1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Giáo trình Đa dạng sinh học

81 570 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ các khái niệm trên, có thể thấy rằng sinh học bảo tồn có hai mục tiêu: một là tìm hiểu những tác động tiêu cực do hoạt động của con người gây ra đối với các loài, quần xã và các hệ si

Trang 1

Nguyễn Mộng

Giáo trình

BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC

Trang 2

Số tiết: 9

Nội dung:

I Khái niệm về sinh học bảo tồn

Trên trái đất, các quần xã sinh vật trải qua hàng triệu năm phát triển đang bị đe dọa bởi các hoạtđộng của loài người

Sự tuyệt chủng hàng loạt ngày nay có thể so sánh với sự tuyệt chủng của các thời kỳ địa chấttrong quá khứ, trong đó hàng chục ngàn, thậm chí hàng triệu loài bị tiêu diệt do các thảm hoạ tự nhiên,

có thể là sự va chạm của các thiên thạch, động đất, hoả hoạn,

Nhiều loài đang bị suy giảm một cách nhanh chóng, thậm chí một số loài đang ở ngưỡng cửa củatuyệt chủng mà nguyên nhân chủ yếu là do săn bắt quá mức, do sinh cảnh bị phá hủy và do sự xâmnhập của các loài ngoại lai

Nguy cơ đối với đa dạng sinh học ngày càng tăng do áp lực dân số tăng lên một cách nhanhchóng cũng như các tiến bộ về khoa học kỹ thuật Tình trạng này lại càng trở nên trầm trọng hơn doviệc phân phối của cải trên thế giới không đồng đều, về sự phân hóa giàu nghèo giữa các nước pháttriển và kém phát triển, đặc biệt đối với các nước nhiệt đới, nơi vốn rất phong phú về loài Hơn thếnữa, sự đe dọa đối với đa dạng sinh học do các yếu tố đơn độc chẳng hạn như mưa axit, khai thác gỗ,săn bắn quá mức, cùng kết hợp với nhau làm cho tình trạng ngày càng tồi tệ hơn

Như vậy chúng ta có thể thấy rằng, khác với các cuộc tuyệt chủng hàng loạt đã xảy ra trong quákhứ, sự tuyệt chủng hàng loạt trong giai đoạn hiện nay có những đặc trưng như sau:

 Xảy ra với tốc độ rất nhanh

 Tác nhân chủ yếu là do con người (không phải bởi các điều kiện tự nhiên)

 Liên quan đến việc mất mát, chia cắt và suy thoái nơi ở

 Không kèm theo sự hình thành loài mới

Sinh học bảo tồn là một nguyên lý khoa học được xây dựng để bảo vệ các loài, thiết lập các khubảo tồn mới và cũng cố nâng cấp các vườn quốc gia cũng là để xác định những loài nào trên trái đấtđược bảo tồn cho tương lai

Sinh học bảo tồn là một khoa học đa ngành (multi-disciplinary), tập hợp được rất nhiều người vànhiều tri thức thuộc các lĩnh vực khác nhau nhằm khắc phục tình trạng khủng hoảng đa dạng sinh họchiện nay

Sinh học bảo tồn bổ sung các nguyên tắc ứng dụng (applied disciplines) bằng cách cung cấp

phương pháp tiếp cận có tính chất lý thuyết tổng thể cho việc bảo tồn đa dạng sinh học Sinh học bảo

tồn khác với các khoa học khác ở chổ là bảo tồn một cách lâu dài toàn bộ quần xã sinh vật là chính,

các yếu tố kinh tế thường là thứ yếu

Về nhiều mặt có thể nói sinh học bảo tồn là một khoa học thiết yếu (crisis discipline) Các quyếtđịnh về vấn đề bảo tồn được đưa ra hàng ngày và thường là với những thông tin rất hạn chế do thờigian cấp bách Sinh học bảo tồn cố gắng đề xuất những giải pháp phù hợp để giải quyết các vấn đề nảysinh trong điều kiện thực tế ngày nay

Từ các khái niệm trên, có thể thấy rằng sinh học bảo tồn có hai mục tiêu: một là tìm hiểu những tác động tiêu cực do hoạt động của con người gây ra đối với các loài, quần xã và các hệ sinh thái; hai

là để xây dựng các phương pháp tiếp cận để hạn chế sự tuyệt diệt của các loài và nếu có thể được, cứu

trợ các loài đang bị đe dọa bằng cách đưa chúng hội nhập trở lại các hệ sinh thái đang còn phù hợp

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 3

với chúng.

Vào đầu những năm 1970, các nhà khoa học đã nhận thức được tình trạng khủng hoảng của đadạng sinh học, nhưng không có một diễn đàn hay tổ chức trung tâm để đối phó với vấn đề đó Sốlượng người suy nghĩ và tiến hành nghiên cứu về vấn đề bảo tồn tăng lên thì cần thiết phải có thông tincho nhau các phương pháp tiếp cận và ý tưởng mới Để có thể thảo luận các mối quan tâm của mình,nhà sinh thái học Micheal Soulé đã tổ chức Hội thảo Quốc tế đầu tiên về Bảo tồn Sinh học vào năm

1978 Tại cuộc họp này, với sự tham gia của các nhà bảo tồn động vật hoang dã, các nhà quản lý độngvật, các Viện sĩ, Soulé đã trình bày một phương pháp tiếp cận liên ngành mới để cứu giúp các loàithực vật, động vật khỏi cơn sóng tuyệt chủng hàng loạt do con người gây ra Sau đó cùng với đồngnghiệp là Paul Ehrlich và Jared Diamond, Soulé đã phát triển Sinh học bảo tồn thành một ngành khoahọc, trong đó kết hợp các kinh nghiệm về quản lý động vật hoang dã, lâm nghiệp và sinh học nghề cávới các lý thuyết về sinh học quần thể, di truyền, tiến hoá và địa lý sinh học để phát triển nhữngphương pháp và tiếp cận mới trong việc bảo tồn loài và các hệ sinh thái

II Khái niệm về đa dạng sinh học

Theo định nghĩa của Quỹ Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (World Wildlife Fund) thì đa dạng sinhhọc là “sự phồn thịnh của cuộc sống trên trái đất, là hàng triệu loài động vật, thực vật và vi sinh vật, lànhững nguồn gen của chúng và là các hệ sinh thái phức tạp cùng tồn tại trong môi trường sống”

Như thế, đa dạng sinh học cần phải được xem xét ở ba mức độ Đa dạng sinh học ở mức độ loàibao gồm tất cả sinh vật trên trái đất từ vi khuẩn đến các loài động vật, thực vật và nấm Ở mức nhỏ hơn,

đa dạng sinh học bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các quần thể cách lynhau về địa lý cũng như khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể Đa dạng sinhhọc cũng bao gồm sự khác biệt trong các quần xã sinh học nơi các loài đang sinh sống, các hệ sinh tháitrong đó các quần xã tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau Sự khác biệtgiữa đa dạng sinh học ở 3 mức độ khác nhau được thể hiện qua bảng 1.1

Bảng 1.1 Các mức độ đa dạng sinh học (Heywood& Baste 1995)

Đa dạng loài Đa dạng di truyền Đa dạng sinh thái

Giới (Kingdoms) Quần thể (Populations) Sinh đới (Biomes)

Ngành (Phyla) Cá thể (Individuals) Vùng sinh học (Bioregions)

Lớp (Class) Nhiễm sắc thể (Chromosomes) Cảnh quan (Landscapes)

Loài (Species)

Nguồn: Kevin J Gaston and John I Spicer, 2004.

1 Đa dạng loài.

Đa dạng loài bao gồm tất cả loài trên trái đất Mỗi loài thường được xác định theo một trong hai

cách Thứ nhất, một loài được xác định là một nhóm các cá thể có những đặc tính hình thái, sinh lý, sinh hoá đặc trưng khác biệt với những nhóm cá thể khác (định nghĩa về hình thái của loài) Thứ hai là

một loài có thể được phân biệt như là một nhóm cá thể có thể giao phối giữa chúng với nhau để sinhsản thế hệ con cái hữu thụ và không thể giao phối sinh sản với các cá thể của các nhóm khác (địnhnghĩa về sinh học của loài)

Hiện nay, có khoảng 1,7 triệu loài đã được mô tả Ít nhất là hai lần số đó còn chưa mô tả, chủ yếu làcôn trùng và các nhóm chân khớp khác trong vùng nhiệt đới (Bảng 1.2)

Bảng 1.2 Đánh giá số loài đã được mô tả (Lecointre and Guyader, 2001)

Bậc phân loại Tên thường gọi Số loài mô tả % số loài đã được mô tả

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 4

30 triệu loài) dự kiến phải tốn từ 750 năm đến 2.570 năm, trong khi đó có nhiều loài đã bị tuyệt chủngtrước khi chúng được mô tả và đặt tên.

Kiến thức của chúng ta về số lượng loài là chưa chính xác do nhiều loài khó thấy còn chưa đượcphân loại học chú ý

Một vùng rùng mưa miền núi hẻo lánh nằm giữa Việt Nam và Lào vừa mới được các nhà sinhhọc khảo sát trong thời gian gần đây Một điều kỳ diệu đã xảy ra, tại đây họ đã phát hiện được 5 loài

thú mới cho khoa học đó là Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis), Sao La (Pseudoryx

nghetinhensis), Bò sừng xoắn Tây Nguyên (Bos sauveli), Mang Trường Sơn (Muntiacus truongsonensis) và Mang lá (Muntiacus rooseveltorum).

2 Đa dạng di truyền

Thể hiện sự sai khác về di truyền giữa các cá thể trong một quần thể và giữa các quần thể với

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 5

Đa dạng di truyền trong nội bộ loài thường là kết quả của tập tính sinh sản của các cá thể trongquần thể Một quần thể là một nhóm các cá thể giao phối với nhau và sản sinh ra con cái hữu thụ Mộtloài có thể có một hay vài quần thể khác nhau Một quần thể có thể chỉ gồm một số ít cá thể hay có thể

có hàng triệu cá thể

Các cá thể trong một quần thể thường rất khác nhau về mặt di truyền Sự đa dạng về bộ gen cóđược do các cá thể có các gen khác nhau, gen là một đơn vị di truyền cùng với những chromosomeđược đặc trưng bởi những protein đặc biệt Các dạng khác nhau của gen được gọi là allen và những sựkhác biệt nảy sinh qua đột biến, là những sự thay đổi xảy ra trong DNA, đơn vị cấu thành nhiễm sắcthể của cá thể Sự khác biệt của các allen trong gen có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh lý củacác cá thể một cách khác nhau

Tổng số các sắp xếp của gen và allen trong quần thể được coi là quỹ gen (gene pool), trong khi

một tổ hợp nào đấy của gen và allen trong bất kỳ cá thể nào thì được gọi là kiểu di truyền (genotype)

Kiểu hình (phenotype) của một cá thể nói lên các đặc điểm về hình thái, sinh lý, sinh hoá là kết quả

của biểu hiện kiểu gen trong một môi trường nhất định

Sai khác di truyền cho phép các cá thể thích ứng với những thay đổi của môi trường Nhìnchung, các loài quí hiếm ít có sự đa dạng di truyền hơn các loài có phân bố rộng và kết quả là chúng dễ

bị tuyệt chủng hơn khi điều kiện môi trường thay đổi

3 Đa dạng quần xã và hệ sinh thái

Đa dạng về hệ sinh thái là thước đo sự phong phú về sinh cảnh, nơi ở, tổ sinh thái và các hệ sinhthái ở các cấp độ khác nhau Sự đa dạng này được phản ảnh quan trọng nhất bởi sự đa dạng về sinhcảnh (biotops), các quần xã sinh vật và các quá trình sinh thái trong sinh quyển

Môi trường vật lý, đặc biệt là vòng tuần hoàn năm của nhiệt độ và lượng mưa, ảnh hưởng đếncấu trúc và đặc điểm của quần xã sinh học, quyết định địa điểm đó sẽ là rừng, đồng cỏ, sa mạc hay đấtngập nước Quần xã sinh vật cũng có thể biến đổi tính chất vật lý của hệ sinh thái

Trong một quần xã sinh học, mỗi loài sử dụng một nhóm tài nguyên nhất định, tạo thành tổ sinhthái của loài đó Tổ sinh thái cho một loài thực vật có thể bao gồm loại đất mà loài đó sống, lượng ánhsáng mặt trời và độ ẩm mà loài đó cần, kiểu hệ thống thụ phấn và cơ chế phát tán của hạt, Tổ sinhthái của một loài động vật có thể bao gồm kiểu nơi sinh sống của loài, biên độ nhiệt độ mà loài đó có thểsống được, các loại thực phẩm và lượng nước mà chúng cần, Bất cứ thành phần nào của tổ sinh tháiđều là nguồn tài nguyên có giới hạn và do đó có ảnh hưởng đến giới hạn kích thước của quần thể

III Định lượng đa dạng sinh học

Ngoài định nghĩa đa dạng sinh học được chấp nhận bởi nhiều nhà sinh học bảo tồn, định nghĩa

về số lượng tính đa dạng sinh học cũng được sử dụng như là một phương thức để so sánh sự đa dạngtổng thể của các quần xã khác nhau

Theo như định nghĩa về đa dạng sinh học, rõ ràng là không có một thước đo duy nhất nào để địnhlượng đa dạng sinh học một cách đầy đủ Chúng ta không thể nói lên tính đa dạng sinh học của một khuvực dù có diện tích lớn hay nhỏ chỉ bằng một con số duy nhất

Đa dạng di truyền thường được coi là đơn vị cơ sở của sự sống, tuy nhiên, trong thực tế, đa dạngloài thường được coi là nhân tố cơ bản của đa dạng sinh học

Các chỉ số toán học về đa dạng sinh học đã được thiết lập để mô tả sự đa dạng loài ở các phạm vịđịa lý khác nhau Số lượng loài trong một quần xã hay hệ sinh thái thường được mô tả là đa dạng

Khái niệm đa dạng đề cập đến mức độ dao động thành phần loài khi các điều kiện môi trường

thay đổi như thế nào

Đa dạng áp dụng đối với một vùng địa lý rộng lớn gồm nhiều sinh cảnh và được định nghĩa là

“một tỷ lệ mà ở đấy các loài thêm vào được bắt gặp là những sự thay thế địa lý trong một dạng nơi ởthuộc các vùng khác nhau”

Đa dạng xuất phát từ một khái niệm phổ biến về sự phong phú của loài (species richness) và cóthể sử dụng để so sánh số lượng loài trong các hệ sinh thái khác nhau Có nhiều phương thức khác nhau

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 6

 Tính đại diện: độ phong phú của loài có thể đại diện cho nhiều loại đa dạng sinh học khácnhau Nhìn chung, độ phong phú loài càng lớn thì độ đa dạng di truyền càng cao (đa dạng lớn vềgene qua các quần thể), đa dạng về sinh vật càng nhiều (số lượng cá thể lớn qua các bậc phân loạicao hơn), và đa dạng sinh thái lớn hơn (từ các đại diện của nhiều tổ sinh thái và nơi ở qua nhiềusinh cảnh)

 Ứng dụng rộng rãi: đơn vị loài thường được coi như là đơn vị trong quản lý, luật pháp,chính trị và truyền thống Đối với nhiều người sự sai khác về đa dạng sinh học được coi như là sựsai khác về độ phong phú của loài

IV Sự phong phú đa dạng sinh học ở một số vùng trên trái đất

Môi trường giàu có nhất về số lượng loài có lẽ ở các rừng nhiệt đới, rạn san hô, các hồ lớn ởvùng nhiệt đới và ở các biển sâu Trong các rạn san hô, và các biển sâu, sự đa dạng sinh học thuộcnhiều ngành và lớp khác nhau Sự đa dạng trong các biển sâu nhờ vào diện tích lớn, tính ổn định củamôi trường cũng như vào sự biệt hoá của các loại nền đáy khác nhau

Đa dạng loài lớn nhất là ở vùng rừng nhiệt đới Mặc dù rừng nhiệt đới chỉ chiếm 7% diện tíchtrái đất, chúng chứa hơn 1/2 loài trên thế giới Khoảng 40% loài thực vật có hoa trên thế giới (100.000loài) ở vùng nhiệt đới, trong khi 30% loài chim trên thế giới phụ thuộc vào những khu rừng nhiệt đới

Rạn san hô tạo nên một nơi tập trung khác về loài Các loài san hô bé nhỏ tạo ra các hệ sinh tháisan hô vĩ đại, là vùng biển tương đương với rừng nhiệt đới về sự phong phú loài và độ phức tạp Rạnsan hô lớn nhất thế giới là rạn San Hô Lớn (Great Barrier Reffs) ở bờ biển phía đông nước Úc, có diệntích là 349.000 km2 Rạn san hô này có hơn 300 loài san hô, 1500 loài cá, 4000 loài thân mềm, 5 loàirùa biển và là nơi sinh sản của khoảng 252 loài chim Rạn san hô này chiếm 8% loài cá trên thế giớimặc dù chúng chỉ chiếm 0,1% diện tích đại dương

Đối với hầu hết các nhóm sinh vật, sự đa dạng loài tăng về hướng nhiệt đới Ví dụ như Kenia có

308 loài thú, trong khi đó Pháp chỉ có 113 loài mặc dù hai nước này có cùng diện tích Sự tương phảnnày đặc biệt chặt chẻ đối với cây cỏ và thực vật có hoa: một hecta rừng Amazon ở Peru hay vùng đấtthấp ở Malaisia có thể có đến hơn 200 loài cây, trong khi đó ở rừng Châu Âu hay nước Mỹ thì chỉ cókhoảng 30 loài trong cùng diện tích Kiểu đa dạng của các loài trên đất liền cũng giống như ở biển,nghĩa là cũng gia tăng sự đa dạng loài về phía nhiệt đới Ví dụ rạn San hô lớn ở Úc, phía Bắc có 50giống trong khi phía Nam chỉ có 10 giống san hô

Nhân tố lịch sử cũng rất quan trọng trong việc xác định kiểu phân bố đa dạng về loài Nhữngvùng đất cổ có nhiều loài hơn các vùng đất mới

Sự phong phú về loài cũng bị ảnh hưởng bởi các biến đổi về địa hình, khí hậu và môi trường địaphương Trong các quần xã trên cạn, sự giàu có về loài theo xu hướng tăng ở các địa hình thấp, tăngtheo lượng bức xạ của mặt trời và tăng theo lượng mưa Sự thay đổi lớn về nhiệt độ theo mùa là mộtnhân tố khác ảnh hưởng nhiều đến số lượng loài ở vùng ôn đới

Sự phong phú loài cũng có thể lớn hơn ở những nơi có địa hình phức tạp, để tạo nên những sựcách ly di truyền, thích ứng địa phương, và sự biệt hoá có thể xảy ra

V Những giá trị của đa dạng sinh học

1 Những giá trị kinh tế trực tiếp

1.1 Giá trị cho tiêu thụ:

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 7

Bao gồm các sản phẩm tiêu dùng cho cuộc sống hàng ngày như củi đốt và các loại sản phẩm kháccho các mục tiêu sử dụng như tiêu dùng cho gia đình và không xuất hiện ở thị trường trong nước và quốctế.

