông tin điều khiển
+ Kết nối trung chuyển
+ Kết nối tại trạm cuối
+ Truyền tín hiệu chuông
+ Tính cước
+ Truyền tín hiệu
+ Hồi phục hệ thống
2.2 Phương thức làm việc giữa tổng đài và các thuê bao
Đường dây điện thoại cố định hiện nay gồm có hai dây và thường gọi đó là Tip và Ring Tất cả cácđiện thoại hiện nay đều được cấp nguồn từ tổng đài thông qua hai dây Tip và Ring Nhằm hiểu rõ, áp dụngtốt vào việc thiết kế mạch điều khiển thiết bị từ xa qua điện thoại, ta đi tìm hiểu một vài đặc tính của điệnthoại, hoạt động giữa tổng đài và các thuê bao
2.2.1 Đặc tính của điện thoại cố định
Thuê bao điện thoại nối với tổng đài bằng đường dây thuê bao
Cung cấp một chiều cho đường dây thuê bao (48V DC, 35 mA)
Điện áp khi gác máy 48V DC, khi nhấc máy 15V DC
Băng thông làm việc 300Hz 3400Hz
Tỉ số S/N > 29,5dB
Tổng trở DC khi gác máy khoảng 20KΩ
Tổng trở AC khi gác máy từ 4KΩ đến 10KΩ
Tổng trở DC khi nhấc máy khoảng 300Ω
Tổng trở AC khi nhấc máy khoảng 600Ω
- Hệ thống tín hiệu giao tiếp giữa tổng đài và thuê bao (theo tiêu chuẩn Châu Âu) :
+ Tín hiệu mời quay số (Dial tone): là tín hiệu sin tần số f = 425 25Hz, biên độ 2VRMS trên nền
DC, phát liên tục
Hình 2.1 Tín hiệu mời quay số+ Tín hiệu báo bận (Busy tone): là tín hiệu sin tần số f = 425 25Hz, biên độ 2VRMS trên nền DC,phát ngắt quãng 0,5s có và 0,5s không
Hình 2.2 Tín hiệu báo bận+ Tín hiệu hồi âm chuông (Ringback Tone): là tín hiệu sin tần số f= 425 25Hz, biên độ 2VRMS trên nền 10V
DC, phát ngắt quãng 2s có, 4s không
Trang 6Hình 2.3 Tín hiệu hồi âm chuông+ Tín hiệu chuông (Ring Tone): là tín hiệu sin tần số f = 25Hz, biên độ VPP = 75V trên nền DC 48V,phát ngắt quãng 2s có, 4s không.
Hình 2.4 Tín hiệu chuông+ Tín hiệu đảo cực
Hình 2.5 Tín hiệu đảo cực
Tín hiệu đảo cực chính là sự đảo cực tính của nguồn tại tổng đài, khi hai thuê bao bắt đầu cuộc đàm thoại, một tín hiệu đảo cực sẽ xuất hiện Khi đó hệ thống tính cước của tổng đài sẽ bắt đầu thực hiện việc tính cước đàm thoại cho thuê bao gọi.
2.2.2 Hệ thống DTMF (Dual Tone Multi Frequency)
Hệ thống DTMF đang phát triển và đã trở thành phổ biến trong hệ thống điện thoại hiện nay Hệthống được hình thành vào những năm 1960 nhưng mãi đến năm 1970 mới được phát triển rộng rãi Hệthống DTMF giờ đây trở thành chuẩn thay thế cho hệ thống xung kiểu cũ Tín hiệu DTMF là những âmthanh sử dụng trong điện thoại cho âm thanh quay số Tín hiệu DTMF là tổng của 2 sóng hình sin tại tần sốcao và thấp nghĩa là khi có một phím được nhấn thì trên đường dây xuất hiện 2 tần số khác nhau thuộc nhómtần số thấp và tần số cao