Những nghiên cứu về những xã hội truyền thống tại các nước đang phát triển cho thấy cộng đồng

cư dân bản địa khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên xung quanh như củi đun, rau cỏ, hoa quả, thịt cá,dược phẩm và nguyên vật liệu xây dựng Trên 5.000 loài được dùng cho mục đích chửa bệnh ở TrungQuốc, Việt Nam và khoảng 2.000 loài được dùng tại vùng hạ lưu sông Amazon

Một trong những nhu cầu không thể thiếu được của con người là protein, nguồn này có thể kiếmđược bằng săn bắn các loài động vật hoang dã để lấy thịt Trên toàn thế giới, 100 triệu tấn cá, chủ yếu

là các loài hoang dã bị đánh bắt mỗi năm Phần lớn số cá này được sử dụng ngay tại địa phương

1.2 Giá trị sử dụng cho sản xuất:

Là giá bán cho các sản phẩm thu lượm được từ thiên nhiên trên thị trường trong nước và ngoài

nước Sản phẩm này được định giá theo các phương pháp kinh tế tiêu chuẩn và giá được định là giá

mua tại gốc, thường dưới dạng sơ chế hay nguyên liệu Tại thời điểm hiện nay, gỗ là một trong những

sản phẩm bị khai thác nhiều nhất từ rừng tự nhiên với giá trị lớn hơn 100 tỷ đôla mỗi năm Những sản

phẩm lâm nghiệp ngoài gỗ còn có động vật hoang dã, hoa quả, nhựa, dầu, mây và các loại cây thuốc

Thế giới tự nhiên là nguồn vô tận cung cấp những nguồn loại dược phẩm mới 25% các đơnthuốc ở Mỹ có sử dụng các chế phẩm được điều chế từ cây, cỏ

2 Những giá trị kinh tế gián tiếp

Những giá trị kinh tế gián tiếp là những khía cạnh khác của đa dạng sinh học như các quá trìnhxảy ra trong môi trường và các chức năng của hệ sinh thái là những mối lợi không thể so đếm được vànhiều khi là vô giá

2.1 Giá trị sử dụng không cho tiêu thụ:

Khả năng sản xuất của hệ sinh thái: khoảng 40% sức sản xuất của hệ sinh thái trên cạn phục

vụ cho cuộc sống của con người Tương tự như vậy, ở những vùng cửa sông, dãi ven biển là nơi nhữngthực vật thuỷ và tảo sinh phát triển mạnh, chúng là mắc xích đầu tiên của hàng loạt chuỗi thức ăn tạothành các hải sản như trai, sò, tôm cua,

Bảo vệ tài nguyên đất và nước: các quần xã sinh học có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ

rừng đầu nguồn, những hệ sinh thái vùng đệm, phòng chống lũ lụt và hạn hán cũng như việc duy trìchất lượng nước

Điều hoà khí hậu: quần xã thực vật có vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều hoà khí hậu địa

phương, khí hậu vùng và ngay cả khí hậu toàn cầu

Phân huỷ các chất thải: các quần xã sinh học có khả năng phân huỷ các chất ô nhiễm như kim

loại nặng, thuốc trừ sâu và các chất thải sinh hoạt khác đang ngày càng gia tăng do các hoạt động củacon người

Những mối quan hệ giữa các loài: nhiều loài có giá trị được con người khai thác, nhưng để tồn

tại, các loài này lại phụ thuộc rất nhiều vào các loài hoang dã khác Nếu những loài hoang dã đó mất

đi, sẽ dẫn đến việc mất mát cả những loài có giá trị kinh tế to lớn

Nghỉ ngơi và du lịch sinh thái: mục đích chính của các hoạt động nghỉ ngơi là việc hưởng thụ mà

không làm ảnh hưởng đến thiên nhiên thông qua những hoạt động như đi thám hiểm, chụp ảnh, quan sátchim, thú, câu cá Du lịch sinh thái là một ngành du lịch không khói đang dần dần lớn mạnh tại nhiềunước đang phát triển, nó mang lại khoảng 12 tỷ đôla năm trên toàn thế giới

Giá trị giáo dục và khoa học: nhiều sách giáo khoa đã biên soạn, nhiều chương trình vô tuyến và

phim ảnh đã được xây dựng về chủ đề bảo tồn thiên nhiên với mục đích giáo dục và giải trí Một sốlượng lớn các nhà khoa học chuyên ngành và những người yêu thích sinh thái học đã tham gia các hoạtđộng quan sát, tìm hiểu thiên nhiên Các hoạt động này mang lại lợi nhuận kinh tế cho khu vực nơi họtiến hành nghiên cứu khảo sát; nhưng giá trị thực sự không chỉ có vậy mà còn là khả năng nâng caokiến thức, tăng cường tính giáo dục và tăng cường vốn sống cho con người

Quan trắc môi trường: những loài đặc biệt nhạy cảm với những chất độc có thể trở thành hệ

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 8

thống chỉ thị báo động rất sớm cho những quan trắc hiện trạng môi trường Một số loài có thể đượcdùng như những công cụ thay thế máy móc quan trắc đắt tiền Một trong những loài có tính chất chỉ thịcao là địa y sống trên đá hấp thụ những hoá chất trong nước mưa và những chất gây ô nhiễm trongkhông khí Thành phần của quần xã địa y có thể dùng như chỉ thị sinh học về mức độ ô nhiễm khôngkhí Các loài động vật thân mềm như trai sò sống ở các hệ sinh thái thuỷ sinh có thể là những sinh vậtchỉ thị hữu hiệu cho quan trắc môi trường

2.2 Giá trị lựa chọn

Giá trị lựa chọn của một loài là tiềm năng của chúng để cung cấp lợi ích kinh tế cho xã hội loàingười trong tương lai Những chuyên gia về côn trùng tìm kiếm những loài côn trùng có thể sử dụngnhư các tác nhân phòng trừ sinh học; các nhà vi sinh vật học tìm kiếm những loài vi khuẩn có thể trợgiúp cho các quá trình nâng cao năng suất sản xuất; các nhà động vật học lựa chọn các loài có thể sảnxuất nhiều protein; các cơ quan y tế chăm sóc sức khỏe và các công ty dược phẩm đang có những nổlực rất lớn để tìm kiếm các loài có thể cung cấp những hợp chất phòng chống và chữa bệnh cho conngười

2.3 Giá trị tồn tại

Con người có nhu cầu được tham quan nơi sinh sống của một loài đặc biệt và được nhìn thấy nótrong thiên nhiên hoang dã bằng chính mắt mình Các loài như gấu trúc, sư tử, voi và rất nhiều loàichim khác lại càng đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt của con người Giá trị tồn tại như thế luôn luôn gắnliền với các quần xã sinh học của những khu rừng mưa nhiệt đới, các rạn san hô và những khu vực cóphong cảnh đẹp

2.4 Những khía cạnh mang tính đạo đức

Mỗi một loài đều có quyền tồn tại: tất cả các loài đều có quyền tồn tại Trên cơ sở đó, sự tồn tại

của các loài phải được bảo đảm mà không cần tính đến sự phong phú hay đơn độc hoặc có tầm quantrong đối với con người hay không Tất cả các loài là một phần của tạo hoá và đều có quyền được tồntại như con người ở trên trái đất này Con người không những không có quyền làm hại các loài khác

mà còn có trách nhiệm bảo vệ sự tồn tại của chúng

Tất cả các loài đều quan hệ với nhau: giữa các loài có một quan hệ chằng chịt và phức tạp, là

một phần của các quần xã tự nhiên Việc mất mát của một loài sẽ có ảnh hưởng đến các thành viênkhác trong quần xã Cho nên, chúng ta ý thức được sự cần thiết bảo tồn các loài, bảo tồn đa dạng sinhhọc cũng chính là bảo vệ mình

Con người phải sống trong một giới hạn sinh thái như các loài khác: tất cả các loài trên thế giới bị

giới hạn bởi khả năng sức tải của môi trường sống Mỗi một loài sử dụng nguồn tài nguyên trong môitrường để tồn tại và số loài sẽ bị suy giảm khi những nguồn tài nguyên này bị huỷ hoại và cạn kiệt đi Conngười phải hành động rất thận trọng để hạn chế những ảnh hưởng có hại gây ra cho môi trường tự nhiên.Những ảnh hưởng tiêu cực không chỉ gây hại đối với các loài mà còn gây hại đến chính bản thân conngười

Con người phải chịu trách nhiệm như những người quản lý trái đất: nếu như chúng ta làm tổn

hại đến những nguồn tài nguyên thiên nhiên trên trái đất và làm cho các loài bị đe dọa tuyệt chủng thìnhững thế hệ tiếp theo sẽ phải trả giá bằng một cuộc sống có chất lượng thấp Do vậy, con người ngàynay phải biết sử dụng các nguồn tài nguyên một cách khôn ngoan, tránh gây tác hại cho các loài và cácquần xã sinh học

Sự tôn trọng cuộc sống con người và sự đa dạng văn hoá phải được đặt ngang tầm với sự tôn

trong đa dạng sinh học: việc đánh giá cao giá trị đa dạng văn hoá và thế giới tự nhiên làm cho con

người biết tôn trọng hơn đối với tất cả sự sống phong phú và phức tạp của nó

Thiên nhiên có những giá trị tinh thần và thẩm mỹ vượt xa giá trị kinh tế của nó: trong lịch sử,

những nhà sáng lập ra tôn giáo, những nhà thơ, nhà văn, những nghệ sĩ và nhạc sĩ đã thể hiện nhữngcảm hứng do họ nhận được từ thiên nhiên Đối với nhiều người, để có được những cảm hứng như thế

họ cần phải sống với một môi trường thiên nhiên hoang sơ, chưa bị tác động bởi con người Hầu như aicũng hào hứng và thích thú khi được chiêm ngưỡng thế giới nguyên khai hoang dã và những phongcảnh đẹp Nhiều người coi trái đất như là một sản phẩm kỳ diệu của tạo hoá với những điều linh thiêngcần được tôn trọng theo phong cách riêng

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 9

Đa dạng sinh học là cốt lõi đế xác định nguồn gốc sự sống: hai trong số những huyền thoại

chính của thế giới triết học và khoa học là sự sống được hình thành như thế nào và tại sao lại có sự đadạng sinh học như ngày nay Hàng ngàn chuyên gia sinh học tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề này

và ngày càng đang tiến dần đến câu trả lời Tuy vậy khi các loài bị tuyệt chủng có nghĩa là mất đinhững mắc xích quan trọng và huyền thoại đó khó tìm được lời giải

Tóm tắt nội dung:

Sinh học bảo tồn là tổng hợp tri thức của nhiều ngành khoa học, nghiên cứu các khía cạnh củakhủng hoảng, xáo trộn về đa dạng sinh học Mục tiêu là hạn chế sự mát mát đa dạng sinh học, đặc biệt

là sự tuyệt chủng của các loài, sự mất mát các nguồn gen và hạn chế sự suy thoái các hệ sinh thái

Sự đa dạng sinh học trên trái đất bao gồm tất cả các loài sinh vật trên trái đất từ vi khuẩn đến cácloài động vật, thực vật và nấm, sự đa dạng về di truyền tồn tại giữa các cá thể của loài, các quần xãtrong đó các loài tồn tại và những sự tương tác của các quần xã trong hệ sinh thái với môi trường vật lý

và hóa học xung quanh

Lượng tính đa dạng sinh học cũng được sử dụng như là một phương thức để so sánh sự đa dạngtổng thể của các quần xã khác nhau Số lượng loài trong một quần xã hay hệ sinh thái thường được mô

tả là đa dạng Khái niệm đa dạng đề cập đến mức độ dao động thành phần loài khi các điều kiệnmôi trường thay đổi như thế nào Đa dạng áp dụng đối với một vùng địa lý rộng lớn gồm nhiều sinhcảnh Có nhiều phương thức khác nhau để định lượng đa dạng sinh học, tuy vậy, độ phong phú về loài(đa dạng)là chỉ số thông dụng nhất để diễn tả đa dạng sinh học

Vùng nhiệt đới có tính đa dạng sinh học cao nhất với rất nhiều loài sinh sống trong các rừngnhiệt đới, các dãi san hô, các sông hồ và đáy biển sâu Phần lớn số loài hiện nay trên thế giới còn chưađược biết đến, chưa được đặt tên

Các thành phần của đa dạng sinh học có thể cho những sản phẩm có giá trị kinh tế trực tiếp phục

vụ lợi ích của loài người hay những giá trị kinh tế gián tiếp mà không phải khai thác hay hủy hoạinguồn tài nguyên đa dạng sinh học

Giá trị trực tiếp có thể chia thành hai loại: giá trị tiêu thụ và giá trị sản xuất Giá trị tiêu thụ baogồm các sản phẩm tiêu dùng cho cuộc sống hàng ngày như củi đốt và các loại sản phẩm khác và khôngxuất hiện ở thị trường trong nước và quốc tế Giá trị sản xuất là giá bán cho các sản phẩm thu lượmđược từ thiên nhiên trên thị trường như gỗ, một số sản phẩm ngoài gỗ, các loài hoang dã cung cấpdược phẩm

Giá trị gián tiếp của đa dạng sinh học bao gồm những giá trị không cho tiêu thụ như năng suấtcủa hệ sinh thái, chức năng bảo vệ nguồn tài nguyên đất và nước, mối tương tác qua lại giữa các loàihoang dã, cây trồng và điều hòa khí hậu Đa dạng sinh học là một phần của cơ sở xây dựng ngành dulịch sinh thái và nghỉ ngơi Đa dạng sinh học cũng có tiềm năng cung cấp những giá trị khác chưa pháthiện nhưng có thể mang lại lợi ích cho tương lai của xã hội loài người

Đa dạng sinh học cong có giá trị của ự tồn tại thê rhiện trên khoản tiền mà con người sẵn sàng trả

để có thể bảo tồn đa dạng sinh học Bảo tồn đa dạng sinh học cũng có thể dựa trên các nền tảng về đạođức cũng như kinh tế Một trong những quan niệm đạo đức lớn là mỗi loài đều có quyền tồn tại Conngười không có quyền tiêu diệt các loài mà ngược lại phải nỗ lực hành động nhằm bảo vệ các loài

Câu hỏi ôn tập:

Câu 1 Định nghĩa về sinh học bảo tồn

Câu 2 Mục tiêu của sinh học bảo tồn là gì?

Câu 3 Trình bày các mức độ thể hiện đa dạng sinh học về loài

Câu 4 Đa dạng di truyền là gì?

Câu 5 Đa dạng di truyền được thể hiện qua các cấp độ nào?

Câu 6 Đa dạng sinh thái là gì?

Câu 7 Các mức độ thể hiện đa dạng sinh học về mặt sinh thái là gì?

Câu 8 Kể tên 5 sinh đới quan trọng ở trên cạn

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 10

Câu 9 Định nghĩa về hình thái của loài

Câu 10 Định nghĩa về sinh học của loài

Câu 11 Quỷ gen (gene pool) là gì?

Câu 12 Đa dạng alpha là gì?

Câu 13 Đa dạng beta là gì?

Câu 14 Đa dạng gamma là gì?

Câu 15 Các vùng có đa dạng sinh học cao nhất là vùng nào ?

Câu 16 Hãy nêu ba lý do để giải thích tại sao vùng nhiệt đới có số lượng loài lớn nhất

Câu 17 Vì sao ở nơi có địa hình phức tạp sự đa dạng loài lại tăng lên?

Câu 18 Vì sao ở những vùng đất cổ sự đa dạng loài lại tăng lên?

Câu 19 Trong số 1,7 triệu loài đã được mô tả thì ngành nào, lớp nào có số lượng loài lớn nhất?

Câu 20 Vì sao một số loài động thực vật có thể bị tuyệt chủng trước khi chúng được mô tả đặttên?

Câu 21 Giá trị trực tiếp cho tiêu thụ của đa dạng sinh học là gì?

Câu 22 Giá trị trực tiếp sử dụng cho sản xuất của đa dạng sinh học là gì?

Câu 23 Nêu 4 giá trị kinh tế gián tiếp không dùng cho tiêu thụ của đa dạng sinh học

Câu 24 Giá trị lựa chọn của đa dạng sinh học là gì?

Câu 15 Hãy nêu 4 khía cạnh mang tính đạo đức về giá trị của đa dạng sinh học

Tài liệu tham khảo:

Tài liệu Tiếng Việt.

1 Bộ Tài Nguyên và Môi trường, Ngân hàng thế giới Báo cáo diễn biến Môi trường Việt

Nam 2005 Đa dạng sinh học Hà nội, 2005.

2 Lê Trọng Cúc, 2002 Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên Nhà Xuất bản Đại học Quốc

5 Richard B Primack (Võ Quý, Phạm Bình Quyền, Hoàng Văn Thắng dịch) 1999 Cơ sở sinh

học Bảo tồn NXB KH&KT Hà Nội.

Tài liệu Tiếng Anh.

1 Edge W Daniel, John P Loegering, and Renee Davis Born, 1998 Principles of Wildlife

Conservation Oregon State University Corvalis, Oregon.

2 Elizabeth A Gordon, Oscar E Franco and Mary L Tyrrel, 2005l Protecting Biodiversity: A

Guide to Criteria Used by Global Conservation Organizations Yale School of Forestry &

Environmental Studies

3 Jeffrey A McNeely et al, 1990 Conserving the World’s Biological Diversity Gland,

Switzeland, and Washington, D.C

4 Kent E Holsinger, 2005 Conservation Biolgy University of Connecticut.

http://darwin.eeb.uconn.edu

5 Kevin J Gaston and John I Spicer, 2004 Biodiversity an Introduction Blackwell Publishing

Company USA

6 Michael J Jeffries Biodiversity and Conservation Routledge, London, 1997.

7 Peter B Moyle, 1997 Wildlife Conservation.

8 Peter J Bryant, 2001 Biodiversity and Conservation University of California, USA.

9 Richard B Primack, 1993 Essentials of Conservation Biology Sunderland, Massachusetts

U.S.A

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 11

10 Richard B Primack, 1995 A Primer of Conservation Biology Sunderland, Massachusetts

U.S.A

11 Ronald Hofstetter, 2003 Conservation Biology University of Miami.

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 12

Số tiết: 9

Nội dung:

I Sự tuyệt chủng

1 Khái niệm về tuyệt chủng

Khái niệm tuyệt chủng có rất nhiều ý nghĩa và khác nhau tùy thuộc vào từng bối cảnh cụ thể

Một loài bị coi là tuyệt chủng (extinct) khi không còn một cá thể nào của loài đó còn sống sót tại bất

kỳ nơi nào trên thế giới Nếu như một số cá thể của loài còn sót lại chỉ nhờ vào sự kiểm soát, chăm

sóc, nuôi dưỡng của con người, thì loài này được coi là đã bị tuyệt chủng trong thiên nhiên hoang dã (extinct in the wild) Trong hai trường hợp trên, các loài có thể coi như bị tuyệt chủng trên phạm vi toàn cầu (globally extinct).

Một loài bị coi là tuyệt chủng cục bộ (locally extinct) nếu như chúng không còn sống sót tại nơi

chúng đã từng sinh sống, nhưng người ta vẫn còn tìm thấy chúng tại những nơi khác trong thiênnhiên

Một số nhà sinh học sử dụng cụm từ loài bị tuyệt chủng về phương diện sinh thái học (ecologically extinct), điều đó có nghĩa là số lượng cá thể loài còn lại ít đến nổi tác dụng của nó không

có chút ý nghĩa nào đến những loài khác trong quần xã

1.1 Tuyệt chủng là một quá trình tự nhiên

Sự tuyệt chủng loài xảy ra thậm chí không bắt nguồn từ những xáo động to lớn Lý thuyết tiếnhóa nói rõ rằng một loài có thể bị dồn vào tuyệt chủng do không cạnh tranh nổi với một loài khác hay

do bị ăn thịt Một loài có thể tiến hóa từ một loài khác để đáp ứng với những thay đổi của môi trườnghay là do sự thay đổi ngẫu nhiên của quỹ gen Hiện tại chúng ta cũng không biết đầy đủ những nhân

tố xác định sự phồn thịnh hay suy thoái của một loài, nhưng ít nhất chúng ta có thể khẳng định rằng

sự tuyệt chủng là một hiện tượng nằm trong chu trình vận động của tự nhiên tương tự như sự hìnhthành loài

Nếu tuyệt chủng là một phần trong các quá trình tự nhiên, thì tại sao lại phải suy nghĩ và quan

tâm nhiều đến chuyện mất mát các loài Câu trả lời nằm trong mối tương quan về sự tuyệt chủng và

hình thành loài Sự hình thành loài là một quá trình diễn ra rất chậm, qua sự tích luỹ dần các đột biến

và những sự chuyển đổi các allen qua cả hàng chục ngàn năm thậm chí cả hàng triệu năm Theo

Kirchner và cộng sự (2001), trung bình trái đất cần khoảng 10 triệu năm để hồi phục sự đa dạng từ

những tuyệt chủng mang tính toàn cầu Nếu tốc độ của việc hình thành loài tương đương hay vượt

quá tốc độ tuyệt chủng, sự đa dạng sinh học được duy trì hay tăng lên Trong lịch sử các thời kỳ địa

chất, đa dạng sinh học tương đối ổn định nhờ sự cân bằng giữa sự hình thành loài mới và sự tuyệt

diệt loài cũ Tuy nhiên trong những khoảng thời gian ngắn hơn, tốc độ đa dạng hóa kém hơn nhiều

so với tốc độ tuyệt chủng Điều đó có nghĩa là sự tiến hóa của sinh giới sẽ không theo kịp với những

sự tuyệt chủng nhanh chóng

1.2 Tuyệt chủng do con người gây ra

Tác động dễ nhận thấy đầu tiên về hoạt động của con người vào tỷ lệ tuyệt chủng có thể thấy vào

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 13

sự sa sút các loài thú lớn ở Australia và Nam, Bắc Mỹ vào thời gian mà con người bắt đầu thống trị hailục địa này từ hàng ngàn năm trước Chỉ một thời gian ngắn sau khi con người đặt chân đến, 74% đến86% các loài thú lớn, có trọng lượng hơn 40 kg, trong các vùng này bị tuyệt chủng Nguyên nhân trựctiếp của sự tuyệt chủng này có thể là do săn bắn, và nguyên nhân gián tiếp là do đốt rừng và khaihoang.

Dựa vào các chứng cứ có sẵn thì khoảng 85 loài thú và 113 loài chim đã bị tuyệt chủng từ năm

1600, tương ứng với 2,0% các loài thú và 1,3% các loài chim Trong khi những con số ban đầu này có

vẻ như chưa ở mức báo động thì xu hướng tuyệt chủng tăng rất nhanh trong khoảng 150 năm lại đây

Bảng 2.1 Một số nhóm loài tuyệt chủng từ năm 1600 đến nay

Số loài tuyệt chủngBậc phân loại Đất liền Đảo Đại dương Tổng số

Số loài

% tuyệtchủng

Nguồn: Reid và Miller 1989.

Tỷ lệ tuyệt chủng của chim và thú vào khoảng 1 loài trong 10 năm trong thời gian từ 1600

-1700, nhưng tỷ lệ này tăng lên 1 loài/năm trong thời gian từ 1850 -1950 Sự gia tăng tỷ lệ tuyệt chủngloài là một sự chỉ định về tính nghiêm trọng của vấn đề đe dọa đa dạng sinh học Nhiều loài còn chưa

bị tuyệt chủng nhưng đã bị hao hụt rất nhiều do các hoạt động của con người và chỉ tồn tại với sốlượng rất thấp Những loài này cũng được coi là tuyệt chủng sinh thái và chúng không còn vai trò gìtrong tổ chức quần xã Tương lai của nhiều loài là không chắc chắn

 24% các loài thú trên thế giới ngày nay đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng(IUCN,2000)

 Khoảng 12% trong số 9.500 loài chim trên thế giới đang bị đe doạ tuyệt chủng trongkhoảng 100 năm tới Khoảng từ 300 đến 900 loài khác có khả năng đưa vào danh sách bị

đe doạ (Smith et al., 1993)

 Khoảng ¼ của tất cả các loài bò sát và 1/3 của tất cả các loài lưỡng thê trên trái đất đang

bị đe doạ tuyệt chủng Bò sát và lưỡng thê thường được coi là những chỉ thị tổng quát cho

sự thịnh vượng của hệ sinh thái

 50% các loài cá (chủ yếu là cá nước ngọt) được đánh giá được đưa vào danh sách bị đedoạ

 Nhiều loài côn trùng, có vai trò quan trọng như là các sinh vật phân huỷ chất thải, các loàithụ phấn đang bị đe doạ: khoảng 100.000 loài đến 500.000 loài côn trùng được dự báo là

sẽ tuyệt chủng trong vòng 300 năm tới, tương đương với tỷ lệ khoảng 7 đến 30 loài bị mất

đi trong vòng một tuần (Mawdsley and Stork , 1995)

 Khoảng 10% các loài cây trên thế giới đang bị đe doạ tuyệt chủng Khoảng 1000 loàiđang bị nguy cấp trầm trọng, một số loài trong đó số cá thể chỉ còn đếm trên đầu ngón tay

Có ít hơn ¼ các loài cây đang bị đe doạ được bảo tồn ở các mức độ khác nhau (Oldfield,

et al., 1998)

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 14

Các hệ sinh thái và các nơi ở cũng đạng bị đe doạ và đang bị mất mát ở mức độ báo động:

 Khoảng 2/3 diện tích của 2 trong số 14 khu sinh học trên cạn của thế giới và hơn mộtnửa diện tích của 4 khu sinh học khác đã bị chuyển đổi (chủ yếu cho nông nghiệp) vàonhững năm 1990 (Millennium Ecosystem Assessment, 2005)

 Theo Viện Tài nguyên rừng Thế giới (WRI), 1/5 độ che phủ của tất cả rừng mưa nhiệt đới

đã bị mất giữa những năm 1960 và 1990

 50% nơi ở của các vùng đất ngập nước đã bị huỷ hoại trong vòng 100 năm qua (WRI,2003)

 Rừng ngập mặn ven biển trên thế giới thế giới là môi trường nuôi dưỡng quan trọng cho

vô số loài cũng đang bị đe doạ, khoảng 50% rừng ngập mặn đã bị chặt trụi (WRI, 2001)

2000- Khoảng 20% các rạn san hô trên thế giới đã bị mất và 20% khác đang bị suy thoái trongmấy thập kỷ cuối của thế kỷ XX (Millennium Ecosystem Assessment, 2005)

Cuối cùng là do sự mất mát của các loài và hệ sinh thái đã dẫn đến sự mất mát chưa từngthấy của các dịch vụ sinh thái có giá trị:

 Khoảng 60% các dịch vụ sinh thái đang bị suy thoái hay sử dụng không bền vững baogồm: làm sạch không khí, điều hoà khí hậu, cung cấp nước sạch, điều chỉnh mầm bệnh vàsâu hại và thụ phấn

 Có sự thay đổi lớn về chu trình dinh dưỡng trong các thập kỷ qua, chủ yếu do gia tănglượng phân bón, chất thải của gia súc, chất thải của con người và đốt cháy sinh khối(Millennium Ecosystem Assessment, 2005)

2 Nguyên nhân của tuyệt chủng

Mối nguy hại chính ảnh hưởng đến đa dạng sinh học có liên quan đến các hoạt động của con

người là: phá hủy, chia cách, làm suy thoái (kể cả ô nhiễm) nơi sinh sống; khai thác quá mức các loài

phục vụ cho các mục đích sử dụng của loài người; du nhập các loài ngoại lai và gia tăng các dịch bệnh Hầu hết các loài bị đe dọa chịu ảnh hưởng của ít nhất là hai trong số các yếu tố nói trên, những

yếu tố này làm cho sự tuyệt chủng sẽ tiếp diễn nhanh hơn, bất chấp mọi cố gắng nhằm bảo vệ loài.Các mối hiểm hoạ đe dọa đa dạng sinh học nêu ở trên gây ra do việc sử dụng, khai thác tài nguyênngày càng tăng và mức tăng dân số quá nhanh của loài người

2.1 Sự phá hủy những nơi cư trú

Mối đe dọa chính đối với đa dạng sinh học là nơi cư trú bị phá hủy và mất mát

Hơn 50% những nơi cư trú là các rừng nguyên sinh bị phá hủy tại 47 nước trong tổng số 57 nướcnhiệt đới trên thế giới Tại Châu Á nhiệt đới, 65% các nơi cư trú là các cánh rừng tự nhiên đã bị mất

Tốc độ phá hủy đặc biệt lớn tại các nước Philippines, Bangladesh, Sri Lanka, Việt Nam, Ấn Độ,

các nước Châu Phi, đã làm mất phần lớn các các nơi cư trú của các loài hoang dã, trầm trọng nhất là

các nước Gambia, Ghana và Ruanda Tốc độ phá rừng hiện nay khác nhau tại nhiều nơi trên thế giới,

tốc độ khá nhanh ở mức 1,5 đến 2% là các nước như Việt Nam, Paraguay, Mehico và Costa Rica Tại

vùng Địa Trung Hải, diện tích rừng nguyên sinh chỉ còn lại 10%

Đối với các loài động vật hoang dã quan trọng, phần lớn những nơi cư trú thích ứng của chúng

đã bị phá huỷ, chỉ còn lại một số rất ít được bảo vệ Ví dụ loài đười ươi khổng lồ ở Sumatra và Borneo

đã mất 63% nơi sinh sống và chỉ còn 2% diện tích nơi sinh sống nguyên thuỷ của chúng được bảo tồn

Các rừng mưa bị đe dọa

Việc phá hủy các rừng mưa nhiệt đới là dấu hiệu đi kèm với việc mất các loài Rừng nhiệt đới

ẩm chiếm 7% diện tích bề mặt trái đất, nhưng ước tính chúng chứa hơn 50% tổng số loài trên trái đất

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 15

Diện tích ban đầu của rừng mưa nhiệt đới ước tính khoảng 16 triệu km2, đến năm 1982 chỉ còn lại 9,5triệu km2 Hằng năm có khoảng 180.000 km2 rừng mưa bị mất, trong đó 80.000 km2 bị mất hoàn toàn

và 100.000 km2 bị suy thoái đến mức cấu trúc loài và các diễn thế của hệ sinh thái phần lớn đã bị thay

đổi

Sa mạc hóa

Rất nhiều các quần xã sinh học sống trong các vùng khí hậu khô hạn theo mùa đã bị suy thoái

và đất đai trở thành sa mạc mà nguyên nhân chính là do các hoạt động của con người, quá trình đógọi là quá trình sa mạc hóa Lúc đầu các vùng đất này rất phù hợp cho việc phát triển nông nghiệp,nhưng việc gieo trồng liên tục đã làm cho đất bị xói mòn dẫn đến việc mất khả năng giữ nước Thảm

cỏ ở đây cũng liên tục bị trâu bò, dê cừu ăn trụi, các cây thân gỗ thì bị khai thác để làm củi, hậu quả

là sự suy thoái rất nhanh và không thể hồi phục trở lại của các quần xã sinh học cũng như việc mấtthảm che phủ bề mặt đất và hậu quả là khu vực này biến thành sa mạc Trên thế giới có khoảng 9triệu km2 đất vùng khô hạn đã biến thành sa mạc do quá trình nói trên

2.2 Các nơi cư trú bị chia cắt manh mún và cách ly

Sự chia cắt manh mún nơi cư trú của các loài là quá trình mà một khu vực rộng lớn bị thu nhỏlại hoặc bị chia cắt thành hai hay nhiều mảnh nhỏ Những phần này thường bị cách ly khỏi nhữngphần khác và hình thái cấu trúc cảnh quan bị thay đổi nhiều Một mảnh hay một phần của nơi cư trúmới khác biệt với nơi cư trú nguyên thủy ở hai điểm quan trọng: đó là mảnh của nơi cư trú mới có tỷ

lệ giữa phần biên và diện tích lớn hơn, và tâm điểm của mỗi mảnh của nơi cư trú mới rất gần vớiphần biên của mảnh hơn

Việc phá hủy các nơi cư trú có thể hạn chế khả năng phát tán và định cư của loài Tác hại của

việc chia cắt nơi cư trú sẽ làm giảm khả năng kiếm mồi của các loài thú Ngoài ra nơi cư trú bị chia cắtcũng góp phần làm suy giảm quần thể và dẫn đến sự tuyệt chủng do quần thể lớn lúc đầu bị chia ra haihay nhiều quần thể nhỏ

Sự chia cắt nơi cư trú thành các phần nhỏ đã làm tăng một cách một cách đáng kể tỷ lệ tươngđối của sự tác động đường biên so với diện tích nơi cư trú Một số tác động khác quan trọng hơn củađường biên là sự dao động nhiều hơn về ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm và gió Việc nơi cư trú bị xé nhỏ,

xé lẻ còn làm tăng khả năng xâm nhập của các loài ngoại lai và bùng nổ số lượng các loài côn trùngđịch hại và bản địa Việc nơi cư trú bị chia cắt cũng làm tăng khả năng tiếp xúc của các loài động,thực vật thuần dưỡng với các quần thể hoang dã Các bệnh dịch của các loài thuần dưỡng có thể lâylan rất dễ dàng sang các loài hoang dã vốn thường có khả năng miễn dịch kém

2.3 Nơi cư trú bị phá hủy và ô nhiễm

Cho dù nơi sinh sống không bị ảnh hưởng một cách trực tiếp do việc phá hủy hay chia cắt,nhưng các quần xã và các sinh vật sống trong đó có thể bị ảnh hưởng sâu sắc do các hoạt độngkhác của con người Dạng nguy hiểm nhất của phá hủy môi trường là sự ô nhiễm Nguyên nhân chủyếu của tình trạng này là do thuốc trừ sâu, hóa chất và các chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạtcủa con người và các ô nhiễm gây ra bởi các nhà máy ô tô, cũng như các trầm tích lắng đọng do sựxói mòn đất từ các vùng cao, sườn núi

Ô nhiễm do thuốc trừ sâu: sự nguy hại của thuốc trừ sâu được khuyến cáo từ những năm

1962 Nồng độ của DDT và các loại thuốc trừ sâu khác tích luỹ trong cơ thể sinh vật, tăng lên

theo bậc cao dần của chuổi thức ăn thông qua quá trình tích tụ sinh học (bioaccumulation) và

khuếch đại sinh học (magnification).

Ô nhiễm nước: ô nhiễm nước gây hậu quả xấu cho loài người như hủy hoại các nguồn thực

phẩm thủy sản như cá, thân mềm, giáp xác và làm ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt Các hóa chất độc,

dù chỉ với một liều lượng rất thấp thì dư lượng của chúng vẫn có thể tồn đọng, tích luỹ dần vào trong

cơ thể sinh vật thủy sinh đến nồng độ gây chết do chúng phải lọc một lượng lớn nước khi ăn

Các khoáng chất vi lượng tuy rất cần cho cuộc sống của động vật và thực vật nhưng chúng

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 16

cũng có thể trở nên gây hại khi xuất hiện ở nồng độ cao Các chất thải của người, các loại phân bónhóa học, các chất tẩy rửa và các quá trình sản xuất trong công nghiệp thường xuyên thải ra mộtlượng lớn nitrat, photphat vào hệ sinh thái thủy vực, dẫn đến hiện tượng phú dưỡng nước

Các trầm tích có nguồn gốc do xói mòn từ các vùng đất trống, đồi núi trọc cũng có thể gây hạicho hệ sinh thái thủy vực Các chất trầm tích có lẫn mùn lá cây, bùn, các chất rắn lơ lững, làm tăng

độ đục của nước, làm giảm độ chiếu sáng trong nước nên đã cản trở quá trình quang hợp Sự tăng

độ đục của nước có thể làm giảm khả năng nhìn, khả năng săn mồi, làm giảm sức sống của một sốloài động vật thủy sinh Sự gia tăng lớp trầm tích đã gây hại cho nhiều loài san hô, những loài đòi hỏimôi trường sống tuyệt đối trong sạch

Ô nhiễm không khí: các hoạt động của con người làm thay đổi và làm ô nhiễm bầu không khí

của trái đất Các dạng ô nhiễm không khí như:

 Mưa axit: các nền công nghiệp như luyện thép, các nhà máy nhiệt điện sử dụng nhiên liệu làthan hay dầu đã thải ra một lượng lớn các khí NOx, SOx vào không khí, các khí này khi gặp hơi nướctrong không khí sẽ tạo ra axit nitric và axit sulfuric Các axit này liên kết với những đám mây và khitạo thành mưa đã làm giảm độ pH của nước mưa xuống rất thấp Mưa axit sẽ làm giảm độ pH củađất và của nước trong các hồ, ao, sông suối trên lục địa Mưa axit đã tiêu diệt nhiều loài động và thựcvật Do độ axit của các hồ ao tăng lên, nhiều cá con của nhiều loài cá và cả những con cá trưởngthành cũng bị chết Độ axit tăng và nước bị ô nhiễm là nguyên nhân chính làm suy giảm đáng kể cácquần thể động vật lưỡng cư trên thế giới Đối với phần lớn các loài động vật lưỡng cư, ít nhất mộtphần trong chu kỳ sống của chúng phụ thuộc vào môi trường nước, độ pH của nước giảm làm cho tỷ

lệ trứng và ấu trùng bị chết tăng cao

 Sương mù quang hoá: Xe ô tô, các nhà máy điện và các hoạt động công nghiệp thải ra cáckhí hydrocacbon, khí NO Dưới ánh sáng mặt trời, các chất này tác dụng với khí quyển và tạo ra khíozon và các chất phụ phẩm khác, tất cả khí này được gọi chung là sương mù quang hóa (photo-chemical smog) Nồng độ ozon cao ở tầng khí quyển gần mặt đất sẽ giết chết các mô thực vật, làmcho cây dễ bị tổn thương, làm hại đến các quần xã sinh học, giảm năng suất nông nghiệp Các quần

xã sinh học trên toàn cầu cũng có thể bị phá hủy hay bị thay đổi do các hợp chất chứa nitơ trongkhông khí theo mưa và bụi lắng đọng tự do và do đó có thể ảnh hưởng đến nguồn sản xuất lươngthực và thực phẩm

 Các kim loại độc hại: xăng có chứa chì, các hoạt động khai mỏ, luyện kim và các hoạt độngcông nghiệp khác thải ra một lượng lớn chì, thiếc và nhiều loại kim loại độc hại khác vào khí quyển.Các hợp chất này trực tiếp gây độc cho cuộc sống của động và thực vật

Sự thay đổi khí hậu toàn cầu: khí cacbonic, mêtan và các khí khác trong khí quyển không ngăn

cản ánh sáng mặt trời, cho phép năng lượng xuyên qua khí quyển và sưởi ấm bề mặt Trái đất Tuyvậy, những khí này và hơi nước giữ lại năng lượng do trái đất phát ra, làm chậm lại tốc độ phát tánnhiệt và bức xạ khỏi trái đất Các khí này được gọi là khí nhà kính do tác dụng của chúng rất giốngvới nhà kính - cho ánh sáng mặt trời đi qua nhưng giữ lại năng lượng bên trong nhà kính và chuyểnthành năng lượng nhiệt

Lượng khí nhà kính gia tăng đã làm ảnh hưởng đến khí hậu trái đất và các tác hại này tiếp tụcgia tăng trong tương lai Những nhà khí tượng học ngày càng đồng ý với quan điểm cho rằng ở thế

kỷ XXI khí hậu trái đất sẽ còn nóng lên từ khoảng 2-60C nữa vì sự gia tăng của khí CO2 và các khíkhác Trong khi các loài có vùng phân bố rộng và dễ phát tán có thể thay đổi để thích ứng với sự thayđổi, thì đối với nhiều loài có vùng phân bố hẹp hoặc do khả năng phát tán kém nên việc tuyệt chủng

là khó tránh khỏi

Hiện tượng nhiệt độ tăng dần lên còn làm các khối băng ở vùng cực tan ra Do việc giải phóngmột lượng nước lớn như vậy, trong vòng 50 -100 năm tới mức nước biển có thể tăng từ 0,2 -1,5 m.Mức nước biển dâng cao có thể làm ngập lụt những vùng đất thấp, những khu đất ngập nước ven bờbiển và nhiều thành phố lớn Một số loài san hô không phát triển nhanh kịp với tốc độ nâng cao mựcnước biển và dần dần chúng sẽ bị chết đuối

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 17

2.4 Khai thác quá mức

Nhằm thoả mãn các nhu cầu của cuộc sống, con người đã thường xuyên săn bắn, hái lượm

thực phẩm và khai thác các nguồn tài nguyên khác Khi dân số loài người vẫn còn ít và phương phápthu hái còn thô sơ, con người đã thu hái và săn bắt một cách bền vững mà không làm cho các loài

trở nên tuyệt chủng Tuy vậy, khi dân số tăng lên, nhu cầu khai thác tài nguyên cũng tăng theo Các

phương pháp thu hái dần dần được cải tiến và trở nên hữu hiệu hơn Việc khai thác quá mức là

nguyên nhân thứ hai sau nguyên nhân mất nơi cư trú và là một trong những nguyên nhân quan trọngdẫn các loài đến tuyệt chủng

Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý các loài hoang dã, đánh bắt cá và lâm nghiệp đã cốgắng xây dựng một phương pháp tính toán mô hình để xác định số lượng tối đa có thể khai thác

được một cách bền vững của các nguồn tài nguyên Lượng tối đa nguồn tài nguyên có thể khai thác

được một cách bền vững là sản lượng có thể thu hoạch hằng năm tương đương với năng suất mà

quần thể tự nhiên sản sinh ra được

2.5 Sự du nhập các loài ngoại lai

Phạm vi sống về địa lý của nhiều loài được giới hạn bởi các hàng rào do chính các yếu tố môitrường và khí hậu tạo ra ngăn cản sự phát tán Các sa mạc, đại dương, đỉnh núi, và những dòngsông đều đã ngăn cản sự di chuyển của các loài Con người đã làm thay đổi cơ bản đặc tính nàybằng việc vận chuyển phát tán các loài trên toàn cầu Tại thời kỳ trước cách mạng công nghiệp, conngười mang các cây trồng và vật nuôi từ chổ này sang chổ khác khi họ tạo dựng những nơi định cư

và các thuộc địa mới Ngày nay đã có một lượng lớn các loài do vô tình hay cố ý, được đem đếnnhững khu vực không phải là nơi cư trú gốc của chúng Những loài đó đã được du nhập do cácnguyên nhân sau đây:

 Sự vận chuyển các container: việc sử dụng các container trong vận chuyển hàng hóa đã tạođiều kiện cho sự xâm nhập của các sinh vật ngoại lai Rõ ràng là các cảng biển là con đườngxâm nhập của nhiều sinh vật lạ, nhưng với việc vận chuyển bằng containner thì các loài ngoạilai được vận chuyển đến tất cả các vùng đất trên thế giới Các container là môi trường trú ngụ

lý tưởng cho các sinh vật ngoại lai Chúng có thể ở trong đó vài tuần để rồi sau đó được vậnchuyển đi Các thanh tra của hải quan cũng rất khó để phát hiện chúng Các container chở vỏ xecủa Nhật đã mang các loài muỗi Châu Á đến khắp nước Mỹ, Nam Phi, Tân Tây Lan, Úc vàmột số nước ở phía Nam Châu Âu

 Nước dằn tàu: nhiều tàu chở hàng được cân bằng nhờ vào việc bơm nước biển hay nước ngọtvào các thùng nước lớn dùng để dằn tàu Nước được vận chuyển như thế bao gồm cả các loàiđộng thực vật sẽ được vận chuyển từ nơi này đến nơi khác Đây rõ ràng là con đường xâm nhậpchính của các loài sinh vật thủy sinh Khoảng 1/3 các loài sinh vật ngoại lai ở Hồ Lớn (GreatLakes) được du nhập theo con đường này Năm 1990, Tổng Thống Mỹ, Bush đã ký đạo luậtyêu cầu các nhân viên bảo vệ vùng bở của Mỹ phải triển khai mạnh mẽ các tiêu chuẩn liênquan đến việc thải bỏ nước dằn tàu

 Vận chuyển bằng máy bay: vận chuyển hàng không là một phương thức xâm nhập mới của cácloài ngoại lai Các loài muỗi ở Châu Phi đã xâm nhập vào Nước Anh qua các khoang hànhkhách Các loài rắn đã theo hàng hóa từ đảo Guam đến Hawaii

 Nông, lâm nghiệp: một số cây trồng đã ra ngoài tự nhiên và trở thành vật hại Hoạt động nônglâm nghiệp đã gây ra sự lây lan của nhiều loài sâu hại và dịch bệnh Khoảng 20 loài cỏ dạiđược tìm thấy ở khắp mọi nơi và khoảng 40% các loại bệnh chính trên khắp thế giới Chuột vàchim sẻ là sinh vật đồng hành ở các trang trại trên khắp thế giới

 Nuôi trồng thủy sản: đã gây ra sự lây lan của rất nhiều loài cá, ví dụ như cá rô phi đã lan rộng

ở hầu hết các nước nhiệt đới và á nhiệt đới Các trang trại nuôi tôm hiện nay đang làm lay lancác bệnh virus trên khắp thế giới, các virus này có thể ảnh hưởng đến chủng quần các đàn cá tựnhiên Các trại nuôi cá Hồi (Salmon) cũng đã du nhập các mầm bệnh và các gen lạ

Phần lớn các loài du nhập không sống được tại những nơi mới đến do môi trường không phải lúcnào cũng phù hợp với điều kiện sống của chúng Dù vậy, vẫn có một tỷ lệ nhất định các loài nhập cư

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 18

thiết lập được cuộc sống trên vùng đất mới và nhiều loài trong đó còn vượt trội, xâm lấn các loài bản

địa Các loài du nhập này thậm chí còn cạnh tranh với các loài bản địa để có được nguồn thức ăn và

nơi ở Các loài du nhập còn ăn thịt các loài bản địa cho đến khi chúng tuyệt chủng hoặc làm chúng

thay đổi nơi cư trú đến mức nhiều loài bản địa không thể nào tồn tại được nữa

Tại sao các loài du nhập lại dễ dàng xâm nhập và chiếm lĩnh các nơi cư trú và thay thế các loài

bản địa đến như vậy? Một trong những lý do quan trọng là ở nơi cư trú mới chưa có các loài thiên địch

của chúng như các loài động vật là kẻ thù, các loài côn trùng và các loài ký sinh, gây bệnh Các hoạt

động của con người đã tạo nên những điều kiện môi trường không bình thường, như sự thay đổi các

nguồn dinh dưỡng, gây cháy rừng, tăng lượng ánh sáng, đã tạo cơ hội cho các loài du nhập thích ứngnhanh hơn và loại trừ được các loài bản địa

2.6 Sự lây lan của các dịch bệnh

Sự nhiễm trùng từ các sinh vật mang bệnh là điều thường xảy ra đối với động vật nuôi hayđộng vật hoang dã Các tác nhân gây nhiễm có thể là các vật ký sinh như virus, vi khuẩn, nấm, cácđộng vật đơn bào hay các ký sinh trùng kích cở lớn hơn như giun sán Các loại bệnh dịch này có thể

là nguy cơ đe dọa đối với một số loài quí hiếm

Có 3 nguyên tắc cơ bản về dịch bệnh học được ứng dụng rộng rãi trong việc nuôi dưỡng vàquản lý các loài thú quý hiếm Thứ nhất, các loài được con người nuôi và động vật sống trong tựnhiên khi sống trong quần thể với mật độ cao sẽ có nguy cơ dễ mắc bệnh dịch hay bị nhiễm ký sinhtrùng

Nguyên tắc thứ hai, tác hại gián tiếp do nơi cư trú bị phá hủy là làm cho loài trở nên dễ mắc cácbệnh dịch hơn Khi các quần thể vật chủ sống tập trung trong một khu vực nhỏ hơn do nơi sinh sốngcủa chúng bị phá hủy, tại đây chất lượng môi trường nơi cư trú thường bị suy giảm, thức ăn trở nênkhan hiếm dẫn đến tình trạng kém dinh dưỡng, các động vật trở nên yếu hơn và dễ mắc bệnh hơn

Nguyên tắc thứ ba, tại rất nhiều khu bảo tồn và vườn thú, các loài tiếp xúc với rất nhiều loài màchúng rất ít khi, thậm chí không bao giờ gặp trong thiên nhiên hoang dã cho nên bệnh dịch có thểtruyền từ loài này sang loài khác

3 Sự tuyệt chủng hàng loạt (mass extinction)

Theo các nhà khoa học, tuyệt chủng hàng loạt là những sự kiện tuyệt chủng đã tác động đếnsinh vật trong các môi trường khác nhau, gây ra những mất mát nặng nề về số lượng trong các bậcphân loại

3.1 Tuyệt chủng hàng loạt trong quá khứ

Theo một đánh giá về số loài đã tồn tại trên trái đất thì có đến 99,9% số loài đã bị tuyệt chủng.Hay nói một cách khác, số các loài động vật, thực vật, vi sinh vật hiện có chỉ chiếm 0,1% tổng số loài

đã từng sống trên hành tinh

Có nhiều cách giải thích khác nhau về nguyên nhân của tuyệt chủng hàng loạt bao gồm cácnguyên nhân bên ngoài như tác động của các thiên thạch đến các nguyên nhân bên trong như núilửa, thời kỳ băng hà, đã tác động đến sự thay đổi khí hậu toàn cầu là tác nhân chính gây ra tuyệtchủng hành loạt

Trong lịch sử tiến hoá của trái đất, hầu hết các loài bị mất đi do các thời kỳ tuyệt chủng, trong

đó có 5 thời kỳ tuyệt chủng hàng loạt nghiêm trọng kéo dài trong thời gian 350 triệu năm Năm thời kỳtuyệt chủng hàng loạt này được xác định qua việc nghiên cứu các dẫn chứng của những thay đổi cáchoá thạch động, thực vật

Dựa vào các hoá thạch, các nhà khoa học đã chúng minh rằng có 5 đợt tuyệt chủng hàng loạt

đã xảy ra trong quá khứ (Hình 2.2)

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 19

Triệu năm trước

Hình 2.1 Các thời kỳ tuyệt chủng hàng loạt trong quá khứ

* Ordovician cuối (440 triệu năm trước): Khoảng 50% số họ của động vật và 85% số loài đã bị tiêudiệt trong thời gian này chủ yếu là các loài ở biển

* Devonian muộn (365 triệu năm trước): có 30% họ của các loài động vật bị tuyệt chủng chủ yếu tácđộng đến các loài ở biển Thời kỳ này kéo dài từ 500 ngàn đến 15 triệu năm, nguyên nhân do lạnhtoàn cầu và giảm oxy trong các tầng nước nông

* Permian cuối (251 triệu năm trước): 50 % các họ động vật bị tuyệt chủng, khoảng 96% loài sinhvật biển bị tuyệt chủng trong thời kỳ này Nguyên nhân do biến động mức nước biển, hoạt động củanúi lửa và thay đổi khí hậu

* Triassic cuối (205 triệu năm trước): có 35 % họ các loài động vật và khoảng 76% loài, phần lớn làcác loài ở biển, bị tuyệt chủng

* Cretaceous cuối (65 triệu năm trước): Trong số 5 sự kiện tuyệt chủng hàng loạt thì sự kiện đượccon người biết rõ nhất xảy ra ở kỷ phấn trắng và kỷ thứ ba (Cretaceous và Tertiary), còn gọi là thời kỳK/T, với khoảng 60 % các loài động vật bị tuyệt chủng Đây là thời kỳ các giống động vật biển bị mấttrong diện rộng, tạo ra những thay đổi cơ bản trong các hệ sinh thái trên cạn và sự biến mất củakhủng long Trong thời kỳ tiến hoá đổi mới này, các loài linh trưởng phát triển mạnh và loài người

(Homo sapiens) xuất hiện Nguyên nhân là do tác động của các thiên thạch làm thay đổi khí hậu.

Thời gian phục hồi cho các sự kiện tuyệt chủng trong quá khứ cũng rất dài Các nhà khoa học

đã tính được rằng, để phục hồi sự đa dạng sinh học cho mỗi lần tuyệt chủng trong quá khứ cần phải

có thời gian phục hồi khoảng vài chục triệu năm (Bảng 2.2)

Bảng 2.2 Thời gian phục hồi từ các tuyệt chủng trong quá khứ

Thời kỳ tuyệt chủng Thời gian phục hồi (triệu năm)

3.2 Tuyệt chủng hàng loạt ngày nay

Tuyệt chủng hàng loạt trong giai đoạn hiện nay, hay còn gọi là tuyệt chủng hàng loạt thứ 6, xảy

ra vào kỷ Pleistocent từ hơn 1 triệu năm trước Đây là thời kỳ có những biến động lớn về khí hậutoàn cầu, sự dâng cao và hạ thấp mức nước biển cùng với sự mở rộng vùng phân bố của loài người

từ Châu Phi, Châu Âu, Á đến các vùng khác trên thế giới Đặc tính quan trọng nhất của sự tuyệtchủng trong giai đoạn này liên quan với sự lan rộng của loài người trên khắp thế giới, trong đó cácloài thú có kích thước lớn hơn 44 kg, bị tuyệt chủng đến 74 - 86%

So với các sự kiện tuyệt chủng hàng loạt xảy ra trong quá khứ thì tuyệt chủng hàng loạt tronggiai đoạn hiện nay có nhiều sai khác Các nhà khoa học cũng đã xác định các sai khác này và đây làđiều quan trọng để chúng ta có thể giải quyết các vấn đề phải đối mặt ngày nay

Sai khác nổi bật nhất là trong tuyệt chủng hàng loạt trong giai đoạn hiện nay xảy ra với tốc độrất nhanh Các nhà sinh thái đánh giá rằng chúng ta đã mất hàng trăm ngàn loài trong vòng 50 nămqua Các chuyên gia cũng dự báo rằng nếu cứ tiếp tục theo xu hướng như hiện nay, chúng ta có thể

bị mất đi ½ loài sinh vật trong thế kỷ tới Ngược lại, tuyệt chủng hàng loạt trong quá khứ xảy ra quahàng trăm ngàn năm và trong một số trường hợp là hàng triệu năm Ngay cả ở thời kỳ tuyệt chủng

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 20

cuối cùng trong quá khứ của khủng long, do tác động của các thiên thạch, thì ảnh hưởng của nócũng kéo dài trong một thời gian tương đối Các chứng cứ hoá thạch đã chỉ ra rằng quần thể của cácloài khủng long đã bị kiệt quệ trong hàng ngàn năm

Nhân tố sai khác tiếp theo của thời kỳ hiện nay đó là số lượng loài có nguy cơ tuyệt chủng hiệnnay lớn gấp nhiều lần số loài trong quá khứ Lý do đơn giản là vì hiện nay số loài sinh vật nhiều hơn

so với quá khứ Ví dụ như trước khi xảy ra đợt tuyệt chủng hàng loạt thứ 5 vào khoảng 65 triệu nămtrước, thì số loài thực vật có hoa trên thế giới chỉ khoảng 100.000 loài, còn hiện nay con số đó đã gần240.000 loài Trong số các loài thú, côn trùng và các sinh vật khác cũng có một sự gia tăng đáng kể

về tổng số loài

Khác với các cuộc tuyệt chủng hàng loạt trong quá khứ, xảy ra chủ yếu do các hiện tượng thiênnhiên, tuyệt chủng hiện nay chủ yếu do con người Cứ 100 loài bị tuyệt chủng thì có đến 99 loài là docon người Ngoài ra, theo sau các cuộc tuyệt chủng hàng loạt trong quá khứ là sự hình thành loàimới để bù đắp cho số loài bị mất đi, còn sự tuyệt chủng hàng loạt giai đoạn hiện nay không kèm theo

sự hình thành loài mới Các nhà Cổ sinh vật học cho rằng sau khi khủng long bị tuyệt chủng, ít nhất 5triệu năm sau mới có sự cân bằng của sinh vật nhờ vào tiến hoá Đối với giai đoạn hiện nay sẽ là mộtthách thức lớn, bởi vì tuyệt chủng ngày nay liên quan đến tất cả các thứ hạng chính của loài, trongkhi đó ở 65 triệu năm trước, hầu hết các loài thú, chim, lưỡng thê, và nhiều loài bò sát còn sống sót

II Các loài dễ bị tuyệt chủng

Khi môi trường suy thoái do hoạt động của con người, quần thể của các loài sẽ bị giảm về sốlượng, một số loài sẽ bị tuyệt chủng Các nhà sinh thái học đã nghiên cứu kiểm chứng và thấy rằngkhông phải tất cả các loài đều có mức độ dễ tuyệt chủng như nhau; một số nhóm loài đặc biệt dễ bịtuyệt chủng Các loài này rất cần được theo dõi cẩn thận và phải được quản lý với những nổ lựcnhằm bảo tồn chúng Các loài đặc biệt dễ tuyệt chủng thường nằm trong các nhóm loài sau đây:

1 Các loài có vùng phân bố địa lý hẹp

2 Các loài chỉ tồn tại với một hay vài quần thể

3 Các loài có kích thước quần thể nhỏ

4 Các loài có quần thể đang suy giảm về số lượng

5 Các loài có mật độ quần thể thấp.

6 Các loài cần một vùng cư trú rộng lớn

7 Các loài có kích thước cơ thể lớn

8 Các loài không có khả năng di chuyển tốt

9 Các loài di cư theo mùa

10 Các loài ít có tính biến dị di truyền

11 Các loài với nơi sống đặc trưng

12 Các loài đặc trưng tìm thấy ở môi trường ổn định

13 Các loài sống thành bầy đàn

14 Các loài là đối tượng săn bắn và hái lượm của con người

Các đặc điểm trên đây của các loài có xu hướng dễ bị tuyệt chủng không phải là những đặc điểm

riêng biệt, chúng thường có xu hướng tạo thành từng nhóm đặc điểm Ví dụ, các loài kích thước cơ thể

lớn thường có mật độ quần thể thấp và địa bàn rộng - nghĩa là có tất cả các đặc điểm của một loài có xu

hướng dễ bị dẫn đến tuyệt chủng Bằng cách xác định các đặc điểm làm loài dễ bị dẫn đến tuyệt chủng,

các nhà sinh học bảo tồn có thể dự tính được những việc làm cần thiết nhằm quản lý các loài dễ bị tuyệt

chủng

Tóm tắt nội dung:

Khái niệm tuyệt chủng có rất nhiều ý nghĩa và khác nhau tùy thuộc vào từng bối cảnh cụ thể

Sự tuyệt chủng có thể ở phạm vi toàn cầu (globally extinct), cục bộ (locally extinct) hay tuyệt chủng

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 21

về phương diện sinh thái (ecologically extinct) Hoạt động của con người đã làm cho nhiều loài tuyệt

chủng Hơn 99% những loài tuyệt chủng thời cận đại là do con người

Nguy cơ lớn nhất đe dọa đa dạng sinh học là việc mất nơi cư trú Các nơi cư trú đặc biệt đang

bị hủy hoại là các khu rừng mưa, rừng khô nhiệt đới, các vùng đất ngập nước, các vùng đồng cỏ ônđới, rừng ngập mặn và các rạn san hô

Nơi cư trú bị chia cắt là quá trình mà nơi cư trú là khu vực rộng lớn, liên tục bị giảm về diện tíchhay bị xé lẻ ra làm hai hay nhiều phần nhỏ Hậu quả là làm cho các loài dễ bị mất mát nhanh chóng

do tạo ra những rào chắn ngăn cản sự phát tán, định cư và kiếm mồi của động vật

Ô nhiễm môi trường làm cho nhiều loài không thể tồn tại nơi sinh sống của mình Ô nhiễm môitrường bao gồm sử dụng quá mức thuốc trừ sâu, các chất thải công nghiệp, phân bón hóa học; và ônhiễm không khí gây ra mưa axit, lắng đọng nitơ, sương mù quang hóa và khí ozôn

Việc khai thác quá mức là nguyên nhân thứ hai sau nguyên nhân mất nơi cư trú và là một trongnhững nguyên nhân quan trọng dẫn các loài đến tuyệt chủng

Các hoạt động của con người là nguyên nhân du nhập hàng ngàn loài đến những vùng đất mớitrên toàn thế giới Một số loài du nhập nhanh chóng phát triển và có tác động xấu đến các loài bảnđịa

Dịch bệnh và ký sinh thường gia tăng khi các loài động vật bị nuôi nhốt trong những khu bảotồn thiên nhiên và không thể di chuyển, đi lại trong một địa bàn rộng lớn Các loại bệnh dịch này cóthể là nguy cơ đe dọa đối với một số loài quí hiếm

Có 5 thời kỳ tuyệt chủng hàng loạt xảy ra trong quá khứ do các nguyên nhân từ thiên nhiên nhưbiến động mức nước biển, hoạt động của núi lửa, thiên thạch và thay đổi khí hậu Các thời ký tuyệtchủng này kéo dài trong thời gian 350 triệu năm, gây ra những mất mát nặng nề về số lượng trongcác bậc phân loại

Tuyệt chủng hàng loạt trong giai đoạn hiện nay, hay còn gọi là tuyệt chủng hàng loạt thứ 6, xảy

ra từ hơn 1 triệu năm trước So với các sự kiện tuyệt chủng hàng loạt xảy ra trong quá khứ thì tuyệtchủng hàng loạt trong giai đoạn hiện nay xảy ra rất nhanh và chủ yếu do con người

Khi môi trường suy thoái do hoạt động của con người, quần thể của các loài sẽ bị giảm về sốlượng, một số loài sẽ bị tuyệt chủng Các loài động vật dễ bị tuyệt chủng có những đặc điểm như cóvùng phân bố hẹp, có ít quần thể, các loài di cư theo mùa, các loài có giá trị kinh tế đối với conngười,

Câu hỏi ôn tập:

Câu 1 Giải thích ngắn gọn các khái niệm tuyệt chủng Nêu ví dụ cho mỗi trường hợp

Câu 2 Hãy giải thích ngắn gọn vì sao tuyệt chủng là 1 quá trình tự nhiên, mà ngày nay chúng ta phảiquan tâm đến vấn đề tuyệt chủng?

Câu 3 Các nguyên nhân trực tiếp gây ra tuyệt chủng do con người là gì?

Câu 4 Nêu tên các nơi cư trú chính bị phá huỷ và bị đe doạ do các hoạt động của con người

Câu 5 Một nơi cư trú bị chia cắt khác biệt với nơi cư trú nguyên thuỷ ở điểm nào?