Lợi ích của việc sử dụng tín hiệu DTMF trong điện thoại là chống được nhiễu tín hiệu, do đó tổngđài có thể biết chính xác được phím nào đã được nhấn Ngoài ra nó còn giúp cho người ta sử dụng điện thoạithuận tiện hơn Ngày nay, hầu hết hệ thống điện thoại đều sử dụng tín hiệu DTMF Bàn phím chuẩn của loạiđiện thoại này có dạng ma trận chữ nhật gồm có 3 cột và 4 hàng, tạo nên tổng cộng 12 phím nhấn, 10 phímcho chữ số 0 9, hai phím đặc biệt là “*” và “#” Mỗi một hàng trên bàn phím được gán cho một tần sốTone thấp, mỗi cột được gán cho tần số Tone cao (hình 2.6) Mỗi một phím sẽ được một tín hiệu DTMFriêng và được tổng hợp bởi hai tần số tương ứng với hàng và cột mà phím đó đang đứng
Trang 7Hình 2.6 Bàn phím DTMFNgày nay, để tăng khả năng sử dụng của điện thoại, người ta phát triển thêm một cột nữa cho bàn phímđiện thoại chuẩn tạo nên bàn phím ma trận 4x4 như hình 2.7
Hình 2.7 Bàn phím DTMF ma trận vuông
2.2.3 Phương thức quay số
Quay số có thể bằng đĩa quay số hay bằng bàn phím
+ Quay số bằng đĩa quay: Đĩa quay số là một cấu kiện cơ khí Khi quay một số, tay người làm quận
lò xo dụng cụ quay số, khi thả tay ra, đĩa quay số trở về vị trí tĩnh nhờ lực giãn của lò xo Nhờ vai trò củamột cơ cấu ổn định tốc độ trong đĩa quay mà tốc độ quay về phía này ổn định, bảo đảm những xung quay số
có bề rộng chuẩn 38ms, cự ly chuẩn 62ms, số xung đúng bằng số được quay (riêng số 0 là 10 xung), từng sốquay lại cách nhau một khoảng chuẩn đủ lớn để tránh nhầm lẫn số
+ Quay số bằng bàn phím: Có thể tạo ra số thuê bao bị gọi bằng bấm phím trên bàn phím, tuy vậycông việc này vẫn gọi là quay số Kết quả bấm phím cũng có thể tạo ra xung quay số như trên, nhờ các mạchtạo xung trong IC Nhưng bàn phím được thiết kế là để hướng tới tín hiệu quay số mã đa tần lưỡng âmDTMF
Hình 2.6 ở trên biểu thị bàn phím DTMF tương quan các đôi tần số tạo ra để mã hoá số thuê bao.Các con số ghi tương ứng theo hàng và cột là giá trị tần số, đơn vị Hz, yêu cầu sai số <1,8%, độ dài xung50ms, khoảng ngắt giữa xung 50ms Vậy quay số DTMF rút ngắn thời gian quay số 10 lần so với đĩa quay
số Khi bấm phím quay số DTMF, hai âm có tần số cột và hàng tương ứng của ma trận như hình bên đượcphát đi đồng thời Tần số các âm DTMF được chọn sao cho xác xuất số giả do âm gây ra khi quay số là thấpnhất Mã đa tần lưỡng âm (khác với xung quay số) còn có thể truyền được đi xa theo mạng điện thoại
* Phương pháp quay số tone DTMF: Khi có một phím được ấn thì trên đường dây sẽ xuất hiện 2 tần
số khác nhau thuộc nhóm fthấp và fcao Phương pháp tần ghép này chống nhiễu tốt hơn, ngoài ra dùng dạngtone DTMF sẽ tăng được tốc độ quay nhanh gấp 10 lần so với việc thực hiện quay số PULSE Mặt khác phươngpháp sẽ sử dụng được một số dịch vụ cộng thêm tổng đài
* Phương pháp quay số Pulse: Tín hiệu quay số là chuỗi xung vuông, tần số chuỗi = 10Hz, số điện
thoại bằng số xung ra, riêng số 0 sẽ là 10 xung, biên độ ở mức cao là 48v, ở mức thấp là 10v, dạng sóngđược cho ở hình dưới:
Trang 8Hình 2.8 Dạng sóng quay số kiểu PULSEa: thời gian 10v.