Câu 6 Tác động đến loài của việc nơi cư trú bị chia cắt là gì?

Câu 7 Quá trình tích luỹ và tăng dần lên cao các loại chất độc bảo vệ thực vật trong cơ thể sinh vậtqua chuổi thức ăn được gọi là gì?

Câu 8 Nêu lên các nguyên nhân du nhập các loài ngoại lai Kể tên 3 sinh vật ngoại lai mà anh, (chị)

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 22

biết

Câu 9 Sự gia tăng mực nước biển do ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến san hô như thế nào?

Câu 10 Lượng tối đa nguồn tài nguyên có thể khai thác được một cách bền vững là gì?

Câu 11 Vì sao các loài ngoại lai dễ dàng xâm nhập và chiếm lĩnh các nơi cư trú mới?

Câu 12 Tuyệt chủng hàng loạt trong giai đoạn hiện nay khác với tuyệt chủng hàng loạt trong quá khứnhư thế nào?

Câu 13 Vì sao các loài có kích thước quần thể nhỏ dễ bị tuyệt chủng hơn các loài có kích thướcquần thể lớn?

Câu 14 Vì sao các loài di cư theo mùa dễ bị tuyệt chủng hơn?

Câu 15 Vì sao các loài có kích thước cơ thể lớn dễ bị tuyệt chủng?

Câu 16 Vì sao các loài sống thành bầy đàn dễ bị tuyệt chủng?

Tài liệu tham khảo:

Tài liệu Tiếng Việt.

1 Phạm Bình Quyền, Nguyễn Nghĩa Thìn, 2002 Đa dạng sinh học NXB Đại học Quốc gia Hà

Nội

2 Richard B Primack (Võ Quý, Phạm Bình Quyền, Hoàng Văn Thắng dịch) 1999 Cơ sở sinh

học Bảo tồn NXB KH&KT Hà Nội.

Tài liệu Tiếng Anh.

1 Edge W Daniel, John P Loegering, and Renee Davis Born, 1998 Principles of Wildlife

Conservation Oregon State University Corvalis, Oregon.

2 Elizabeth A Gordon, Oscar E Franco and Mary L Tyrrell, 2005 Protecting Biodiversity: A

Guide to Criteria Used by Global Conservation Organizations Yale School of Forestry &

Environmental Studies

3 Jeffrey A McNeely et al, 1990 Conserving the World’s Biological Diversity Gland,

Switzeland, and Washington, D.C

4 John MacKinnon, Colin Rees &Monina Uriarte, 2002 Guidebook of Biodiversity Principles

for Developers and Planners ASEAN Regional Centre For Biodiversity Conservation.

5 Kent E Holsinger, 2005 Conservation Biolgy University of Connecticut.

http://darwin.eeb.uconn.edu

6 Kevin J Gaston and John I Spicer, 2004 Biodiversity an Introduction Blackwell

Publishing Company USA

7 Peter B Moyle, 1997 Wildlife Conservation.

8 Peter J Bryant, 2001 Biodiversity and Conservation University of California, USA.

9 Richard B Primack, 1993 Essentials of Conservation Biology Sunderland, Massachusetts

USA

10 Richard B Primack, 1995 A Primer of Conservation Biology Sunderland, Massachusetts

USA

11 Ronald Hofstetter, 2003 Conservation Biology University of Miami.

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 23

12 USAID, 2005 Biodiversity Conservation: A Guide For USAID Staff and Partners.Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 24

Số tiết: 8

Nội dung:

Không có một quần thể nào có thể tồn tại mãi mãi Do những sự thay đổi thời tiết, sự diễn thế,

dịch bệnh, và một loạt các sự kiện khác mà số phận cuối cùng của bất kỳ quần thể nào là sự tuyệt

chủng Do vậy, vấn đề thực tế là một quần thể sẽ bị tuyệt chủng nhanh hơn hay chậm hơn và nhân tốnào là nguyên nhân gây ra tuyệt chủng Do các loài bị đe doạ được tạo thành bởi một hay một vài

quần thể, do đó bảo tồn quần thể là giải pháp để bảo tồn loài

I Những bất cập của quần thể nhỏ

Một loài đặc biệt dễ bị tuyệt chủng khi chỉ có một vài quần thể nhỏ Khi kích thước quần thểgiảm dưới mức nào đó do nơi ở bị mất, bị suy thoái, cắt đoạn hay do bị con người khai thác quá mứcthì quần thể nhanh chóng thu nhỏ lại và đi đến tuyệt chủng Sự tuyệt chủng nhanh chóng của các

quần thể có kích thước nhỏ đã dẫn đến khái niệm quần thể tối thiểu của một loài có thể sống được

(minimum viable population - MVP), nói lên số lượng nhỏ nhất của các cá thể trong quần thể nào đó

có khả năng tồn tại qua một quãng thời gian xác định

Theo Shaffer (1981) “Mỗi quần thể tối thiểu có thể sống được của bất kỳ một loài nào là mộtquần thể cách ly nhỏ nhất có 99% cơ hội tiếp tục tồn tại trong suốt 1.000 năm nữa, bất chấp nhữngtác động không lường trước do thiên tai cũng như những biến động về quần thể, môi trường và ditruyền” Điểm mấu chốt của MVP - quần thể tối thiểu có thể sống được - là căn cứ theo chỉ số này cóthể dự tính số lượng cá thể cần thiết để bảo tồn một loài

Muốn có được một ước tính tương đối chính xác về quần thể tối thiểu có thể sống được củamột loài (MVP) thì cần phải có một nghiên cứu cụ thể về động thái số lượng của quần thể và nghiêncứu phân tích điều kiện môi trường nơi cư trú của chúng Một vài nhà khoa học đã khuyến nghị mộtnguyên tắc chung là cố gắng bảo vệ 500 -1.000 cá thể cho các loài động vật có xương sống bởi vìcon số này có vẻ như đủ để bảo tồn sự biến dị di truyền

Đối với những loài có độ dao động kích thước quần thể lớn, ví dụ như đối với một số loài độngvật không xương sống và các loài cây hàng năm, thì người ta cho rằng sự bảo tồn một quần thể gồmkhoảng 10.000 cá thể sẽ là một chiến lược đem lại hiệu quả

Khi một loài đã có chỉ số quần thể tối thiểu có thể sống được thì có thể ước tính được diện tích

dao động tối thiểu (minimum dynamic area - MDA) cho loài đó Người ta đã ước tính được rằng, để

bảo tồn những quần thể tối thiểu của các loài thú cần bảo tồn một diện tích vào khoảng từ 10.000đến 100.000 ha

Các quần thể nhỏ dễ bị suy giảm nhanh về số lượng và bị tuyệt chủng cục bộ vì 3 nguyên nhânchính: những vấn đề về mặt di truyền; những dao động về số lượng quần thể do những biến độngngẫu nhiên trong tỷ lệ sinh và tỷ lệ chết; và những nhiễu động môi trường do những biến đổi về sựbắt mồi, cạnh tranh, dịch bệnh, nguồn thức ăn cũng như các rủi ro về thiên tai xảy ra bất thường nhưcháy, lũ lụt hay hạn hán

Trang 25

khác nhau được gọi là allen.

Trong các quần thể nhỏ, tần số xuất hiện của các allen có thể thay đổi một cách ngẫu nhiên từthế hệ này sang thế hệ khác mà điều này lại tùy thuộc vào cá thể được giao phối Quá trình trên gọi

là sự phân ly gen (genetic drift) Khi một allen có tần suất xuất hiện thấp trong một quần thể nhỏ thìxác suất mất mát ngẫu nhiên trong từng thế hệ là đáng kể

Các quần thể nhỏ mà có sự phân ly di truyền thường mẫn cảm hơn với các ảnh hưởng có hại đếngen, ví dụ như sự suy thoái do giao phối nội dòng, sự mất tính mềm dẻo tiến hóa (evolutionary

flexibility) và sự suy thoái do giao phối xa Những yếu tố nêu trên có thể góp phần làm giảm kích

thước quần thể và tăng xác suất loài bị tuyệt chủng

Suy thoái do giao phối nội dòng (inbreeding depression): Trong các quần thể lớn của hầu hết

các loài động vật, các cá thể thường không giao phối với các cá thể đồng huyết tộc gần mình Sựgiao phối nội dòng, ví dụ giữa cha mẹ và con cái, cháu chắt hay sự tự thụ tinh ở các loài lưỡng tínhthường sẽ gây nên sự suy thoái cận dòng được đặc trưng bởi việc ít con cái, hoặc con cái khôngkhoẻ mạnh hay vô sinh

Một cách lý giải hợp lý nhất cho sự suy thoái do giao phối nội dòng là nó cho phép biểu hiện

những allen nguy hại được di truyền lại từ cha mẹ

Suy thoái do giao phối xa (outbreeding depression): Khi một loài trở nên hiếm hay nơi cư trú

của nó bị hủy hoại thì sự giao phối xa - tức là giao phối khác loài - có thể xảy ra Những cá thể không

có khả năng tìm được những cá thể cùng loài để giao phối thì có thể giao phối với một loài họ hàng.Kết quả là con cái của chúng thường yếu hay bất thụ do thiếu sự tương đồng của các nhiễm sắc thểcũng như không có hệ enzym thích hợp được di truyền từ những cha mẹ khác loài Hiện tượng đóđược gọi là sự thoái hóa do giao phối xa Sự suy thoái do giao phối xa cũng có thể là kết quả của sựgiao phối giữa các loài phụ hay giữa các quần thể của cùng một loài

Mất tính mềm dẻo tiến hóa: những allen hiếm và những tổ hợp allen bất thường tuy chưa thể hiện

ngay những ưu điểm của mình song rất có thể lại vô cùng thích hợp trong những điều kiện môi trường

trong tương lai Sự suy thoái tính biến dị di truyền trong những quần thể cực nhỏ có thể sẽ hạn chế khả

năng phản ứng của quần thể với những biến đổi dài hạn của môi trường Một khi không có đủ tính biến dị

di truyền, các loài có thể bị tuyệt diệt

Kích thước quần thể có hiệu quả (effective population size): cần bao nhiêu cá thể để có thể

duy trì được tính đa dạng sinh học trong một quần thể? Franklin (1980) cho rằng 50 cá thể có thể là

số lượng tối thiểu cần thiết để duy trì tính biến dị di truyền Thông qua việc sử dụng các số liệu về tỷ

lệ đột biến ở ruồi giấm Drosophila, Franklin đã gợi ý rằng, trong những quần thể có 500 cá thể, tỷ lệ

biến dị di truyền mới hình thành do đột biến có thể bằng với tính biến dị di truyền bị mất đi bởi kíchthước nhỏ của quần thể Dãi giá trị này được gọi là nguyên tắc 50/500, tức là các quần thể cách lycần phải có ít nhất 50 cá thể và lý tưởng hơn là có 500 cá thể nhằm duy trì tính biến dị di truyền củaquần thể đó

Nguyên tắc 50/500 không dễ áp dụng trong thực tế vì với giả thiết rằng một quần thể là tập hợpcủa N cá thể trong đó tất cả các cá thể đều cùng có khả năng giao phối và sinh sản Tuy nhiên, nhiều

cá thể trong một quần thể lại không sinh sản được vì những lý do như tuổi tác, sức khoẻ yếu, vô sinh,suy dinh dưỡng, cơ thể nhỏ bé hoặc do các cấu trúc xã hội đã cản trở không cho một vài cá thể tìm

ra “bạn đời” của mình Do những yếu tố nêu trên nên kích thước quần thể có hiệu quả (Ne) củanhững cá thể trong độ tuổi sinh sản thường là nhỏ hơn kích thước thực của quần thể (actualpopulation size) Vì tỷ lệ mất tính biến dị di truyền là dựa vào kích thước quần thể có hiệu quả nên sựsuy thoái tính biến dị có thể rất trầm trọng ngay cả khi kích thước thực tế của quần thể là khá lớn

Một quần thể có kích thước hiệu quả nhỏ hơn kích thước thực tế có thể xuất hiện trong nhữngđiều kiện sau:

Tỷ lệ giới tính không tương xứng: do ngẫu nhiên mà quần thể có thể có tỷ lệ không tương xứng

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 26

giữa con đực và con cái Ví dụ, quần thể của các loài đơn giao (monogamous) như loài ngỗng gồm

20 con đực và 6 con cái thì chỉ có 12 cá thể sẽ tham gia vào họat động giao phối Trong trường hợpnày, kích thước quần thể có hiệu quả là 12 chứ không phải là 26

Ở những nhóm động vật tạp giao khác (polygamuos), ví dụ như ở hải cẩu, một con đực có ưuthế có thể cai quản một số lượng lớn con cái và ngăn cản không cho các con đực khác giao phối vớinhững con cái dưới quyền cai quản của nó Ảnh hưởng của số lượng không tương xứng giữa conđực và con cái đến kích thước thực Ne có thể mô tả theo công thức:

Ne =

Trong đó Nm và Nf là số cá thể đực và cái trong quần thể

Sự biến động về sản phẩm sinh sản: ở nhiều loài, số lượng con non của từng cá thể thường có

sự khác nhau đáng kể Điều này càng đúng hơn với thực vật mà trong đó một số cây chỉ có thể sinh

ra một vài hạt trong khi đó có những cây khác lại sinh ra hàng ngàn hạt Việc sinh ra một số con cáikhông đồng đều trong quần thể sẽ dẫn đến sự suy giảm đáng kể của Ne do một số ít cá thể trong thế

hệ hiện tại đã tạo nên sự không cân đối trong quỹ gen của thế hệ tiếp theo

Những dao động bất thường và những cản trở quần thể: đối với một số loài, kích thước quần

thể dao động đáng kể từ thế hệ này sang thế hệ khác, làm cho kích thước quần thể có hiệu quả sẽdao động trong khoảng từ thấp nhất đến cao nhất Như vậy chỉ cần một năm có sự suy giảm lớn về

số lượng cá thể trong quần thể sẽ kéo theo sự giảm sút đáng kể của Ne Nguyên tắc này kéo theomột hiện tượng gọi là cản trở quần thể (population bottleneck), khi một quần thể bị giảm kích thướcnghiêm trọng thì những allen hiếm trong quần thể sẽ bị mất đi nếu không có cá thể nào mang nhữngallen này sống sót và sinh sản Một loại cản trở đặc biệt thường gọi là hiệu ứng lập đàn (foundereffect) sẽ xuất hiện khi một vài cá thể rời bỏ quần thể lớn để thành lập một quần thể mới Quần thểmới này thường có ít tính biến dị di truyền so với quần thể lớn nguyên thủy

2 Biến đổi về số lượng cá thể trong quần thể

Trong điều kiện môi trường ổn định lý tưởng, một quần thể sẽ phát triển cho đến khi đạt mức

cao nhất khả năng chịu tải của môi trường Tới ngưỡng này, tỷ lệ sinh trung bình trên một cá thể là

sẽ ngang bằng với tỷ lệ chết trung bình và sẽ không có sự thay đổi nào về kích thước của quần thể

Tuy nhiên, trong thực tế, các cá thể của một quần thể thường không sinh ra một số lượng con cái

trung bình mà hoặc là không sinh sản, hoặc số con cái ít hơn bình quân, hoặc là nhiều hơn bình

quân Chừng nào kích thước quần thể còn lớn thì trị số trung bình sẽ cung cấp những chỉ số chính

xác về hiện trạng đang tiếp diễn trong quần thể Tương tự, tỷ lệ chết trung bình trong một quần thể cóthể được xác định thông qua nghiên cứu một số lượng lớn các cá thể trong quần thể

Khi kích thước quần thể giảm dưới 50 cá thể, sự khác nhau ở mỗi cá thể về sức sống được thểhiện bằng tỷ lệ sinh và tỷ lệ chết sẽ gây nên dao động kích thước quần thể một cách ngẫu nhiên Nếukích thước quần thể dao động theo chiều đi xuống trong một năm nào đó do tỷ lệ chết cao hơn và tỷ

lệ sinh thấp hơn so với giá trị trung bình thì kết quả là quần thể bị thu nhỏ và sẽ trở nên mẫn cảm hơn

so với những yếu tố biến động số lượng trong những năm tiếp theo Những dao động ngẫu nhiên vềkích thước quần thể theo chiều hướng tăng lên thì cuối cùng sẽ bị giới hạn bởi khả năng chịu tải củamôi trường và sau đó quần thể lại dao động theo chiều đi xuống Do vậy, mỗi khi quần thể bị thu nhỏlại do nơi cư trú bị phá hủy hay bị chia cắt thì sự biến động số lượng quần thể sẽ trở thành một yếu

tố quan trọng và quần thể đó rất dễ bị tuyệt chủng

Ở nhiều loài động vật, các quần thể nhỏ thường không ổn định do cấu trúc xã hội bị phá vỡ khiquần thể giảm xuống đến một mức nhất định nào đó Các đàn động vật ăn cỏ hay các đàn chim cóthể không có khả năng tìm kiếm thức ăn hay tự bảo vệ mình khi số lượng cá thể trong quần thể củachúng bị giảm xuống đến một mức nhất định Những động vật săn bắt mồi theo bầy như chó hoanghay sư tử có thể cần phải có một số lượng cá thể nhất định nào đó thì mới săn mồi có hiệu quả Rấtnhiều quần thể của loài động vật sống trong những khu phân bố rộng lớn như gấu hay cá voi có thể

sẽ không tìm được bạn đời cho mình một khi mật độ quần thể ở mức quá thấp Hiện tượng này được

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 27

gọi là hiệu ứng Allee (Allee effect).

3 Sự biến đổi môi trường và các thiên tai

Những biến đổi ngẫu nhiên về môi trường sinh học và vật lý có thể gây nên những biến đổi vềcấu trúc quần thể của một loài

Qua các nỗ lực mô hình hoá do Menges (1992) và một số người khác thực hiện đã cho thấy sựbiến đổi ngẫu nhiên về môi trường nói chung có ảnh hưởng quan trọng hơn so với sự biến độngngẫu nhiên về số lượng quần thể, làm gia tăng tỷ lệ tuyệt chủng của các quần thể cở vừa và nhỏ.Menges đã đưa các thông số biến đổi môi trường vào một số mô hình quần thể cây cọ Trong trườnghợp mô hình chỉ xem xét sự biến đổi về số lượng quần thể thì kết quả đã cho thấy với kích thước nhỏnhất mà quần thể có thể tồn tại trong vòng 100 năm là 140 cá thể Tuy nhiên, khi đưa thêm các yếu

tố biến đổi các thông số môi trường vào thì giá trị này đã tăng lên 380 cá thể

4 Những cơn lốc tuyệt chủng (Extinction vortices)

Một quần thể càng nhỏ thì nó càng dễ bị tổn thương bởi những biến đổi về số lượng, các yếu tốmôi trường và các yếu tố di truyền; ảnh hưởng của các yếu tố này có xu hướng làm cho quần thểgiảm kích thước, dần trở nên nhỏ hơn rồi bị tuyệt chủng với tốc độ được ví như là một cơn lốc tuyệtchủng Ba yếu tố biến đổi môi trường, biến động số lượng quần thể và mất tính biến dị di truyền luôntác động với nhau nên sự thu hẹp kích thước quần thể do một yếu tố gây ra sẽ làm tăng tính mẫncảm của quần thể với các yếu tố khác Một khi kích thước quần thể đã bị thu nhỏ thì hậu quả thôngthường là tuyệt diệt, trừ khi có các điều kiện cực kỳ thích hợp cho sự gia tăng kích thước quần thể.Những quần thể như thế, đòi hỏi phải có một chương trình quản lý quần thể và nơi cư trú được tiếnhành một cách cẩn thận nhằm giảm bớt những biến động về số lượng và tác động các yếu tố môitrường từ đó hạn chế đến mức thấp nhất những tác động đối với các quần thể nhỏ

Hình 3.1 Cơn lốc tuyệt chủng

II Quần thể biến thái (Metapopulation)

1 Khái niệm

Trải qua thời gian, quần thể của một loài có thể bị mất đi do tuyệt chủng cục bộ ở một vùng nào

đó và các quần thể mới có thể sẽ được hình thành ở những vùng thích hợp gần đó Hệ thống tạm thờinày hay những quần thể biến động số lượng được liên kết với nhau nhờ sự di nhập được gọi là quầnthể biến thái

Quần thể biến thái là tập hợp các quần thể nhỏ (subpopulations) của một loài sống biệt lập trongmỗi mảnh nhỏ của nơi cư trú trong một vùng sinh cảnh, tồn tại được do sự cân bằng giữa tuyệt chủngcục bộ và phục hồi của các quần thể, nhờ vào sự di nhập các cá thể từ một hoặc một vài quần thể nàytới các quần thể khác

2 Quần thể trung tâm, quần thể vệ tinh

Các quần thể biến thái thường có một vài quần thể trung tâm và các quần thể vệ tinh

Các quần thể mà ở đấy có tỷ lệ gia tăng số lượng cá thể cao, tạo ra một số lượng cá thể dư thừađược gọi là các quần thể trung tâm hay quần thể gốc (source- population) Số lượng cá thể dư thừa từcác quần thể trung tâm này, sẽ di nhập vào các quần thể có tỷ lệ gia tăng số lượng cá thể thấp, thường

bị tuyệt chủng cục bộ, được gọi là các quần thể vệ tinh (hay quần thể suy thoái - sink population) Cácquần thể vệ tinh có thể lớn hơn các quần thể trung tâm, thậm chí có thể có số lượng cá thể lớn hơn,nhưng do chất lượng nơi cư trú thấp nên các quần thể vệ tinh có thể tuyệt chủng nếu không có sự dinhập cá thể từ các quần thể trung tâm

Sự di nhập các cá thể từ quần thể trung tâm tới các quần thể vệ tinh bảo đảm cho sự tồn tại củaquần thể biến thái

Đối với các quần thể biến thái, sự phá huỷ nơi cư trú của một quần thể trung tâm có thể sẽ dẫnđến sự tuyệt chủng của các quần thể vệ tinh, vốn là những quần thể phụ thuộc nhiều vào quần thể trungtâm Những nhiễu động do con người tạo ra gây cản trở cho sự di nhập của các cá thể như rào chắn,đường sá, đập nước, cũng có thể làm giảm tốc độ nhập cư giữa các khu vực cư trú khác nhau của loài

và từ đó làm giảm, thậm chí làm mất đi khả năng tái lập quần thể sau khi xảy ra sự tuyệt chủng cục bộ

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 28

III Sinh thái học cá thể (Autecology)

Điểm then chốt để bảo tồn và quản lý một loài hiếm, đang có nguy cơ tuyệt chủng là phải hiểubiết đầy đủ về mối quan hệ sinh học của loài đó với môi trường chung quanh và tình trạng quần thểcủa loài đó Những thông tin như thế thường được gọi là lịch sử tự nhiên (natural history), hoặc đôikhi được gọi một cách đơn giản là Sinh thái học (Ecology), trong khi thực ra theo nguyên tắc khoahọc thì việc tìm hiểu chỉ một loài nào đó sẽ được gọi là Sinh thái học cá thể (Autecology)

Dưới đây là các nhóm câu hỏi về sinh thái học cá thể cần được làm sáng tỏ khi tiến hành thiết

kế và thực hiện một cách có hiệu quả những chương trình bảo tồn ở mức quần thể

 Môi trường: loài này được tìm thấy trong những dạng cư trú nào và diện tích mỗi nơi cư trú

đó là bao nhiêu? Môi trường biến đổi như thế nào qua thời gian và không gian? Tần suất môi trường

bị tác động bởi thiên tai như thế nào?

 Sự phân bố: loài được tìm thấy tại đâu trong nơi cư trú? Loài này có di chuyển và di cư giữacác nơi cư trú, các vùng địa lý trong khoảng thời gian một ngày hay một năm không? Khả năng tạothêm nơi cư trú mới của loài ra sao?

 Những mối tương tác sinh học: loài cần loại thức ăn gì và các nhu cầu khác cần có là gì?Những loài cạnh tranh thức ăn và các nhu cầu khác? Có những vật ăn mồi, sâu hại và các ký sinhtrùng nào có tác động đến kích thước quần thể loài?

 Hình thái học: với kích thước, hình dạng, màu sắc và bề mặt cơ thể như thế nào thì cho phéploài tồn tại trong môi trường sinh sống của nó?

 Sinh lý học: các cá thể của một loài cần bao nhiêu lượng thức ăn, nước, muối khoáng và cácchất cần thiết khác để có thể tồn tại, sinh trưởng và sinh sản? Mỗi cá thể sử dụng nguồn nói trên vớihiệu suất như thế nào? Loài có thể dễ bị tổn thương trong các điều kiện khí hậu khắc nghiệt nhưnóng, lạnh và gió mưa?

 Biến động số lượng quần thể: kích thước quần thể có hiện tại là bao nhiêu và trước đây làbao nhiêu? Số lượng cá thể có ổn định không hay tăng lên hoặc giảm đi?

 Tập tính: từng cá thể có cần hành động như thế nào để loài có thể tồn tại được trong môitrường sống của mình? Các cá thể của loài giao phối và sinh sản như thế nào? Các cá thể của loài

có quan hệ tương hổ với nhau như thế nào, hợp tác với nhau hay cạnh tranh?

 Di truyền học: những biến đổi về hình thái và sinh lý giữa các cá thể có phải là do di truyềnđiều khiển hay không?

1 Thu thập thông tin về lịch sử tự nhiên

Những thông tin cơ bản cần thiết cho việc bảo tồn một loài hay cho việc xác định hiện trạng của loài đó có thể thu thập từ 3

nguồn chính:

Tài liệu đã xuất bản

Các tài liệu không công bố

Đi thực địa

2 Quan trắc các quần thể

Một cách để tìm hiểu tình trạng của một loài quí hiếm nào đó là điều tra số lượng các cá thểcủa loài tại thực địa và phân tích các số liệu quan trắc quần thể của nó qua thời gian Bằng cách điềutra số lượng cá thể lặp đi lặp lại theo một quãng thời gian nhất định ta có thể xác định được nhữngbiến động quần thể theo thời gian Từ đó chúng ta biết được những xu hướng lâu dài của quần thểnhư tăng hay giảm số lượng cá thể do hoạt động của con người gây ra với những dao động ngắnhạn do thời tiết hay những hiện tượng tự nhiên không dự đoán trước được gây ra

- Kiểm kê: đơn giản chỉ là đếm số lượng cá thể có trong quần thể Bằng cách kiểm kê lặp lạitheo những quãng thời gian nhất định có thể xác định được quần thể đó là ổn định, tăng lên hay giảm

đi về số lượng Đây là phương pháp ít tốn kém và dễ làm, để trả lời cho những câu hỏi như hiện tại

có bao nhiêu cá thể trong quần thể; trong suốt quãng thời gian kiểm kê, quần thể này ổn định về sốlượng cá thể hay tăng lên hoặc giảm đi

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 29

- Điều tra: loài việc sử dụng phương pháp lấy mẫu lặp lại để ước tính mật độ của loài trongquần xã Mỗi vùng sẽ được chia thành nhiều khu vực lấy mẫu và đếm số lượng cá thể trong mỗi khuvực này Sau đó các kết quả sẽ được qui về giá trị trung bình và được dùng để ước tính kích thướcthực tế của quần thể Các phương pháp điều tra đặc biệt có giá trị khi các pha phát triển trong mộtchu trình sống của loài là khó phát hiện, rất nhỏ hoặc không thể hiện, ví dụ giai đoạn hạt của nhiềuloài thực vật hay các giai đoạn ấu trùng của động vật không xương sống.

- Các nghiên cứu về biến động số lượng quần thể: sẽ theo dõi những cá thể đã biết trong quần thể

để xác định tốc độ tăng trưởng, sinh sản và tỷ lệ sống của chúng Nghiên cứu này cần bao quát đầy đủ

các cá thể thuộc mọi lứa tuổi và mọi kích thước Mỗi chuyên ngành có một kỹ thuật riêng để theo dõi

các cá thể theo thời gian: các nhà điểu học thì đeo vòng vào chân chim, các nhà thú học thường đeo

biển vào tai động vật và các nhà thực vật thì gắn biển nhôm vào cây

Những nghiên cứu về biến động số lượng quần thể có thể cung cấp những thông tin về cấutrúc tuổi của quần thể Một quần thể ổn định thường có cấu trúc tuổi đặc trưng giữa cá thể non, cáthể mới trưởng thành và cá thể già Nếu vào một giai đoạn hay lứa tuổi nào đó mà không thấy xuấthiện hay xuất hiện với một số ít cá thể trưởng thành, đặc biệt vào giai đoạn đầu, thì điều đó là dấuhiệu cho thấy rằng quần thể này đang có nguy cơ bị suy thoái Tương tự, nếu gặp một số lượng lớncác cá thể non và cá thể mới trưởng thành thì đó là đặc điểm thể hiện cho thấy rằng quần thể đangphát triển ở trong trạng thái ổn định hoặc thậm chí là đang phát triển

Nghiên cứu biến động số lượng quần thể cũng cho phép phát hiện những đặc trưng về khônggian của loài, một yếu tố rất quan trọng trong việc duy trì khả năng sống sót đối với các quần thểcách ly Số lượng các quần thể của loài, sự di chuyển giữa các quần thể và sự ổn định của các quầnthể theo không gian và thời gian đều là những tiêu chí quan trọng cần xem xét, đặc biệt đối vớinhững loài thường xuất hiện dưới dạng những quần thể tạm thời hay những quần thể không ổn địnhđược hình thành do di cư

3 Phân tích khả năng tồn tại của quần thể (Population Viability Analysis)

Là một phần của việc phân tích số lượng quần thể nhằm xác định xem liệu một loài có khảnăng thích ứng và tồn tại trong môi trường được không Phân tích khả năng tồn tại của quần thể làmột phương pháp xem xét các yêu cầu khác nhau của một loài cũng như nguồn lực sẵn có trong môitrường, để từ đó xác định những giai đoạn nhạy cảm trong lịch sử tự nhiên của loài đó Phân tích khảnăng tồn tại của quần thể là một việc khá hữu ích trong việc tìm hiểu những ảnh hưởng đến loài quýhiếm do mất nơi cư trú hay nơi cư trú bị hủy hoại Mặc dù việc phân tích khả năng tồn tại của quầnthể vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu và phát triển như là một phương pháp dự báo sức sống vàkhả năng tồn tại của một loài, và dù nó vẫn chưa có được một phương pháp luận hay một quy trìnhthống kê chuẩn, song các phương pháp xem xét loài một cách hệ thống và toàn diện của nó là sựphát triển tự nhiên của sinh thái học cá thể trong nghiên cứu lịch sử tự nhiên và những nghiên cứu vềbiến động số lượng quần thể

4 Quan trắc dài hạn loài và các hệ sinh thái

Cần có sự quan trắc dài hạn các quá trình của hệ sinh thái (nhiệt độ, lượng mưa độ ẩm, tínhaxít của đất, chất lượng nước, tốc độ chảy của sông suối, xói mòn đất, ), các quần xã (số loài cómặt, lượng thực vật che phủ, lượng sinh khối có tại mỗi bậc dinh dưỡng, ) và số lượng các quần thể(số lượng cá thể của mỗi loài) bởi vì nếu không làm như vậy khó có thể phân biệt được những daođộng bình thường trong năm với những xu hướng lâu dài

Một khó khăn trong khi tìm hiểu về sự biến đổi trong các hệ sinh thái là trên thực tế, các hậuquả thường đến chậm trễ tới vài năm sau khi những nguyên nhân của nó đã xuất hiện Ví dụ mưaaxít và các thành phần khác của ô nhiễm không khí có thể làm yếu và giết chết cây cối trong suốthàng thập kỷ, làm gia tăng sự xói mòn đất và bồi lắng ở các sông suối gần đó và cuối cùng là khiếncho môi trường nước không còn thích hợp cho ấu trùng của một loài côn trùng nào đó sinh sống.Trong trường hợp như vậy, nguyên nhân (ô nhiễm không khí) có thể đã xuất hiện từ hàng thập kỷtrước khi biểu hiện ảnh hưởng của nó (loài côn trùng bị suy giảm) được phát hiện

Mưa axít, biến đổi khí hậu toàn cầu, diễn thế thực vật, lắng đọng nitơ và sự xâm lấn của các loài

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 30

ngoại lai là những ví dụ điển hình cho các quá trình gây ra những những biến đổi lâu dài ở các quần xãsinh vật, nhưng các diễn biến này thường bị che khuất bởi các hiện tượng ngắn hạn Mặt dù chúng ta

đã có những dữ liệu dài hạn từ các trạm khí tượng, các đợt đếm chim hàng năm, các cánh rừng được

đo đạc định kỳ, các cơ quan chuyên trách theo dõi về nguồn nước, và các bức ảnh cũ về thảm thực vật,song những nỗ lực quan trắc dài hạn đối với quần xã sinh vật còn rất hạn chế, chưa đủ cho hầu hết cácmục đích bảo tồn Để cải thiện tình hình trên, nhiều cơ sở nghiên cứu khoa học đã bắt đầu tiến hành

những chương trình quan trắc sự biến đổi sinh thái trong quãng thời gian hàng thập kỷ và thế kỷ

IV Sự hình thành, tái lập các quần thể mới

1 Các tiếp cận cơ bản

Thay vì chỉ quan sát thụ động sự tiến tới tuyệt chủng của các loài đang nguy cấp, nhiều nhà sinhhọc bảo tồn đã bắt đầu xây dựng các cách tiếp cận nhằm bảo vệ những loài này Để có thể thực hiệnmột cách hiệu quả việc thiết lập quần thể mới chúng ta cần phải hiểu rõ những yếu tố gây nên sự suygiảm các quần thể hoang dã ban đầu và do vậy loại trừ được những yếu tố đó hoặc chí ít cũng kiểmsoát được chúng Ví dụ nếu một loài chim đặc hữu đã bị dân địa phương săn bắt ngoài tự nhiên đếnmức sắp bị tuyệt chủng, các khu vực đẻ trứng của chúng thì bị hủy hoại do các hoạt động phát triển vàtrứng của chúng bị các loài ngoại lai ăn, thì tất cả những vấn đề nêu trên cần phải được đề cập đếntrong chương trình tái lập quần thể Nếu chỉ đơn thuần phóng thích các con chim được nuôi nhân tạovào tự nhiên mà không trao đổi bàn bạc với người dân địa phương, về một sự thay đổi trong phươngthức sử dụng đất, và việc kiểm soát các loài ngoại lai sẽ dẫn đến kết quả là sự quay trở lại của tìnhhình ban đầu “ném đá ao bèo”

Có 3 cách tiếp cận cơ bản đã được sử dụng để thiết lập quần thể động thực vật mới

Chương trình tái du nhập (reintroduction program): là cách thả những cá thể đã được nhân nuôitrong điều kiện nuôi nhốt hay thả những cá thể thu thập ngoài tự nhiên vào khu vực cư trú cũ củachúng, nơi loài này đã lâu không còn xuất hiện nữa Mục đích cơ bản của chương trình này là nhằmtái tạo một quần thể mới trong môi trường nguyên thủy của nó

Chương trình mở rộng (augmentation program): là thả các cá thể vào một quần thể đang tồn tại

để làm tăng kích thước quỹ gen của nó Các cá thể được phóng thích này có thể là các cá thể hoang

dã được bắt giữ ở một nơi nào đó hoặc chúng là những cá thể được nhân nuôi Ví dụ điển hình chocách tiếp cận này là những con đồi mồi mới nở được nuôi giữ trong những giai đoạn đầu của sự pháttriển, dễ bị thương tổn rồi sau đó mới thả trở lại vào biển

Chương trình du nhập (introduction program): trong đó các loài động thực vật được chuyển đếnnhững khu vực nằm ngoài phạm vi phân bố của chúng với hy vọng rằng quần thể mới sẽ được hìnhthành Cách tiếp cận như vậy có thể thích hợp khi môi trường nguyên thủy của loài đã bị hủy hoại tớimức loài không thể tiếp tục tồn tại ở đó, hoặc khi các yếu tố gây suy thoái ban đầu vẫn còn đó khiến choviệc tái du nhập không thể thực hiện được

* Những điều cần lưu ý để có dự án thành công

Những động vật được trả lại thiên nhiên có thể đòi hỏi sự quan tâm và hổ trợ đặc biệt trongquá trình thả cũng như ngay sau khi được thả Các con vật có thể vẫn được nuôi ăn và được chechở tại điểm thả trong một thời gian cho đến khi chúng có khả năng tự tồn tại, hoặc tại điểm thả,chúng lần lượt được thả ra rồi nhốt vào lồng cho đến khi chúng thích nghi được với các điều kiện củakhu vực đó mới thôi Có thể cần thêm những can thiệp nếu như các con vật có biểu hiện không thểtồn tại, đặc biệt trong thời kỳ hạn hán hay khan hiếm thức ăn

Để các dự án tái lập quần thể thành công cần lưu tâm đến khía cạnh tổ chức và tập tính xã hộicủa các động vật sau khi chúng được thả ra Ở ngoài tự nhiên, các động vật, đặc biệt là các loài thú

và một số loài chim thường học hỏi lẫn nhau về môi trường của chúng và cách giao tiếp xã hội giữacác thành viên trong loài Những động vật nuôi thường không có những kỷ năng cần thiết để tồn tạitrong môi trường tự nhiên, chúng thiếu các kỷ năng giao tiếp xã hội cần thiết để tìm kiếm thức ăn,

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 31

cảm nhận nguy hiểm, tìm bạn đời và nuôi con Để vượt qua những trở ngại có tính xã hội này, nhữngloài vật nuôi cần phải được huấn luyện trước khi thả chúng lại vào môi trường tự nhiên.

Mối giao tiếp xã hội là một trong những tập tính khó nhất mà con người phải dạy các loài chim thúnuôi bởi vì chúng ta còn hiểu biết rất ít về sự tinh tế của tập tính xã hội ở hầu hết các loài Tuy nhiên, đã

có một số thành công trong trong việc xã hội hóa các loài thú được nhân nuôi Trong một số trườnghợp, con người bắt chước vẻ bên ngoài và cử chỉ của các con vật hoang dã Phương pháp này đặcbiệt quan trọng khi phải tiếp xúc với các con non vì chúng cần phải biết cách nhận biết đồng loại chứkhông phải là con người hay những loài nuôi dưỡng chúng Trong một số trường hợp, những cá thểhoang dã cùng loài sẽ được dùng làm “hướng dẫn viên” cho các cá thể nuôi Các con vượn bắt ngoài

tự nhiên đã được nhốt chung với các vượn nuôi để chúng tạo nên các nhóm xã hội và sau đó chúng sẽđược thả lại vào tự nhiên với hy vọng rằng vượn nuôi sẽ học hỏi cách sống từ từ vượn hoang dã

Việc tái lập các quần xã mới cho các loài thực vật hiếm và có nguy cơ tuyệt diệt có sự khác biệt về

cơ bản so với những nỗ lực tái lập các quần thể động vật có xương sống trên cạn Động vật thì có thểphát tán tới các địa điểm mới và chủ động tìm kiếm các vị trí có điều kiện thích hợp nhất đối với chúng.Trong trường hợp của thực vật thì hạt sẽ được phát tán tới các địa điểm mới nhờ gió, nước và động vật.Một khi hạt đã rơi xuống đất thì nó sẽ không chuyển dịch được nữa, kể cả khi vị trí mới thích hợp nhấtcho nó chỉ vài ba centimet Vị trí này đặc biệt quan trọng đối với sự sinh tồn của thực vật vì nếu điều kiệnmôi trường là quá nắng, hoặc quá nhiều bóng râm, quá khô hay quá ẩm ướt đều khiến cho hạt khôngnẩy mầm hoặc mầm sẽ chết Sự nhiễu loạn do cháy có khi cũng là cần thiết để thiết lập quần thể giốngcây con mới ở một số loài

Nhìn chung, các loài thực vật hiếm, đang có nguy cơ tuyệt diệt thường không tái lập được quầnthể bằng cách gieo hạt tại các địa điểm có vẻ như phù hợp với chúng Để tăng cơ hội thành công,các nhà thực vật học thường cho hạt nẩy mầm và chăm sóc cây con trong các điều kiện môi trường

ổn định Chỉ tới khi cây con đã qua giai đoạn yếu ớt chúng mới được cấy ra môi trường ngoài Trongmột số trường hợp khác, cây con được bứng từ quần thể hoang dã đang sinh sống (thường quần thểnày hoặc đang có nguy cơ bị tuyệt diệt hoặc việc lấy đi một tỷ lệ rất nhỏ sẽ không gây hại gì cho quầnthể), rồi đem cấy vào một nơi khác thích hợp song chưa có quần thể cây này chiếm cứ