b: thời gian ở 48v
c: khoảng thời gian giữa 2 lần quay số trong một cuộc gọi
Số xung trên một giây 10 – 20 pulse/s
Ngày nay kiểu quay số kiểu Pulse chậm và một số nhược điểm nên ít được sử dụng Hệ thống DTMFđang phát triển và phổ biến trong hệ thống điện thoại hiện đại hiện nay
2.2.4 Phương thức làm việc giữa tổng đài và các thuê bao
Cuộc gọi nội hạt là cuộc gọi xảy ra giữa hai thuê bao thuộc cùng một tổng đài Cuộc gọi ra là cuộcgọi giữa một thuê bao ở tổng đài này gọi đến thuê bao của tổng đài khác Cuộc gọi vào là cuộc gọi từ một
tổng đài khác gọi đến thuê bao của tổng đài đang xét Cuộc gọi chuyển tiếp là cuộc gọi giữa hai thuê bao
thuộc hai tổng đài trên mạng nhưng cuộc gọi đó phải đi qua tổng đài đang xét
Khi bộ điều khiển trung tâm xác định xong đặc tính của thuê bao chủ gọi và nhận thấy rằng thuê bao
có quyền được thiết lập liên lạc Bộ điều khiển trung tâm yêu cầu bộ điều khiển mạch điện thuê bao thiết lậpđầu mối giữa thuê bao chủ gọi với khe thời gian có chứa thông tin âm mời quay số của bộ tạo âm báo, đồngthời nếu máy điện thoại là máy ở chế độ phát xung đa tần DTMF thì bộ điều khiển mạch điện thuê bao thựchiện đầu nối thuê bao chủ gọi với bộ thu xung đa tần Lúc này thuê bao chủ gọi đã nghe được âm mời quay
số còn tổng đài thì sẵn sàng thu xung đa tần DTMF từ thuê bao chủ gọi đưa tới
Nhận dạng thuê bao máy gọi: tổng đài nhận dạng trạng thái của thuê bao thông qua sự biến đổi tổngtrở mạch vòng của đường dây Bình thường khi thuê bao ở trạng thái gác máy thì tổng trở đường dây thì vôcùng lớn (hở mạch) Khi thuê bao nhấc máy điện trở mạch vòng còn 150 - 1500 (thường là 600) đó làtổng trở vào của điện thoại Tổng đài nhận biết được sự thay đổi này thông qua bộ cảm biến trạng thái đườngdây thuê bao
Khi thuê bao nhấc máy thì tổng đài sẽ cấp tín hiệu Dial Tone trên đường dây đến thuê bao, chỉ khinhận được tín hiệu này thì thuê bao mới được quay số, có thể quay số dưới dạng DTMF và Pulse
Tổng đài nhận các số do thuê bao gửi đến và kiểm tra, nếu số đầu nằm trong tập thể số thuê bao củatổng đài thì tổng đài sẽ phục vụ cuộc gọi nội đài Ngược lại, nó phục vụ cuộc gọi liên đài thông qua trung kếgiữ toàn bộ phần định vị quay số tổng đài có thuê bao bị gọi, nếu số đầu là mã thì chức năng đặc biệt củatổng đài sẽ thực hiện các chức năng có thể phục vụ thuê bao
Nếu thuê bao bị gọi thông thoại hoặc đường dây kết nối bị bận thì tổng đài cấp tín hiệu Busy Tonengược về cho thuê bao gọi
Khi thuê bao bị gọi nhấc máy thì tổng đài biết tín hiệu này và cắt dòng chuông kịp thời để tránh hưhao cho thuê bao, đồng thời cắt tín hiệu chuông hồi âm đến thuê bao gọi và kết nối thông thoại cho hai thuêbao
Khi hai thuê bao đang thông thoại có một thuê bao gác máy, tổng đài cắt thông thoại hai thuê bao vàcấp Busy Tone cho thuê bao còn lại, giải toả các thiết bị phục vụ thông thoại Khi thuê bao còn lại gác máytổng đài ngắt Busy Tone và kết thúc chương trình phục vụ thuê bao
Kết luận chương 2: Tác giả đã giới thiệu tổng quan về tổng đài điện thoại và phân tích phương thức làm
việc giữa tổng đài và các thuê bao điện thoại cố định Qua phân tích này, người điều khiển sẽ có cách nhìnnhận rõ hơn về phương pháp truyền tín hiệu điều khiển giữa người điều khiển và thiết bị và quá trình kết nốigiữa thiết bị và người điều khiển
Chương 3 THIẾT KẾ PHẦN CỨNG HỆ THỐNG 3.1 Bộ Vi điều khiển AT89S52
Trang 93.1.1 Sơ đồ khối bộ Vi điều khiển AT89S52
Vi điều khiển AT89S52 thuộc họ vi điều khiển MCS-51 của Atmel Tóm tắt cấu trúc của chíp AT89S52như sau:
Là bộ vi điều khiển CMOS – 8bit
Bộ nhớ chương trình (Bộ nhớ Rom) trên chíp 8K bytes
Bộ nhớ dữ liệu (Bộ nhớ Ram) trên chíp 256 bytes
Có 32 chân vào/ra
Có khả năng giao tiếp với cổng nối tiếp và truyền dữ liệu nối tiếp
Có 3 Bộ timer 16 bit
Có 6 nguồn ngắt
Hình 3.1 Sơ đồ khối vi điều khiển AT89S52
3.1.2 Sơ đồ và chức năng các chân vi điều khiển AT89S52
Trang 10Hình 3.2 Sơ đồ chân của AT89S52
- Chức năng hoạt động của các chân của vi điều khiển AT89S52:
Port 0: (P0.0 P0.7)
Trong các thiết kế nhỏ không dùng bộ nhớ mở rộng nó có chức năng như các cổng vào ra I/O Đốivới các thiết kế cỡ lớn có bộ nhớ mở rộng, nó trở thành bus địa chỉ và bus dữ liệu đa hợp
Port 1: (P1.0 P1.7)
Port 1 có một chức năng chính là các đường xuất/nhập dữ liệu
Trong một số trường hợp chân P1.0 và P1.1 còn có chức năng đặc biệt khác
Chân P1.0 và P1.1 là ngõ vào của Timer/Counter 2 Ba chân P1.5, P1.6, P1.7 được nạp rom theo chuẩn ISP
Port 2: (P2.0 P2.7)
Port 2 ngoài chức năng được dùng như các cổng vào ra I/O còn là byte cao của bus địa chỉ đối vớicác thiết bị dùng bộ nhớ mở rộng
Port 3: (P3.0 P3.7)
Port 3 có 2 chức năng: Khi không hoạt động xuất/nhập, các chân của port này có nhiều chức năng
riêng như ở bảng sau:
Bảng 3.1 Chức năng riêng các chân Port 3
P3.0 RxT Chân nhận dữ liệu của port nối tiếp
P3.1 TxD Chân phát dữ liệu port nối tiếp
P3.2 INT0 Ngõ vào ngắt cứng thứ 0
P3.3 INT1 Ngõ vào ngắt cứng thứ 1
P3.4 T0 Ngõ vào của Timer/Counter 0
P3.5 T1 Ngõ vào của Timer/Counter 1
P3.6 WR Điều khiển ghi bộ nhớ dữ liệu ngoài
P3.7 RD Điều khiển đọc bộ nhớ dữ liệu ngoài
Chân Reset (RST): chân số 9
Thiết lập lại trạng thái ban đầu cho hệ thống hay gọi tắt là reset hệ thống Khi ngõ vào này được treo
ở mức logic 1 tối thiểu hai chu kì máy, các thanh ghi bên trong AT89S52 được nạp các giá trị thích hợp choviệc khởi động lại hệ thống
Chân PSEN(Progam Store Enable): chân 29
PSENlà tín hiệu có tác dụng cho phép đọc bộ nhớ chương trình mở rộng và thường được nối vớichân OE\ (output enable) của EPROM cho phép đọc các byte mã lệnh PSENở mức thấp trong thời gianlấy lệnh Các mã nhị phân của chương trình được đọc từ EPROM qua bus dữ liệu và được chốt vào thanh ghibên trong AT89S52 để giải mã lệnh Khi thi hành chương trình trong ROM nội (AT89S52) thì PSEN\ sẽ ởmức 1
Chân ALE/ PROG (Address Latch Enable): chân 30
Trang 11Là chân xuất tín hiệu cho phép chốt địa chỉ ALE (address latch enable) để giải đa hợp(demultiplexing) bus dữ liệu và bus địa chỉ
Tín hiệu ALE có tốc độ bằng 1/6 lần tần số dao động trên chip và có thể được dùng làm tín hiệuclock cho các phần khác của hệ thống
Ngõ tín hiệu EA /VPP: chân 31
Chân cho phép truy xuất bộ nhớ ngoài, tích cực mức thấp chạy chương trình ROM ngoài Tích cựcmức cao chạy chương trình ROM nội
Các chân XTAL1, XTAL2: chân 18, 19
Bộ dao động được tích hợp bên trong AT89S52, khi sử dụng AT89S52 người thiết kế chỉ cần kết nốithêm thạch anh và các tụ tần số thạch anh thường sử dụng cho AT89S52 là 12MHz
Chân VCC, GND:
Dùng nguồn một chiều có dải điện áp từ 4V đến 5.5V, được cấp qua chân 40 và chân 20
3.2 Chíp Giải mã Thu - Phát DTMF MT8888
3.2.1 Sơ đồ khối của MT8888
MT8888 là một chíp thu phát DTMF trọn bộ kèm theo một bộ lọc thoại (Call Progress Filter) Bộ thuDTMF dựa trên kỹ thuật chuẩn của IC MT8870, còn gọi là bộ phát DTMF sử dụng phương pháp biến đổi D/
A biến dung (Switched Capacitor) cho ra tín hiệu DTMF chính xác, ít nhiễu Các bộ đếm bên trong giúp hìnhthành chế độ Brust Mode nhờ vậy các cặp tone xuất ra với thời hằng chính xác Bộ lọc Call Progress chophép bộ vi xử lý phân tích các tone trạng thái đường dây
Bảng 3.2 Chức năng các chân của MT8888
1 INT+ Chân vào không đảo của OPAMP