2 Các chương trình tái lập quần thể và luật pháp

Các chương trình du nhập, tái du nhập, hay mở rộng sẽ ngày càng gia tăng trong những nămtới khi các cuộc khủng hoảng đa dạng sinh học xảy ra thường xuyên do ngày càng nhiều các loàisinh vật bị tiêu diệt trong thiên nhiên Nhiều dự án tái du nhập cho các loài có nguy cơ tuyệt chủng sẽđược các kế họach khôi phục chính thức do chính phủ đề ra thực hiện Tuy nhiên, các chương trìnhtái lập quần thể cũng như các chương trình nghiên cứu chung về các loài có nguy cơ tuyệt chủngđang ngày càng chịu nhiều tác động của những sắc luật nhằm hạn chế bớt sự chiếm hữu cũng như

sử dụng chúng Nếu như các quan chức chính phủ thực thi các bộ luật này một cách cứng nhắc đốivới các chương trình nghiên cứu khoa học vốn không phải là mục tiêu cơ bản của luật, thì công việcnghiên cứu bảo vệ các loài có nguy cơ tuyệt chủng có thể sẽ bị hạn chế Các thông tin khoa học mới

là rất cần thiết để lập nên những dự án cũng như để đề xuất các nỗ lực bảo tồn khác Các nhà sinhhọc bảo tồn cần phải giải thích về những lợi ích của các chương trình của họ để các quan chức chínhphủ cũng như quảng đại quần chúng có thể hiểu được, và họ cũng cần giải quyết được những vấn

đề chính đáng của các người nêu trên Các quan chức chính phủ, những người làm cản trở cho các

dự án khoa học, có thể sẽ làm hại tới các sinh vật mà họ đang cố gắng bảo vệ Tuy nhiên, mối nguyhiểm đối với các loài đang có nguy cơ tuyệt chủng do những nghiên cứu khoa học chậm trễ và do lập

kế hoạch quá thận trọng là không đáng kể nếu so với sự suy thoái nhanh chóng của đa dạng sinhhọc trên thực tế mà nguyên nhân chính là do nơi cư trú bị hủy hoại, do ô nhiễm môi trường, và dokhai thác quá mức

V Chiến lược bảo tồn chuyển vị

Chiến lược tốt nhất nhằm bảo tồn đa dạng sinh học là bảo tồn các quần xã và quần thể ngaytrong điều kiện tự nhiên, một phương thức thường được nói đến là bảo tồn nguyên vị hay bảo tồn tại chổ(in situ; on-site preservation) Chỉ trong tự nhiên, các loài mới có khả năng tiếp tục quá trình thích nghi

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 32

tiến hóa đối với môi trường đang thay đổi trong các quần xã tự nhiên của chúng Tuy nhiên, đối với nhiềuloài hiếm thì bảo tồn nguyên vị chưa phải là giải pháp khả thi trong điều kiện những áp lực của con ngườingày càng gia tăng Nếu quần thể còn lại là quá nhỏ để tiếp tục tồn tại, hoặc nếu tất cả những cá thể cònlại được tìm thấy ở ngoài khu bảo vệ thì bảo tồn nguyên vị sẽ không có hiệu quả Trong những trườnghợp này, giải pháp duy nhất để ngăn cho loài khỏi bị tuyệt chủng là bảo tồn các cá thể trong những điềukiện nhân tạo Chiến lược này được gọi là bảo tồn ngoại vi hay bảo tồn chuyển vị (ex-situ; off-sitepreservation) Thực tế có một số loài đã bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên song vẫn đang tồn tại trong các bầyđàn nhân nuôi, chứ không còn tìm thấy trong dạng hoang dại nữa

Các điều kiện để bảo tồn chuyển vị động vật bao gồm vườn thú, trang trại nuôi động vật, thủycung và các chương trình nhân giống động vật Thực vật thì được bảo tồn trong các vườn thực vật,vườn cây gỗ và các ngân hàng hạt giống

Bảo tồn chuyển vị là một bộ phận quan trọng trong chiến lược tổng hợp nhằm bảo vệ các loàiđang có nguy cơ tuyệt diệt Bảo tồn chuyển vị và bảo tồn nguyên vị là những cách tiếp cận có tính bổsung cho nhau Những cá thể từ các quần thể được bảo tồn chuyển vị sẽ được thả định kỳ ra ngoàithiên nhiên để tăng cường cho các quần thể được bảo tồn nguyên vị Nghiên cứu trên các quần thểnuôi nhốt có thể cung cấp cho ta những hiểu biết về đặc tính sinh học của loài và gợi ra những chiếnlược bảo tồn mới cho các quần thể được bảo tồn nguyên vị Các quần thể chuyển vị mà có thể tựduy trì quần thể thì sẽ làm giảm bớt nhu cầu phải bắt các cá thể từ ngoài thiên nhiên để phục vụ mụcđích trưng bày hoặc nghiên cứu Cuối cùng, việc những con vật được nuôi nhốt và trưng bày sẽ gópphần giáo dục quần chúng về sự cần thiết phải bảo tồn loài cũng như bảo vệ các thành viên khác củaloài đó ngoài tự nhiên Ngược lại bảo tồn nguyên vị là không thể thiếu đối với sự sống còn của nhữngloài không thể nuôi nhốt, cũng như để tiếp tục có các loài mới trưng bày trong các vườn thú, thủy cunghay các vườn thực vật

1 Vườn thú

Các vườn thú, cùng với các trường đại học, các Cục, Vụ phụ trách về sinh vật hoang dã của

Chính phủ và các tổ chức bảo tồn hiện đang nuôi giữ trên 700.000 cá thể, đại diện cho 3.000 loài thú,chim, bò sát và lưỡng cư Các vườn thú hầu như chỉ trưng bày những loài thú lớn đầy quyến rũ như

gấu trúc, hươu cao cổ, voi, trong khi đó có xu hướng bỏ qua một số lượng không nhỏ các loài côn

trùng và động vật không xương sống khác mà nhóm này tạo thành một bộ phận chủ yếu của động

vật giới trên trái đất

Mục tiêu hiện nay của hầu hết các vườn thú lớn là lập được quần thể nuôi của các loài độngvật hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng Chỉ khoảng 10% trong số 247 loài thú hiếm được nuôi giữ trongcác vườn thú khắp thế giới là có khả năng tự duy trì quần thể ở kích thước đủ để bảo tồn tính biến dị

di truyền của chúng Để khắc phục tình trạng này, các vườn thú và những tổ chức bảo tồn có liênquan đã bắt tay vào xây dựng cơ sở vật chất và triển khai các công nghệ cần thiết để tạo lập đượccác bầy đàn có khả năng sinh sản của các loài quí hiếm và đang có nguy cơ tuyệt diệt, cũng như xâydựng chương trình và phương pháp mới nhằm tái lập các loài ngoài tự nhiên

Một loạt các kỹ thuật cũng đang được nghiên cứu và áp dụng nhằm làm tăng tỷ lệ sinh sản

của các loài động vật nuôi Các kỹ thuật này gồm ấp và vú nuôi, tức là con mẹ của loài phổ biến nuôi dưỡng con cháu của loài quí hiếm; thụ tinh nhân tạo khi con trưởng thành tỏ ra không muốn thụ tinh hoặc chúng phải sống trong những điều kiện khác biệt, ấp trứng nhân tạo trong các điều kiện tốt nhất

để trứng nở và cấy phôi tức là cấy trứng đã được thụ tinh của loài quí hiếm vào tử cung của con mẹ

thay thế thuộc loài phổ biến

2 Bể nuôi

Để ngăn chặn các hiểm họa đối với các loài thủy sinh, những chuyên gia về cá, thú biển và san

hô làm việc tại các thủy cung hay các bể nuôi đã hợp tác ngày càng chặt chẽ với các đồng nghiệp tạicác Viện nghiên cứu biển, các Cục, Vụ thủy sản của chính phủ và các tổ chức bảo tồn để xây dựngcác chương trình bảo tồn những loài và quần xã tự nhiên đang được quan tâm Có khoảng 580.000

cá thể của các loài cá đang được nuôi giữ trong các bể nuôi mà hầu hết các loài đó là được thu thậpngoài tự nhiên Hiện đang có nhiều nỗ lực nhằm phát triển các kỹ thuật gây giống để có thể duy trì

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 33

các loài quí hiếm trong bể nuôi, đôi khi có thể thả chúng ra tự nhiên và do đó không phải bắt giữnhững mẫu vật hoang dã.

3 Vườn thực vật và vườn ươm cây

Vườn thực vật là nơi lưu giữ các quần thể thực vật dễ dàng hơn so với động vật Thực vật

đòi hỏi sự chăm sóc ít hơn là động vật; nhu cầu về nơi ở của chúng dễ cung cấp; không cần thiết

phải nhốt lại; các cá thể có thể dễ dàng nhân giống hơn; hầu hết là lưỡng tính, trong đó có khoảng

một nửa thành phần loài cần phải được lưu giữ về đa dạng di truyền Ngoài ra, hạt giống của nhiều

loại cây trong giai đoạn nghĩ, dễ bảo vệ Từ những lý do đó, các vườn thực vật là công cụ thật sự

quan trọng trong việc lưu giữ đa dạng loài và di truyền

Hiện nay có khoảng 2.178 vườn thực vật trên thế giới thuộc 153 nước, trong đó có 878 vườnthuộc Châu Âu, đã có các bộ sưu tập chính của các loài thực vật, thể hiện một nỗ lực lớn lao trongviệc bảo tồn thực vật

Các vườn thực vật trên thế giới hiện nay đang lưu giữ khoảng 6.130.000 cá thể thuộc 80.000loài thực vật, trong đó có khoảng 3,5 triệu cây thuộc các nước Châu Âu Vườn thực vật lớn nhất thếgiới Vườn Thực vật Hoàng gia Anh Quốc tại Kew, có khoảng 25.000 loài cây đang được gieo trồng

Về đặc trưng phân loại, khả năng cung cấp của các vườn thực vật là cao hơn Có khoảng 72trong số 110 loài thông được biết được thu thập tại California, một vườn thực vật ở Nam Phi chiếmkhoảng 1/4 số loài của cả nước, một vườn ở California chiếm 1/3 số loài đặc hữu ở nước Mỹ Trong

đó có trường hợp một loài cây đã bị tuyệt chủng ở ngoài tự nhiên (Clarkia franciscana) đã được bảo

tồn trong vườn thực vật và đã được tái du nhập vào thành loài đặc hữu sống ở California Chỉ có 300đến 400 vườn thực vật trên thế giới có thể lưu giữ các mẫu bảo tồn chủ yếu và chỉ 250 vườn trong số

đó được sử dụng làm ngân hàng lưu giữ hạt giống, trong một đánh giá cho rằng các vườn thực vật cóthể cứu được các quần thể của 20.000 loài thực vật tuyệt chủng

Vai trò quan trọng của các vườn thực vật trong việc bảo tồn đa dạng sinh học đã được minh họa

bởi việc mở rộng mạng lưới của 19 vườn thực vật ở Mỹ với Trung tâm bảo tồn thực vật (CPC) CPC

ước tính có 3.000 taxon đặc hữu ở Mỹ bị đe dọa tuyệt chủng, trong đó hơn 300 loài đang được nuôi

cấy ở mạng lưới các vườn

Sự đóng góp của các vườn thực vật đối với công tác bảo tồn loài mở rộng ra đối với các loàiđang bị đe dọa ngoài hoang dã Các vườn thực vật cung cấp cây cho nghiên cứu và nuôi trồng.Chúng cũng là nguồn tài nguyên quan trọng cho việc giáo dục Mỗi năm ước tính có khoảng 150 triệungười đến thăm các vườn thực vật

Vai trò quan trọng của các vườn thực vật có thể dễ dàng được phát triển Sự mất cân đối về vịtrí địa lý của các vườn thực vật hiện nay, có thể được ngăn ngừa nếu như các vườn được thiết lập ởcác nước nhiệt đới Trong khi hơn 100 khu vườn được thành lập và có kế hoạch thành lập trong thập

kỷ qua và nhiều trong số đó ở các vùng nhiệt đới, thì vẫn còn sự mất cân đối địa lý, đặc biệt là khixem xét về độ phong phú loài ở các vùng nhiệt đới

Với các nghiên cứu sâu hơn về các công nghệ bảo quản và với các dữ liệu tốt hơn về nơi thuthập mẫu vật và lịch sử sinh sản của chúng, các vườn thực vật có thể trở thành nơi bảo quản tính ditruyền quan trọng Ban thư ký của Hiệp hội Bảo tồn thực vật của IUCN hiện nay đang phát triển cơ

sở dữ liệu máy tính về những sự có mặt của các loài ở các vườn thực vật để giúp các vườn thu thậpcác loài còn thiếu Những nỗ lực của các vườn thực vật trong việc bảo tồn nguồn giống đang đượcphối hợp với chiến lược bảo tồn vườn thực vật của IUCN Trong việc phối hợp với Ban quốc tề về Tàinguyên di truyền thực vật (IBPGR, International Board for Genetic Resources), IUCN cũng đã cùngphối hợp để đưa ra hướng dẫn về việc thu thập nguồn giống đối với các loài hoang dã

Cho đến nay, các vườn thực vật đã không sử dụng hết lợi ích của việc lưu giữ các loài đang bị

đe dọa và bảo tồn nguồn gen Mặc dù chứa một phần lớn khu hệ thực vật thế giới, các vườn cótruyền thống không hợp tác về những tri thức bản địa Nhờ vào những nỗ lực của các tổ chức và cánhân, vai trò của vườn trong việc bảo tồn đang được phát triển nhanh chóng

4 Ngân hàng hạt giống - gen

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 34

Ngài việc trồng cây, các vườn thực vật và viện nghiên cứu đã xây dựng bộ sưu tập về hạt,như là các ngân hàng hạt giống, mà những hạt này đã được thu lượm từ các cây hoang dại và câytrồng Hạt của hầu hết các loại cây đều có thể được lưu giữ trong điều kiện lạnh và khô trong thờigian dài và sau đó cho nẩy mầm Khả năng tồn tại lâu dài của hạt đặc biệt có giá trị cho việc bảo tồnchuyển vị bởi vì nó cho phép bảo tồn hạt của nhiều loài quý hiếm bằng kỹ thuật đông lạnh và lưu giữtrong một không gian nhỏ, chi phí thấp và không cần giám sát nhiều Hiện nay có hơn 50 ngân hànghạt giống trên thế giới, trong đó có nhiều ngân hàng đặt tại các nước đang phát triển và được sự điềuphối tích cực của Nhóm Tư vấn về Nghiên cứu nông nghiệp Quốc tế (CGIAR, Consulative Group onInternational Agricultural Research)

VI Các cấp độ bảo tồn loài

Nhằm nêu bật tình trạng của một loài quí hiếm cho mục đích bảo tồn, IUCN đã xây dựng 5 cấp

độ bảo tồn như dưới đây; các loài thuộc cấp độ từ 2 đến 4 được coi là những loài đang bị đe dọatuyệt chủng Các cấp độ này có vai trò quan trọng ở cấp quốc gia và quốc tế trong việc hướng sự chú

ý vào những loài đang được quan tâm đặc biệt và trong việc xác định những loài đang bị đe dọa tuyệtchủng cần được bảo vệ thông qua các cam kết quốc tế như Công ước CITES

 Đã tuyệt chủng (Extinct): là những loài (hay các đơn vị phân loại khác như phân loài hay chi)không còn thấy tồn tại trong tự nhiên nữa Những cuộc tìm kiếm tại những nơi trước đây vốn là quêhương sinh sống cũng như tại những nơi phân bố khác đều không phát hiện được chúng

 Đang nguy cấp (Endangered, đang có nguy cơ tuyệt chủng): là những loài có nhiều khả năng

bị tuyệt chủng trong tương lai không xa Trong số này có cả những loài có số lượng cá thể bị giảm tớimức loài khó có thể tiếp tục tồn taị nếu như các nhân tố đe dọa cứ tiếp diễn

 Dễ bị thương tổn (Vulnerable, có thể bị đe dọa tuyệt chủng): là những loài có thể bị đe dọatuyệt chủng trong tương lai gần vì các quần thể của chúng đang bị thu hẹp kích thước tại khắp mọinơi thuộc vùng phân bố của loài Khả năng tồn tại lâu dài của những loài này là không chắc chắn

 Hiếm (Rare): loài những loài có số lượng cá thể ít, thường là do có vùng phân bố trong giớihạn hẹp hoặc là do mật độ quần thể thấp Mặc dù những loài này chưa phải đối mặt với những nguyhiểm tức thời song số lượng nhỏ khiến chúng trở thành những loài có nguy cơ tuyệt chủng

 Loài chưa hiểu biết đầy đủ (Insufficiently known): là những loài có thể thuộc một trong nhữngcấp bảo tồn nêu trên nhưng do chưa được hiểu biết đầy đủ nên chưa xếp được vào một cấp độ cụthể nào

Trung tâm quan trắc Bảo tồn Thế giới (WCMC, World Conservation Monitoring Centre) đã sửdụng các cấp độ trên để đánh giá và mô tả những mối đe dọa đối với khoảng 60.000 loài thực vật và2.000 loài động vật trong các cuốn sách đỏ do trung tâm này xuất bản

Các cấp độ bảo tồn loài của IUCN và các cuốn sách đỏ của WCMC là bước đi đầu tiên rất cầnthiết trong sự nghiệp bảo tồn các loài trên thế giới, song khi sử dụng hệ thống phân hạng này cũnggặp một số khó khăn nhất định

ĚTrước hết, cần phải nghiên cứu xác định kích thước quần thể và xu hướng biến động sốlượng mỗi một loài khi đã đã đưa vào danh sách Những nghiên cứu như vậy có thể sẽ rất khó khăn,tốn kém và mất nhiều thời gian

ĚThứ hai là một loài cần được nghiên cứu trên toàn bộ khu phân bố của nó, có thể là sẽ kéotheo những khó khăn trong khâu hậu cần

ĚThứ ba, các cấp này hầu hết là không phù hợp với các loài côn trùng nhiệt đới, là những loàichưa được hiểu biết nhiều về mặt định loại cũng như đặc tính sinh học, sinh thái học song lại đang bị

đe dọa do rừng nhiệt đới đang bị triệt phá nghiêm trọng

ĚThứ tư là các loài thường bị xếp vào loại bị đe dọa tuyệt chủng kể cả khi người ta đã lâukhông còn nhìn thấy chúng, với một giả định rằng nếu có một nghiên cứu kỹ càng sẽ tìm lại chúng

Vấn đề quan trọng nhất trong hệ thống phân cấp của IUCN là những tiêu chí để xếp một loàivào một cấp độ nào đó còn rất chủ quan Do ngày càng có nhiều cá nhân và tổ chức tham gia vào

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 35

việc đánh giá và định mức nguy cấp cho các loài nên nhiều khả năng các loài sẽ bị xếp hạng mộtcách tùy tiện Để khắc phục tình trạng này, Mace và Lande (1991) đã đưa ra hệ thống phân loại bacấp dựa trên xác suất bị tuyệt chủng:

Các loài đang nguy cấp trầm trọng (critical species): có 50% hay lớn hơn xác suất bị tuyệt

chủng trong vòng 5 năm hay 2 thế hệ

Các loài đang nguy cấp (endangered species): có 20 - 50% xác suất bị tuyệt chủng trong

vòng 20 năm hay 10 thế hệ

Các loài dễ bị thương tổn (vulnerable species): có 10 - 20% xác suất bị tuyệt chủng trong

vòng 100 năm

VII Bảo tồn loài bằng pháp chế

1 Các bộ luật Quốc gia

Công cụ pháp chế hay luật pháp có thể được áp dụng tại các cấp địa phương, quốc gia hayquốc tế để bảo vệ tất cả các khía cạnh của đa dạng sinh học Nhiều bộ luật quốc gia đã nhằm cụ thểvào việc bảo tồn các loài Tại nước Mỹ, bộ luật cơ bản nhằm bảo vệ các loài là Luật năm 1973 vềCác loài đang có nguy cơ tuyệt chủng Bộ luật này là một hình mẫu cho nhiều quốc gia noi theo tuyrằng việc thực thi nó vẫn còn nhiều điều tranh cãi

2 Các thoả thuận Quốc tế

Việc bảo tồn đa dạng sinh học cần phải được giải quyết ở mọi cấp khác nhau trong chính phủcủa từng quốc gia và giữa các chính phủ Trong khi các cơ chế kiểm soát chính hiện có chủ yếu làdựa vào từng quốc gia riêng biệt thì các thỏa thuận quốc tế đang ngày càng được sử dụng nhiềutrong bảo vệ các loài và nơi cư trú Hợp tác quốc tế là một điều kiện tiên quyết vì nhiều lý do khácnhau:

 Trước hết, các loài thường di chuyển qua các biên giới Các hoạt động bảo tồn chim di cư ởphía Bắc Châu Âu sẽ không thể thành công nếu nơi cư trú qua mùa đông của chim tại Châu Phi bịphá hủy

 Thứ hai, việc buôn bán quốc tế về các sản phẩm sinh học có thể gây nên hậu quả là sự khaithác quá mức các loài nhằm đáp ứng nhu cầu thương mại Việc quản lý và kiểm soát buôn bán đòihỏi phải cả trên lĩnh vực xuất và nhập khẩu

 Thứ ba, những lợi ích của đa dạng sinh học là có tầm quan trọng quốc tế Các quốc gia giàu

có thuộc vùng ôn đới được hưởng lợi ích từ tính đa dạng sinh học của vùng nhiệt đới cần phải sẵnsàng giúp đở các nước nghèo khó hơn nhưng đã tham gia thực hiện việc bảo tồn các nguồn đa dạngsinh học đó

 Cuối cùng, rất nhiều vấn đề của các loài hay các hệ sinh thái bị đe dọa có qui mô toàn cầunên đòi hỏi sự hợp tác quốc tế để giải quyết Những mối đe dọa như vậy bao gồm đánh bắt thủy sảnquá mức, ô nhiễm không khí và mưa acid, ô nhiễm sông, hồ và đại dương, biến đổi khí hậu toàn cầu

và suy thoái tầng ôzôn

Hiệp ước quan trọng nhất trong việc bảo vệ các loài ở qui mô quốc tế là Công ước về buôn báncác loài đang có nguy cơ tuyệt chủng (CITES, Convention on International Trade in EndangeredSpecies) được ra đời năm 1973 cùng với sự ra đời của Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc(UNDP) Công ước này hiện có 120 nước tham gia Công ước CITES đưa ra một danh sách các loàiđược kiểm soát trong việc buôn bán quốc tế; các quốc gia thành viên đồng ý hạn chế buôn bán và khaithác có tính hủy diệt các loài này Phụ lục I của của Công ước liệt kê 675 loài động vật và thực vật bịcấm buôn bán hoàn toàn Còn phụ lục II gồm 3.700 loài động vật và 21.000 loài thực vật có sự kiểmsoát và giám sát trong việc buôn bán quốc tế Trong số các loài thực vật có cả các loài được tạo thành

do nuôi cấy mô như phong lan, xương rồng, dương xỉ, đồng thời ngày cũng có nhiều các loài cây lấy

gỗ Trong số các loài động vật, các nhóm được kiểm soát chặt chẽ gồm vẹt, các loài có kích thước lớngồm các loài thuộc họ mèo, cá voi, rùa biển, chim ăn thịt, tê giác, gấu, linh trưởng, các loài được bắt vềnuôi trong nhà, sở thú, thủy cung; các loài được săn bắt để lấy lông, da hay các sản phẩm khác

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 36

Một hiệp ước quốc tế quan trọng khác là Công ước về bảo vệ các loài động vật di cư, ký năm

1979, mà trọng tâm là các loài chim di cư Công ước này là một phần bổ sung quan trọng cho Côngước CITES vì nó đã khuyến khích các nỗ lực quốc tế bảo tồn các loài chim di cư xuyên biên giớicũng như đã nhấn mạnh các cách tiếp cận trong việc nghiên cứu, quản lý và kiểm soát săn bắn

Còn có các thỏa thuận quốc tế khác nhằm bảo vệ các loài sinh vật, đó là:

ĚCông ước về Bảo tồn các loài sinh vật biển vùng Nam Cực

ĚCông ước Quốc tế về kiểm soát cá voi

ĚCông ước Quốc tế về bảo vệ các loài chim và Công ước Benelux về việc săn bắn và bảo vệcác loài chim

ĚCông ước về đánh bắt và bảo vệ sinh vật trong biển Bantic

ĚCông ước bảo tồn đa dạng sinh học

Nhược điểm của các hiệp ước quốc tế này là sự tham gia tự nguyện; các quốc gia có thể rút luikhỏi công ước để theo đuổi các lợi ích riêng của họ khi cảm thấy các điều kiện phải tuân thủ là quákhó khăn Cần có sự thuyết phục và cả sức ép của quần chúng để buộc các quốc gia phải thực hiệncác điều khoản của công ước và khởi tố những người vi phạm

Tóm tắt nội dung:

Các quần thể nhỏ có nguy tuyệt chủng hơn các quần thể có kích thước lớn Kích thước quầnthể tối thiểu của một loài có thể sống được chính là số lượng cá thể cần đủ để bảo đảm cho quần thể

có khả năng sống sót cao trong tương lai gần

Các quần thể nhỏ dễ bị suy giảm nhanh về số lượng và bị tuyệt chủng cục bộ vì 3 nguyên nhânchính: những vấn đề về mặt di truyền; những dao động về số lượng quần thể do những biến độngngẫu nhiên trong tỷ lệ sinh và tỷ lệ chết; và những nhiễu động môi trường do những biến đổi về sựbắt mồi, cạnh tranh, dịch bệnh, nguồn thức ăn cũng như các rủi ro về thiên tai xảy ra bất thường nhưcháy, lũ lụt hay hạn hán

Quần thể biến thái là tập hợp các quần thể nhỏ (subpopulations) của một loài sống biệt lậptrong mỗi mảnh nhỏ của nơi cư trú trong một vùng sinh cảnh, tồn tại được do sự cân bằng giữa tuyệtchủng cục bộ và phục hồi của các quần thể, nhờ vào sự di nhập các cá thể từ một hoặc một vài quầnthể này (quần thể gốc -source- population-) tới các quần thể khác (quần thể suy thoái - sinkpopulation)

Để bảo tồn và quản lý một loài hiếm, đang có nguy cơ tuyệt chủng là phải hiểu biết đầy đủ vềmối quan hệ sinh học của loài đó với môi trường chung quanh và tình trạng quần thể của loài đó.Những thông tin như thế thường được gọi là Sinh thái học cá thể

Qua quan trắc quần thể của một loài có nguy cơ bị đe dọa, có thể biết được hiện trạng của loàiđó

Có thể phục hồi các quần thể mới của các loài quý hiếm nhờ vào việc sử dụng các loài nuôinhốt Để tái lập quần thể thành công cần lưu tâm đến khía cạnh tổ chức và tập tính xã hội của cácđộng vật sau khi chúng được thả ra Việc tái lập các quần xã mới cho các loài thực vật hiếm và có nguy

cơ tuyệt diệt có sự khác biệt về cơ bản so với những nỗ lực tái lập các quần thể động vật

Một số loài có nguy cơ tuyệt chủng ở ngoài thiên nhiên có thể được duy trì ở các vườn thú, bểnuôi, vườn thực vật, ngân hàng hạt giống, cách thức này được gọi là bảo tồn chuyển vị hay bảo tồnngoại vi

Nhằm nêu bật tình trạng của một loài quí hiếm cho mục đích bảo tồn, IUCN đã xây dựng 5 cấp

độ bảo tồn là đã tuyệt chủng, đang nguy cấp, dễ bị tổn thương, quý hiếm và chưa có đầy đủ thôngtin Các cấp độ này có vai trò quan trọng ở cấp quốc gia và quốc tế trong việc hướng sự chú ý vàonhững loài đang được quan tâm đặc biệt và trong việc xác định những loài đang bị đe dọa tuyệtchủng cần được bảo vệ

Các công cụ pháp chế hay luật pháp có thể được áp dụng tại các cấp địa phương, quốc gia hayquốc tế để bảo vệ tất cả các khía cạnh của đa dạng sinh học Công ước CITES đã được ban hành

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 37

nhằm kiểm soát và quan trắc việc buôn bán quốc tế các loài có nguy cơ.

Câu hỏi ôn tập:

Câu 1 Trình bày các lý do làm cho các quần thể nhỏ dễ bị tuyệt chủng

Câu 2 Khái niệm về quần thể tối thiểu của một loài có thể sống được

Câu 3 Vì sao giao phối nội dòng làm cho quần thể dễ bị suy thoái?

Câu 4 Vì sao giao phối xa dễ làm cho quần thể dễ bị suy thoái?

Câu 5 Kích thước quần thể có hiệu quả thường nhỏ hơn kích thước thực tế vì các lý do nào?

Câu 6 Một loài tạp giao có số lượng con đực là 15, con cái là 60 Hãy tính kích thước quần thể cóhiệu quả

Câu 7 Cơn lốc tuyệt chủng là gì?

Câu 8 Hãy nêu 5 trong số các câu hỏi về sinh thái học cá thể cần làm sáng tỏ khi tiến hành thiết kế

và thực hiện một cách có hiệu quả chương trình bảo tồn ở mức quần thể

Câu 9 Quần thể biến thái là gì?

Câu 10 Phân tích khả năng tồn tại của quần thể (PVA) là gì?

Câu 11 Các tiếp cận cơ bản để thiết lập quần thể mới là gì?

Câu 12 Vai trò của bảo tồn chuyển vị trong công tác bảo tồn là gì?

Câu 13 Hãy nêu lên các hình thức bảo tồn chuyển vị

Câu 14 Vì sao cần phải quan trắc dài hạn loại và các hệ sinh thái?

Câu 15 Nêu tên 5 cấp độ bảo tồn loài của IUCN

Câu 16 Các khó khăn khi sử dụng hệ thống 5 cấp của IUCN

Câu 17 Các cấp độ bảo tồn loài của Mace và Land (1991)

Câu 18 Vì sao cần phải có các thoả thuận quốc tế trong việc bảo tồn loài

Tài liệu tham khảo:

Tài liệu Tiếng Việt

1 Lê Trọng Cúc, 2002 Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên Nhà Xuất bản Đại học

Quốc gia Hà Nội

2 Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam, 2001 Các vườn Quốc gia Việt Nam NXB Nông nghiệp.

3 Phạm Bình Quyền, Nguyễn Nghĩa Thìn, 2002 Đa dạng sinh học NXB Đại học Quốc gia Hà

Nội

4 Richard B Primack (Võ Quý, Phạm Bình Quyền, Hoàng Văn Thắng dịch) 1999 Cơ sở sinh

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 38

học Bảo tồn NXB KH&KT Hà Nội.

4 Viện Năng lượng và Môi trường Pháp Ngữ, 2002 Lớp tập huấn về bảo tồn đa dạng sinh

học Đại học KHTN-ĐHQG Hà Nội.

Tài liệu Tiếng Anh.

1 Edge W Daniel, John P Loegering, and Renee Davis Born, 1998 Principles of Wildlife

Conservation Oregon State University Corvalis, Oregon.

2 Elizabeth A Gordon, Oscar E Franco and Mary L Tyrrell, 2005 Protecting Biodiversity: A

Guide to Criteria Used by Global Conservation Organizations Yale School of Forestry &

Environmental Studies

3 Jeffrey A McNeely et al, 1990 Conserving the World’s Biological Diversity Gland,

Switzeland, and Washington, D.C

4 Kent E Holsinger, 2005 Conservation Biolgy University of Connecticut.

http://darwin.eeb.uconn.edu

5 Kevin J Gaston and John I Spicer, 2004 Biodiversity an Introduction Blackwell

Publishing Company USA

6 Michael J Jeffries, 1997 Biodiversity and Conservation Routledge, London.

7 Myers, N., Mittermeier, R.A., Mittermeier, C.G., da Fonseca, G.A.B., and Kent, J., 2000

Biodiversity hotspots for Conservation Priorities.Nature 403: 853-858.

8 Peter J Bryant, 2001 Biodiversity and Conservation University of California, USA.

9 Richard B Primack, 1993 Essentials of Conservation Biology Sunderland, Massachusetts

USA

10 Richard B Primack, 1995 A Primer of Conservation Biology Sunderland, Massachusetts

USA

11 Ronald Hofstetter, 2003 Conservation Biology University of Miami.

12 USAID, 2005 Biodiversity Conservation: A Guide For USAID Staff and Partners.

13 WCMC Biodiversity , 1994 Priorities for Conserving Global Species Richness and

Endemism World Conservation Press.

14 WCMC Biodiversity Series No 5, 1996 Assessing Biodiversity Status and Suistainability.

World Conservation Press

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 39

Chương 4.

BẢO TỒN Ở CẤP QUẦN XÃ

Mục tiêu:

Giới thiệu về số lượng, mục tiêu quản lý tổng hợp đối với các phân hạng hiện thời của IUCN

và WCPA về các khu bảo tồn trên thế giới Trình bày các phương pháp tiếp cận để thiết lập các ưutiên cho bảo tồn; các điểm nóng đa dạng sinh học, các đơn vị đại đa dạng sinh học và các khu hoang

dã trên thế giới Những vấn đề về thiết kế các khu bảo tồn, quản lý các khu bảo tồn cũng như phụchồi các hệ sinh thái bị suy thoái cũng được đề cập

Số tiết: 10

Nội dung:

Bảo tồn các quần xã sinh vật nguyên vẹn là cách bảo tồn có hiệu quả nhất toàn bộ tính đa dạng

sinh học Có 3 cách bảo tồn quần xã sinh vật, đó là xây dựng các khu bảo tồn, thực hiện các biện pháp

bên ngoài các khu bảo tồn và phục hồi các quần xã sinh vật tại các nơi cư trú bị suy thoái

I Các khu bảo tồn

Một trong những bước đi cơ bản quan trọng nhất trong việc bảo tồn các quần xã sinh vật làchính thức thành lập các khu bảo tồn

Có thể thành lập các khu bảo tồn theo nhiều cách, song có hai phương thức phổ biến nhất, đó

là thông qua nhà nước (thường ở cấp trung ương, nhưng đôi khi có thể ở cấp khu vực hay địaphương) và các tổ chức bảo tồn hay cá nhân mua lại các khu đất đó Các khu bảo tồn còn được hìnhthành bởi các cộng đồng truyền thống vì họ muốn giữ gìn lối sống của họ Chính phủ ở nhiều nơi đãthừa nhận quyền sở hữu của các cộng đồng này đối với đất đai

Một khi vùng đất đã được bảo vệ thì cần phải có những quyết định cho phép con người

được tác động lên đó ở mức độ nào IUCN (International Union for the Conservation of Nature

and Natural Resources) đã xây dựng một hệ thống phân loại các khu bảo tồn, trong đó định rõ

các mức độ sử dụng từ nhỏ đến lớn.

Phân hạng hiện thời của IUCN và WCPA (World Conservation Protected Areas) về các khu bảo

vệ và các mục tiêu quản lý như sau:

I Khu bảo vệ nghiêm ngặt (Strict protection)

Ia Khu bảo tồn thiên nhiên nghiêm ngặt (Strict Nature Reserve)

Ib Khu hoang dã (Wilderness)

II Bảo tồn các hệ sinh thái và giải trí (Ecosystem conservation and recreation) (Vườn Quốc gia)III Bảo tồn các đặc điểm tự nhiên (Conservation of natural features) (Các công trình quốc gia)

IV Bảo tồn qua quản lý chủ động (Conservation through active management) (Quản lý nơi ở

và loài)

V Bảo tồn cảnh quan trên đất liền, trên biển và giải trí (Landscape/seascape conservation andrecreation) (Bảo vệ cảnh quan)

VI Sử dụng bền vững các hệ sinh thái tự nhiên (Sustainable use of natural ecosystems) (Quản

lý tài nguyên khu bảo vệ)

Mục tiêu quản lý tổng hợp đối với từng hạng mục được tổng kết như ở bảng 4.1

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Trang 40

Bảng 4.1 Các mục tiêu quản lý trong các khu bảo vệ

Các mục tiêu quản lý Ia Ib II III IV V VI

Nguồn: Michael J.B Green and James Paine, 1997

Chú thích: 1 Mục tiêu hàng đầu; 2 Mục tiêu thứ yếu; 3 Mục tiêu có thể áp dụng; - không áp

dụng

1 Các khu bảo tồn hiện có

Khu bảo tồn chính thức đầu tiên được hình thành vào ngày 1 tháng 3 năm 1872 khi tổng thống

Mỹ, Ulysses Grant chỉ định 800.000 ha ở vùng đông bắc Wyoming làm Vườn Quốc gia Yellowstone

Kể từ đó, các vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên là phương thức nổi trội cho việcbảo tồn thiên nhiên, cả về động vật hoang dã và toàn bộ cảnh quan

Theo danh sách của Liên hiệp quốc về các khu bảo vệ (UNEP, WCMC 2003), có 102.102 khubảo vệ trên toàn thế giới, với diện tích 18,8 triệu km2 chiếm 12,65% diện tích bề mặt trái đất Nếu trừ

đi 1,7 triệu km2 là các khu bảo tồn biển thì diện tích các khu bảo tồn trên cạn là 17,1 triệu km2, chiếm11.5% diện tích bề mặt trái đất Trong số 191 quốc gia có khu bảo tồn, 36 quốc gia có khu bảo tồnchiếm 10 - 20% diện tích đất đai, 24 quốc gia có diện tích các khu bảo tồn lớn hơn 20% diện tích lãnhthổ

Bảng 4.2 Số lượng và diện tích các khu bảo tồn trên thế giới

Hạng Số lượng Tỷ lệ theo số lượng Diện tích (km2) Tỷ lệ theo diện tích

Nguồn: Kalemani Jo Mulongoy and Stuart Chape, 2005

Phan Thanh Quyền - http://violet.vn/phanthanhquyen

Ngày đăng: 11/09/2015, 11:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Các mức độ đa dạng sinh học (Heywood& Baste 1995) - Giáo trình Đa dạng sinh học
Bảng 1.1. Các mức độ đa dạng sinh học (Heywood& Baste 1995) (Trang 3)
Bảng 1.2. Đánh giá số loài đã được mô tả (Lecointre and Guyader, 2001) - Giáo trình Đa dạng sinh học
Bảng 1.2. Đánh giá số loài đã được mô tả (Lecointre and Guyader, 2001) (Trang 3)
Bảng 2.1. Một số nhóm loài tuyệt chủng từ năm 1600 đến nay - Giáo trình Đa dạng sinh học
Bảng 2.1. Một số nhóm loài tuyệt chủng từ năm 1600 đến nay (Trang 13)
Bảng 4.1. Các mục tiêu quản lý trong các khu bảo vệ - Giáo trình Đa dạng sinh học
Bảng 4.1. Các mục tiêu quản lý trong các khu bảo vệ (Trang 40)
Bảng 4.2. Số lượng và diện tích các khu bảo tồn trên thế giới - Giáo trình Đa dạng sinh học
Bảng 4.2. Số lượng và diện tích các khu bảo tồn trên thế giới (Trang 40)
Hình 4.2. Các điểm nóng đa dạng sinh học trên thế giới - Giáo trình Đa dạng sinh học
Hình 4.2. Các điểm nóng đa dạng sinh học trên thế giới (Trang 44)
Bảng 6.1. Số lượng các loài của Việt Nam bị đe dọa toàn cầu (chỉ tính các loài CR, VU và - Giáo trình Đa dạng sinh học
Bảng 6.1. Số lượng các loài của Việt Nam bị đe dọa toàn cầu (chỉ tính các loài CR, VU và (Trang 69)
Bảng 6.2. Thống kê số lượng bị đe dọa toàn cầu của Việt Nam theo danh lục đỏ của - Giáo trình Đa dạng sinh học
Bảng 6.2. Thống kê số lượng bị đe dọa toàn cầu của Việt Nam theo danh lục đỏ của (Trang 69)
Bảng 6.1. Diễn biến diện tích rừng ở Việt Nam qua các năm (đơn vị tính 1.000.000 ha). - Giáo trình Đa dạng sinh học
Bảng 6.1. Diễn biến diện tích rừng ở Việt Nam qua các năm (đơn vị tính 1.000.000 ha) (Trang 70)
Bảng 6.2.  Các Vườn Quốc gia Việt Nam - Giáo trình Đa dạng sinh học
Bảng 6.2. Các Vườn Quốc gia Việt Nam (Trang 73)
Bảng 6.3. Hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam (tính đến tháng 12 năm 2003) - Giáo trình Đa dạng sinh học
Bảng 6.3. Hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam (tính đến tháng 12 năm 2003) (Trang 74)
Bảng 6.4. Thống kê diện tích (km 2 ) các khu BTTN của các nước vùng Đông Nam Á - Giáo trình Đa dạng sinh học
Bảng 6.4. Thống kê diện tích (km 2 ) các khu BTTN của các nước vùng Đông Nam Á (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w